thuộc họ Lộc vừng Lecythidaceae trong giai đoạn vườn ươm” để nghiên cứu sâu hơn về quá trình sinh trưởng của cây trong giai đoạn vườn ươm và tiến tới phát triển loài cây có giá trị tra
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
PHAN THỤY PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH
(Couroupita guianensis Aulb.)
THUỘC HỌ LỘC VỪNG (Lecythidaceae)
TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: SINH THÁI HỌC
Mã số: 60 42 60
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ MINH TRUNG
TP.HCM, NĂM 2011
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Tất cả những số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Phan Thụy Phương Thảo
Trang 3L ỜI CẢM TẠ
Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đạo tạo Thạc sĩ, hệ chính quy, khóa
2008 – 2011 của trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp
đỡ và tạo những điều kiện thuận lợi của Ban Giám Hiệu và Phòng Sau Đại Học – Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Sài Gòn, Ban Giám Hiệu Trường Trung Học Thực Hành Sài Gòn, Ban Chủ Nhiệm và Thầy Cô Khoa Sinh Học – Đại Học Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh và Khoa Sư phạm Tự nhiên – Đại học Sài Gòn Nhân dịp này tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước những sự quan tâm, giúp đỡ quý báu
Kết quả của luận văn này không thể tách rời sự chỉ dẫn nhiệt tình của người hướng dẫn khoa học: TS Lê Minh Trung Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự chỉ dẫn chân tình của Thầy hướng dẫn khoa học
Trong quá trình làm luận văn, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ và cổ vũ chân thành của
Ba Mẹ, các em trong gia đình, các bạn đồng nghiệp và các Ni, Sư, Phật tử của chùa Tường Quang Tác giả xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ sự giúp đỡ, cổ vũ vô tư đó
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 8 năm 2011
Phan Thụy Phương Thảo
Trang 4DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APG : Angiosperm Phylogeny Group
Trang 51.4.Đóng góp của luận văn 1 7 1
1.5.Bố cục của luận văn 1 7 1
Chương 2 – Tổng quan tài liệu1 8
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 1 16 1
3.3 Vật liệu và phương tiện hỗ trợ nghiên cứu 1 16 1
3.4 Các phương pháp tiến hành thí nghiệm 1 17 1
3.4.1 Ngoài tự nhiên 1 17 1
3.4.2 Bố trí thí nghiệm trong vườn ươm 1 17 1
3.4.3 Phương tiện xử lý và phân tích số liệu 1 19 1
Chương 4 – Kết quả và thảo luận1 21
4.3.1.2.Kết quả: 1 26 4.3.2.Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tăng trưởng của cây con: 44
Trang 64.3.2.1.Trồng cây: 1 44 1
4.3.2.2.Kết quả: 1 44 1
Chương 5 – Kết luận và kiến nghị1 62
1
5.1 Kết luận 1 62 1
5.1.1.Về phân loại: 1 62 1
5.1.2.Đặc điểm hình thái: 1 62 1
5 1.3.Cách thu hạt: 1 62 1
5.1.4.Trong vườn ươm: 1 62 1
5.2 Kiến nghị: 1 64 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO1 65
1
PHỤ LỤC1 69
Trang 7Chương 1 – Mở đầu
1.1.Tính c ấp thiết của đề tài
Cây xanh – Một phần không thể thiếu tại các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh Cây xanh không chỉ giúp làm giảm ô nhiễm không khí, giảm tiếng ồn, cho bóng mát, tăng vẻ
mỹ quan mà còn có thể giúp tinh thần bớt căng thẳng và sảng khoái Trên đường phố, công viên và nhất là trong trang trí ngoại thất, việc lựa chọn cây xanh phù hợp làm nguyên liệu thiết kế đóng vai trò quan trọng
Cây Đầu lân (Couroupita guianensis Aubl.) thuộc họ Lộc vừng (Lecythidaceae) là loài
cây che bóng, có hoa đẹp, nở quanh năm, hương thơm thanh thoát và có ý nghĩa về tâm linh Phật giáo Do đó, hiện nay, cây được trồng rải rác trong 1 số công viên như Tao Đàn, Bình Quới, Thảo Cầm Viên… và trồng nhiều ở các chùa Kỳ Quang, Tường Quang, Xá Lợi, Vĩnh Nghiêm, Trung tâm Tịnh xá… Ngoài ra, đây cũng là loài cây có quả và lá được dùng làm dược liệu chữa các bệnh thông thường
Từ những ưu điểm nêu trên của loài cây này, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu một số đặc
điểm sinh lý - sinh thái cây Đầu lân (Couroupita guianensis Aubl.) thuộc họ Lộc
vừng (Lecythidaceae) trong giai đoạn vườn ươm” để nghiên cứu sâu hơn về quá trình
sinh trưởng của cây trong giai đoạn vườn ươm và tiến tới phát triển loài cây có giá trị trang trí ngoại thất cao và có ý nghĩa Phật giáo đặc biệt này
1.2.M ục tiêu nghiên cứu
- Mô tả các đặc điểm hình thái, minh họa bằng hình ảnh các bộ phận của cây như thân,
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Cây Đầu lân (Couroupita guianensis) trong tự nhiên và được nhân giống trong vườn
