Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y NGUYỄN NGUYỆT TRƯỜNG TÌNH HÌNH NHIỄM KÝ SINH TRÙ
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN NGUYỆT TRƯỜNG
TÌNH HÌNH NHIỄM KÝ SINH TRÙNG TRÊN CÁ TRA GIỐNG TẠI HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
CHƯƠNG I
Cần Thơ, tháng 7-2007
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN NGUYỆT TRƯỜNG
TÌNH HÌNH NHIỄM KÝ SINH TRÙNG TRÊN CÁ TRA GIỐNG TẠI HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Giáo viên hướng dẫn
NGUYỄN HỮU HƯNG
Cần Thơ, tháng 7-2007
Trang 3Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: Điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng trên cá tra giống tại huyện Cờ
Đỏ - thành phố Cần Thơ; do sinh viên
thực hiện tại từ đến
Cần Thơ ngày tháng năm 2007 Cần Thơ ngày tháng năm 2007
Cần Thơ, ngày tháng năm 2007 Duyệt khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn đến Cha mẹ và ga đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Thầy Nguyễn Hữu Hưng đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Các thầy cô Bộ Môn Thú Y đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài
Các cán bộ Thư Viện khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng Dụng và cán bộ Thư Viện Khoa Thủy Sản đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong thời gian tìm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu
Ban giám đốc và cán bộ Công Ty TNHH Song Minh đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong thời gian thực tập và phân tích mẫu
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thới giới 2 2.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá ở Việt Nam 3
2.4 Mối quan hệ giữa các tác nhân gây bệnh 6 2.5 Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng trên cá tra giống 8 2.5.1 Bệnh trùng đơn bào (Protozoa) 8
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
3.3.1 Điều tra điều kiện tự nhiên, xã hội 27 3.3.2 Điều tra tình hình chăn nuôi thủy sản 27 3.3.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu môi trường 27 3.3.4 Phương pháp thu mẫu và giải phẩu cá 27
4.1 Kết quả điều tra điều kiện tự nhiên xã hội và tình hình nuôi trồng thủy sản tại huyện Cờ Đỏ - thành phố Cầ Thơ 31
4.1.2 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản của huyện Cờ Đỏ 31 4.2 Khảo sát một số yếu tố môi trường ảnh đến sức khỏe cá 33 4.3 Kết quả tình hình nhiễm ký sinh trùng trên cá tra giống 35 4.4 Khảo sát một số bệnh truyền nhiễm xuất hiện trong quá
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả so sánh các chỉ tiêu môi trường 33 Bảng 4.2 Tình hình nhiễm ký sinh trùng trên cá tra giống 35 Bảng 4.3 Tỉ lệ nhiễm một số bệnh truyền nhiễm xuất hiện trong quá trình
Bảng 4.4 So sánh mối quan hệ giữa bệnh ký sinh trùng và bệnh truyển nhiễm 40
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC HÌNH
Hình 5 Các giai đoạn phát triển của Ichthyophthyrius 12
Hình 8: Sán lá đơn chủ 16 móc (Dactylogyrus) ký sinh trên mang cá 19
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TÓM LƯỢC
Trong quá trình phân tích 73 mẫu cá tra giống phát hiện được 5giống ký sinh
trùng trong đó có 4 giống thuộc nhóm Protozoa: Trichodina (89,19%), Apiosoma (12,16%), Epistylis (1,35%), Ichthyophthyrius (9,46%) và một giống thuộc nhóm Monogenae là Dactylogurus (10,81%)
Khảo sát mối quan hệ giữa bệnh ky sinh trùng và bệnh truyền nhiễm cho thấy bệnh ký sinh trùng là yếu tố mở đường cho sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh
Kiểm tra các yếu tố pH, NO2-, NH3, độ kiềm và mật độ nuôi trong ao cá giống tại huyện Cờ Đỏ cho thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sức khỏe cá
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá tra được nuôi phổ biến ở hầu hết các nước Đông Nam Á đây là loài cá nuôi có giá trị kinh tế cao và là một trong những loài cá quan trọng trong khu vực này Bốn nước trong hạ lưu sông Mê Kông như Campuchia, Thái Lan, Indonexia và Việt Nam đã có nghề nuôi cá tra truyền thống do có nguồn cá tra tự nhiên phong
phú Ở Campuchia, tỷ lệ cá tra thả nuôi chiếm 98% trong 3 loại cá thuộc họ cá tra, chỉ có 2% là cá basa và cá vồ đém, sản lượng cá tra chiếm một nửa tổng sản lượng các loài cá nuôi Tại Thái Lan, trong số 8 tỉnh nuôi cá nhiều nhất, có 50% số trại
nuôi cá tra, đứng thứ hai sau cá rô phi
Đồng Bằng Sông Cửu Long đã có truyền thống nuôi cá tra, nuôi phổ biến trong cả ao và trong bè Hiện nay, cá tra đã phát triển ở nhiều địa phương, không chỉ ở Nam Bộ mà một số nơi ở miền Trung và miền Bắc cũng bắt đẩu quan tâm
nuôi đối tượng này Những năm gần đây nghề nuôi cá tra phát triển mạnh nhằm
phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa và nguyên liệu cho xuất khẩu Đặc biệt từ khi
chúng ta hoàn toàn chủ động về sản xuất giống nhân tạo thì nghề nuôi cá càng ổn định và phát triển vượt bậc Bên cạnh việc đầu tư nghiên cứu phát triển kĩ thuật
chăm sóc nuôi thì vấn đề dịch bệnh trên cá tra cũng đang là vấn đề đang được nhiều nhà chăn nuôi quan tâm, trong đó vấn đề bệnh ký sinh trùng trên cá đã gây nhiều tổn thất đến năng suất của nhà chăn nuôi Được sự đồng ý của Bộ Môn Thú Y –
Khoa Nông Nghiệp Và Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học Cần Thơ chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài “ Tình Hình Nhiễm Ký Sinh Trùng Trên Cá Tra Tại huyện Cờ Đỏ, Thành Phố Cần Thơ”
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới
Ký sinh trùng cá đã được nghiên cứu từ thời Linne (1707 – 1778) Ở Liên Xô
cũ viện sỹ V.A.Dogiel (1882 – 1956) đã đặt nền móng cho nghiên cứu ký sinh trùng
cá Viện sỹ Bychowsky và các cộng sự, năm 1962 đã xuất bản cuốn sách “Bảng phân loại ký sinh trùng của cá nước ngọt Liên Xô”, mô tả 1211 loài ký sinh trùng của khu hệ nước ngọt Liên Xô Tiếp tục năm 1984, 1985, 1987 công trình nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt Liên Xô đã xuất bản thành hai phần gồm 3 tập, do O.N.Bauer là chủ biên chính, S.S.Schulman chủ biên tập 1, A.V.Gussev chủ biên tập 2, O.N.Bauer chủ biên tập 3 ngoài ra còn nhiều tác giả nghiên cứu ký sinh trùng lâu năm của Liên Xô cũ Công trình đã mô tả hơn 2.000 ký sinh trùng của 233 loài cá thuốc 25 họ cá nước ngọt Liên Xô Có thể nói Liên Xô cũ là nước có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên cá sớm nhất, toàn diện và đồ sộ nhất
Các nước Châu Âu khác cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên cá Tiri Lom (1958 – 1997) người Tiệp Khắc đã có nghiên cứu ký sinh
trùng Ciliophora, Myxozoa, Microspora, Spotozoa và Mastigophora trên động trong
đó có cá Jiri Lom và G.Grupcheva (1976), nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào của cá chép ở Tiệp Khắc và Bungari, các tác giả đã so sánh sự xuất hiện bệnh và mô tả loài mới Năm 1992 Jiri Lom và Ivandykova đã xuất bản cuốn “Ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) của cá” Họ cho biết hiện nay có xấp xỉ 2.420 loài ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) ở cá đã được công bố Nhiều loài gây nguy hiểm cho cá nuôi nước ngọt
và nước biển Cuốn sách đã giới thiệu phương pháp nghiên cứu và hệ thống phân
loại của 7 ngành ký sinh trùng đơn bào ở cá gồm: ngành trùng roi (Mastigophora), ngành Opalinata, ngành amid (Amoebae), ngành bào tử (Apicomplexa), ngành vi bào tử (Microspora), ngành trùng lông (Ciliophora), ngành bào tử (Myxozoa)
Ở Nhật Bản, Nagasawa, Awakura, Urawa (1989) đã tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Hokkaido - Nhật Bản và xác định được 96 loài ký
sinh trùng, bao gồm: Protazoa – (21); Monogenea – (11), Trematoda – (22), Cestoda – (10), Nematoda – (15), Acanthocephala – (7), Mollusca – (2), Copepoda – (6), Branchiura – (1) và Isopoda – (1) và 38 loài chưa xác định đến tên loài
Ở Ấn Độ, S.P Gupta (1967) đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào và giun sán ký sinh trùng trên cá A.V Gussev (1976) đã nghiên cứu khu hệ sán lá đơn chủ
ở 37 loài cá nước ngọt Ấn Độ, phân loại được 57 loài sán lá đơn chủ trong đó có 40 loài mới
Ở Banglades, A.T.A Ahmed và M.T.Ezaz, (1997) đã nghiên cứu ký sinh trùng của 17 loài cá trơn kinh tế nước ngọt, xác định được 69 loài giun sán ký sinh
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
(Monogenea – 1, Trematoda – 24, Cestoda –1 0, Nematoda – 28, Acanthocephala –
6, Trematoda – 28)
Châu Phi và Trung Cận Đông đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở cá trong đó có Paperna (1961, 1964, 1965, 1996) Năm 1964 Paperna đã nghiên cứu ký sinh trùng đa bào của 29 loài cá nội địa Israel và phát hiện địa 116
loài ký sinh trùng gồm: Monogenea – (29), Trematoda –(13), ấu trùng Trematoda – (43), Cestoda – (7), Nematoda – (15), Acanthocephala – (1), Hirudinea – (1), Mollusca – (1), Crustacea –(6) Năm 1996 Paperma cho xuất bản cuốn sách “Ký
sinh trùng và bệnh truyền nhiễm ở cá Châu Phi” ông đã mô tả các bệnh ký sinh trùng ở các trại nuôi cá và khoá ký sinh trùng quan trọng của cá
Một số nước khu vực Đông Nam Á đã có các nghiên cứu ký sinh trùng cá từ đầu thế kỷ 20 nhưng chưa nghiên cứu toàn diện nhóm ký sinh trùng, mà chỉ nghiên cứu theo từng nhóm ký sinh trùng như: sán lá song chủ (Philippines) hoặc sán lá song chủ (Malaysia) hoặc ở vài loài cá
Ở Thái Lan nhà khoa học người Mỹ Charles Branchwilson (1926, 1927,
