Sau thời gian nghiên cứu, chúng tôi thu được kết quả sau - Hiệu suất chiết xuất cao từ Methanol nguyên chất và tái sử dụng không có sự khác biệt.. - Nồng độ ức chế tối thiểu của cao thuố
Trang 1SO SÁNH HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CAO
LÁ BÀNG (Terminalia catappa L.) ĐƯỢC LY TRÍCH
BẰNG METHANOL NGUYÊN CHẤT VÀ
METHANOL TÁI SỬ DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Tên đề tài:
SO SÁNH HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CAO
LÁ BÀNG (Terminalia catappa L.) ĐƯỢC LY TRÍCH
BẰNG METHANOL NGUYÊN CHẤT VÀ
METHANOL TÁI SỬ DỤNG
Ths Bùi Thị Lê Minh Mai Thị Lệ Quyên
Lớp: Thú y K34
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, 2012
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
- -
Đề tài “So sánh hoạt tính kháng khuẩn của cao lá Bàng (Terminalia catappa L.)
được ly trích bằng Methanol nguyên chất và Methanol tái sử dụng” do sinh
viên Mai Thị Lệ Quyên thực hiện tại phòng thí nghiệm Dược lý thú y, Bộ môn Thú
y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ từ tháng 8/2012 đến tháng 11/2012
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Duyệt của Bộ Môn
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Duyệt của giáo viên hướng dẫn
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Duyệt của Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Cần Thơ, ngày… tháng…, năm
Tác giả luận văn
Mai Thị Lệ Quyên
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trải qua những năm tháng học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại Học Cần Thơ Thầy cô là người đã dành bao tâm huyết cho sự nghiệp trồng người, đã trang bị những hành trang quí báu cho chúng tôi vững bước vào đời Nhờ sự yêu thương chỉ bảo của thầy cô cùng với sự phấn đấu của bản thân, hôm nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn thành kính nhất đến ba mẹ và gia đình của tôi, những người đã vượt khó khăn để nuôi tôi khôn lớn và trưởng thành như ngày hôm nay
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Cần Thơ, Ban Chủ Nhiệm
Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, quý thầy cô Bộ môn Thú Y và Bộ môn Chăn nuôi - Thú y đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập Xin chân thành cảm ơn cô Bùi Thị Lê Minh, đã theo sát hướng dẫn tận tình trong quá trình thực hiện nghiên cứu, đã chỉ dẫn nhiệt tình, cung cấp những kiến thức cần thiết để hoàn thành đề tài này Xin cảm ơn Thầy Phạm Hoàng Dũng, Cố vấn học tập lớp Thú Y K34A, người thầy luôn hết mình quan tâm, lo lắng và giúp đỡ sinh viên chúng tôi trong suốt quá trình học tập
Các bạn lớp Thú Y K34A, Thú Y LT36 đã nhiệt tình giúp đỡ, hổ trợ nhau trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Lời cuối, xin được chúc các Thầy, Cô của Bộ Môn Thú Y và Bộ Môn Chăn Nuôi - Thú Y luôn công tác tốt và tìm được niềm vui trong công việc Chúc các bạn lớp Thú Y K34A, Thú Y K34B, Thú Y LT36 sẽ thành công sau khi tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Trang 6MỤC LỤC
TRANG DUYỆT i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT viii
TÓM LƯỢC ix
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 2
2.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY BÀNG 2
2.1.1 Phân loại … 2
2.1.2 Đặc điểm hình thái … 2
2.1.3 Phân bố, thu hái và chế biến … 3
2.1.4 Thành phần hóa học … 3
2.1.5 Công dụng và liều dùng … 4
2.2 SƠ LƯỢC VỀ METHANOL … 5
2.2.1 Tính chất vật lý … 5
2.2.2 Tính chất hóa học … 5
2.2.3 Sử sụng trong công nghiệp … 5
2.2.4 Sử dụng làm dung môi … 5
2.2.5 Tính độc hại 7
2.3 VI KHUẨN TRONG NGHIÊN CỨU MIC 7
2.3.1 Staphylococcus aureus 7
2.3.2 Streptococcus faecalis 8
2.3.3 Escherichia coli 9
2.3.4 Pseudomonas aeruginosa 10
2.3.5 Salmonella spp 11
Trang 72.3.6 Aeromonas hydrophila 12
2.3.7 Edwardsiella ictaluri 13
2.3.8 Edwardsiella tarda 15
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU … 16
3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 16
3.2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 16
3.2.2 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất 16
3.2.3 Các giống vi khuẩn dùng để nghiên cứu 16
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.3.1 Phương pháp thu thập mẫu 17
3.3.2 Phương pháp ly trích cao 17
3.3.3 Phương pháp kiểm tra nồng độ ức chế vi khuẩn 20
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 24
4.1 HIỆU SUẤT CHIẾT XUẤT CAO LÁ BÀNG 24
4.2 KẾT QUẢ ẨM ĐỘ CAO LÁ CAO BÀNG 24
4.3 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH NỒNG ĐỘ ỨC CHẾ TỐI THIỂU MIC 25
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 29
5.1 KẾT LUẬN 29
5.2 ĐỀ NGHỊ 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30 PHỤ LỤC
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
4.2 Kết quả nồng độ ức chế MIC = 64 µg/ml vi khuẩn P aeruginosa từ
4.3 Kết quả nồng độ ức chế MIC = 128 µg/ml vi khuẩn P aeruginosa
từ cao thô của dung môi Methanol nguyên chất 27 4.4 Kết quả nồng độ ức chế MIC = 2048 µg/ml của 4 vi khuẩn
4.5 Kết quả nồng độ ức chế MIC = 2048 µg/ml của 2 vi khuẩn
4.6 Kết quả nồng độ ức chế MIC = 256 µg/ml của vi khuẩn E.coli 28
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
2.1 Thành phần dinh dưỡng của hạt Bàng tính theo trọng lượng khô 4
4.3 Kết quả nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) cao thô của lá Bàng 25
Trang 11TÓM LƯỢC
Đề tài “So sánh hoạt tính kháng khuẩn của cao lá Bàng (Terminalia catappa L.)