ươm
Trang 81.4 Đóng góp của luận văn
- Bước đầu cung cấp một số thông tin làm cơ sở cho việc gieo ươm cây Đầu Lân con
- Miêu tả cụ thể, định danh và đặc điểm sinh lý của cây tại TpHCM
1.5.B ố cục của luận văn
Chương 1 – Mở đầu
Chương 2 – Tổng quan tài liệu
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 – Kết quả và thảo luận
Chương 5 – Kết luận và kiến nghị
Trang 9Chương 2 – Tổng quan tài liệu
2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên của khu vực nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý:
Với tổng diện tích đất tự nhiên là 543,8884 ha, Hiệp Thành mang hình dáng của một tứ giác lồi về hướng Tây và Tây Bắc, nằm gọn giữa khúc lưng của Quận 12 – Thành phố Hồ Chí Minh, bốn hướng tiếp giáp với:
Hướng Đông : Phường Thới An – Quận 12
Hướng Tây : Phường Tân Chánh Hiệp – Quận 12 và xã Thới Tam Môn – Hóc Môn
Hướng Nam : Phường Tân Chánh Hiệp và phường Tân Thới Hiệp – Quận 12
Hướng Bắc : Xã Đông Thạnh – Huyện Hóc Môn
b Địa hình, địa mạo:
Hiệp Thành thuộc vùng đồng bằng Nam bộ, mang 2 dạng địa hình : thấp và cao
- Địa hình thấp : tương đối thấp và bằng phẳng, độ cao trung bình từ 0,6 – 0,8 m
- Địa hình cao : độ cao trung bình là 4,5 – 5 m
Với những đặc điểm trên, Hiệp Thành có khả năng phát triển cả về canh tác nông nghiệp cũng như thuận lợi cho xây dựng cơ sở hạ tầng – kỹ thuật
Trang 10c Khí hậu:
- Nằm trong vùng xích đạo nhiệt đới gió mùa của nước ta nên Hiệp Thành mang nét đặc trưng của khí hậu Đông Nam Bộ có 2 mùa rõ rệt : mùa khô và mùa mưa
+ Mùa khô bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4, chiếm 10% lượng mưa cả năm
+ Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, với số ngày mưa khoảng 132 ngày, với lượng mưa bình quân là 1980 mm/ năm, chiếm 90% lượng mưa cả năm
Phường được bao bọc về hướng Tây Bắc bởi kênh Trần Quang Cơ và rạch Cầu Dừa Ngoài
ra toàn lãnh thổ của phường không còn sông suối chảy qua nên cũng gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp, gây ít nhiều ảnh hưởng đến mùa màng ở địa phương
2.1.2 Các ngu ồn tài nguyên
Trang 11Bảng 2: Phân loại đất đai phường Hiệp Thành, quận 12
ACd Dystric Acrisols Đất xám bạc màu 208,99 38,53
ACf Ferric Acrisols Đất nâu vàng trên phù sa cổ 207,16 38,20
ACh Haplic Acrisols Đất xám trên phù sa cổ 119,84 22,10
FLtp Protothionic Fluvisols Đất phù sa nhiễm phèn nhiều 6,36 1,17
( Nguồn : Bản đồ đất quận 12 – TP Hồ Chí Minh)
Điều này tạo điều kiện cho Hiệp Thành phát triển đa dạng về thành phần kinh tế, tuy vậy cũng gây hạn chế cho việc phát triển đồng đều, cân đối giữa các ngành dựa trên tiềm lực
sẵn có ở địa bàn
b Tài nguyên nước :
Trang 12Ở đây, người dân chủ yếu sử dụng nguồn nước ngầm với mực nước giếng đào sâu từ 8 - 10m Nhìn chung, chất lượng nước tương đối tốt nên đại đa số hộ dân trong phường đều
sử dụng hầu hết là giếng khoan, chỉ một số ít hộ dùng giếng đào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
2.2 T ổng quan vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Vai trò c ủa một số nhân tố sinh thái đối với cây gỗ non trong giai đoạn vườn ươm
Sự sống sót ban đầu của cây con ở điều kiện đất trồng rừng cũng phụ thuộc vào việc điều chỉnh ánh sáng trong giai đoạn vườn ươm Những cây con sinh trưởng với cường độ ánh sáng thấp sẽ hình thành các lá chịu bóng Nếu bất ngờ đưa chúng ra ngoài ánh sáng và kèm theo điều kiện ẩm độ, nhiệt độ thay đổi, chúng sẽ bị ức chế bởi ánh sáng mạnh Điều này có thể làm cho cây con bị tử vong hoặc giảm tăng trưởng cho đến khi các lá chịu bóng được thay thế bằng các lá ưa sáng
Chế độ ánh sáng được coi là thích hợp cho cây con ở vườn ươm khi nó tạo ra tỷ lệ lớn giữa rễ/chiều cao thân, hình thái tán lá cân đối, tỷ lệ chiều cao/ đường kính bằng hoặc gần bằng 1 Đặc điểm này cho phép cây con có thể sống sót và sinh trưởng tốt khi chúng bị phơi ra ánh sáng hoàn toàn Vì thế, trong gieo ươm nhà lâm học phải chú ý đến nhu cầu ánh sáng của cây con
b Nước
Trang 13Nước đóng vai trò rất quan trọng đối với thực vật, nhất là giai đoạn vườn ươm Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số lượng Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây gỗ non Hệ rễ cây con trong bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh trưởng Nhiều nước sẽ tạo ra môi trường quá ẩm ; kết quả rễ cây phát triển kém hoặc chết do thiếu không khí Nếu cây thiếu nước, chất nguyên sinh sẽ bị mất nước, chúng có thể chuyển sang trạng thái coaxecva hoặc trạng thái gel và kèm theo giảm hoạt động sống của chúng Đồng thời khi mất nước có thể làm giảm tính bền vững của keo nguyên sinh chất và ở mức độ có thể gây nên biến tính keo nguyên sinh chất và cây sẽ chết (Hoàng Minh Tấn và ctv, 1994) [29] Vì thế, việc xác định hàm lượng nước thích hợp cho cây non vườn ươm là việc làm rất quan trọng ( Larcher, 1983) [17]; (Nguyễn Văn Sở, 2004 ) [28]