1928) đã mô tả hai loài của Argulus và Caligus từ cá nước ngọt Thái Lan Paiboon –
Yutisri; Apirum – Thuhanruksa (1985) khi điều tra khu hệ ký sinh trùng của một số
cá sống tự nhiên ở một số vùng của Thái Lan đã phát hiện 16 loài ký sinh trùng, trong đó gồm 3 loài ngoại ký sinh trùng và 13 loài nội ký sinh trùng ở cá bống tượng và tỉ lệ nhiễm 69,0% và giun sán ở cá sặc rằn Komonporn Jonguthai (1992)
đã nghiên cứu Isopoda và Myxosporidia ký sinh trên cá Chinabut Suprance (1991,
1993, 1994) đã nghiên cứu sán lá đơn chủ trên một số cá nước ngọt Thelrawoot Lerssuthichawal (1997) nghiên cứu sán lá đơn chủ ký sinh trên cá trê ở Thái Lan
Ở Indonesia, khi nghiên cứu sán dây, sán lá song chủ và giun đầu gai trên cá nước ngọt ở Java, Lousi Bovien (1926, 1927, 1933) đã mô tả một giống mới và loài
mới Djombangia penetrans tìm thấy ở cá trê trắng; Isoparorchis eurytremum ở cá Wallagoattu Tiếp theo nhà khoa học người Đức Alfred L.Buschkiel (1932 – 1935)
đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào (Ichthyophthyrius multifilis) ở một số loài cá nước ngọt ở Indonesia Một số tác giả viện nghiên cứu cá nước ngọt Bogor đã nghiên cứu ký sinh trùng ở cá nuôi, Dr Darnas Dana (1978), một trong số họ đã
nghiên cứu Myxosporidia ở cá nước ngọt
22.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá ở Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu ký sinh trùng cá ở Việt Nam là nhà ký sinh trùn người Pháp, bác sỹ Albert Billet (1856 – 1915) Ông đã mô tả một loài mới sán lá
song chủ Distomum hypselobagri (1898) ký sinh trong bóng hơi cá nheo ở Việt Nam, P.Chevey và J.Lemasson (1936) đã nghiên cứu sự ký sinh của trùng mỏ neo Lernaea carassii, Tidd 1933 (Syn của L cyprinacea Linne, 1758) ở cá chép nuôi
Các công trình nghiên cứu ký sinh trùng cá toàn diện và đầy đủ nhất của tiến
sỹ Hà Ký (1968 – 1971) khi điều tra ký sinh trùng ở 16 loài cá kinh tế ở Bắc Bộ Việt Nam, ông đã xác định được 120 loài ký sinh trùng thuộc 48 giống, 37 họ, 26
bộ và 10 lớp, trong đó trùng roi (Mastigophora) – 2, loài trùng bào tử (Myxozoa) –
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
18, trùng lông (Ciliophora) – 17, Monogenea – 42, Cestoda – 4, Trematoda – 8, Nematoda – 12, Acanthocephala – 2, Crustacea – 15 Ông đã mô tả một giống và
42 loài mới với khoa học
Năm 1976 Nguyễn Thị Muội và cộng sự đã nghiên cứu giun đầu gai trên cá thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, bước đầu phân loại được 9 loài ký sinh trên 12 loài
cá Năm 1981 – 1985, Nguyễn Thị Muội và cộng sự khi điều tra ký sinh trùng của 2 loài cá nước ngọt Tây Nguyên, sơ bộ phân loại được 57 taxon trong đó lớp sán lá đơn chủ (Monogenea) – 15, ký sinh đơn bào (protozoa) – 13, Trematoda – 11,
Crustacea – 7, Cestoda – 5, Nematoda – 3, Acanthocephala – 3
2.3 Đặc điểm sinh học cá tra
Cá tra là hai trong số 11 loài thuộc họ cá tra (Pangasiidae) đã được xác định
ở sông Cửu long Tài liệu phân loại gần đây nhất của tác giả W.Rainboth xếp cá tra nằm trong giống cá tra dầu Cá tra dầu rất ít gặp ở nước ta và còn sống sót rất ít ở Thái Lan và Campuchia, đã được xếp vào danh sách cá cần được bảo vệ nghiêm
ngặt (sách đỏ) Cá tra của ta cũng khác hoàn toàn với loài cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) thuộc họ Ictaluridae
2.3.1 Phân loại cá tra
Bộ cá nheo Silurifor
Họ cá tra Pangasiidae Giống cá tra dầu Pangasianodon Loài cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878)
2.3.2 Phân bố
Cá tra và phân bố ở lưu vực sông Mê kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt Nam, Cămpuchia và Thái Lan Ở Thái Lan còn gặp cá tra ở lưu vực sông Mekông
và Chao Phraya Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo,
cá bột và cá giống tra được vớt trên sông Tiền và sông Hậu Cá trưởng thành chỉ
thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên địa phận Việt Nam, do cá có tập tính di
cư ngược dòng sông Mê kông để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm
2.3.3 Hình thái, sinh lý
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cá tra là cá da trơn (không vẩy), thân dài, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, có 2 đôi râu dài Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được
ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối 7-10), có thể chịu đựng được nước phèn với pH
>5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 15 oC, nhưng chịu nóng tới 39 oC Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các lòai cá khác Cá có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy hòa tan Tiêu hao oxy và ngưỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng
2.3.4 Ðặc điểm dinh dưỡng
