Cần lưu ý khả năng tiêu hóa đường saccharose của heo con là rất kém, thậm chí heo con uống nước đường vào những ngày đầu tiên sau khi sinh còn có thể gây tổn thương đường tiêu hoá.. Đồn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
MSSV: 3042062
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Sinh viên thực hiện: PHẠM THỊ DIỄM
Địa điểm: Trại chăn nuôi thực nghiệm Hoà An Thời gian: Từ 01/2008 đến 28/04/08
Cần Thơ, ngày tháng năm 2008
Duyệt Bộ Môn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2008
Giáo Viên Hướng Dẫn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2008
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
DANH SÁCH BẢNG ii
DANH SÁCH HÌNH iii
TÓM LƯỢC iv
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 6
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
2.1 Đặc điểm sinh lý heo con 11
2.1.1 Đặc điểm về thần kinh và cơ quan điều nhiệt 11
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển 12
2.1.3 Đặc điểm của cơ quan tiêu hóa 13
2.2 Đôi nét về miễn dịch và vai trò của miễn dịch đối với heo con 15
2.2.1 Miễn dịch chủ động 15
2.2.2 Miễn dịch thụ động 16
2.3 Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy 18
2.3.1 Nguyên nhân không truyền nhiễm 18
2.3.2 Nguyên nhân truyền nhiễm 25
2.4 Triệu chứng, bệnh tích 28
2.4.1 Triệu chứng 28
2.4.2 Bệnh tích 29
2.5 Cơ chế phát bệnh 30
2.6 Tính chất dược lý của một số thuốc 31
2.6.1 Vizyme 31
2.6.2 Coli – Norgen 33
2.6.3 Aralis 34
2.6.4 Norgencin 35
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 52.6.5 Amoxi 15% 36
2.6.6 Vaccin Porcilis COLI 37
2.6.7 Carbomango 37
Chương 3: ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 38
3.1 Địa điểm 38
Đề tài được thực hiện tại trại chăn nuôi Thực nghiệm Đại Học Cần Thơ 38
3.1.1 Cơ sở vật chất và điều kiện tự nhiên của trại 38
3.1.2 Tình hình Thú y và chăn nuôi 39
3.2 Thời gian thí nghiệm 40
3 3 Phương tiện 40
3.3.1 Đối tượng thí nghiệm 40
3.3.2 Các thuốc phòng bệnh 40
3.3 Phương pháp thí nghiệm 40
3.3.1 Thí nghiệm phòng bệnh 40
3.3.2 Thí nghiệm trị 42
3.4 XỬ LÝ SỐ LIỆU 43
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 44
4.1 Kết quả phòng 44
4.1.1 Ảnh hưởng của nghiệm thức tác động trên heo mẹ đến tỉ lệ tiêu chảy của heo con 44
4.1.3 Ảnh hưởng của các nghiệm thức phòng đến tỷ lệ tiêu chảy của heo con theo thời gian .49
4.1.4 Ảnh hưởng của các nghiệm thức phòng bằng men đến năng suất heo con 52
4.2 Kết quả trị 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Đề nghị 58
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Trải qua những tháng năm học tập, rèn luyện ở trường cùng với thời gian thực tập ở trại chăn nuôi thực nghiệm trường Đại Học Cần Thơ, tôi xin chân thành cám ơn:
- Quý thầy, cô Khoa Nông Nghiệp & SHƯD trường Đại học Cần Thơ đã tận tâm dạy
dỗ và truyền thụ những kiến thức quí báu về chuyên môn cùng với những kinh nghiệm thực tiễn xã hội mà quí thầy cô đã trải qua
- Chân thành cám ơn thầy Nguyễn Dương Bảo đã nhiệt tình trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
- Quí thầy cô và cán bộ nhân viên trại chăn nuôi thực nghiệm bộ môn chăn nuôi khoa Nông Nghiệp & SHƯD trường Đại Học Cần Thơ đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập luận văn tốt nghiệp
- Cảm ơn tất cả các bạn sinh viên lớp chăn nuôi thú y K30 đã chia sẽ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Chân thành cám ơn!
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm phòng trên heo mẹ……… 32 Bảng 3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm phòng trên heo con 33 Bảng 3.3 phương pháp bố trí thí nghiệm trị……… ……… …… 34 Bảng 4.1 Tỷ lệ và thời gian tiêu chảy ở heo con của các heo mẹ thí nghiệm và đối chứng……… … 35 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các nghiệm thức phòng cho heo mẹ đến năng suất của heo con……… … 38 Bảng 4.3 Tỷ lệ mắc bệnh theo thời gian khi cho heo uống men và không cho uống men……… 40 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các nghiệm thức phòng bằng men đến năng suất của heo con
……… ……… 43 Bảng 4.5 Kết quả điều trị……… 46
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Biểu đồ 1: So sánh tỷ lệ tiêu chảy của heo con theo thời gian ở nghiệm thức thí nghiệm và nghiệm thức đối chứng 36 Biểu đồ 2: So sánh trọng lượng bình quân ở nghiệm thức thí nghiệm và nghiệm thức đối chứng……….……… 39 Biểu đồ 3: So sánh tỷ lệ chết, tỷ lệ còi ở nghiệm thức thí nghiệm và nghiệm thức đối chứng………39 Biểu đồ 4: So sánh tỷ lệ tiêu chảy theo thời gian ở các nghiệm thức phòng bằng men
và nghiệm thức đối chứng 41 Biểu đồ 5: So sánh trọng lượng bình quân ở các nghiệm thức phòng bằng men và nghiệm thức đối chứng……….43 Biểu đồ 6: So sánh tỷ lệ chết, tỷ lệ còi ở các nghiệm thức phòng bằng men và nghiệm thức đối chứng……… 44 Biểu đồ 7: So sánh hiệu quả điều trị giữa hai nghiệm thức 46 Biểu đồ 8: So sánh thời gian khỏi bệnh, tỷ lệ chết, tỷ lệ còi giữa hai nghiệm thức….47
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9TÓM LƯỢC
Bệnh tiêu chảy ở heo con trong thời gian theo mẹ là bệnh khá phổ biến trong chăn nuôi nông hộ đến chăn nuôi tập trung Bệnh xảy ra do nhiều nguyên nhân: vi sinh vật, yếu tố môi trường, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng,… gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi Để góp phần làm hạn chế thiệt hại, nâng cao hiệu quả kinh tế trong việc phòng và trị bệnh tiêu chảy cho heo con, đồng thời ứng dụng những kiến thức đã học ở trường vào thực tiển, chúng tôi thực hiện đề tài “So sánh hiệu quả một
số biện pháp phòng và trị bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ” tại trại chăn nuôi thực nghiệm Hoà An
Qua thời gian tiến hành đề tài tại trại chúng tôi nhận thấy:
Heo nái được tiêm phòng vaccin Porcilis – Coli trước khi sinh và Amoxi 15% sau khi sinh có tỷ lệ tiêu chảy thấp (32,26%), tỷ lệ heo chết (3,23%), tỷ lệ heo còi (3,23%), tăng trọng 28 ngày tuổi cao (6,44 kg) Trong khi đó heo không được tiêm phòng có tỷ