Thành phần hỗn hợp ruột bầu bao gồm đất, phân bón (hữu cơ, vô cơ) và chất phụ gia để đảm bảo điều kiện lý hóa tính của ruột bầu Đất được chọn làm ruột bầu Đất được chọn làm ruột bầu thịt nhẹ, pH trung tính, không mang mầm mống sâu bệnh hại
Theo Nguyễn Xuân Quát (1985) [23], để giúp cây con sinh trưởng và phát triển tốt, vấn đề
bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện tính chất của ruột bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết Trong giai đoạn vươm ươm, những nhân tố được đặt biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụ gia
d) Kích thước bầu
Kích thước bầu là chỉ tiêu phản ánh khoảng không gian sinh sống của cây con Mỗi loài cây khác nhau đòi hỏi một khoảng không gian để sinh trưởng, phát triển tốt Kích thước bầu chi
Trang 14phối không chỉ đến hàm lượng dinh dưỡng nhiều hay ít, mà còn đến ánh sáng và nước, hình dạng và tình trạng phát triển của hệ rễ và thân cây Kích thước bầu còn ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và kĩ thuật trồng rừng Kích thước bầu quá lớn sẽ gây bất lợi cho việc vận chuyển cây con tới nơi trồng rừng, tốn nhiều hỗn hợp ruột bầu…; do đó chi phí trồng rừng cao Kích thước bầu quá nhỏ dẫn đến thu hẹp không gian sinh sống, làm giảm hàm lượng dinh dưỡng, ánh sáng, nước; kết quả cũng ảnh hưởng đến chất lượng cây con Vì thế, trong giai đoạn vườn ươm kích thước bầu được nhiều tác giả quan tâm (Nguyễn Xuân Quát, 1985) [23]; (Nguyễn Minh Đường, 1985) [9]; (Nguyễn Văn Thêm, 2002) [30]; (2003) [31]; (Nguyễn Tuấn Bình, 2002) [5]; (Vũ Thị Lan, 2007) [18]
Kích thước bầu cần đảm bảo một số yêu cầu sau đây: (1) giữ cây đứng vững, hệ rễ phát triển bình thường ; (2) cung cấp đầy đủ ánh sáng và chất khoáng cho cây con; (3) tiết kiệm không gian gieo ươm; (4) dễ vận chuyển và xử lý khi đem trồng
2.2.2 Nh ững nghiên cứu về gieo ươm các loài cây gỗ
a Trên thế giới:
Khi nghiên cứu về sinh thái của hạt giống và sinh trưởng của cây gỗ non, Khurama và Singh (2000) [39] đã nhận thấy rằng, cường độ ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt tới sự nảy mấm, sự sống sót và quá trình sinh trưởng của cây con Năm 1981, Sasaki và Mori đã tiến hành
nghiên cứu và đáng giá khả năng chịu bóng của một số loài như Shorea taluranh, Sovalis,
Hopea helferei và Vatica odorata Kết quả cho thấy sinh trưởng của cây con bị ức chế khi cường độ ánh sáng cao hơn 50%
Theo Thomas (1985) [41], chất lượng cây con có quan hệ với tình trạng chất khoáng Nito và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của lá Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con
b Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu gieo ươm cây gỗ Nhìn chung, khi nghiên cứu gieo ươm cây gỗ, một mặc các nhà nghiên cứu hướng vào xác định những nhân tố sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến sinh trưởng của cây con Những nhân
tố được quan tâm nhiều là ánh sáng, đất, hỗn hợp ruột bầu, chế độ nước và kích thước bầu Mặt khác, nhiều nghiên cứu còn hướng vào việc làm rõ tiêu chuẩn của cây con đem trồng
Trang 15Nghiên cứu gieo ươm thông nhựa (Pinus merkusii), Nguyễn Xuân Quát (1985) [23] cũng đã
tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu Tương tự Hoàng Công Đãng (2000) [8] đã thực hiện với loài Bần chua ở giai đoạn vươn ươm
Khi bố trí thí nghiệm về ảnh hưởng của độ tàn che, Nguyễn Xuân Quát (1985) [23] và Hoàng Công Đãng (2000) [8] đã phân chia 5 mức che ánh sáng: không che (đối chứng), che 25%, 50%, 75%, 100% Để thăm dò phản ứng của cây con với phân bón, Nguyễn Xuân Quát (1985) [23] và Hoàng Công Đãng (2000) [8] đã bón lót super lân, clorua kali, sulphat amôn với tỷ lệ từ 0 – 6% so với trọng lượng ruột bầu Đối với phân hữu cơ, các tác giả thường sử dụng phân chuồng (phân trâu, phân bò và phân heo) với liều lượng từ 0 – 25% so với trọng lượng bầu Một số nghiên cứu cũng hướng vào xem xét phản ứng của cây gỗ non với nước Tuy vậy, đây là một vấn đề khó, bởi vì hiện nay còn thiếu những điều kiện nghiên cứu cần thiết (Nguyễn Xuân Quát, 1985) [23]