được ly trích bằng Methanol nguyên chất và Methanol tái sử dụng” được thực hiện
từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 11 năm 2012, tại Khoa NN&SHƯD, trường Đại Học Cần Thơ Sau thời gian nghiên cứu, chúng tôi thu được kết quả sau
- Hiệu suất chiết xuất cao từ Methanol nguyên chất và tái sử dụng không có sự khác biệt
- Nồng độ ức chế tối thiểu của cao thuốc được ly trích bằng Methanol nguyên chất
và tái sử dụng trên vi khuẩn Staphylococcus aureus, Streptococcus faecalis,
Salmonella spp., Aeromonas hydrophila, Edwardsiella ictaluri, Edwardsiella tarda
là MIC = 2048 µg/ml; trên vi khuẩn Escherichia coli là MIC = 256 µg/ml Tuy nhiên trên vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa có sự khác biệt về nồng độ ức chế tối
thiểu của cao methanol nguyên chất và tái sử dụng Methanol tái sử dụng ức chế
Pseudomonas aeruginosa ở nồng độ MIC = 64 µg/ml, Methanol nguyên chất MIC
= 128 µg/ml Điều đó cho thấy cao lá Bàng được ly trích bằng dung môi Methanol
tái sử dụng nhạy với vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa hơn cao Methanol nguyên
chất
Trang 12CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước nằm ở khu vực có khí hậu nhiệt đới nên hệ thống thực vật đa dạng và phong phú, trong số đó Bàng là một loài cây rất quen thuộc được trồng để lấy bóng mát nhưng ít người biết đến công dụng dược lý của nó Trong dân gian vỏ Bàng sắc uống chữa lỵ, tiêu chảy, rửa các vết loét và vết thương Ngoài ra, lá còn dùng sắc uống chữa cảm sốt, hoặc lá tươi giả nát, xào nóng để đắp, chườm vào nơi đau nhức Hạt còn được dùng chữa tiêu ra máu, có thể dùng hạt ép lấy dầu để ăn hay dùng trong công nghiệp (Đỗ Tất Lợi, 2010) Chính những liều thuốc dân gian này kết hợp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy các nhà khoa học thực hiện các công trình nghiên cứu Trong những năm gần đây, không ít các công trình
nghiên cứu về tác dụng dược lý của lá Bàng như, Babayi et al (2004) đã nghiên cứu
lá Bàng có khả năng ức chế sự tăng trưởng của Staphylococcus aureus Theo Lê
Quang Sung (2009), trong nghiên cứu đã dùng Methanol nguyên chất làm dung môi
để ly trích cao lá Bàng, kết quả cao thuốc có khả năng ức chế các chủng vi khuẩn
trong đó có Escherichia coli Điều này cho thấy, các dược phẩm thiên nhiên ngày
càng được các nhà khoa học quan tâm Ngoài ra, hiện nay có nhiều loại dung môi khác nhau được sử dụng để ly trích dược liệu như glycerin, ethanol, acetone, propanol, benzene, hexan, methanol… tương ứng với đặc tính riêng biệt của từng loại dược liệu nhằm đạt được hiệu quả chiết xuất cao nhất Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu thực hiện về tái sử dụng dung môi trong chiết xuất dược liệu nên
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: So sánh hoạt tính kháng khuẩn của cao lá
Bàng (Terminalia catappa L.) được ly trích bằng Methanol nguyên chất và
Methanol tái sử dụng Với mục tiêu so sánh hoạt tính kháng khuẩn của cao thuốc
được ly trích từ lá Bàng của hai loại dung môi Methanol nguyên chất và Methanol tái sử dụng
Trang 13CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY BÀNG
2.1.1 Phân loại
Tên khoa học: Terminalia catappa L
Tên khác: Quang lang
Tên nước ngoài: Phytolacca javanica Osbeck, Terminalia mauritiana Blanco,
Terminalia moluccana Lamk, Terminalia procera Roxb Indian almond – tree,
tropical almond (Anh); badamier (Pháp), ChamBok parang parcang prang (Campuchia), Ketapang (Malaysia)
Bàng là loài cây cao, có tán lá, mọc thẳng, trung bình cây có kích thước lớn 10 đến
25 m cao Vỏ cây là màu xám nâu màu, các cây con có vỏ trơn láng, cây lâu năm thì
vỏ thô hơn Những cây non, nhánh gần như ngang, thẳng đứng và sắp xếp theo tầng (V.Selvam, 2007) Hoa nhiều mọc thành nhánh dài 15 – 20 cm, trên cánh hoa có lông Quả hình bầu dục, nhẵn dẹp với 2 bên rìa hẹp, đầu hơi nhọn, dài 4 cm, rộng 3