lệ heo con tiêu chảy cao (79,31%), tỷ lệ heo chết (13,79%), tỷ lệ heo còi (3,45%), tăng trọng 28 ngày tuổi thấp (5,38 kg)
Heo con được cho uống men Vizyme có tỷ lệ tiêu chảy thấp nhất (55,56%), tăng trọng
28 ngày tuổi ( 6,24 kg) Kế đến là nghiệm thức cho uống Coli – Norgen có tỷ lệ tiêu chảy (59,38%), tăng trọng 28 ngày tuổi (6,90 kg) Trong khi đó nghiệm thức đối chứng có tỷ lệ tiêu chảy cao nhất (91,43%), tăng trọng 28 ngày tuổi (5,41 kg)
Trong các nghiệm thức điều trị thì nghiệm thức điều trị bằng Norgacin kết hợp với Carbomango có hiệu quả điều trị tốt (96,67%) Trong khi điều trị bằng Aralis kết hợp với Carbomango cho hiệu quả điều trị là (86,67%)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành chăn nuôi nước ta hiện nay đã và đang trên đà phát triển, với nhiều quy mô và phương thức khác nhau nhưng phương thức chăn nuôi tập trung công nghiệp, qui mô lớn luôn được ưu tiên phát triển Tuy nhiên, cùng với sự mở rộng qui mô, gia tăng số lượng gia súc trong đàn thì việc quản lý dịch bệnh lại càng khó khăn, phức tạp Một trong các bệnh xảy ra phổ biến và rất thường xuyên trong các cơ sở chăn nuôi heo sinh sản tập trung đó là tiêu chảy ở heo con theo mẹ Bệnh xảy ra do nhiều nguyên nhân: Do heo mẹ, do bản thân heo con và nhất là do rất nhiều yếu tố bất lợi của môi trường như khí hậu, thời tiết, vệ sinh, chăm sóc , và là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm năng xuất chăn nuôi
Với mong muốn tìm ra những phương pháp phòng và trị có hiệu quả bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ nhằm góp phần làm giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra cho cơ sở chăn nuôi Được sự chấp thuận của ban lãnh đạo trại Chăn Nuôi Thực Nghiệm Hòa
An, sự hướng dẫn của quý thầy cô, tôi tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài: So sánh hiệu quả một số phương pháp phòng và trị bệnh tiêu chảy ở heo con theo
mẹ
Mục tiêu của đề tài là:
Xác định và so sánh hiệu quả của các nghiệm thức phòng để tìm ra nghiệm thức phòng có hiệu quả hơn
Xác định và so sánh hiệu quả của các nghiệm thức điều trị để tìm ra nghiệm thức điều
trị hiệu quả hơn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Đặc điểm sinh lý heo con
2.1.1 Đặc điểm về thần kinh và cơ quan điều nhiệt
Ở heo con sơ sinh chức năng thần kinh chưa hoàn chỉnh, bộ não của heo con phát triển chậm, vì thế chức năng điều nhiệt cũng như chức năng điều tiết dịch, phối hợp hoạt động cùng các cơ quan khác bên trong cơ thể heo con như: hô hấp, tuần hoàn, bài tiết…hoàn thiện chậm, heo con rất dễ bị ảnh hưởng bởi tác động của môi trường Về mặt cơ thể học, heo con có lớp mỡ dưới da không đáng kể, bộ lông thưa thớt Diện tích bề mặt tiếp xúc với môi trường bên ngoài lớn hơn trên cùng một đơn vị trọng lượng (Mount 1962, Stanton và cộng sự, 1973)
Ở heo sơ sinh, tổng số mỡ chỉ bằng 1% thể trọng, sự thay đổi thân nhiệt rất nhanh
chóng khi nhiệt độ môi trường có nhiệt độ thấp hay cao so với nhiệt độ trung hòa (360C) Do đó heo con dễ mẫn cảm với điều kiện thời tiết làm giảm sức đề kháng, gây rối loạn tiêu hóa sinh tiêu chảy (Newland và ctv, 1952)
Ở heo sơ sinh, tỉ lệ nước trong cơ thể chiếm 82% Vì có nhiều nước nên thân nhiệt giảm nhanh, 30 giây sau khi sinh, lượng nước trong cơ thể giảm 1,5% - 2%, kèm theo giảm thân nhiệt khoảng 5 – 100C heo con bị lạnh, các chức năng hoạt động bị rối loạn, dẫn đến heo dễ bị chết (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2003)
Ở giai đoạn 3 – 4 tuần tuổi, nước chiếm 75% - 78% Nhịp đập tim của heo con so với heo trưởng thành nhanh hơn rất nhiều, ở giai đoạn đầu mới đẻ, nhịp đập tim lên đến
200 lần/phút (heo lớn chỉ 80 – 90 lần trên phút), lượng máu đến các cơ quan cũng rất lớn, đạt tới 150ml trong 1 phút trên 1kg thể trọng (heo trưởng thành chỉ đạt 30 – 40 ml), Heo con dưới 3 tuần tuổi, có khả năng điều nhiệt chưa hoàn chỉnh, nên thân nhiệt heo con chưa ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa cân bằng (Phùng Thị Vân, 2004)
Vì vậy trong 1 giờ sau khi sinh, nếu heo con được bú sữa đầu, thì 8 – 12 giờ sau thân nhiệt heo con sẽ ổn định
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12Ở heo con, hệ thần kinh điều khiển sự cân bằng thân nhiệt chưa phát triển đầy đủ, mô dưới da chưa phát triển và glycogen trong cơ thể còn thấp, da mỏng lông thưa nên chống lạnh kém (Lê Hồng Mận, 2002)
Năng lượng trong sữa đầu cao hơn trong sữa thường, da mỏng và lớp da có rất ít lông bao phủ không có khả năng cách nhiệt Như vậy có một thời gian rất ngắn nhưng vô cùng quan trọng là thời gian là thời gian tiếp nhận sữa đầu đảm bảo cho sự sống của heo con Cùng với việc sưởi ấm, heo con được bú sữa đầu càng sớm càng tốt (Nguyễn Trọng Phục, 2005)
Trong bụng mẹ việc căng bằng nhiệt của bào thai được xác định bởi thân nhiệt của heo mẹ, sau khi sinh cơ thể heo con chưa có thể bù đắp được nhiệt lượng bị mất đi do ảnh hưởng của môi trường ngoài tác động, vì vậy phải đặc biệt chú ý tạo điều kiện thích hợp trong chuồng sinh sản, để chúng khỏi ảnh hưởng bởi thay đổi nhiệt độ đột ngột khi mới sinh (Đào Trọng Đạt và et al,1996)
Nói chung khả năng điều nhiệt của heo con dưới 3 tuần tuổi còn kém, nhất là trong tuần đầu mới sinh, cho nên nếu nuôi heo con trong chuồng có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao thì thân nhiệt heo con hạ rất nhanh Mức độ hạ thân nhiệt nhiều hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ của chuồng nuôi và tuổi của heo con Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp thân nhiệt của heo con hạ xuống càng nhanh Tuổi của heo con càng ít thân nhiệt hạ xuống càng nhiều
Trên cơ thể heo con, phần thân nhiệt có nhiệt độ cao hơn phần chân và phần tai Ở
phần thân thì nhiệt độ ở bụng là cao nhất, cho nên khi bị cảm lạnh thì phần bụng bị mất nhiệt nhiều nhất Sau 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con mới
tương đối được hoàn chỉnh và thân nhiệt của lợn được ổn định hơn 390 C – 39,50C (Phùng Thị Vân, 2004).