Từ năm 1980 – 1985, Nguyễn Minh Đường [9] và nhiều tác giả khác cũng có những nghiên cứu chi tiết về gieo ươm và trồng rừng sao dầu ở rừng miền Đông Nam Bộ
Năm 1997, Nguyễn Thị Mừng [20] đã nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ che bóng đến sinh
trưởng của cây Cẩm lai (Dalbergia bariaensis Pierre) trong giai đoạn vườm ươm Kết quả
nghiên cứu đã chứng tỏ rằng, ở giai đoạn từ 1 – 4 tháng tuổi, mức độ che bóng 50 – 100% (tốt nhất 75%) đảm bảo cho Cẩm lai có hàm lượng diệp lục a,b và tổng số cao hơn, sinh khối, sinh trưởng chiều cao đều lớn hơn so với đối chứng (không che bóng) Nhưng đến tháng thứ 6, các chỉ tiêu trên lại đạt cao nhất ở tỷ lệ che bóng 50%
Khi nghiên cứu về gieo ươm Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre), Nguyễn Tuấn
Bình (2002) [5] nhận thấy độ tàn che 25% - 50% là thích hợp cho sinh trưởng của Dầu song nàng 12 tháng tuổi Kết quả nghiên cứu về cây Huỳnh liên (Tecoma stans (L.) H.B.K.) trong giai đoạn 6 tháng tuổi cũng cho thấy độ che sáng thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của Huỳnh liên là 60% (Nguyễn Thị Cẩm Nhung, 2006) [21]
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thước bầu đến sinh trưởng của cây gỗ non cũng đã được nhiều tác giả quan tâm Theo Nguyễn Tấn Bình (2002) [5], kích thước bầu thích hợp cho gieo ươm Dầu song nàng là 20 x 30 cm, đục 8-10 lỗ
Một vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu là thành phần hỗn hợp ruột bầu Theo Nguyễn Văn Sở (2004) [29], sự phát triển của cây con phụ thuộc không chỉ vào tính di truyền của cây mà còn vào môi trường sinh trưởng của nó (tính chất lý hóa của ruột bầu) Tuy nhiên không phải tất cả các loài cây đều cần một loại hỗn hợp như nhau, mà chúng thay
Trang 16đổi tùy thuộc vào đặc tính sinh thái học của mỗi loài cây Theo Nguyễn Thị Mừng (1997) [20], thành phần ruột bầu được cấu tạo từ 79% đất + 18% phân chuồng + 0,5% N + 2% P + 0,5% K hoặc 80% đất + 15% phân chuồng + 1% N +3% P +1% K sẽ đảm bảo cho cây Cẩm
lai (Dalbergia bariaensis Pierre) sinh trưởng tốt trong giai đoạn vườn ươm Khi nghiên cứu gieo ươm Dầu song nàng (Dipterrocarpus dyeri) của Nguyễn Tuấn Bình (2002) [5], Chiêu
liêu nước (terminalia calamansanai) của Nguyễn Văn Thêm và Phạm Thanh Hải (2004)
[33], cây Huỳnh liên (Tecoma stans (L.) H.B.K) của Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006) [21], các tác giả đều đi đến kết luận: hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng của cây con
2.2.3 Tình hình nghiên c ứu cây Đầu Lân trong và ngoài nước
a Ở nước ngoài
Cây Đầu lân được nhà thực vật học người Pháp J.F Aublet đặt danh pháp khoa học vào năm 1755 [45]
Cây Đầu lân phổ biến trong khu rừng tân nhiệt đới, đặc biệt là ở lưu vực sông Amazon
Nó có nguồn gốc ở Guyana (Nam Mỹ) Ngày nay cây này có thể tìm thấy ở Ấn Độ, miền nam dãy núi Hy Mã Lạp, và về sau được trồng nhiều nơi ở Nam Á và Đông Nam Á Đây còn là loại cây trồng đường phố khá phổ biến tại Thái Lan, Singapore…
Trang 17Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu
3.1 Cơ sở khoa học:
Sinh trưởng và phát triển của cây luôn chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố sinh thái; trong đó, một số nhân tố sinh thái giữ vai trò chủ đạo hay trội hơn nhân tố khác Trong điều kiện vườn ươm, nhân tố chủ đạo thường là ánh sáng (hay độ tàn che), nước, thành phần hỗn hợp ruột bầu (dinh dưỡng), kích thước bầu (hay mật độ gieo ươm), độ sâu lấp đất… Mặt khác, theo quy luật giới hạn sinh thái của Shelford, 1913 (dẫn theo Nguyễn Tuấn Bình) [5], mỗi giai đoạn sống của cây chỉ thích ứng với một biên độ tác động nhất định của nhân tố sinh thái Trong biên độ sinh thái của một loài, có một khoảng xác định của nhân tố sinh thái
mà tại đó cho phép cây sinh trưởng tốt nhất Vì thế, trong nghiên cứu một mặt phải xác định được biên độ thích ứng của cây con với các nhân tố sinh thái, mặt khác phải tìm được ngưỡng tác động thích hợp của nhân tố sinh thái mà tại đó, cây con sinh trưởng và phát triển tốt Để giải quyết yêu cầu đặt ra, tác giả đã sử dụng phương pháp sinh thái học thực nghiệm Bằng phương pháp thực nghiệm, trước hết xem xét phản ứng sinh trưởng của cây con theo một cấp biến đổi của nhân tố sinh thái Sau đó, thông qua phương pháp phân tích đối chiếu,
đi đến xác định ngưỡng tác động thích hợp của nhân tố sinh thái đối với sinh trưởng của cây con
3.2 Th ời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 10/2010 đến tháng 10/2011
- Địa điểm:
+ 1 số địa điểm có trồng cây Đầu lân trong Tp Hồ Chí Minh như: Thảo Cầm Viên, Tao Đàn, Trung tâm Tịnh xá, chùa Tường Quang…