Cá tra sau khi nở 30 – 32 giờ thì hết noãn hoàng cá tra bắt đầu tìm kiếm thức
ăn bên ngoài Giai đoạn cá bột thì cá tra tra thể hiện tính dữ và chúng tìm ăn các thức ăn là động vật sống có kích thước vừa với cở miệng Những thức ăn ưa thích của cá tra bột là: cá bột các loài (như mè vinh, he, rô…) các loài giáp xác thấp (moina, daphnia còn gọi là trứng nước), ấu trùng artemia, vì vậy chúng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được cho
ăn đầy đủ, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt cá bột Ngoài ra khi khảo sát cá bột vớt trên sông, còn thấy trong dạ dày của chúng có rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con các loài cá khác Dạ dày của cá phình to hình chữ
U và co giãn được, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau do đó biện pháp giải quyết tốt nhất là phải tạo một lượng thức ăn tự nhiên
có sẵn và đầy đủ trong ao ương trước khi thả cá bột, nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của
cá hạn chế được ăn lẫn nhau của chúng Sau 10 ngày cá bắt đầu xuống đáy tìm thức
ăn và kể từ ngày tuổi 25, cá chuyển sang ăn tạp và tình ăn giống như cá trưởng thành Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức ăn Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các lọai thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như cám, rau, động vật đáy
2.3.5 Ðặc điểm sinh trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh Khi còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài Cá ương trong ao sau 2 tháng đã đạt chiều dài 10-12 cm (14-15 gram) Từ khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể
Cỡ cá trên 10 tuổi trong tự nhiên (ở Campuchia) tăng trọng rất ít Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm Ðã gặp cỡ cá trong tự nhiên 18 kg hoặc có mẫu cá dài tới 1,8 mét Trong ao nuôi vỗ béo, cá bố mẹ cho đẻ đạt tới 25 kg ở cá 10 năm tuổi Nuôi trong ao một năm cá đạt 1-1,5 kg / con (năm đầu tiên), những năm về sau
cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt tới 5-6 kg / năm tùy thuộc môi trường sống và
sự cung cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít Ðộ béo Fulton của cá tăng dần theo trọng lượng và nhanh nhất ở những năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ béo thường giảm đi khi vào mùa sinh sản
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.3.6 Ðặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục của cá đực là 2 tuổi và cá cái 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục lần đầu từ 2,5-3 kg Trong tự nhiên, cá thành thục chỉ gặp trên sông ở địa phận của Campuchia và Thái Lan Ngay từ năm 1966, Thái lan đã bắt cá tra thành thục trên sông (trong đầm Bung Borapet) và kích thích sinh sản nhân tạo thành công Sau
đó họ nghiên cứu nuôi vỗ cá tra trong ao Ðến năm 1972 Thái lan công bố quy trình sinh sản nhân tạo cá tra với phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục trong ao đất
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực, cái Ở thời kỳ thành thục, tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay nõan sào Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt được đực cái từ giai đọan II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều Các giai đọan sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa Hệ số thành thục của cá tra khảo sát được trong tự nhiên từ 1,76-12,94 (cá cái) và từ 0,83-2,1 (cá đực) ở cá đánh bắt tự nhiên trên sông
cỡ từ 8-11kg (Nguyễn văn Trọng, 1989) Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt tới 19,5%
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5-6 dương lịch, cá
có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái lan, không đẻ tự nhiên ở phần sông của Việt Nam Bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông Mêkông và Tonlesap, từ thị xã Kratie (Campuchia) trở lên đến thác Khone, nơi giáp biên giới Campuchia và Lào Nhưng tập trung nhất từ khu Kampi đến hết Koh Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng Tại đây có thể bắt được những cá tra nặng tới
15 kg với buồng trứng đã thành thục Cá đẻ trứng dính vào giá thể thường là rễ của
loài cây sống ven sông Gimenila asiatica, sau 24 giờ thì trứng nở thành cá bột và
trôi về hạ nguồn
Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1-3 lần trong một năm
Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá gọi là sức sinh sản tuyệt đối Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200 ngàn đến vài triệu trứng Sức sinh sản tương đối có thể tới 135 ngàn trứng / kg cá, lượng trứng vuốt đựơc của mỗi cá thể cái chỉ chiếm từ 70 – 80% số trứng có trong buồng trứng Kích thước của trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 1mm Sau khi đẻ ra và hút nước đường kính trứng khi trương nước có thể tới 1,5 -1,6 mm