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển
Lợn con bú sữa mẹ có tốc độ lớn rất nhanh So với sơ sinh, sau 10 ngày khối lượng lợn con tăng gấp đôi, sau 20 ngày tăng gấp 5 lần, 30 ngày gấp 6 lần, 40 ngày gấp 7- 8 lần, 50 ngày gấp 9 – 10 lần, 60 ngày gấp 12 – 13 lần Phải rất coi trọng đặc điểm này
để nuôi dưỡng tốt lợn nái đủ sữa cho lợn con bú, có thức ăn tập ăn ngon cho lợn con
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13Lợn con bú sữa có sinh trưởng phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày tuổi đầu, sau đó giảm dần Có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng thường kéo dài khoảng
2 tuần, còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của heo con Chúng ta có thể ngăn cảng sự khủng hoảng này bằng cách tập cho heo con ăn sớm (Phùng Thị Văn, 2004)
2.1.3 Đặc điểm của cơ quan tiêu hóa
Theo Phùng Thị Văn, 2004 thì:
Cơ quan tiêu hóa của heo con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa Chức năng tiêu hóa của heo con mới sinh chưa có hoạt lực cao, trong giai đoạn theo mẹ chức năng tiêu hóa của một số men tiêu hóa được hoàn thiện dần như men pepsin tiêu hóa protit, men tiêu hóa bột đường Cần
lưu ý khả năng tiêu hóa đường saccharose của heo con là rất kém, thậm chí heo con
uống nước đường vào những ngày đầu tiên sau khi sinh còn có thể gây tổn thương đường tiêu hoá
Nói chung heo con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa tốt các chất dinh dưỡng trong sữa heo mẹ, còn khả năng tiêu hóa thức ăn kém Trong khẩu phần nuôi dưỡng chúng ta cần chú ý chế biến thức ăn tốt để nâng cao khả năng tiêu hóa của heo con
Tiêu hóa ở miệng
Theo Trương Lăng, 2004 thì:
Heo mới sinh những ngày đầu hoạt tính amilaza nước bọt cao Tách mẹ sớm, hoạt tính amilaza nước bọt cao nhất ở ngày thứ 14, còn lợn do mẹ nuôi phải đến ngày thứ 21 Nước bọt ở tuyến mang tai chứa 0,6 – 2,26% vật chất khô Khả năng tiêu hóa 16 – 500 đơn vị vongemut, pH = 7,6 – 8,1 Tùy lượng thức ăn, lượng nước bọt tiết ra khác nhau Thức ăn có phản ứng axit yếu và khô thì nước bọt tiết ra mạnh, thức ăn lỏng thì giảm hoặc ngừng tiết dịch Vì vậy cần chú ý không cho lợn con ăn thức ăn lỏng
Lượng nước bọt thay đổi tùy theo số lần cho ăn, chất lượng thức ăn Ăn chỉ một loại thức ăn kéo dài sẽ làm tăng nhiệm vụ cho một tuyến, gây ức chế nên heo ít thèm ăn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, ăn đổi bữa thì cả hai tuyến hoạt động, không gây ức chế, heo con sẽ thèm ăn, tiết nước bọt liên tục, giúp tiêu hóa tốt thức ăn
Tiêu hóa dạ dày
Theo Trương Lăng, 2004 thì:
Lợn con đạt 10 ngày tuổi có dung tích dạ dày tăng gấp 3 lần, 20 ngày tuổi đạt 0,2 lít, hơn 2 tháng tuổi đạt 2 lít, sau đó tăng chậm, đến tuổi trưởng thành đạt 3,5 – 4 lít Dịch
vị tiết ra tương ứng với sự phát triển của dung tích dạ dày, tăng nhanh nhất ở 3 – 4 tháng tuổi sau đó kém hơn Lượng dịch vị biến đổi tùy theo tuổi và ngày đêm cụ thể như sau:
Heo con 20 ngày tuổi phản xạ tiết dịch chưa rõ Ban đêm heo mẹ nhiều sữa, kích thích
sự tiết dịch vị ở heo con Khi cai sữa lượng dịch vị tiết ra của heo con ngày đêm bằng nhau Axit chlohidric (HCl) tự do chỉ xuất hiện ở 25 – 30 ngày tuổi và diệt khuẩn rõ nhất ở 40 – 50 ngày tuổi
Số lượng, chất lượng thức ăn khác nhau làm tăng tính ngon miệng, dịch vị tiết ra nhiều, tiêu hóa cao Ban đêm tiêu hóa kém hơn ban ngày Ban ngày sự tiết dịch vị lại nhiều hơn Thêm 3g pepsin và 500ml HCl 0,4% vào thức ăn cho heo 3 – 4 tuần tuổi sẽ kích thích tiết dịch vị và tăng sức tiêu hóa
Những axit chính trong dạ dày là axit lactic, acetic, propionic, còn axit butyric thì ít hơn
Axit lactic có liên quan đến vi khuẩn lactic, heo 60 ngày tuổi có vi khuẩn lactic nhiều hơn heo 120 ngày tuổi Vi khuẩn lactic giảm khi cân bằng dinh dưỡng hoàn toàn và tăng khi cân bằng dinh dưỡng không hoàn toàn Trực trùng E.coli cũng giảm khi cân bằng dinh dưỡng hoàn toàn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15Độ axit của dịch vị heo con thấp nên hoạt tính pepsinogen kém Trong 2 tuần đầu, axit chlohidric (HCl) tự do chưa có trong dạ dày heo con Do đó chưa có tính kháng khuẩn, không bảo vệ được đường tiêu hóa, nên thường bị bệnh đường ruột như bệnh
ỉa phân trắng Hơn nữa heo con 20 – 30 ngày tuổi, dạ dày chưa phân giải được protein thực vật Do đó nên tập cho heo con ăn sớm thức ăn hạt rang để tác động tiết dịch sớm hơn là điều hết sức cần thiết (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2003)
Tiêu hóa ở ruột
Theo Trương Lăng, 2004 thì:
Heo sơ sinh có dung tích ruột non 100ml, 20 ngày tuổi tăng 7 lần, tháng thứ 3 đạt 6 lít,
8000 đơn vị vongemut và giảm theo tuổi
Các Enzym tiêu hóa trong dịch ruột heo con gồm: amino peptidaze, dipeptidaze, enterokinaze, lipaze, và amilaze
Trong một ngày đêm, heo 1 tháng tuổi tiết dịch từ 1,2 – 1,7 lít, 3 – 5 tháng có từ 6 – 9 lít dịch
Lượng dịch tiêu hóa phụ thuộc tuổi và tính chất khẩu phần thức ăn Heo con một tháng rưỡi đến hai tháng tuổi, lượng dịch ngày đêm tăng đáng kể nếu tăng thức ăn thô xanh vào khẩu phần
2.2 Đôi nét về miễn dịch và vai trò của miễn dịch đối với heo con
2.2.1 Miễn dịch chủ động
Miễn dịch chủ động được tạo ra qua chủng phòng hay nhiễm trùng tự nhiên
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16*Đối với heo mẹ: Chích vaccin E.coli hai lần trước khi sinh: 6 tuần và 2 tuần trước khi sinh (phương pháp tiêm nhắc lại)
- Lần chích đầu tiên: Kích thích đáp ứng miễn dịch lần đầu mà nó tạo ra một kháng thể tối thiểu và bảo hộ tối thiểu, lần chích đầu tiên này cảm ứng các lamba cầu T phát triển ở heo trong lúc đó tạo ra một số lượng nhỏ, chu trình này cần thời gian 2 – 3 tuần
- Lần chích thứ hai: Sự chủng phòng này tạo ra một sự gia tăng đáng kể trong số lượng kháng thể là do trong lần này heo đã cảm ứng và bộ máy sản xuất ra kháng thể
đã được thiết lập qua lần tiêm phòng (Sổ tay heo bệnh, 1992)
*Đối với heo con: Miễn dịch đối với Colibacterioz là miễn dịch dịch thể, được hình thành bằng một đáp ứng miễn dịch cục bộ ở ruột Kháng thể đặc hiệu ức chế vi khuẩn
bám dính lên tế bào biểu mô của thành ruột và trung hòa hoạt tính các độc tố do E.coli (Escherichia Coli)