+ Vườn ươm Hiệp Thành, Quận 12 (thuộc Công ty Công viên cây xanh Tp.Hồ Chí Minh)
3.3 V ật liệu và phương tiện hỗ trợ nghiên cứu
- Vật liệu:
+ Hạt: Quả sau khi thu lượm tại các địa điểm ngoài tự nhiên, được tách riêng lấy hạt
để chuẩn bị nguồn hạt gieo ươm cây con
+ Đất trồng: Đất gieo ươm cây con được lấy từ Quận 12, sử dụng tầng đất mặt có chiều dày 20cm
Trang 18+ Hỗn hợp ruột bầu gieo trồng gồm đất trồng: phân chuồng: xơ dừa: tro trấu với tỷ lệ
+ Thước thẳng, thước kẹp palme, cân để đo kích thước, khối lượng của quả, lá và thân cây con
3.4 Các phương pháp tiến hành thí nghiệm
3.4.1 Ngoài t ự nhiên
a Thu thập hình ảnh về hình thái của cây Đầu lân
Sử dụng máy ảnh để chụp và lưu lại các bộ phận của cây Đầu lân ở một số địa điểm trong thành phố nhằm mục đích minh họa cho phần mô tả về hình thái của cây
b Thu thập và ngâm hạt để gieo
Sau khi thu lượm quả ngoài tự nhiên, cạo bỏ bớt phần thịt ở phía ngoài, tách riêng lấy hạt
để gieo ươm Nhằm kích thích cho hạt nảy mầm, dùng phương pháp phổ biến là ngâm hạt trong nước khoảng 6 – 8h Sau đó là gieo hạt vào bầu
3.4.2 B ố trí thí nghiệm trong vườn ươm
a Nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng cây con
- Gieo hạt vào bầu, hỗn hợp đất bầu gồm đất và phân hữu cơ trộn theo tỷ lệ đất thịt nhẹ 90% + phân hỗn hợp 10%
- Sắp xếp bầu vào 4 lô thí nghiệm ở vườn ươm, mỗi lô gồm 100 bầu với chế độ tưới nước và chăm sóc giống nhau nhưng ở 4 điều kiện chiếu sáng khác nhau:
+ Lô 1 (che bóng 75%): dùng 3 lớp lưới phủ lên giàn để 25% ánh sáng lọt vào
+ Lô 2 (che bóng 50%): dùng 2 lớp lưới phủ lên giàn để 50% ánh sáng lọt vào
+ Lô 3 (che bóng 25%): dùng 1 lớp lưới phủ lên giàn để 75% ánh sáng lọt vào
+ Lô 4 (ánh sáng 100%): không che bóng
Trang 19- Mỗi lô gắn bảng chú thích và chụp hình định kỳ hàng tháng để so sánh kết quả giữa các lô
• Chỉ tiêu theo dõi và cách thức đo đếm: Mỗi lô thí nghiệm được tiến hành đo đếm với tổng số cây còn sống Thời gian đo đếm được thực hiện theo định kỳ hàng tháng
o Tỷ lệ sống của cây: đếm tổng số cây còn sống của mỗi lô che bóng qua từng tháng
o Chiều cao cây (H, cm): đo từ mặt bầu đến đỉnh ngọn cây, bằng thước kỹ thuật với độ chính xác 0,1cm
o Đường kính cổ rễ (DR 0 R, mm): đo cách mặt bầu 5cm, bằng thước kẹp Palme với
độ chính xác 0,1mm
o Đường kính tán (DR t R, cm): đo độ xòe tán rộng nhất của cây, bằng thước kỹ thuật với độ chính xác 0,1cm
o Số lá trên cây: đếm tổng số lá trên từng cây cho mỗi loại R
o Kích thước lóng (ℓ, cm): đo bằng thước kỹ thuật với độ chính xác 0,1cm
o Tính sinh khối (B, g/cây)
Sinh khối tươi và khô tuyệt đối được xác định bằng cách cân đo trọng lượng của 3 cây trung bình / lô thí nghiệm ở vào tháng thứ 6 Để đo trọng lượng tươi, các mẫu cây được nhổ lên, phun nước cho sạch đất, để ráo nước và cân tổng trọng lượng / cây Sau đó, tách thành các bộ phận (thân, lá, rễ) và cân riêng Để đo sinh khối khô, các mẫu cây được đưa vào tủ sấy ở nhiệt độ 105P
0
P
C trong 20 phút; sau đó, hạ thấp nhiệt độ đến 80P
0
P
C cho đến khi khô kiệt Trọng lượng cây (khô và tươi) được đo lặp lại 3 lần bằng cân phân tích với độ chính xác đến 0,01 gram; lấy kết quả trung bình của 3 lần đo Tỷ lệ chất khô / sinh khối tươi được tính theo phần trăm Phương pháp tính sinh khối được tiến hành tại khoa Sinh Hóa, trường Đại học Sài Gòn
b Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng cây con
- Thành phần hỗn hợp ruột bầu gieo ươm bao gồm đất + phân chuồng + xơ dừa + tro trấu được trộn theo tỷ lệ nghiệm thức Các thành phần hỗn hợp ruột bầu được trộn đều rồi vô bầu
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên
- Theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con sau gieo trong thời gian 6 tháng
Trang 203.4.3 Phương tiện xử lý và phân tích số liệu
Tất cả các số liệu đo đếm về tỷ lệ sống của cây, chiều cao (H, cm), đường kính cổ rễ (DR 0 R, mm), đường kính tán (DR t R, cm), số lá trên cây, kích thước lóng (l, cm) và sinh khối của Đầu Lân ở các giai đoạn tuổi khác nhau trên các nghiệm thức đều được xử lý bằng phương pháp thống kê Trước hết, tính các đặc trưng thống kê mô tả cho các tham số đường kính, chiều cao, sinh khối… (trị bình quân, phương sai, sai tiêu chuẩn mẫu, biến động…) Sau
đó, thực hiện việc so sánh từng chỉ tiêu bằng phương pháp phân tích phương sai Mô hình phân tích thống kê có dạng:
Trang 21+ βR j R – tham số đặc trưng cho ảnh hưởng của khối, j = 1, 2 …r;
+ ɛR ij R – sai số ngẫu nhiên, ɛ R ij R có phân bố N(0, δP