cm, dày 15 cm, hạt có nhân trắng chứa nhiều dầu (Đỗ Tất Lợi, 2010)
Lá đơn, mọc xen kẽ nhau, lá có hình trứng ngược, lớn (dài từ 15 đến 36 cm và rộng
8 đến 24 cm) với 8 -12 cặp gân lá Lá thứ cấp hình tròn có đỉnh và thẳng, thuôn dần tới cuống lá Lá non có lớp vỏ mềm, ép vào thân cây, lông nâu Lá màu xanh đậm mặt trên của lá sáng bóng, mặt dưới có màu nhạt hơn, trước khi rụng màu sắc của lá thay đổi sang màu vàng hoặc đỏ Các lá được sắp xếp theo hình xoắn ốc gần, thường có nhiều lá ở phía đoạn cuối của nhánh cây Cây Bàng thay lá vào mùa khô, chúng có thể thay lá hai lần trong một năm Ra lá non vào tháng 2, mùa hoa vào tháng 3 – 7, mùa quả tháng 4 – 9 (Lex and Barry Evans, 2006)
Trang 14
2.1.3 Phân bố, thu hái và chế biến
Cây Bàng thường sống ở vùng nhiệt đới và ven biển Nó phân bố trải dài từ Seychelles đến Ấn Độ, Andamans và các đảo lân cận, khắp khu vực Đông Nam Á (Myanmar, Thái Lan, bán đảo Mã Lai, Việt Nam, Philippines, Indonesia), Papua New Guinea và bắc Australia Loài này được tìm thấy trên khắp khu vực Nam Thái Bình Dương (Lex and Barry Evans, 2006) Theo Đỗ Tất Lợi (2010), cho biết ở Việt Nam, cây Bàng được trồng khắp nơi làm cây bóng mát Người ta cho rằng cây Bàng vốn không có ở nước ta, mà di thực từ đảo Moluques vào Người ta thường dùng lá,
vỏ và hạt Về mặt nguyên liệu cho dầu thì năng suất bàng thấp vì việc tách nhân Bàng rất vất vả Từ 100 g hạt khô chỉ tách được 23 g nhân
Theo V.Selvam (2007), cây Bàng phát triển trên đất phù sa, đất mùn, đất sét nhưng tốt hơn với đất cát trung tính hoặc hơi kiềm và đất cát nhiều mùn Loài này chịu được gió mạnh, độ mặn và sống được ở đất cát, có vai trò quan trọng bảo vệ bờ biển Cây khoảng 3 năm tuổi có thể thu hoạch trái và sử dụng Cây Bàng có thể dễ dàng nhân giống bằng hạt Hạt có thể được thu thập từ trái cây tươi và được gieo trồng từ 4-6 tuần Cây con phát triển nhanh chóng trong giai đoạn đầu Cây con bốn tháng tuổi hoặc khoảng 25 cm chiều cao có thể được sử dụng cho để trồng
2.1.4 Thành phần hóa học
Lá và vỏ cây chứa tanin: vỏ thân chứa từ 25 – 35% tanin pyrogalic và tanin catechic Vỏ cành chứa 11% tanin Nhân hạt chứa 50% dầu béo màu vàng nhạt hay lục nhạt, vị dễ chịu, giống như dầu hạnh nhân, ăn được Tuy nhiên, nhân chỉ chứa 10% toàn quả cho nên cuối cùng quả chỉ chứa 5% dầu béo, việc tách nhân lại đòi hỏi nhiều công sức, chưa cơ giới hóa được nên đến nay việc khai thác dầu hạt Bàng chưa được đặt ra (Đỗ Tất lợi, 2010)
Các chiết xuất dung dịch nước từ những lá rụng có màu đỏ chứa các hợp chất
phenolic được xác định bằng tổng sắc ký ion Những phenol axit p -hydroxybenzoic
Hình 2.1 Cây Bàng Hình 2.2 Lá Bàng
http://www.virboga.de/video/pics-
/Terminalia_catappa_000114.jpg
/media/Images/1773031.jpg
Trang 15http://keys.trin.org.au/key-server/data-(15,2%), axit 4-hydroxyphenylpropionic (13,3%), axit m -coumaric (17,2%), axit 3,4-dihydroxybenzoic (17,8%), p-coumaric acid (31,4%) và và gallic acid (5,1%)
(Lin and Hsu, 1999)
Theo Christian A and Ukhun ME (2006), hạt Bàng có carbohydrate, chất béo thô chiếm lần lượt là 78,14%, 16,35% trọng lượng khô Bên cạnh đó, hạt Bàng còn chứa nhiều thành phần dưỡng chất đáng kể được thể hiện qua Bảng 2.1
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của hạt Bàng tính theo trọng lượng khô
( Christian and Ukhun, 2006)
Theo Võ Văn Chi (1991), búp non của cây Bàng phơi khô, tán bột rắc trị ghẻ, sắc đặc ngậm trị sâu răng Dùng tươi xào nóng để đắp và chườm vào nơi đau nhức Nhựa lá non trộn nấu chín với dầu hạt bông là một thứ thuốc chửa bệnh hủi
Ngoài ra, những nghiên cứu gần đây còn cho thấy lá có chứa các tác nhân hóa trị để phòng ngừa ung thư và có tiềm năng anticarciogenic Chúng cũng có tác dụng của chất anticlastogenic (một quá trình gây phá vỡ trong nhiễm sắc thể) do đặc tính chống oxy hóa của chúng Ethanol chiết xuất từ lá cây cho thấy tiềm năng trong