2.2.2 Miễn dịch thụ động
Miễn dịch thụ động là sự bảo hộ ngắn ở heo con do tiếp nhận những kháng thể qua sữa đầu Vào lúc sinh, nồng độ kháng thể trong sữa đầu rất cao, gồm 60 – 100g IgG/lít (70% là IgG), 10g IgA/lít và 3g IgM/lít Tất cả IgG, hơn 80% IgM và 40% IgA bắt nguồn từ máu thú mẹ, 24 giờ sau khi sinh lượng IgG còn ít hơn 2g/lít và lượng IgA trở nên nhiều nhất trong vòng tuần đầu sau khi sinh (Trần Thị Dân, 2000)
Heo con đến 3 tuần tuổi chưa có khả năng tự tạo được kháng thể chủ động mà phải nhận kháng thể thụ động của mẹ truyền cho Tuy vậy, ở heo kháng thể thụ động của
mẹ không hoàn toàn truyền qua nhau thai trong quá trình chữa mà chỉ cho heo con qua sữa đầu Quá trình hấp thu được các kháng thể tốt nhất trong vòng 5 – 6 giờ đầu tiên sau khi sinh, bởi vì nồng độ kháng thể trong sữa đầu cao nhất vào lúc 4 giờ sau khi sinh, 6 – 8 giờ sau giảm đi còn 50% và sau 12 giờ giảm còn lại 30% và sang đến ngày thứ 2 thì còn rất thấp khoảng 10% so với thời điểm cao nhất (Nguyễn Ngọc Phục, 2005)
Sữa là nguồn thức ăn có đầy đủ chất dinh dưỡng không có loại thức nào so sánh và thay thế được, vì sữa đầu có 11,29% Protein huyết thanh và 5% Cazein Protein huyết
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17thanh có Preanbumin (Protein đặc biệt của sữa) 13,17%, anbumin 11,48%, α globulin 12,74%, β globulin 11,29% và γ globulịn 45,29% (thực hiện chức năng miễn dịch) Sữa đầu rất quan trọng với heo con, chứa nhiều globulin miễn dịch, vitamin hòa tan trong dầu, cả những chất bảo vệ heo con mới đẻ chống nhiễm bệnh 2 giờ sau khi đẻ, heo con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều globulin miễn dịch từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24 – 36 giờ, nhờ đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu của cuộc sống (Trương Lăng, 2003)
24 giờ đầu tiên của heo con, niêm mạc ruột hấp thụ nguyên dạng các phân tử protein một cách không có chọn lọc kể cả vi trùng Nhưng nhờ hấp thụ sữa non trước chất kháng trypsin sữa non, làm niêm mạc “đóng cửa” không thu các phân tử protein nữa, nên cản được vi trùng và độc tố vào trong máu gây bệnh cho heo (Võ Ái Quấc, 1996)
48 giờ sau khi sinh, ruột không còn hấp thu các phân tử ở dạng nguyên nữa do hiện tượng “đóng lỗ hỏng” để tránh mầm bệnh xâm nhập vào Nếu heo con không được bú sữa đầu sớm (ít nhất trong vòng 24 giờ đầu) thì quá trình “đóng lỗ hỏng” sẽ chậm lại
và như vậy sẽ làm tăng nguy cơ bị nhiễm mầm bệnh qua đường ruột (Nguyễn Trọng Phục, 2005)
Sau khi sinh việc thiết lập hệ vi sinh vật tối hảo trong đường ruột (thường là bactobacillus spp.) được đẩy mạnh nhờ các yếu tố kháng vi sinh vật tại chỗ có trong sữa đầu Các yếu tố này giới hạn sự định vị của vi sinh vật gây bệnh trong đường ruột Như vậy, trong giai đoạn đầu rất ngắn nhưng rất quan trọng sau khi sinh, heo con cần
bú sữa mẹ để có thể sống sót ở giai đoạn sau (Trần Thị Dân, 2003)
Bên cạnh sự hấp thu kháng thể từ sữa mẹ thì bản thân heo con trong thời kì này cũng
có quá trình tổng hợp kháng thể Trước đây người ta cho rằng tới 2 tuần tuổi hoặc muộn hơn mới có quá trình tổng hợp kháng thể ở heo Song một nghiên cứu gần đây ở Bruno (Tiệp Khắc) cho thấy chỉ ngay ngày thứ hai sau khi đẻ một số cơ quan trong cơ thể của heo đã bắt đầu sản sinh kháng thể Nhưng khả năng này còn rất hạn chế và nó chỉ được hoàn chỉnh tốt hơn khi heo con được một tháng tuổi Như vậy quá trình hấp thụ nguyên vẹn phân tử γ globulin bị giảm rất nhanh theo thời gian Sở dĩ heo con có khả năng hấp thu được nguyên vẹn phân tử globulin là vì trong sữa đầu có kháng men antitripsin nó làm mất hoạt lực của tripsin của tuyến tụy Đồng thời khoảng cách giữa
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18các tế bào vách ruột heo con mới sinh rất lớn, cho nên phân tử globulin có thể được chuyển qua bằng con đường ẩm bào (kiểu hấp thu này giảm mạnh theo thời gian, tức càng về sau càng giảm) Cho nên sau 24 giờ hàm lượng globulin trong máu heo con đã đạt tới 20,3mg% Tại thời điểm này các tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu không nguy hiểm đối với heo vì trong thời gian này heo không hình thành kháng thể bản thân và protein đối với chúng không phải là kháng nguyên Xuất phát từ điểm đó chúng ta thấy việc cho heo con bú sữa đầu là rất quan trọng và việc cho bú càng sớm càng tốt (Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, 2007)
2.3 Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy
Tiêu chảy ở heo con thường có nhiều nguyên nhân gây ra: do đặc điểm sinh lí heo con chưa hoàn chỉnh, do đó làm heo con dễ mẫn cảm và bị tác động bởi nhiều yếu tố Tùy theo nguyên nhân và mức độ trầm trọng mà phân tiêu chảy có thể chứa thức ăn không tiêu hóa, máu, bọt khí, màng niêm mạc hay chất nhầy Trong đường tiêu hóa của heo tồn tại các loại vi khuẩn có lợi và khuẩn gây hại ở các đoạn ruột xác định Bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến sự thay đổi về môi trường trong đường tiêu hóa đều dẫn đến
sự thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột và gây ra hiện tượng loạn khuẩn Đồng thời chức năng tiêu hóa bị giảm dẫn đến thức ăn không tiêu tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại phát triển, sự tiết dịch vào đường tiêu hóa tăng lên và làm tăng nhanh tốc độ di chuyển của thức ăn chưa tiêu hóa trong đường ruột, giảm mức độ tái hấp thu các chất dinh dưỡng và nước Mặc dù bệnh tiêu chảy có thể xảy ra từ nguyên nhân truyền nhiễm hoặc không truyền nhiễm
2.3.1 Nguyên nhân không truyền nhiễm
Do heo mẹ
Heo nái sinh sản trong thời gian mang thai không được chăm sóc chu đáo Nếu thức
ăn không tốt về chất lượng có thể làm heo nái hao mòn cơ thể đến 30%, heo nái sẽ phát sinh hiện tượng liệt chân, có trường hợp heo mập nhanh mà sữa thì ít, heo con kém sinh trưởng, năng suất sản xuất kém và bị loại thải nhanh (Trương Lăng, 2004)
Do khẩu phần ăn heo mẹ thiếu các chất dinh dưỡng như đạm, khoáng, vitamin nhất là vitamin A, nên sau khi sinh sữa mẹ bị thiếu chất, heo con bị suy dinh dưỡng, màng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19nhầy của ruột không được bảo vệ rất dễ cảm nhiễm vi trùng Colibacille, salmonella: gây nên ỉa chảy (Nguyễn Xuân Bình, 2000)