2.4 Mối quan hệ giữa các tác nhân gây bệnh
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Quá trình hình thành bệnh động vật thủy sản liên quan đến các yếu tố mầm bệnh, môi trường, vật chủ Động vật thủy sản chỉ bị bệnh khi có sự tác động qua lại phức tạp đồng thời giữa 3 yếu tố Nếu thiếu một trong ba yếu tố thì động vật thủy sản không bị bệnh
Mầm bệnh luôn có trong môi trường nước chỉ bộc phát và gây bệnh cho tôm
cá khi đủ số lượng và điều kiện thuận lợi Mầm bệnh có thể chia thành nhiều loại:
+ Vật lý: sự thay đổi đột ngột nhiệt độ, pH, oxy
+ Hoá học: chất độc, khí độc (NH3, NO2…) + Sinh học: vi khuẩn, nấm, virus, vi khuẩn, ký sinh trùng
Vật chủ phải có tính mẫn cảm với bệnh Tính mẫn cảm của động vật thuỷ sản còn phụ thuộc vào tuổi, kích cở của vật nuôi, giống loài, sức khoẻ vật nuôi
Trong mối quan hệ giữa ba yếu tố này yếu tố môi trường là quan trong nhất
nó điều khiển mối quan hệ giữa vật chủ và môi trường theo hướng có lợi hoặc bất lợi
Động vật thuỷ sản sống trong môi trường nước nên giữa chúng và nước có mối quan hệ qua lại, các yếu tố môi trường tạo điều kiện cho động vật thuỷ sản tồn tại, sinh trưởng và phát triển bình thường Tuy nhiên khi yếu tố môi trường bất lợi
Nhiễm mầm bệnh
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
đời sống của động vật thuỷ sản sẻ ảnh hưởng đến sức khoẻ của chúng thậm chí làm cho chúng chết hàng loạt, gây thiệt hại cho sản xuất
2.5 Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng trên cá tra giống
2.5.1Bệnh trùng đơn bào (Protozoa)
Bệnh trùng roi Crytobiosis
Tác nhân gây bệnh
Bộ Bodonidea Holland, 1895
Họ Bodonidae Stun, 1878 Giống Cryptobia Leidy, 1846
Cơ thể dẹp, đoạn trước rộng, sau nhỏ gần giống như lá liễu Phía trước cơ thể
có hai gốc roi, từ đó sinh ra roi trước hướng ra phía trước, roi sau tiếp với cơ thể hình thành màng sóng và vượt quá chiều dài cơ thể, đoạn cuối của roi sau nhọn
thẳng để cấm vào tổ chức ký chủ Màng sóng của Cryptobia có nếp gấp ít hơn Trypanosoma Trong nguyên sinh chất có một hạch lớn hình tròn bắt màu đậm và
các không bào, hạt vật chất dinh dưỡng Kích thước lớn hay nhỏ tùy theo loài Lúc vận động, roi trước không rung chuyển, roi sau thẳng như một cái đuôi dài Nhờ màng sóng đập lên dập xuống mà có thể chuyển động chậm chạp tiến lên phía trước
Phương pháp sinh sản: sinh sản theo phương pháp phân chia theo chiều dọc
cơ thể Cơ thể mới lại sinh ra roi trước và roi sau
Chẩn đoán và phân bố
Cryptobia ký sinh trên mang và da của cá Do đó để xác định tác nhân gây
bệnh thường kiểm tra dịch nhờn của da và mang dưới kính hiển vi Cá nhiễm
Cryptobia tổ chức mang có màu đỏ không bình thường, da và mang có nhiều dịch
nhờn Roi sau cấm sâu vào tổ chức ký chủ đồng thời cơ thể tiết ra chất độc phá hoại
7 Roi sau
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
tổ chức ký chủ Cá bị bệnh nặng hoạt động yếu cơ thể có màu sắc đậm dần, vi
khuẩn và nấm theo vết thương xâm nhập vào cơ thể Cryptobia ký sinh trên da và
mang của nhiều loài cá nước ngọt, thường chúng tập trung thành từng đám Cá càng
nhỏ càng dễ bị cảm nhiễm và thiệt hại lớn hơn cá lớn Cryptobia lưu hành mạnh vào mùa xuân và mùa hè Ở nước ta đã phát hiện Cryptobia branchialis và Cryptobia agitate ký sinh trên mang da cá chép, cá mè trắng, cá mè hoa, cá trắm cỏ, cá tra và
nhiều loài cá nước ngọt với cường độ và tỉ lệ cảm nhiễm cò thấp nên tác hại chưa
nghiêm trọng Ở nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, ký sinh trùng Cryptobia
gây tác hại cho cá hương, cá giống
Bệnh trùng bào tử sợi có hai cực nang – Myxobolosis
Tác nhân gây bệnh
Gây bệnh ở cá loài thuộc giống Myxobolus Biitschli, 1882, họ Myxobolidae Thelohan, 1892 Ngoài những đặc điểm chung của trùng bào tử sợi Myxobolus có
đặc điểm riêng là phía trước bào tử có hai cực nang bằng nhau (Myxobolus koi, M
artus, M seminiformis) một số ít loài có một cực nang bị thoái hóa (Myxobolus toyamai) trong túi có túi thích iode Kích thước của từng loài có khác nhau
Dấu hiệu bệnh lý Khi cá mắc bệnh trùng bào tử sợi, cá bơi lội không bình thường giẩy mạnh,
dị hình cong đuôi, cá kém ăn rồi chết Nếu bị nặng có thể thấy được bào nang bằng hạt tấm, hạt đậu xanh màu trắng đục trên mang cá làm kênh lấp mang không đóng lại được
Phân bố lây truyền
Myxobolus spp ký sinh ở hơn 30 loài cá nước ngọt Việt Nam đã phát hiện gần 30 loài Mức độ cảm nhiễm Myxobolus ở một số loài cá khá cao và đã gây
thành bệnh làm cá chết hàng loạt
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hình 2: Sơ đồ cấu tạo của trùng
Myxobolus
1 Mỏm giữa cực nang