việc điều trị các rối loạn hồng cầu lưỡi liềm (Lin et al.,1997)
1mg = 6,02.10 20 ug
1mg = 1000 µg
Trang 162.2 SƠ LƯỢC VỀ METHANOL
2.2.1 Tính chất vật lý
Methanol, còn được gọi là methyl alcohol, rượu gỗ, gỗ naphtha
Công thức: CH3OH, nhiệt độ sôi là 65°C, khối lượng phân tử: 32,04 g / mol
Hình 2 3 – Công thức cấu tạo Methanol
Methanol là chất dễ cháy, cháy với ngọn lửa không màu Tự tạo hỗn hợp với không khí Là một chất lỏng không màu, có mùi nhẹ, dễ bay hơi
Methanol là dung môi phân cực, có khả năng tan vô hạn trong nước và các dung môi hữu cơ khác Methanol là một chất độc thần kinh mạnh
2.2.2 Tính chất hóa học
Methanol là đại diện đơn giản nhất của dãy đồng đẳng ancol no, đơn chức Tác dụng với kim loại kiềm, tạo muối ancolat Tác dụng với axit vô cơ hay hữu cơ, tạo este Bị oxi hoá hoàn toàn tạo thành khí cacbonic và hơi nước Oxi hoá không hoàn toàn tạo andehit formic
2.2.3 Sử sụng trong công nghiệp
Được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp dưới dạng một dung môi và trong các sản phẩm có hợp chất methyl như Emethyl tertiary butyl ether (MTBE)
và formaldehyde Methanol còn được dùng sản xuất axit axetic, làm dung môi, chất tải lạnh, chất chống đông Có trong thành phần của sơn, vecni Dùng làm nhiên liệu, xăng
Trang 17tiền, dễ kiếm Điều chế cao đặc, cao khô nên dùng dung môi dễ thu hồi và tái sử
dụng được (Phạm Ngọc Bùng và Võ Xuân Minh, 2002)
Theo Pawar and Pal (2002), nghiên cứu trên rễ của cây Bàng, kết quả nghiên cứu cho thấy dịch chiết dầu ether không có hoạt tính kháng khuẩn Cả hai chất chiết xuất
từ Methanol và Chloroform cho thấy hoạt tính kháng khuẩn tốt chống lại các vi sinh vật Gram dương và Gram âm So với các chất chiết xuất khác, chất chiết
Chloroform cho thấy hoạt tính kháng khuẩn nổi bật so với Staphylococcus aureus (MIC = 0,4 mg / mL) và Escherichia coli Chiết xuất Methanol thể hiện hoạt động mạnh đối với Escherichia coli (MIC = 0,065 mg / ml).Thời gian sau, Babayi et al (2004) đã nghiên cứu về hoạt động kháng khuẩn của lá Bàng và lá Bạch đàn (E
Camaldulensis) được chiết xuất từ Methanol, chống lại một số vi sinh vật gây bệnh
Kết quả của nghiên cứu là chiết xuất của cả hai dược liệu đều ức chế sự tăng trưởng của Staphylococcus aureus, nhưng không thể ức chế sự tăng trưởng của Escherichia
coli, Pseudomonas aeruginosa Gần đây, một nghiên cứu của Nair and Chanda
(2008) tại Ấn Độ, đã thực hiện khảo sát về hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết lá
Bàng, Sapô (M Zapota) và Trầu (P.betel) từ dung môi là nước và dung môi
Methanol, trên vài vi khuẩn Gram dương và Gram âm Kết quả cho thấy 4 vi khuẩn
Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Streptococcus faecalis kháng lại chiết xuất Methanol của Bàng, nhưng vi khuẩn Samonella typhimurium bị ức chế, với đường kính là 10 mm Với dịch chiết từ dung môi nước
thì vi khuẩn Staphylococcus aureus, Streptococcus faecalis bị ức chế, với đường kính vùng ức chế lần lượt là 5 mm, 12 mm Pseudomonas aeruginosa, Escherichia
coli, Samonella typhimurium không bị ức chế Tác giả cũng khẳng định rằng các
chất chiết xuất từ Methanol đã mạnh hơn so với chiết xuất từ nước
Theo Lê Quang Sung (2009), trong nghiên cứu đã dùng Methanol nguyên chất làm dung môi để ly trích cao lá Bàng, kết quả thu được hiệu suất chiết suất là 1,72%, tỷ
lệ phần trăm ẩm độ là 12,43% Kết quả nồng độ ức chế tối thiểu của cao lá Bàng,
Staphylococcus aureus và Pseudomonas aeruginosa cùng có MIC=512 µg/ml, Escherichia coli có MIC=1024 µg/ml, Streptococcus faecalis, Samonella spp có
MIC=2048 µg/ml; Aeromonas hydrophila, Edwardsiella ictaluri và Edwardsiella
tarda đều có MIC=128 µg/ml Nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn Bửu Châu