Trong nhiều trường hợp heo nái bị thiếu canxi trong khẩu phần nên sữa bị thiếu canxi, từ đó sữa khó tiêu, lượng canxi có trong sữa giúp tạo ra hydrocanxicaseinat, chất này tác dụng với acid lactic để tạo ra acid canxi, lactac canxi Vì khó bị kết đông
để trở thành dạng dễ bị enzym proteolytic tác kích phân cắt nhanh acid amin (Võ Văn Ninh, 2001)
Lượng sữa từ khi đẻ tăng dần đến ngày thứ 15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 đột nhiên giảm xuống khá thấp, trong khi nhu cầu về sữa của heo con ngày càng tăng Đến ngày thứ 20, nếu heo mẹ bị thiếu dinh dưỡng, heo con càng thiếu sữa thường ăn bậy, dễ sinh các bệnh về tiêu hóa nhất là bệnh tiêu chảy (Phạm Sĩ Lăng, Phan Địch Lăng, 1997)
Nguồn dinh dưỡng chủ yếu của heo con là sữa mẹ, nếu sữa mẹ thiếu phẩm chất, gây nên rối loạn tiêu hóa và bệnh tiêu chảy xuất hiện Vì vậy, để bảo vệ heo con, việc nuôi dưỡng chăm sóc heo nái là một khâu vô cùng quan trọng Do đó đối với heo nái nuôi con khẩu phần không thể thiếu dưỡng chất, cần có sự cân bằng trong khẩu phần Nếu heo mẹ ăn nhiều tinh bột, nhiều béo làm sữa đặc, hàm lượng mỡ sữa cao, heo con bú không tiêu, gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy Khi khẩu phần chứa nhiều thức ăn tinh bột, thức ăn nhiều béo nhưng lại ít đạm làm cho hàm lượng mỡ sữa tăng cao từ 5g% đến 7 – 8g%, heo con bú không tiêu gây rối loạn tiêu hóa (Đào Trọng Đạt, 1996) Tình trạng rối loạn trao đổi chất protein có thể xuất hiện do thiếu hụt protein trong thức ăn, do tỉ lệ acid amin trong khẩu phần không cân đối, do hệ tiêu hóa của heo mẹ hấp thu kém cũng là nguyên nhân gây tiêu chảy ở heo con (Đào Trọng Đạt và et al, 1996)
Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng không đúng Khi heo nái chữa quá mập do ăn quá mức, thai quá to nên thường dẫn đến đẻ khó, phải can thiệp bằng tay Đây là nguyên nhân viêm nhiễm đường sinh dục dẫn đến mất sữa và tiêu chảy ở heo con (Nguyễn Ngọc Phục, 2005)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20Những đàn sinh sản nếu không được nuôi dưỡng đầy đủ, nhất là trong thời kỳ mang thai, sẽ làm cơ thể nái bị suy yếu, điều này dẫn đến quá trình trao đổi chất giữa cơ thể
mẹ và bào thai bị rối loạn Vì thế heo con sinh ra bị yếu và dễ mẫn cảm với mầm bệnh, nhất là bệnh tiêu chảy ở heo con (Đào trọng Đạt, 1996)
Do thay đổi khẩu phần ăn của heo mẹ đột ngột, hoặc do sữa mẹ quá nhiều, heo con bú không sử dụng hết chất đạm, trôi xuống ruột già, ở đó có nhiều vi khuẩn E.coli… chúng sử dụng đạm sinh sản và tiết ra độc tố gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy (Phùng Thị Vân, 2004)
Do khẩu phần ăn của heo nái rất cần chất xơ Nếu tỉ lệ chất xơ thấp dễ gây táo bón do hoạt động của ruột kém và kéo dài thời gian lưu giữ phân trong đường tiêu hóa Từ đó tạo điều kiện cho các chất độc sản sinh trong đường ruột và hấp thụ vào máu Kết quả
là quá trình sản xuất và hoạt động của prolactin, oxytocin bị ức chế và làm giảm quá trình tạo sữa và tiết sữa Hoặc heo nái sau khi nằm đẻ lười đứng dậy thường dễ bị táo bón, đái ít, do đó tăng nguy cơ viêm nhiễm đường tiết niệu Điều này đặc biệt nghiêm trọng trong vòng 2 tuần đầu sau khi sinh (Nguyễn Ngọc Phục, 2005)
Heo nái khi nuôi con đòi hỏi nhiều dinh dưỡng để có sữa nuôi con Thức ăn có ảnh hưởng đến sản lượng và phẩm chất sữa, tăng cường cho ăn thức ăn dễ tiêu và có nhiều protein, thức ăn nhiều nước, thức ăn họ đậu, protid động vật, các phụ phế phẩm công nghiệp những loại có tác dụng kích thích tiết sữa
Ngoài vấn đề dinh dưỡng, một số bệnh hậu sản ở heo nái như: viêm vú, viêm tử cung, sốt cao… làm thay đổi chất lượng của sữa gây tiêu chảy cho heo con (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987)
Bên cạnh đó có thể do heo mẹ không biết nuôi con hoặc heo mẹ sữa quá nhiều để heo con bú tự do đều có ảnh hưởng đến sức khỏe của heo con và dễ sinh tiêu chảy
Trong quá trình nuôi con tuyệt đối không được chuyển chuồng heo mẹ và con Vì điều này dễ dẫn đến stress làm heo mẹ mất sữa ảnh hưởng đến heo con
Trang 21năng đề kháng với sự thay đổi của môi trường ngoài kém, heo con dễ bị rối loạn tiêu hóa sinh tiêu chảy (Sổ tay về bệnh heo, 1992)
Theo Đào Trọng Đạt, 1966 thì:
Ở heo con, các cơ quan đều chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh,
do đó heo con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa hoàn thiện nên các cơ quan tiêu hóa cũng rất dễ mắc bệnh, dễ bị rối loạn tiêu hóa
Ở heo con có một giai đoạn không có acid Chlohydric trong dạ dày Giai đoạn này được coi như là một tình trạng thích ứng tự nhiên của heo con Nhờ vậy mới tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của heo mẹ Trong giai đoạn này, dịch vị không có hoạt tính phân giải protid, mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu và
sữa thường Còn huyết thanh chứa Albumin và Globulin được chuyển xuống ruột và
thẩm thấu vào máu
Ở heo con mới sinh hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển, chưa đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa đủ khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh, nên rất dễ nhiễm bệnh, nhất là các bệnh đường tiêu hóa Ở heo con chức năng sinh lý tiêu hóa chưa phát triển hoàn chỉnh, khả năng xuất hiện các men chưa đầy đủ, men amilaza chỉ xuất hiện ở 35 – 45 ngày tuổi, hàm lượng acid HCl còn rất thấp chỉ bằng phân nữa so với nhu cầu trưởng thành nên khi heo con bú quá no dễ bị tiêu chảy Một số heo con nhận được sữa đầu kịp thời nhưng do heo con hấp thu kém, sức chống đỡ thụ động giảm thì bệnh
có thể xảy ra vào 10 hoặc 21 ngày tuổi, tỉ lệ mắc bệnh trong các trại là rất cao, tỉ lệ có thể lên đến 70 – 100%
Bên cạnh đó nhu cầu nước uống của heo con cũng rất cao, do tốc độ sinh trưởng của heo con nhanh chóng đòi hỏi có đủ nước để thực hiện trao đổi chất mô bào, đồng thời hòa tan các hạt mỡ trong sữa nhất là sữa đầu có độ đậm đặc cao Do đó nếu cung cấp nước không đầy đủ dễ dẫn đến việc heo con uống nước dơ bẩn trên nền chuồng gây tiêu chảy cho heo con do nhiễm trùng