Trang 22Chương 4 – Kết quả và thảo luận
4.1 Đặc điểm hình thái của cây Đầu lân
Dựa vào các tài liệu của Trần Hợp (2000) [10]; (2002) [11, 12]; Nguyễn Bá (2009) [2]; Hoàng Thị Bé (2004) [4]; Hoàng Thị Sản, Nguyễn Phương Nga (2003) [25]; Hoàng Thị Sản, Hoàng Thị Bé (2005) [26] và các trang [42], [45] cùng với quá trình khảo sát đặc điểm hình thái cây Đầu Lân trong tự nhiên thì cây Đầu Lân có những đặc điểm sau:
Hoa:
Cụm hoa chùm mập, dài (có khi đến 3m) uốn cong ra, và tập trung ngay trên thân, cành già Hoa lớn gần hình cầu, đường kính từ 7 – 10cm Cánh hoa gồm 6 cánh, hợp ở gốc thành ống cao 1,5 cm, thùy dày rộng, cong úp lên nhau, nở ra tròn đều, có màu hồng đỏ ở trong, vàng ở mặt ngoài 6 cánh đài dày ở gốc, dạng bầu dục nhọn Nhụy cái nhiều, dính liền nhau thành một vòng, đường kính 3cm, toả tròn Nhị đực kết chụm vòng lên, đối diện vào nhụy cái Nhị đực vàng, nhiều, nhỏ, dính nhau trên 1 phiến rộng dày cong theo cánh hoa, xòe rộng, kín cả bọng hoa Cánh hoa và nhụy hoa đều có mùi rất thơm và hương tỏa xa Bầu hạ Hoa có quanh năm
Hoa thức:
* ♀ KR6 RCR6 RAR∞ RGR∞
Hoa đồ:
Trang 23Quả:
Ở những cây lâu năm và đúng điều kiện sinh trưởng, cây mới có quả Quả mọng mọc thành cụm, hình cầu lớn như trái đạn thần công nên tên tiếng Anh còn gọi là Canonball tree, màu nâu nhạt, mùi hắc khó ngửi, thịt nạc, hạt nhiều (200 – 300 hạt/quả)
Quả non có màu nâu đỏ, khi chín, tự rụng Quả chín rất hôi, mặt ngoài có màu nâu, vỏ quả già như quả dừa, đường kính có thể đạt hơn 60cm, nặng gần 5kg Khi quả chín nẫu và mùi nồng nặc thì lúc ấy hạt mới đủ già để mọc thành mầm cây mới Quả già bổ ra, thấy có nhiều múi nạc bao hạt giống quả bình bát Trong quá trình nhào nặn để lấy hạt, nạc quả chuyển từ màu vàng kem sang màu xanh tím, nhuộm vào tay
Trang 24Hình 4.1 Các bộ phận của cây Đầu lân Couroupita guianensis Aulb
Trang 25Hình 4.2 Cây Đầu lân Couroupita guianensis Aulb
Trang 26
4.2 Phân lo ại, vị trí loài trong hệ thống sinh giới
Trên cơ sở hệ thống phân loại, dựa vào định nghĩa hệ thống học của Simpson và các tài liệu Trần Hợp (2000) [10]; (2002) [11, 12]; Nguyễn Tiến Bân (1997) [3]; Hoàng Thị Bé (2004) [4]; Hoàng Thị Sản, Nguyễn Phương Nga (2003) [25]; Hoàng Thị Sản, Hoàng Thị Bé (2005) [26] và các trang [42], [43], [44], [45] vị trí của cây Đầu Lân trong hệ thống phân loại sinh giới được xác định như sau:
Domain: Eukaryota (Whittaker & Margulis,1978)
Giới Plantae (Haeckel, 1866)
Phân giới Virideaplantae (Cavalier-Smith 1981)
Ngành Magnoliophyta (A Takhtajan, W.Zimm, 1966; A.Cronquist, 1981 & APG, 2003) Phân ngành Euphyllophytina
Lớp Magnoliopsida (A Takhtajan, 1980 & A.Cronquist, 1981)
Phân lớp Rosidae (A Takhtajan, 1980 & A.Cronquist, 1981)
Bộ Myrtales (H.Reichenbach 1866, A.Cronquist, 1981 & APG, 2003)
Họ Lecythidaceae (A.Rich, 1829; APG, 2003 & Mori et al., 2007)
Chi 0Couroupita (0J.F.Aulblet, 1755)
Loài Couroupita surinamensis (J.F.Aulblet, 1755 & Mart ex O Berg, 1874)
4.3 K ết quả trồng cây con tại vườn ươm
4.3.1 Ảnh hưởng của ánh sáng đến tăng trưởng của cây con
4.3.1.1 Tr ồng cây:
a Chuẩn bị bầu:
3 tháng đầu, số lượng bầu được sử dụng là 400 bầu Kích thước bầu 10 x 15cm Vỏ bầu được làm bằng chất dẻo tổng hợp PE có đục lỗ tròn đường kính 5mm ở 2 bên và dưới đáy Thành phần ruột bầu gồm: đất thịt (75%), đất cát (25%), phân hỗn hợp (10%) Sắp xếp 400 bầu vào 4 lô, mỗi lô rộng 1m5, dài 1m5, tưới nước cho ẩm, lượng nước tưới 10 - 15lít/mP
Trang 27vào ½ ruột Sau đó, chuyển toàn bộ đất và cây từ bầu cũ sang bầu mới, rồi cho thêm đất vào bầu để ém chặt cây
b Tiến hành che bóng:
3 tháng đầu, làm giàn che cao khoảng 50cm, dùng lưới phủ lên 3 lô, bố trí mỗi lô là 1 độ che phủ khác nhau (75%, 50% và 25%)
3 tháng sau, vẫn dùng 3 loại lưới trên nhưng làm giàn che cao lên 1m
c Chăm sóc – Tưới nước:
Trong 6 tháng thực hiện, hằng ngày, tưới nước bằng vòi sen 2 lần vào 2 buổi: sáng, chiều, mỗi lần 10 lít/lô Trong quá trình cây phát triển, thường xuyên làm cỏ và theo dõi sâu bệnh, khi cây có hiện tượng rễ phát triển ra ngoài bầu thì tiến hành đảo bầu và xén rễ
4.3.1.2.K ết quả:
a Về cây mầm:
- Thời gian hạt nảy mầm từ lúc ươm là 10 – 15 ngày, kết thúc nảy mầm là 15 – 20 ngày
- Tỉ lệ hạt bị hư hỏng khi đã ươm gieo là không đáng kể, các hạt có thể bị lép, bị kiến
ăn, ở những lô che bóng thì tỷ lệ hạt nảy mầm cao hơn
- Các cây con mọc ở lô được che bóng nhiều có lóng dài, thân nhỏ, lá to, sậm màu hơn
so với lô không che bóng
- Các loại sâu bệnh:
+ Châu chấu, sâu xanh và sâu bướm ăn lá
+ Lá có đốm trắng, lá xoắn
- Một số biện pháp đề nghị để cây phát triển tốt trong vườn ươm:
+ Vệ sinh cỏ ở luống trước và sau khi đặt bầu, làm sạch cỏ ở xung quanh vườn ươm + Thường xuyên kiểm tra và bắt sâu, cào cào gây hại cho cây
+ Đối với lá có đốm trắng, lá xoắn thì hái bỏ, phơi khô và đốt
Hình 4.3 Các dạng sâu bệnh ở cây Đầu lân Couroupita guianensis Aubl
Trang 28
A Sâu ăn lá; B Cào cào; C Bệnh lá xoắn; D Bệnh đốm trắng
Trang 29b Tỉ lệ sống của cây con trong điều kiện vườn ươm:
Kết quả thu được qua 6 tháng gieo ươm và theo dõi tỷ lệ sống của các cây con ở các lô che bóng:
Bảng 4.1 Tỉ lệ sống của cây con ở 4 lô
Hình 4.4 Đồ thị tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm
Qua kết quả phân tích ở bảng 2 (phụ lục) và kết quả thống kê ở bảng 4.1 cùng đồ thị 4.4 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Tỷ lệ sống của cây con qua 3 tháng đầu đều trên 90%, đặc biệt là ở lô 2 và lô 3 (trên 97%) Điều này cho thấy với mức độ che sáng vừa phải từ 25% (lô 3) đến 50% (lô 2) thì tỷ lệ sống của cây con sẽ cao Lô 1 (75%) độ ẩm cao cây con dễ chết, lô 4 (không che nắng) lượng nắng cao làm lá dễ bị vàng và sâu bệnh
Từ tháng thứ 3 trở đi, sức sống của cây đã hoàn toàn ổn định về số lượng
c Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự tăng trưởng của cây con:
Trang 30* Tăng trưởng về chiều cao:
+ Về hình thái: Lô 1 có chiều cao cây con thấp nhất, còn các cây ở lô 4 lại cao nhất
+ Về chiều cao: theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của cây con trong vườn ươm sau 3 tháng, kết quả tăng trưởng chiều cao của cây như sau:
Bảng 4.2 Chiều cao trung bình của cây con ở mỗi tháng
Bảng 4.3 Gia tăng chiều cao trung bình của cây ở mỗi tháng
Tháng Gia tăng chiều cao trung bình
Lô 4 (0%) Lô 3 (25%) Lô 2 (50%) Lô 1 (75%)
Trang 31Qua kết quả phân tích ở bảng 1, bảng 3 (phụ lục) và kết quả thống kê ở bảng 4.2, 4.3 cùng đồ thị 4.5 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Lô 4 đối chứng (không che nắng), tháng đầu tiên, có chiều cao thấp nhất (6,64cm) Tháng thứ 2, bắt đầu có sự tăng trưởng khá mạnh, tăng 3,85cm Bắt đầu từ tháng thứ 3 trở đi, lô 1 luôn có sự tăng trưởng mạnh và chiều cao luôn dẫn đầu so với 3 lô còn lại
Lô 3 (25%) có sự tăng trưởng chậm qua từng tháng nhưng ở tháng cuối có sự tăng trưởng vượt bậc, tăng 20,05cm
Lô 1, lô 2 có sự tăng trưởng đồng đều qua từng tháng Riêng ở 2 tháng đầu, đây là 2 lô có chiều cao trung bình khá cao so với các lô còn lại Nhưng vào 2 tháng cuối, sự tăng trưởng chiều cao lại không nhiều Trong đó, có lô 1 đạt chiều cao thấp nhất (29,82cm)
Như vậy, trong 2 tháng đầu, có thể che bóng cho cây theo mức độ giảm dần để cây tăng trưởng tốt về chiều cao Từ tháng thứ 3 trở đi, cây không cần che bóng
* Tăng trưởng về đường kính cổ rễ
Bảng 4.4 Đường kính cổ rễ trung bình của cây con ở mỗi tháng
Trang 32Bảng 4.5 Gia tăng đường kính cổ rễ trung bình của cây ở mỗi tháng
Tháng Gia tăng đường kính cổ rễ trung bình
Lô 4 (0%) Lô 3 (25%) Lô 2 (50%) Lô 1 (75%)
Lô 3 và lô 2 có đường kính cổ rễ và sự gia tăng đường kính cổ rễ gần như tương đương nhau
Ở tháng thứ 1; lô 2 đạt 3,95mm; lô 3 đạt 4,06mm Tháng thứ 2; lô 2 đạt 4,81mm; lô 3 đạt
0 2 4 6 8 10 12
Trang 334,7mm Tháng thứ 4; lô 2 đạt 5,89mm tăng 1,05mm; lô 3 đạt 6,16mm tăng 0,98mm Tháng thứ 5; lô 2 tăng 0,32mm; lô 3 tăng 0,39mm
Lô 1 luôn có đường kính cổ rễ nhỏ nhất và sự gia tăng đường kính cổ rễ không được đều so với lô 4 đối chứng Tháng thứ 1; lô 1 chỉ đạt 3,87mm; tháng thứ 2 đạt 4,58mm; tháng thứ 4 đạt 5,29mm; tháng thứ 6 đạt 6,99mm Đây là 4 tháng mà lô 1 có đường kính cổ rễ đạt thấp nhất so với 3 lô còn lại Về sự gia tăng đường kính cổ rễ, tháng thứ 2 tăng 0,71mm nhưng tháng thứ 3 chỉ tăng 0,3mm; tháng thứ 5 tăng 1,02mm nhưng tháng thứ 6 chỉ tăng 0,68mm Như vậy, qua 6 tháng theo dõi, chúng tôi nhận thấy đường kính cổ rễ lớn và sự gia tăng đường kính cổ rễ đồng đều khi độ che bóng giảm
* Tăng trưởng về đường kính tán:
Bảng 4.6 Đường kính tán trung bình của cây con ở mỗi tháng
Trang 34Hình 4.7 Đồ thị tăng trưởng DRtR của cây con trong vườn ươm
Qua kết quả phân tích ở bảng 1, bảng 5 (phụ lục) và kết quả thống kê ở bảng 4.6, 4.7 cùng đồ thị 4.7 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Ở lô 1 (75%), đường kính tán phát triển nhanh nhất ở 2 tháng đầu nhưng lại phát triển chậm nhất ở 2 tháng cuối Tháng thứ 1, đường kính tán ở lô 1 đạt 13,63cm; tháng thứ 2 đạt 20,38 nhưng đến tháng thứ 5, đường kính tán ở lô 1 chỉ đạt 23,57cm; tháng thứ 6; đạt 25,73cm