(2012), thực hiện ly trích cao lá Bàng cũng bằng dung môi Methanol nguyên chất Kết quả hiệu suất chiết xuất từ 3,68% đến 4,62% Ẩm độ của cao Bàng trong khoảng 7,79% đến 12,01% Nồng độ ức chế tối thiểu của lá Bàng được tác giả kết
luận: vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa là mạnh nhất (64 µg/ml ≤ MIC ≤ 128
µg/ml), kế đến chủng Edwardsiella tarda (64 µg/ml ≤ MIC ≤ 256 µg/ml), chủng
Staphylococcus aureus, Escherichia coli (128 µg/ml ≤ MIC ≤ 512 µg/ml), chủng Edwardsiella ictaluri (128 µg/ml ≤ MIC ≤ 1024 µg/ml), chủng Samonella spp (128
Trang 18µg/ml ≤ MIC ≤ 1024 µg/ml) và thấp nhất là Streptococcus faecalis, Aeromonas
hydrophila (512 µg/ml ≤ MIC ≤ 1024 µg/ml)
2.2.5 Tính độc hại
Theo Ahmed et al (2005), Nagappa et al (2003), LD50 liều uống của các chất chiết xuất từ dung dịch nước của lá Bàng ở chuột là 215 và 230 mg / kg LD50 liều uống dầu ether, Methanol và các chất chiết xuất dung dịch nước của quả Bàng ở chuột là
343, 195 và 210 mg / kg
Liều lượng hạt chỉ định (1500 mg / kg) không sinh độc tính ở gan, trên chuột đực một liều lượng cao hơn (3000 mg / kg) gây ra nồng độ cao ở mức trung bình trong huyết thanh, hoạt động cho thấy nhiễm độc gan Cả hai liều lượng về hạt giống Bàng đã không gây ra độc tính, cũng không gây nhiễm độc vào máu, chỉ gây căng thẳng, mỏi cơ, mất kiểm soát cử động, mất cảm giác đau hoặc hạ đường huyết (Ratnasooriya and Dharmasiri, 2000)
2.3 VI KHUẨN TRONG NGHÊN CỨU MIC
Loài: Aureus Hiện tại có 32 loài
(Merchant and Packer, 1967)
Vi khuẩn gây những ổ mủ ở ngoài da, niêm mạc
Theo Phạm Hồng Sơn (2005), Staphylococcus aureus là những cầu khuẩn Gram
dương có đường kính 0,8-1,0 µm, thường tạo thành khối nhiều tế bào hình thành chùm nho, không có tiêm mao, không hình thành nha bào Theo Merchant and Packer (1967), các tụ cầu là những tế bào hình cầu hay hình trứng Khuẩn lạc trắng, vàng, hoặc màu da cam, không tan trong nước Là vi khuẩn hiếu khí và tuỳ ý, hóa lỏng gelatin và lên men một số carbonhydrates axit
Nhiệt độ thích hợp để phát triển của tụ cầu khuẩn từ 32-37oC, pH thích hợp 7,2-7,6 Sau 12-24 giờ khuẩn lạc tròn đường kính 2-4 mm, màu trắng, vàng, vàng chanh, hơi
ướt Phần lớn khuẩn lạc có màu vàng thẫm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Vi khuẩn không có nha bào nên đối với tác nhân lí hóa đề kháng kém Nhiệt độ
70oC diệt vi khuẩn trong môi trường 1 giờ, 80oC làm chết vi khuẩn trong 10-30 phút, đun sôi 100oC vài phút vi khuẩn mới chết (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Trang 19Staphylococcus aureus kháng với nhiệt đ ộ thấp Nhưng lại rất nhạy cảm
với môi trường có tính acid, các hợp chất hóa học và thuốc kháng sinh Axit phenic 3-5% diệt vi khuẩn trong 3-5 phút Formol 1% diệt vi khuẩn trong 1 giờ (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Sự kháng kháng sinh của Staphylococcus aureus là một đặc điểm rất đáng chú ý
Đa số Staphylococcus aureus kháng Penicillin G do vi khuẩn này sản xuất được
men penicillinase Một số còn kháng lại được methicillin gọi là methicillin resistant
Staphylococcus aureus (MRSA), do nó tạo ra các protein gắn vào các vị trí tác
động của kháng sinh (Lê Huy Chính, 2007)
Năm 2001, Nguyễn Văn Phát và Lê Ngọc Thủy thực hiện nghiên cứu trên mẫu sữa
bò bị viêm vú, thu được kết quả: Staphylococcus aures nhạy với Vancomycine
(94,44%), Gentamycine (90,74%), Cephalecine (87,04%) Ngược lại, đề kháng mạnh với Lincomycine (1,85%), với Penicillin (3,70%)
Một nghiên cứu khác về kiểm tra tính kháng thuốc của Staphylococcus aureus
phân lập từ bệnh viêm vú bò cho kết quả như sau: Penicillin G (33,33%), Ampicillin (16,67%), Chloramphenicol (0,00%), Chlortetracyclin (13,30%), Sulphonamid (13,33%), Neomycin (6,67%), Furazodiol (20,00%), Streptomycin (60,00%) (Bùi Thị Tho, 2003)
2.3.2 Streptococcus faecalis