Sữa đầu là thức ăn chủ yếu và còn là nguồn nước cần thiết cho heo con Nếu người chăn nuôi không chú ý, heo con sẽ dễ bị đói, khát Trong mấy ngày đầu cứ một giờ heo con bị mất đi một gram nước bốc hơi qua da và thải qua đường hô hấp Trong
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22thực tế ta thấy heo con uống nhiều nước tiểu, nước dơ dưới nền chuồng, đó là biểu hiện của khát nước Nước tiểu và nước dơ có hại đối với cơ thể heo con, có thể gây ra tiêu chảy và một số bệnh khát (Trần Cừ, 1972)
Nước chiếm 50% - 60% khối lượng cơ thể Sữa và nước chiếm đến 80% - 95% trong máu Cơ thể heo mất 10% nước sẽ gây rối loạn chức năng trao đổi chất (Trương Lăng, 2004)
Nước trong cơ thể giảm, lượng máu cũng giảm Tỷ lệ máu trong cơ thể heo sơ sinh 7 – 8% khối lượng cơ thể, đến trưởng thành còn 2% - 3,5% Máu ở giai đoạn heo con tham gia bảo vệ cơ thể, muốn vậy heo con cần được bú sữa đầu Vì sữa đầu có γ globulin Lượng bạch cầu trong máu chưa đủ mạnh để chống vi khuẩn xâm nhập Sữa đầu có 45% - 50% γ globulin đảm bảo bảo vệ heo con 30 ngày đầu Vì vậy, heo con cần được bú sữa đầu của heo nái mẹ 2 – 3 ngày đầu khi chuyển cho heo nái khác, nếu thấy cần thiết (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2003)
Một số nguồn dưỡng chất khoáng và vitamin khi bị thiếu cũng ảnh hưởng đến tiêu chảy ở heo con Trong trường hợp thiếu Clor trong khẩu phần sẽ làm giảm sự phân tiết acid chlohydrid trong dạ dày, điều này có thể tạo điều kiện dễ dàng cho vi khuẩn đường ruột phát triển, đồng thời làm giảm khả năng tiêu hóa và gây tiêu chảy ở heo con (Trần Cừ, 1972)
Đối với sắt trong cơ thể heo con, mặc dù hiện diện với hàm lượng rất ít, nhưng nó đóng vai trò sinh lý rất quan trọng trong việc thành lập Hemoglobin Khi được sinh ra
cơ thể heo con chứa khoảng 50g chủ yếu ở gan, nhu về sắt mỗi ngày đối với heo con khoảng 7 - 15mg, trong khi đó sữa mẹ chỉ cung cấp khoảng 1mg mỗi ngày, do đó phải cung cấp sắt cho heo con Nếu thiếu sắt heo con bị giảm tăng trọng, dễ bị bệnh bần huyết giảm sức đề kháng và dễ bị nhiễm bệnh tiêu chảy (Nguyễn Hữu Nhạ, 1976) Bên cạnh đó, đồng, coban, mangan cũng rất cần thiết cho sự hấp thu sắt, giúp cho sự sinh sản và tái sinh Hemoglobin Vì thế thiếu đồng, Coban, Mangan dẫn tới thiếu sắt
và thiếu máu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23Thực tế cho thấy, heo ở trạng thái stress hoặc bị nhiễm bệnh điều có nhu cầu vitamin tăng cao, trong khi ở trạng thái sinh lý bình thường heo con chưa tiêu hóa được các loại thức ăn
Nhu cầu vitamin của heo con theo mẹ tính theo 1kg thể trọng (Hinoshi – Morimoto, 1993):
Vitamin A 480 UI Vitamin D 50UI Vitamin B 1 0,33mg Vitamin K 0,1mg Vitamin B 3 2,6mg Vitamin PP 4,4mg Vitamin B 6 0,44mg Vitamin B 4 130mg Vitamin B 12 4,4mg Vitamin H 0,02mg
Đối với heo con, vitamin A ngoài tác dụng kích thích tăng trưởng, chống trị mù mắt, Vitamin A còn tham gia vào quá trình bảo vệ niêm mạc đường tiêu hóa chống bệnh lỵ
và viêm ruột ở heo con (Trần Cừ, 1972)
Thiếu vitamin E sẽ làm cho sự sản sinh kháng thể bị giảm xuống (Van Vleet, 1980) Bên cạnh đó vitamin B2, PP, B5…rất cần cho heo con Khi thiếu vitamin, heo con theo
mẹ bú rất yếu ớt, ít khi đi lại, xuất hiện hội chứng tiêu hóa, viêm phế quản và viêm phổi, gầy sút nhanh, da vàng xám, còi cọc và chết non (Phan Thanh Phượng, 1996) Theo Nguyễn Xuân Bình, 2000 thì:
Khi thiếu vitamin C, chức năng tiết dịch và nhu động của đường ruột bị giảm, dẫn đến phá hủy quá trình lên men, giảm khả năng hấp thu của thành đường ruột (do các tế bào thành đường ruột biến dạng hoặc thoái hóa, đặc biệt ở nhân các tế bào biểu mô ruột non), giảm Glucogen ở cơ và gan, dẫn đến giảm khả năng tổng hợp kháng thể
Sự thiếu hụt vitamin B1 gây rối loạn hoạt động chức năng của cơ quan tiêu hóa, giảm nhu động ruột, tăng sự hấp thu các độc tố trong thành ruột, gây rối loạn quá trình Oxy hóa – khử trong tế bào
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24Khi thiếu vitamin B2 heo con bị tiêu chảy, nôn, viêm niêm mạc ruột phần hậu môn Vitamin B2 tăng cường sự hình thành HCl trong dịch dạ dày và tăng hàm lượng HCl ở thể tự do (HCl là một trong những chất quan trọng tham gia vào sự phân hủy tinh bột
và các chất khác)
Khi thiếu acid nicotinic (vitamin PP) sẽ rối loạn chức năng tiết dịch và nhu động đường ruột Kết quả dẫn đến các quá trình viêm và biến dạng niêm mạc dạ dày ruột Khi thiếu Cholin và vitamin D sức sống của heo con bị giảm kèm theo các quá trình bệnh lý các cơ quan tiêu hóa
Do đặc điểm sinh lý của heo con trong thời kỳ 3 tuần tuổi luôn luôn biến động, nhất là
hệ thống men tiêu hóa Do vậy dễ bị nhiễm bệnh đường tiêu hóa gây ỉa chảy
Heo con tăng trưởng nhanh và tốc độ tăng trưởng cao Heo con càng lớn nhu cầu tăng trọng càng cao nhưng khả năng tiết sữa của heo mẹ giảm Sau 21 ngày tuổi của heo con, lượng sữa mẹ đã giảm nhiều, heo con lại có nhu cầu dinh dưỡng cao để phát triển Vì vậy phải cho heo con ăn thêm những loại thức ăn giàu dinh dưỡng Tập cho heo con ăn thêm là biện pháp giúp heo mẹ bớt hao mòn cơ thể do con bú nhiều, đảm bảo các lứa đẻ sau đều đặn và không bị loại thải sớm Đây còn là cách giảm khoảng cách giữa khả năng cho sữa của heo mẹ với sự tăng trưởng của heo con, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của heo con (Phan Hữu Doanh – Lưu Ký, 2004)
Do điều kiện ngoại cảnh
Vệ sinh chuồng trại kém, chuồng ẩm ướt heo con bị lạnh Trong điều kiện đó nhiều chủng loại vi sinh vật có hại sẽ gia tăng mật độ, thừa dịp heo con bị lạnh yếu sức sẽ bộc phát bệnh tiêu chảy (Võ Văn Ninh, 2001)
Trong những yếu tố về tiểu khí hậu, thì quan trọng nhất là ẩm độ và nhiệt độ Độ ẩm thích hợp cho heo con vào khoảng 75% - 85% Do đó trong những tháng mưa nhiều thì số heo con bị ảnh hưởng rõ rệt, tỉ lệ tiêu chảy có khi tới 90% - 100% Vì vậy việc làm khô chuồng là vô cùng quan trọng (Đào Trọng Đạt và Ctv, 1996)
Thông thường heo nái luôn có đủ sữa cho nhu cầu của tất cả heo con trong ổ trong tuần đầu tiên sau khi đẻ Khi có heo con ghép từ đàn khác vào từ ngày thứ 4 đến ngày