2 Cực nang
3 Sợi tơ xoắn
4 Nhân của phôi amid
5 Không bào
6 Trục đường nối
Hình 3: Bào tử sợi Myxobolus
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ao ương cá giống phải được tẩy vôi nung liều cao 14kg/100m2, phơi đáy ao
từ 3 -7 ngày để diệt các bào tử trong bùn đáy ao hạn chế khả năng gây bệnh của cá giống
Khi thả và vận chuyển cá giống cần kiểm tra bệnh, nếu phát hiện phải loại bỏ
cá, dung các chất khử trùng (vôi nung, chlorine…) nồng độ cao để tiêu diệt mầm bệnh Cấm không được vận chuyển cấm lây lan sang vùng khác Những ao có bào
tử sợi cần được cách ly hoàn toàn
Diệt toàn bộ cá trong ao, giữ nguyên nước ao, dung vôi nung khử trùng kỹ Các dụng cụ đánh bắt cá trong ao bệnh đều phải khử trùng Hiện nay chưa có thuốc trị bệnh trùng bào tử sợi hữu hiệu
Trùng quả dưa (đốm trắng) Ichthyophthyriosis
Tác nhân gây bệnh
Lớp Hymenostomata Delage Heroward, 1896
Bộ Tetrahymehita Faure Fremlei, 1956
Họ Ophryoglenidae Kent, 1882 Giống Ichthyophthyrius Fouguet, 1876 Tác nhân gây bệnh trùng quả dưa là loài Ichthyophthyrius multifiliis Fouguet
(1876) Trùng có dạng giống quả dưa, đường kính 0,5 – 1mm Toàn thân có nhiều lông tơ nhỏ Miệng ở phần trước 1/3 cơ thể, hình gần giống cái tai Một không bào
co rút nằm ngay bên cạnh miệng Trùng mềm mại, có thể biến đổi hình dạng khi vận động ở trong nước, ấu trùng bơi lội nhanh hơn trùng trưởng thành
Chu kỳ sống của trùng chia làm hai giai đoạn: dinh dưỡng và bao nang Giai đoạn dinh dưỡng: khi ấu trùng ký sinh ở da, mang ở giữa các tổ chức thượng bì hút chất dinh dưỡng của ký chủ để sinh trưởng, đồng thời kích thích các
tổ chức của ký chủ hình thành một đốm mủ trắng (vì vậy bệnh còn gọi là bệnh đốm trắng) Trùng quả dưa trưởng thành chui ra khỏi đốm mủ trắng và chuyển sang giai đoạn bào nang
Giai đoạn bào nang: trùng rời ký chủ bơi lội tự do trong nước một thời gian rồi dừng lại ở ven bờ hoặc tựa vào cây cỏ thuỷ sinh, tiết ra chất keo bao vây lấy cơ thể hình thành bào nang Trùng bắt đầu sinh sản phân đôi thành rất nhiều (1000 –
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2000) ấu trùng có đường kính từ 18 – 22 µm Ấu trùng tiết ra loại men Hyaluronidaza phá vỡ bào nang chui ra ngoài, bơi trong nước tìm ký chủ mới Ấu trùng có thể sống trong nước 2 – 3 tuần Thời gian sinh sản của ấu trùng tuỳ thuộc vào nhiệt độ nước 10 – 12 giờ ở nhiệt độ 26 – 270C, 14 – 15 giờ ở nhiệt độ 24 –
250C, 18 – 20 giờ ở nhiệt độ 20 – 220C, 72 – 84 giờ ở nhiệt độ 7 – 80C Nhiệt độ thích hợp cho trùng phát triển 25 – 260C
Ở giai đoạn không ký sinh, trùng quả dưa rất nhạy cảm với yếu tố môi trường Chúng không chụi được môi trường có pH < 5 Khi oxy trong nước giảm xuống 0,8mg/l trùng cũng bị chết
Ở giai đoạn ký sinh chúng rất nhạy cảm với nhiệt độ và phản ứng miễn dịch của cá bệnh Khi cá đã bị nhiễm bệnh trùng quả dưa, cơ thể cá sinh kháng thể có khả năng làm miễn dịch bệnh này Vì thế sự tái nhiễm sẽ giảm đi rất nhiều Theo Paperna (1980) cá chép đã nhiễm bệnh trùng quả dưa mà sống sót thì có khả năng miễn dịch trong vòng 8 tháng
Dấu hiệu bệnh lý
Da, mang, vây của cá bị nhiễm bệnh có nhiều trùng bám thành các hạt lấm tấm rất nhỏ, màu hơi trắng đục (đốm trắng), có thể thấy rỏ bằng mắt thường Da mang cá có rất nhiều nhớt, màu sắc nhợt nhạt.Cá bệnh nổi từng đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ yếu ớt Lúc đầu cá tập trung gần bờ, nơi có rác, giẩy nhiều do ngứa ngáy Trùng bám nhiều ở mang, phá hoại biểu mô mang làm cá ngạt thở Khi cá yếu quá chỉ còn ngoi đầu lên để thở, đuôi bất động cấm xuống đất Cá trê giống bị hiện tượng này hay được gọi là bệnh “treo râu” Sau cùng cá nhào lộn mấy vòng rồi lật ngữa bụng chìm xuống đáy rồi chết
Bệnh gẩy ảnh hưởng đến chức năng sinh lý, sinh hóa của cá Protein trong huyết thanh giảm xuống tới 2,5 lần, hoạt động của gan, thận bị rối loạn, lượng tích luỹ protein bị giảm, ảnh hưởng quá trình trao đổi amino axid Thành phần máu cũng
bị thay đổi lượng hồng cầu của cá chép con giảm 2 – 3 lần, bạch cầu tăng quá nhiều,
Hình 4: Các giai đoạn phát triển
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
đặc biệt là máu ngoại biên – lượng bạch cầu có thể tăng tới 20 lần (theo Golovina,
1976 – 1978)
Phân bố và lan truyền bệnh Bệnh lưu hành rất rộng khắp các châu lục trên thế giới Ở khu vưc Động Nam Á, các loài cá thường mắc bệnh này Ở Việt nam đã phát hiện thấy trùng quả dưa ở cá trắm cỏ, chép, mè trắng, mè hoa, trôi, rô phi (Hà Ký, 1968), cá thát lát (Nguyễn Thị Muội, 1985), cá tra nuôi, trê vàng, trê phi (Bùi Quang Tề) Ngoài ra một số cá cảnh cũng thường mắc bệnh này Trùng quả dưa đã gây thành dịch bệnh ở
cá giống các loài: mè trắng, rô phi, tra, trê vàng, trê phi, cá chim trắng vv…Tỉ lệ cảm nhiễm 70 – 100%, cường độ 5 – 7 trùng/ lame
Chẩn đoán bệnh Dựa theo dấu hiệu bệnh lý quan sát bằng mắt thường và kiểm tra nhớt cá trên kính hiển vi Cường độ cảm nhiễm từ 5 – 10 trùng / lame là cá bị bệnh nguy hiểm
Phòng trị bệnh
Để phòng tuyệt đối không nên thả chung cá bệnh với cá khoẻ Thời gian cách ly phụ thuộc vào nhiệt độ, ở nhiệt độ 260C cần cách ly khoảng 2 – 8 tuần (Theo Kabata, 1985) Phơi đáy ao từ 3 – 4 ngày diệt bào tử ở đáy ao Trước khi thả nếu kiểm tra thấy cá có trùng cần xử lý ngay bằng thuốc Goven và ctv (1980) đã thí nghiệm dùng kháng nguyên từ lông tơ hoặc toàn bộ tế bào của trùng quả dưa tiêm cho cá nheo Mỹ, gây miễn dịch lần đầu với 4µg kháng nguyên, sau hai tuần gây miễn dịch lần thử hai với 5µg, kết quả có khả năng miễn dịch cao Tác giả còn thử
kháng nguyên lấy từ lông tơ của loài Tetrahynema pyriformis một loài sống ở nước
ngọt, kết quả cũng phòng được bệnh trùng quả dưa như kháng nguyên nói trên
Để trị bệnh trùng quả dưa cần chú ý đến hai giai đoạn trong chu kỳ sống của
nó Diệt trùng ở thời kỳ ấu trùng bơi lội tự do thuộc giai đoạn bào nang dễ dàng hơn
so với giai đoạn dinh dưỡng ký sinh Các phương pháp trị trùng quả dưa đều phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường nên cần phải thí nghiệm để lựa chọn phù hợp cho từng vùng
Thuốc và hoá chất dùng điều trị bệnh này rất đa dạng Nhiều tác giả ở các nước khác nhau đã xử lý đạt kết quả ở những mức độ khác nhau Ở Việt Nam đã sử dụng có kết quả một số hóa chất như sau:
Đối với cá giống ở đồng bằng Nam Bộ, do nhiệt độ nước bình quân cao (25 – 280C), có thể dùng thuốc với nồng độ thấp hơn Ở Việt Nam đã sử dụng một số hoá chất có kết quả như sau: formalin 200 – 300ppm thời gian 30 – 60 phút hoặc phun xuống ao với liều lượng 10 – 20ppm thời gian vô định
Trùng bánh xe Tác nhân gây bệnh
Lớp Peritricha Stein, 1859
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bộ Peritrichida F.Stein, 1859
Bộ phụ Mobilina Kahl, 1933
Họ Trichodonidae Claus, 1874 Giống Trichodina ehrenberg, 1830 Giống Trichodinella Sramek – Husek, 1953 Giống Tripartiella Lom, 1959
Họ trùng bánh xe Trichodinidae có nhiều giống, nhưng ở Việt Nam thường gặp các loài thuộc ba giống trên ký sinh ở cá nước ngọt, nước mặn, lưỡng thê và bò
sát Những giống loài thường gặp Trichodina nigra, Trichodina nobilis, Trichodina pediculus, Trichodina siluri, Trichodina domerguei domerguei, Trichodina mutabilis, Trichodinella epizootica, Tripartiella bulbosa
Hình dáng cấu tạo của cơ thể Trichodina nhìn mặt bên giống như cái chuông,
mặt bụng giống cái dĩa Lúc vận động nó quay tròn lật qua lật lại giống như bánh xe nên có tên là trùng bánh xe Nhìn chính diện có một đĩa bám lớn có cấu tạo phức tạp, trên đĩa có một răng và các đường phóng xạ Vòng răng có nhiều răng mỗi vòng răng có dạng gần giống như chữ “V” bao gồm thân răng ở phía ngoài dạng hình lưỡi rùi, hình tròn hay hình bầu dục, còn móc răng ở phái trong thường dạng hình kim Các thể răng sắp xếp sít nhau, cái nọ chồng lên cái kia tạo thành một đường vòng tròn Hình dạng và số lượng răng và đường phóng xạ là tiêu chuẩn quan trọng để phân loại Xung quanh co thể có lông tơ phân bố, lông tơ luôn luôn rung động làm cho cơ thể hoạt động rất linh hoạt Cơ thể nhình nghiên ở phía trên ta thấy có rảnh miệng, tiếp theo rãnh miệng là miệng, rãnh miệng có đai lông tơ ở bên trên và đai lông tơ ở bên duới Cơ thể có một hạch lớn hình móng ngựa nằm ở giữa
cơ thể thường bắt màu rõ và một hạch nhỏ tròn nằm cạnh hạch lớn
Trùng bánh xe chủ yếu sinh sản bằng hình thức vô tính phân chia đơn giản,
tuỳ theo từng loài chúng sinh sản hình như quanh năm: Trichodiana nigra, Trichopartiella balbosa thì sinh sản trong điều kiện thời tiết ấm, nhiệt độ 22 – 280C,
Trichodina pediculus, có thể sinh sản trong điều kiện thời tiết lạnh: ở 160C trùng vẫn sinh sản được
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trùng bánh xe có thể sống tự do trong nuớc (ngoài ký chủ) từ 1 – 1,5 ngày Trùng ký sinh chủ yếu trên da, mang, khoang mũi của cá
Dấu hiệu bệnh lý Khi mới mắc bệnh, trên thân cá có nhiều nhớt hơi màu trắng đục, ở dưới nước dễ nhìn thấy hơn so với khi bắt cá lên cạn Da cá chuyển màu xám, cá cảm thấy ngứa ngáy, thường nổi từng đàn lên mặt nước, thường cá tra giống nhô hẳn đầu lên mặt nước và lắc mạnh, người nuôi cá kêu bằng bệnh “lắc đầu” Một số con tách đàn bơi quanh bờ ao Khi bệnh nặng ký sinh trùng ở mang, phá huỷ các tơ mang khiến cá bị ngạt thở, những con bệnh nặng mang đầy nhớt và bạc trắng Cá bơi lội lung tung không định hướng Sau hết cá lật bụng mấy vòng, chìm xuống đáy ao và chết Người nuôi cá tra giống còn gọi bệnh này là bệnh “trái”, vì sau mấy hôm trời
âm u không nắng, nhiệt độ mát mẻ, trùng bánh sinh sản nhanh chống gây thnàh dịch bệnh khiến cá chết hàng loạt Đàn cá nếu bị nhẹ thì gầy yếu, nếu không xử lý bệnh kịp thời cá sẽ chết nhiều Khi kiểm tra tỉ lệ cảm nhiễm của đàn, nếu tỉ lệ cảm nhiễm 90% - 100%, cường độ cảm nhiễm 20 – 30 trùng/ thị trường 9 x 10 là nguy hiểm Đàn cá phát bệnh khi cường độ nhiễm 50 – 100 trùng/ thị trường 9 x 10 Bệnh nặng cường độ nhiễm khi tới 200 – 250 con / thị trường 9 x 10, trùng bám đày đặc trên
da, vây, mang cá
Phân bố và lan truyền Trùng bánh xe phân bố rộng Theo Hà Ký (1968) và Bùi Quang Tề (1990, 2001) bệnh này gây tác hại chủ yếu cho cá hương, cá giống ở Việt Nam Bệnh phát rộng trên nhiều loài cá khác nhau: chép, trắm cỏ, mè trắng, mè hoa, trôi, rôhu, trê, tra, bống tượng, mùi…và trên 10 loài cá kinh tế khác nữa Trong các ao ương nuôi
cá bệnh phát triển quanh năm nhưng phẩ biến nhất vào mùa xuân, đầu hạ và mùa thu ở niền Bắc, vào mùa mưa ở miề Nam mùa khô ít hơn
Hình 5: Cấu tạo của trichodina
A: Quan sát bên ngoài B: Quan sát một bộ phận mặt cắtdọc
1 Rảnh miệng và đai tơ lông miệng
9 Đai lông tơ biên
10 Lông tơ trên
11 Lông tơ dưới
12 Đường phóng xạ
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bệnh gây thiệt hại lớn cho các cơ sở ương nuôi giống
Chẩn đoán bệnh Quan sát các dấu bệnh lý (triệu chứng) của đàn cá trong ao Vớt cá kiểm tra nhớt, mang dưới kính hiển vi, xác định tỉ lệ và cường độ nhiễm trùng bánh xe
Phòng và trị bệnh Biện pháp tốt nhất phòng bệnh trùng bánh xe là giữ gìn vệ sinh cho các ao hồ nuôi cá, nhất là ao ương Trước khi ương nuôi phải tẩy vôi, tiêu độc ao mật độ cá không nên thả quá dày Theo Hà Ký (1963) mật độ thả quá dày thì cường độ nhiễm trùng bánh xe của cá sẽ tăng gấp 4 – 12 lần Các loại phân hữu cơ, nhất là phân bắc phải được ủ kỹ với 1% vôi Thực tế cho thấy những nơi dùng phân tươi thường hay phát bệnh
Ở Việt Nam thường dùng một số phương pháp đơn giản bà háo chất dễ kiếm: Dùng nước muối NaCl 2 – 3% tắm cho cá 5 – 15 phút, dùng CuSO4, nồng độ 3 – 5 ppm tắm cho cá 5 – 15 phút hoặc phun trựa tiếp xuống ao với nồng độ 0,5 – 0,7ppm (0,5 – 0,7g cho 1m3 nước) Những biện pháp trên đã được áp dụng có kết quả ở các địa phương cho các loài cá nuôi: chép, mè, trôi, trắm, tra, trê…
Trùng loa kèn Tác nhân gây bệnh
Họ phụ Apiosomatinae Banina Giống Apiosoma Blanchard, 1885
Họ Vorticellidae Giống Zoothamnium
Ký sinh trùng ở động vật thủy sản Vịêt Nam, 4 giống thụôc 2 họ Nhìn chúng
cơ thể phía trước lớn, phía sau nhỏ, có dạng hình loa kèn, hình chuông lộn ngược, nên có tên gọi là trùng loa kèn Phía trước cơ thể có 1 - 3 vòng lông rung và khe miệng, phía sau ít nhiều đều có cuống để bám vào bất cứ giá thể nào Một số giống
hình thành tập đoàn (Epistylis, Zoothamnium) các cá thể liên kết với nhau bởi nhánh
đuôi Trùng loa kèn lấy dinh dưỡng bằng cách lọc trong môi trường nước
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trùng loa kèn sinh sản vô tính bằng hình thức tiếp hợp thường cơ thể
nhỏ bám gần miệng cơ thể lớn Nhân
lớn của tiếp hợp tử phân thành khối
nhiễm sắc thể
Giống Vorticella có thể sống
đơn độc, đính vào giá thể bằng một
cuốn hình trụ mảnh co thể co rút được
Tế bào hình chuông lộn ngược Phía
trước thường rộng hình đĩa, một vùng
lông xoắn ngược chiều kim đồng hồ,
hướng tới miệng Có thể có một nhân
với Vorticella, những loài của giống
này sống tập đoàn, mỗi tập đòan có vài
hoăc rất nhiều tế bào Cuống phân
nhánh dạng lưỡng phân đều Cuống có
khả năng co rút không liên tục trong
tập đoàn, nên mỗi nhánh co rút riêng
rẽ
Giống Epitylis cấu tạo tế bào gần tương tự như Zoothamnium Nhân
lớn của chúng tương đối ngắn, có dạng
xúc xích Đặc điểm chủ yếu khác với
Zoothamnium là cuống không co rút
Bản thân tế bào có thể co hoặc duỗi
vòng lông rung ở phía trước miệng vào trong cơ thể Cuống phân nhánh so le hoặc đều
Giống Apiosoma cơ thể hình chuông hoặc hình phểu lộn ngược Phía trước tế
bào hình thành đĩa lông rung gồm 3 vòng lông tơ xoáy ngược chiều kim đồng hồ tới phểu miệng Cuối cùng phía sau tế bào thon dài hình cuống, đầu hút của cuống có một đĩa bám nhỏ hoặc túm lông bám, tổ chức dính Màng tế bào mỏng, có vân ngang, gần nhân có vành đai lông mao ngắn Nhân lớn hình nón lộn ngược nằm ở trung tâm tế bào Nhân nhỏ hình bán cầu hoặc hình gậy gần nhân lớn
Kích thước của trùng loa kèn thay đổi theo giống loài, ví dụ: Apiosoma piscicolum cylindriformis (Chen, 1955) kích thước tế bào 50 – 80 x 11 – 15,4 µm Loài Apiosoma minutum (Chen 1961): 13,7 – 26,2 x 5 – 12,5 µm Epistylis sp (Hà
Hình 6: Trùng loa kèn Apiosoma