Streptococcus faecalis thuộc họ Enterococceace, sống chủ yếu trong ruột của con
người, vật nuôi Ở động vật liên cầu thường gây những chứng mưng mủ, những
bệnh biến chung hay cục bộ như viêm vú (Nguyễn Như Thanh và ctv., 1997)
Theo Nguyễn Như Thanh và ctv (1997), liên cầu khuẩn có hình cầu hoặc hình bầu
dục, đôi khi có vỏ, bắt màu Gram dương, không di động Vi khuẩn này là trực khuẩn dài, lớn 0,3 - 0,7µm x 1-5µm, thường hình thành chuỗi dài, không kháng acid, không có giáp mô, không di động, không hình thành nha bào (Phạm Hồng Sơn, 2005)
Hiếu khí hay yếm khí không bắt buộc, mọc tốt ở tất cả môi trường Phần lớn các liên cầu gây bệnh thích hợp ở 37oC Môi trường thạch thường sau 24 giờ nuôi cấy:
khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Liên cầu có sức đề kháng kém đối với nhiệt độ và hóa chất Ở 70oC liên cầu chết trong 35-40 phút, ở 100oC chết trong 1 phút Các chất sát trùng thông thường dễ
tiêu diệt liên cầu (Nguyễn Như Thanh và ctv., 1997)
Phần lớn các chủng Enterococcus faecalis đề kháng với cefaclor và các loại cephalosporin khác Theo kiểm tra tính kháng thuốc của Streptococcus faecalis
phân lập từ bệnh viêm vú bò cho kết quả như sau: Penicillin G (31,25%), Ampicillin (26,67%), Chloramphenicol (0,00%), Chlortetracyclin (18,75%),
Trang 20sulphonamid (12,50%), neomycin (0,00%), furazodiol(18,75%), streptomycin (37,50%) (Bùi Thị Tho, 2003)
Nguyễn Văn Phát và Lê Ngọc Thủy (2001) đã thực hiện một nghiên cứu khác thực
hiện trên mẫu sữa bò bị viêm vú Kết quả là Streptococcus faecalis nhạy với Vancomycine (94,12%), Chloramphenicol (79,42%), Cephalecine (64,71%) Đề kháng mạnh với Lincomycine (5,88%), Ampicillin (11,76%) Riêng với Penicillin (26,47%), ở mức trung gian do quá trình sử dụng lâu dài
2.3.3 Escherichia coli
Escherichia coli thuộc họ Enterobacteriaeceae Được xem là nguyên nhân gây bệnh
tiêu chảy ở người và động vật
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), Escherichia coli là một trực khuẩn hình gậy
ngắn, kích thước 2-3 x 0,6 µm, hai đầu tròn, trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông ở xung quanh thân nên có thể di động, không hình thành nha bào, Gram âm, thỉnh thoảng thấy hiện tượng bắt màu ở hai đầu
Theo Merchant and Packer (1967), Nguyễn Vĩnh Phước (1977), trực khuẩn hiếu khí
và hiếu khí tùy tiện có thể sinh trưởng ở nhiệt độ từ 15 đến 24oC, nhiệt độ thích hợp
37oC, pH thích hợp 7,4 Nhưng sự tăng trưởng có thể xảy ra trong khoảng 15oC đến
45oC Phát triển tốt nhất ở mật độ pH = 7 nhưng phát triển trong phạm vi pH rộng hơn
Thạch thường: sau 24 giờ hình thành những khuẩn lạc tròn, ướt, không trong suốt,
màu tro trắng nhạt, hơi lồi đường kính 2-3 mm (Nguyễn Như Thanh và ctv., 1997)
Trên môi trường thạch khuẩn lạc được hình thành có màu trắng, hoặc màu vàng trắng, chuyển sang màu nâu hoặc nâu vàng với tuổi tác, khuẩn lạc ẩm, sáng , mờ đục và tròn Khuẩn lạc lúc non thì dạng hột mịn, khi già thì hạt thô (Merchant and Packer, 1967)
Trực khuẩn này thường bị phá hủy ở 60oC, trong 30 phút, những chủng chịu nhiệt
có thể tồn tại 95% của các tế bào bị phá hủy trong 2 giờ bằng cách làm lạnh trong không khí lỏng (Merchant and Packer, 1967)
Cũng như các loại vi khuẩn không sinh nha bào khác, Escherichia coli không chịu
được nhiệt độ, chết khi đun ở 55oC trong 1 giờ, đun sôi 100oC chết ngay Các chất sát trùng thông thường axit phenic, biclorua thủy ngân, formol, hydropenoxit 1o/oo
diệt vi khuẩn sau 5 phút (Nguyễn Như Thanh và ctv., 1997)
Escherichia coli nhạy cảm với polymycin Dihydrostreptomycin, Chlortetracycline,
Tetracycline, Oxytetracycline ở mức trung bình Penicillin, Oleandomycin, Furaltadone và Nicroxyzone ít hiệu quả nhất (Merchant and Packer, 1967)
Trang 21Năm 1999, Lê Văn Tạo đã cho biết hiện nay, có 12% Escherichia coli đa kháng với
7 loại thuốc, 32% đa kháng với 6 loại thuốc, 40% đa kháng với 5 loại thuốc, 10% đa kháng với 4 loại thuốc và 6% đa kháng với 3 loại thuốc (Bùi Thị Tho, 2003)
Theo nghiên cứu gần đây của Nguyễn Thị Minh Trang và ctv (2011), thực hiện trên heo con 1 - 60 ngày tuổi tại tỉnh Trà Vinh đã cho kết quả , vi khuẩn Escherichia coli
nhạy cảm mạnh với Imipeneme (97,06%), nhạy cảm tương đối với Gentamycin (46,03%), Streptomycin (39,68%), Ciprofloxacin (38,97%), Enprofloxacin (32,35%), Amoxicllin/Clavulanic acid (30,15%) Vi khuẩn đề kháng cao với nhiều loại kháng sinh gồm Tetracyclin (97,06%), Trimethoprim/Sulphamethoazole (86,51%), Colistin (86,51%), Flofenicol (80,95%), Streptomycin (60,32%), Gentamycin, Cephalothin lần lượt là 53,17% và 25%
Theo Bùi Thị Tho (2003), kết quả kiểm tra tính kháng thuốc của vi khuẩn phân lập
từ heo con bệnh phân trắng của bộ môn Nội Chẩn Dược Độc chất học trường Đại học Nông nghiệp I (Hà Nội) từ năm 1976 đến nay cho thấy tỷ lệ kháng thuốc của
Escherichia coli đối với Chloramphenicol là 25,78%, với Chlortetracycline là
23,21% , với Streptomycin và Sulphonamide lần lượt là 77,07% , 89,97%
2.3.4 Pseudomonas aeruginosa
Trực khuẩn mủ xanh Pseudomonas aeruginosa còn có tên là Pseudomonas
pyocyaneus, Bacterium pyocyaneum, Pseudomonas Aeruginosa là vi sinh vật có độc
lực thấp, thường tìm thấy trong quá trình mưng mủ ở bò, heo và trong các vết thương nhiễm trùng của người (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Là những trực khuẩn Gram âm, kích thước trung bình 0,5-1,0 µm x 1,5-3 µm thường là đơn mao, đôi khi là từng mao khuẩn có 2 - 3 lông Các vi khuẩn này đều không sinh nha bào và giáp mô, không có vỏ nhầy (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977) Khuẩn lạc phát triển trên môi trường nuôi cấy có màu xanh lá cây, màu xanh dương, hoặc vàng-xanh Đa số các chủng của nhóm là di động, nhưng một số hoặc
là không có hoặc chúng đã bị mất roi (Merchant and Packer, 1967)
Pseudomonas aeruginosa là vi khuẩn hiếu khí và yếm khí không bắt buộc, mọc ở nhiệt độ từ 30 - 37oC, giới hạn nhiệt độ phát triển 5 - 42oC, pH thích hợp là 6,6 - 7,0 Loài này có khả năng tăng trưởng trên môi trường nghèo dinh dưỡng với khoáng và nguồn carbon như: acetate, pyruvate, succinate, glucose Trên thạch: khuẩn lạc không tròn, bóng, dẹt, to, rìa không phẳng có dạng nhầy (Trần Linh Thước, 2006)
Pseudomonas aeruginosa sống rất lâu trong môi trường nuôi cấy và trong thiên nhiên, bị diệt sau khi đun 55oC trong 2 giờ (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977), chết nhanh chóng ở 100oC Trong môi trường ẩm, thoáng, không có ánh sáng mặt trời chiếu
Trang 22trực tiếp, chúng sống được hàng tuần; trong môi trường có dinh dưỡng tối thiểu, ở
5oC chúng có thể sống hơn 6 tháng (Lê Huy Chính, 2007)
Pseudomonas aeruginosa có được tính kháng thuốc cao là do cấu tạo của màng tế bào làm giảm khả năng thấm của kháng sinh vào bên trong tế bào của vi khuẩn, một
yếu tố khác là do Pseudomonas aeruginosa có mang plasmid – R có khả năng truyền gen kháng thuốc qua trung gian plasmid (Lê Huy Chính, 2007)
Pseudomonas aeruginosa là vi khuẩn kháng thuốc phổ biến, do đó là một loài gây bệnh nguy hiểm, chỉ còn một số ít kháng sinh có tác dụng với nó như: Fluoroquinolone, Gentamycin và Imipenem (Trần Linh Thước, 2006) Theo
Bonfiglio et al (1998), Pseudomonas aeruginosa kháng một số kháng sinh: Meropenem 9,1%, Ceftazidime 13,4%, Carbenicillin 27,3%, Ticarcillin/ Clavulanic
acid 22,8%, Amikacin 10,6% và Ciprofloxacin 31,9%
Theo Hoàng Kim Tuyến và ctv (2005) nghiên cứu trên người cho thấy,
Pseudomonas aeruginosa kháng mạnh với Cefoperazone và nhóm Aminoglycoside (65 – 70%) Kháng sinh thông dụng như Ceftazidime cũng chỉ còn nhạy cảm khoảng 50%
2.3.5 Salmonella spp
Vi khuẩn Salmonella thuộc bộ Enterobacteriales, họ Enterobacteriaceae