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25thứ 8, heo nái sẽ tăng tiết sữa và vẫn đáp ứng được nhu cầu tăng lên do có thêm lượng heo con Nếu việc ghép đàn thực hiện sau ngày thứ 10 thì lượng sữa của heo nái sẽ không tăng nữa Heo con bị chậm lớn do thiếu sữa càng trầm trọng, nếu hiện tượng này kéo dài cũng như xảy ra trong các ổ có nhiều heo con là nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy (Nguyễn Ngọc Phục, 2005)
2.3.2 Nguyên nhân truyền nhiễm
Do vi khuẩn
* Escherichia Coli (E.coli):
Trong các vi khuẩn đường ruột E.coli là loài phổ biến nhất Loài này xuất hiện và sinh sống trong động vật chỉ vài giờ sau khi sinh và tồn tại cho đến khi con vật chết E.coli
sinh sống bình thường trong đường ruột của người và động vật Khi các điều kiện nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y kém, sức chống đỡ bệnh tật của con vật yếu,
thì E.coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh (Đào Trọng Đạt và Ctv, 1996) Escherichia Coli là nguyên nhân của khoảng 50% trường hợp tử vong do tiêu chảy ở heo Escherichia Coli thuộc họ Entero - bacteriaceae, nhóm Escherichae, loài Escherichia Vi khuẩn E.coli có những đặc điểm chung sau đây: nhuộm màu G(-)
không tạo thành nha bào, phần lớn là di động, thường tạo Idol, kết quả dương tính với phản ứng methylrot, không mọc trên môi trường Citrat, không phân hủy Urê, không làm rửa gelatin, có 3 loại kháng nguyên: kháng nguyên O (kháng nguyên thân), kháng nguyên K (kháng nguyên bề mặt), kháng nguyên H (kháng nguyên lông)
Hiện nay người ta đã phân loại được 163 type E.coli khác nhau, và được chia làm 2
nhóm:
- Nhóm vi khuẩn không sinh độc tố, không gây bệnh (Nonpathogenic E.Coli)
- Nhóm vi khuẩn sinh độc tố, gây bệnh (Pathogenic E.Coli)
Các chủng thường xuyên gây bệnh cho heo con là: K88, K99, 987P, F41 Heo sơ sinh, heo theo mẹ và sau cai sữa đều cảm nhiễm nhưng xảy ra nặng hơn ở heo dưới 10 ngày tuổi (Sổ tay về bệnh heo, 1992)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26Độc tố làm tổn thương tế bào thành ruột, làm tăng bài tiết nước kéo theo các ion Cl-, ion Na+, HCO3-, gây mất nước, ngăn cản sự hấp thụ nước và các ion ruột vào máu, tăng sự co thắt của nhu động ruột gây tiêu chảy Sự tổn thương tế bào thành ruột cũng đồng thời làm giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng
* Salmonella
Salmonella là trực khuẩn hình gậy, hai đầu tròn, không hình thành giác mô và nha bào,di động, G (-), thuộc họ Enterobacteriaeceae Hiện nay các nhà khoa học đã phát
hiện khoảng 1600 chủng Ngoài các chủng gây bệnh phó thương hàn cho heo là:
Salmonella Cholerae Suis chủng Kunzendorf gây bệnh ở thể cấp tính và Salmonella typhi Suis chủng Voldagsen gây bệnh ở thể mãn tính Các chủng còn lại thường có
mặt trong ruột gia súc khỏe, nhưng khi sức đề kháng thay đổi, hoạt động tiêu hóa bị rối loạn thì chúng phát triển mạnh và gây tiêu chảy do nội độc tố làm viêm loét ruột (Lê Văn Nam và ctv,1999)
*Shigella
Shigella gây bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ và sau cai sữa Vi trùng được bài xuất
ra môi trường theo phân, các chủng thường gây bệnh là: Shigella dysentery và Shigella flexmitia Chúng xâm nhập vào đường tiêu hóa, sản sinh và tiết độc tố gây
Clostridium perfringens thường xuyên hiện diện trong đường tiêu hóa của heo khỏe,
nhưng chỉ tác động gây bệnh khi có điều kiện, nhất là chăm sóc nuôi dưỡng kém Heo
sơ sinh đến 1 tuần tuổi là dễ cảm nhiễm nhất, nhưng cũng xảy ra ở heo từ 2 – 4 tuần
tuổi Phần lớn các trường hợp do Closttridium perfringens gây ra chỉ trong vòng vài
phút hoặc vài giờ sau khi sinh ra Bệnh thường gây tổn thương ở ruột, vi khuẩn thường xâm nhập vào biểu bì của lông nhung và tăng sinh khắp màng nhầy ruột và gây hoại tử ở tại đó, đồng thời gây xuất huyết, vùng hoại tử lan dần và gây tổn thương
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27vào chiều sâu đến niêm mạc, dưới niêm mạc và thậm chí đến lớp cơ Phần lớn vi khuẩn thường gây hoại tử lông nhung, lông nhung cùng với vi khuẩn bám dính tróc ra rơi vào xoang ruột Vi khuẩn có thể xâm nhập sâu vào thành ruột tạo thành khí thủng
ở dưới lớp niêm mạc, lớp cơ, hoặc xâm nhập sâu vào xoang bụng Khí thủng này có thể tạo nên ở những hạch lympho vùng lân cận có hiện tượng tắc nghẽn mạch ở vùng
bị khí thủng (Đào Trọng Đạt và Ctv, 1996)
Vi khuẩn còn gây tác hại suốt chiều dài của không tràng, nên tiêu chảy thường có máu
và niêm mạc hoại tử trong phân Tỷ lệ chết và còi cao ở heo sơ sinh, heo 3 - 4 tuần tuổi thì bệnh khó bình phục, tốc độ tăng trưởng chậm (Sổ Tay Bệnh Heo, 1992) Theo
Archie Hunter (1996) ở vùng khí hậu ôn đới nhiễm Clostridium perfringens nghiêm
trọng hơn vùng nhiệt đới
Do virus
* Viêm dạ dày và ruột truyền nhiễm (Tranmissible Gastroenterites TGE)
Bệnh viêm dạ dày và ruột truyền nhiễm là một bệnh đường ruột do virus có đặc tính lây lan cao Bệnh thường phát sinh ở heo con dưới 2 tuần tuổi có biểu hiện đặc trưng là: nôn mửa, tiêu chảy nặng, vành dạ dày và ruột bị xung huyết, xuất huyết, sinh mủ, hoại tử, gây rối loạn tuần hoàn và dinh dưỡng ở vách dạ dày và ruột, gây nhiễm độc và bại huyết, tỷ lệ chết cao (thường 100%), heo ở tất cả các lứa tuổi đều có thể nhiễm bệnh, song từ năm ngày tuổi trở lên heo bệnh rất ít chết (Đào Trọng Đạt và Ctv, 1996)
Virus gây bệnh viêm dạ dày và ruột truyền nhiễm thuộc chi Coronavirus trong họ Coronavirusdae, có vỏ bọc và nhiều hình dạng
Virus xâm nhập tự nhiên qua miệng hoặc qua mũi của heo do tiếp xúc với phân của heo bệnh hoặc thức ăn của heo bệnh là nguyên nhân lây lan quan trọng nhất, sau khi vào cơ thể virus tấn công vào nhung mao ruột non và phát triển ở đó, làm nhung mao ruột non bị phá hủy gây bệnh tiêu chảy kém hấp thu, kém tiêu hóa Bệnh càng nghiêm trọng khi bị tác động bởi stress, lạnh, ẩm ướt và nhiễm kế phát
* Bệnh do Rotavirus
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28Rotavirus thuộc chi Rotavirus, họ Reoviridae Bệnh càng nghiêm trọng khi kết hợp với TGE hoặc E.Coli
Rotavirus phát triển ở chính trong bào tương của tế bào biểu mô lông nhung của ruột non và một số phát triển ở tế bào biểu mô tịt và ruột kết Rotavirus phát triển và dẫn
tới hiện tượng loạn năng và tử vong của tế bào biểu mô lông nhung, hiện tượng phân giải hoặc bong tróc của tế bào bị cảm nhiễm làm teo lông nhung Hiện tượng teo lông nhung của heo thường nặng và diện rộng Lông nhung teo có biểu hiện co ngắn lại và