Lô 2 (50%) và lô 3 (25%) có đường kính tán phát triển gần như tương đương nhau Trong
đó, lô 2 có đường kính tán nhỏ nhất vào tháng 3 chỉ đạt 20,48cm và tháng 4 đạt 22,09cm
Lô 4 (0%) đối chứng, phát triển đường kính tán chậm nhất trong 2 tháng đầu Tháng thứ 1 chỉ đạt 10,20cm; tháng thứ 2 đạt 17,54cm Từ tháng thứ 3 trở đi, lô 4 luôn có sự phát triển đường kính tán nhanh nhất so với 3 lô còn lại Tháng thứ 3; lô 4 đạt 25,24cm; tháng thứ 4 đạt 26,86; tháng thứ 5 đạt 31,14cm; tháng thứ 6 đạt 38,5cm
Như vậy, đường kính tán cao khi che nắng cho cây ở 2 tháng đầu, những tháng sau, đường kính tán cao khi không che nắng
* Tăng trưởng về số lượng lá:
Bảng 4.8 Số lượng lá trung bình của cây con ở mỗi tháng
Trang 353 15.60 ± 3.58 13.94 ± 3.06 15.49 ± 4.01 11.76 ± 2.96
4 21.66 ± 7.79 17.63 ± 2.74 19.56 ± 3.84 17.11 ± 4.11
5 26.74 ± 6.49 20.39 ± 4.27 26.34 ± 4.03 18.48 ± 5.56
6 39.46 ± 10.24 30.6 ± 6.93 28.69 ± 6.17 38.47 ± 10.21
Bảng 4.9 Gia tăng số lượng lá trung bình của cây qua mỗi tháng
Tháng Gia tăng số lượng lá trung bình
Lô 1 (0%) Lô 2 (25%) Lô 3 (50%) Lô 4 (75%)
Hình 4.8 Đồ thị tăng trưởng số lượng lá của cây con trong vườn ươm
Qua kết quả phân tích ở bảng 1, bảng 6 (phụ lục) và kết quả thống kê ở bảng 4.8, 4.9 cùng đồ thị 4.8 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Lô 1 (75%) có số lượng lá hầu như là thấp nhất và sự tăng trưởng lá không đồng đều qua từng tháng Tháng thứ 1; lô 1 chỉ đạt 3,9 lá Tháng thứ 2 chỉ đạt 7,59 lá tăng 3,69 lá Tháng
Trang 36thứ 4 chỉ đạt 17,11 lá tăng 5,35 lá Tháng thứ 5 chỉ đạt 18,48 lá tăng 1,37 lá Tháng cuối cùng, đạt 38,47 lá tăng đến 19,99 lá
Lô 4 (0%) đối chứng có số lượng lá lớn nhất vào các tháng thứ 1 (4,03 lá), tháng thứ 4 (21,66 lá), tháng thứ 5 (26,74 lá) và tháng thứ 6 (39,46 lá) Ngoài ra, sự gia tăng số lượng lá ở lô 4 đồng đều, không đột ngột như lô 1
Lô 2 và lô 3 gần như tương đương nhau về số lượng lá và sự tăng trưởng số lượng lá
Như vậy, độ che bóng càng cao thì số lượng lá càng giảm và tăng trưởng về số lượng lá cũng không ổn định
* Tăng trưởng về kích thước lóng:
Bảng 4.10 Kích thước lóng trung bình của cây con ở mỗi tháng
Bảng 4.11 Gia tăng kích thước lóng trung bình của cây qua mỗi tháng
Tháng Gia tăng kích thước lóng trung bình
Lô 1 (0%) Lô 2 (25%) Lô 3 (50%) Lô 4 (75%)
Trang 37Hình 4.9 Đồ thị tăng trưởng ℓ của cây con trong vườn ươm
Qua kết quả phân tích ở bảng 1, bảng 7 (phụ lục) và kết quả thống kê ở bảng 4.10, 4.11 cùng
đồ thị 4.9 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Lô 1 (75%) có kích thước lóng dài nhất trong 3 tháng đầu: tháng thứ 1 đạt 0,31cm; tháng thứ
2 đạt 0,56cm; tháng thứ 3 đạt 1,02cm nhưng từ tháng thứ 4 thì sự tăng trưởng của lô 1 bắt đầu chậm lại Đặc biệt ở tháng cuối, kích thước lóng chỉ đạt 1,19cm và tăng 0,01cm
Lô 2 (50%) luôn có sự tăng trưởng mạnh về kích thước lóng, đặc biệt vào tháng thứ 4 đạt 1,19cm tăng 0,31cm và tháng thứ 5 đạt 1,27cm tăng 0,08cm Sau 6 tháng, đây là lô có kích thước lóng trung bình cao nhất 0,9cm
Lô 3 (25%) và lô 4 (0%) là 2 lô có kích thước lóng trung bình nhỏ nhất qua 6 tháng Trong
đó, lô 4 luôn có kích thước nhỏ nhất so với các lô còn lại: tháng thứ 1 chỉ đạt 0,15cm; tháng thứ 2 đạt 0,29cm; tháng thứ 3 đạt 0,69cm; tháng thứ 4 đạt 0,74cm; tháng thứ 5 đạt 1,05cm Vậy, độ che bóng càng cao thì kích thước lóng càng dài
* Ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh khối của cây con:
Bảng 4.12 Sinh khối của cây con ở từng lô sau 6 tháng
Lô Sinh khối tươi (g/cây) Sinh khối khô (g/cây) Khô/Tươi
Trang 38Hình 4.10 Đồ thị biểu hiện sinh khối của cây con ở từng lô sau 6 tháng
Qua kết quả thống kê ở bảng 4.12 cùng đồ thị 4.10 đối với tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Qua bảng và hình, sinh khối tươi của cây con 6 tháng tuổi dưới các mức che bóng khác nhau dao động từ 9,92 – 20,99g/cây, còn sinh khối khô dao động từ 3,4 – 7,66g/cây Tỷ lệ sinh khối khô so với sinh khối tươi ở các công thức thí nghiệm biến đổi từ 34,27 – 36,49% Phân tích chi tiết cho thấy cả sinh khối tươi và sinh khối khô đều đạt cao nhất ở lô 4 (không che bóng) và thấp nhất ở lô 1 (che bóng 75%)
Điều đó chứng tỏ với độ che bóng càng cao thì lượng sinh khối càng giảm
0 5 10 15 20 25
Sinh khối (g/cây)
SKT SKK
Trang 39Hình 4.11 Các lô Đầu lân Couroupita guianensis Aubl
1 tháng tuổi
Trang 40
Hình 4.12 Các lô Đầu lân Couroupita guianensis Aubl
2 tháng tuổi