Salmonella spp gây bệnh đường ruột cho người, gia súc và gia cầm gọi là bệnh
thương hàn và phó thương hàn (Nguyễn Như Thanh và ctv., 1997)
Salmonella là một loại vi khuẩn, hình gậy ngắn, hai đầu tròn, khích thước 0,4 - 0,6 x
1,3 µm, không hình thành giáp mô và nha bào Đa số các loài Salmonella đều có khả năng di động mạnh do có từ 7 - 12 lông xung quanh thân (trừ Salmonella
gallinarum – pullorum) Gram âm, khi nhuộm vi khuẩn bắt màu đều toàn thân hoặc
hơi đậm ở hai đầu (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997) Chúng thường không tạo bào
tử, mặc dù hình thức không di động xảy ra, sản xuất acid và khí từ glucose, maltose, mannitol, sorbitol, không lên men lactose, sucrose, hoặc salicin, không hình thành indol, đông sữa, hoặc hóa lỏng gelatin (Merchant and Packer, 1967)
Vi khuẩn Salmonella spp vừa hiếu khí, vừa yếm khí, dễ nuôi, nhiệt độ thích hợp là
37oC, pH từ 7,2 - 7,6 Salmonella spp trên gia súc sinh trưởng trong điều kiện hiếu
khí kém hơn trong điều kiện yếm khí, phát triển tốt trong cơ thể, trong môi trường trung tính hay kiềm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977) Chúng phát triển tốt trên môi trường thạch trong, 20-24 giờ hình thành khuẩn lạc tròn từ trong suốt không màu đến hơi đục, hơi lồi hoặc có dạng hạt sương (Phạm Hồng Sơn, 2005)
Ở 60oC trực khuẩn Salmonella spp bị tiêu diệt trong một giờ, 70oC trong 20 phút,
75oC trong 5 phút, có thể sinh trưởng trong môi trường thạch ở nhiệt độ 10oC trong
115 ngày
Trang 23Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp diệt vi khuẩn trong nước sau 5 giờ, trong nước đục sau 9 giờ Đối với các hóa chất, Nguyễn Như
Thanh và ctv (1997) nhận định các chất sát trùng thông thường cũng dễ phá hủy vi
khuẩn hoàn toàn: Formol 5% HgCl 1/500 diệt vi khuẩn trong 15 - 20 phút Nhưng đối với một số hóa chất như: Cristal violet, lục malachite, natrihyposunfit, dixitrat,
muối mật với những nồng độ vừa đủ gây độc cho Escherichia coli thì không ảnh
hưởng tới sự phát triển của Salmonella spp
Salmolnella spp đã đề kháng cùng với nhiều loại thuốc như Ampicillin,
Chloramphenicol, Oxytetracyline, Streptomycine (Bùi Thị Tho, 2003)
Năm 1995, Phùng Quốc Chướng cho biết kết quả vi khuẩn Salmonella spp mẫn
cảm nhất với Norfloxacin và Ciprofloxacin Đến năm 2005, Tô Liên Thu lại cho
rằng Salmolnella spp phân lập từ thịt lợn mẫn cảm với Norfloxacin (90%),
Ofloxacin (90%) và Gentamicin (90%) Đa số các chủng kháng Tetracycline, Amoxicillin và Ampicillin là (96,77%) và Sulfatrimethoprime (93,55%) (Nguyễn
Mạnh Phương và ctv., 2012)
Nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn Mạnh Phương và ctv (2012)nghiên cứu trên
phân của lợn sau cai sữa, cho kết quả số chủng mẫn cảm với Apramycin chiếm tỷ lệ cao nhất (58,06%) tiếp theo là với Norfloxacin (51,61%) và Colistin (48,39%)
Nghiên cứu cho thấy đã có sự thay đổi về tỷ lệ các chủng Salmonella mẫn cảm với
các loại kháng sinh Có thể nhận xét rằng tác dụng của nhiều loại kháng sinh đối với
vi khuẩn Salmonella đã giảm
Theo kết quả kiểm tra tính kháng thuốc của vi khuẩn phân lập từ heo con bệnh phân
trắng cho thấy tỷ lệ kháng thuốc của Salmonella đối với Penicillin G (100%),
Ampicillin (49,29%), Chloramphenicol (18,30%), Chlortetracyclin (50,70%), Sulphonamid (71,83%), Neomycin (1,41%), với Furazodiol và Streptomycin lần lượt là 0,00% và 63,38% (Bùi Thị Tho, 2003)
Trong giống Aeromonas có hai nhóm:
Nhóm 1: Aeromonas không di động (A salmonicida) thường gây bênh ở nước lạnh Nhóm 2: Là các loài Aeromonas di động, bao gồm Aeromonas hydrophyla,
Aeromonas caviae, Aeromonas sobria (Bùi Quang Tề, 2006)
Bệnh đốm đỏ còn gọi là bệnh xuất huyết, nhiễm trùng máu, bệnh sởi…Là bệnh do
vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây ra (Từ Thanh Dung và ctv., 2005)