bị che phủ bởi các tế bào biểu mô lớn từ nang tuyến, do đó các men: disacharidase, TD: lactase bị giảm thấp và trở ngại vận chuyển glucose – gắn kết Sodium Lactase trong sữa không tiêu được tạo điều kiện kích thích vi khuẩn phát triển và ảnh hưởng đến hiệu ứng thẩm thấu và hấp thu kém dần dẫn đến tiêu chảy
Bệnh do ký sinh trùng
Các loại ký sinh trùng có khả năng gây tiêu chảy thường gặp như:
Cryptosporidium: nguyên sinh động vật ký sinh này nếu gia súc non ăn phải sẽ phát
triển trên bề mặt ruột Nếu nhiễm nặng, ký sinh trùng làm nhung mao ở ruột cụt đi và dính vào nhau (nhung mao là phần ruột nhô lên hình ngón tay) Bệnh tiêu chảy do
Cryptosporidium dai dẳng trong vài ngày và mức độ nghiêm trọng tùy theo mức độ
nhiễm bệnh Sau 3 ngày kể từ khi xâm nhập vào ký chủ chúng được thải ra ngoài và sẵn sàng nhiễm mà không cần qua giai đoạn trưởng thành Trứng khi thải ra ngoài hoàn toàn được hình thành bào tử, trong đó có chứa 4 bào tử trùng và không tạo kén bào tử (Standford, 1987)
Isospora suis (cầu trùng): với các giai đoạn phát triển khác nhau sẽ phá hoại các tế bào
của lớp biểu mô lông nhung và những tế bào hoại tử lan vào xoang ruột Sự rò rỉ từ vi huyết quản lập tức đóng góp vào việc làm mất nước và tạo nên quá trình viêm nhiễm, gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy (Đào Trọng Đạt, 1996)
Trang 29xảy ra trên toàn đàn Có khi điều trị khỏi lại bị tái nhiễm (Lê Văn Nam và Ctv, 1999) Đặc biệt, heo có thể bị bệnh trong vòng 12 giờ sau khi sinh và có thể gây chết toàn đàn do nhiễm trùng cấp tính trong vòng 48 giờ ( Đào Trọng Đạt, 1996)
Thân nhiệt ít khi cao, cá biệt có con lên đến 40,5 – 410C Nhưng chỉ sau một ngày là xuống ngay (Phạm Sĩ Lăng – Trương Địch Lân, 1997)
Theo Nguyễn Dương Bảo, 2005 thì:
Heo con theo mẹ bỏ bú, gầy tóp nhanh, niêm mạc mắt, mũi, mồm nhợt nhạt, chứng tỏ heo con thiếu máu rõ rệt Ngoài ra có thể có những triệu chứng thần kinh như: co giật từng cơn, cảm giác ở da bị mất…
Tiêu chảy phân có thể sệt hoặc lỏng, màu sắc phân thay đổi: vàng, trắng, trắng xám, xám nâu hoặc đen Phân có thể có bọt, máu, nhờn hoặc có lẫn những hạt sữa chưa tiêu Tùy theo tính chất, mức độ bệnh, thời điểm bệnh và còn tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh
Mất nước và suy nhược: heo con bị bệnh thường yếu ớt, chậm chạp, trọng lượng giảm
có khi tới 20% - 30%, da khô, nhăn nhúm, lông dựng Trường hợp mất nước nghiêm trọng da ở quanh mõm, bụng, ngón chân có màu xanh tím
Ngoài các triệu chứng chủ yếu kể trên, trong một số trường hợp heo bệnh có biểu hiện
ói, chất ói thường có màu trắng do chứa các cục sữa chưa tiêu, thở nhanh, yếu và có thể sốt
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30chứng sau: cơ tim nhão, nhợt nhạt, màng tim dính, tích nước (Đào Trọng Đạt và ctv, 1996)
2.5 Cơ chế phát bệnh
Do thời tiết thay đổi đột ngột đang nóng chuyển mưa, nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao làm
cơ thể heo con mất cân bằng giữa sinh nhiệt và truyền nhiệt Do đó sẽ tiêu hao nhiều năng lượng của cơ thể để chống lạnh, lượng đường huyết trong cơ thể được điều động
ra để chống lạnh Nếu lạnh kéo dài lượng đường huyết sẽ giảm xuống, sự giảm đường huyết đột ngột sẽ gây rối loạn chức năng tiết dịch và nhu động dạ dày, ruột, dẫn tới rối loạn tiêu hóa làm heo bị tiêu chảy
- Giảm diện tích hấp thu ở ruột non Tình trạng này hay gặp trong bệnh tiêu chảy do thay đổi tính thẩm thấu, khi đó tiêu hóa và hấp thu đều kém Chẳng hạn virus gây bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) làm nhung mao bất dưỡng và hậu quả đưa đến tiêu chảy cũng giống như khi thú non ăn quá nhiều
Tiêu chảy do kém tiêu hóa hay kém hấp thu có thể giảm đi nếu cho thú nhịn đói Trong trường hợp này, phân của thú có tính thẩm thấu cao, thể tích phân ít hơn so với
khi tiêu chảy do phân tiết ion, và phân có thể tích acid do tiết H +
Vi sinh vật này không thâm nhập vào cơ thể và không gây bệnh tích mô học ở màng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 31nhầy ruột non nhưng gây xáo trộn lớn về hóa học do 2 độc tố: độc tố chịu nhiệt (heat
stable) và độc tố không chịu nhiệt (heat labile) Cả hai loại độc tố kích thích sự phân
tiết Cl− từ tế bào của mào ruột, ức chế hấp thu Na+ và Cl− ở tế bào nhung mao và kích
thích tiết bicarbonate
Khi nghiên cứu quá trình sinh bệnh, không thể không đề cập đến những đặc điểm sinh
lý của cơ thể động vật non, chúng hoạt động với chức năng chưa thành thục, việc điều
khiển thần kinh hầu hết bằng những phản xạ không điều kiện
Niêm mạc dạ dày, ruột bị kích thích bởi nguyên nhân gây bệnh làm trở ngại nghiêm
trọng đến cơ năng vận động của dạ dày và ruột Các mô bào của vách ruột, dạ dày bị
phá hoại, đồng thời các vi khuẩn phát triển mạnh, phân giải các chất thành các sản vật
độc, ngấm vào máu gây trúng độc cho cơ thể Trong quá trình viêm, niêm mạc dạ dày
ruột bị sưng, xung huyết, xuất huyết, lớp niêm mạc thượng bì bị tróc, thối rửa protid
trong ruột càng nghiêm trọng Những sản phẩm phân giải từ protid như indol, scatol,
créol, phenol, và các khí độc như: NH3, H2S, CO,…ngấm vào máu, ức chế thần kinh
trung ương, làm ảnh hưởng đến tiêu hóa của dạ dày, ruột, con vật sinh ỉa chảy dữ dội
Tiêu chảy gây cho cơ thể mất nước, mất chất điện giải, rối loạn quá trình trao đổi chất
và cơ thể bị nhiễm độc, nhất là khi có sự xâm nhập của vi sinh vật từ ngoài vào thì
bệnh càng nghiêm trọng hơn Trong trường hợp độc tố tăng, nhưng khả năng khử độc
của gan giảm, quá trình oxy hóa ở mô bào bị hạn chế gây nên hiện tượng nhiễm độc,
loạn khuẩn đường ruột trong cơ thể gia súc
2.6 Tính chất dược lý của một số thuốc
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32Bifidobacterium pseudolongum 15000 triệu CFU
Là sản phẩm duy nhất chứa kháng thể đặc hiệu chống tiêu chảy do E.coli giúp phòng
và đặc trị tiêu chảy trên heo con theo mẹ và heo cai sữa
Trị rối loạn tiêu hóa do thức ăn hoặc sau khi dùng kháng sinh
Kích thích tăng trọng: gia súc, gia cầm ăn nhiều, tiêu hóa tốt, lớn nhanh
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu