Sau đó, theo dõi triệu chứng lâm sàng 1 tuần, rồi thực hiện phẫu thuật điều trị: bằng cách mổ khớp đầu gối cắt căng cân mạc đùi, bộc lộ đầu ngoài cơ sinh đôi cẳng chân và mào chày, dùng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 3064525
Lớp: Thú Y K32
Cần Thơ, 2010
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: Phẫu thuật điều trị chấn thương đứt dây chằng chéo trước ở đầu gối chó;
do sinh viên: Đặng Trần Kim Ngân thực hiện tại bệnh xá thú y trường Đại Học Cần Thơ từ ngày 09/08/2010 đến ngày 30/10/2010
Cần Thơ, ngày tháng năm 2010 Cần Thơ, ngày tháng năm 2010
Phạm Hoàng Dũng
Cần Thơ, ngày tháng năm 2010 Duyệt Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Cha, Mẹ người đã sinh thành, dưỡng dục, chia sẻ
và khích lệ tôi trong suốt thời gian qua
Chân thành cảm ơn ban giám hiệu Trường Đại Học Cần Thơ, Bộ môn Thú Y Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, cùng các quí thầy cô đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy NGUYỄN VĂN BIỆN đã hết lòng hướng dẫn, truyền đạt nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy PHẠM HOÀNG DŨNG đã luôn động viên, khích lệ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến các anh chị ở bệnh xá đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đến toàn thể các bạn lớp Thú y K32 đã ở bên cạnh tôi, chia sẻ cùng tôi những buồn vui trong quá trình học tập cũng như hết lòng hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 53.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 16
3.1.2 Dụng cụ, hóa chất sử dụng trong thí nghiệm 16
Trang 64.2.1 Triệu chứng đứt dây chằng chéo trước ghi nhân được 21
4.2.3 Diễn biến vết thương sau phẫu thuật điều trị 24
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Theo dõi các nghiệm thức trong thời gian thí nghiệm 20
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.11 Cơ chế gây đứt dây chằng chéo trước do chấn thương 11
Hình 4.1 Khi đứng chân tổn thương khép lại chạm với chân khỏe 21 Hình 4.2 Chân tổn thương bị kéo vào phía trong khi bước đi, làm cho 2 bàn chân sau
Hình 4.4 X – Quang chân được cố định dây chằng chéo trước bằng chỉ kim loại 25 Hình 4.5 Khoảng cách giữa 2 bàn chân sau, trước và sau phẫu thuật điều trị 26
Trang 9TÓM LƯỢC
Những tổn thương về xương khớp ở chó không phải là hiếm Trong đó, đứt dây chằng chéo trước là một chấn thương cần được quan tâm Dây chằng chéo trước giúp cho khớp gối ổn định và sự vận động bình thường Khi dây chằng này bị đứt, xương chày sẽ xoay vào trong, con vật bước đi khập khiễng Để điều trị tổn thương này, chúng tôi dùng phương pháp cố định dây chằng hạt mè – lồi cầu với mào chày Thí nghiệm được thực hiện trên thú chết và bốn thú khỏe Bốn thú khỏe được chia thành 2 nghiệm thức Nghiệm thức 1 được tạo chấn thương đứt dây chằng chéo trước: mở đường mổ qua da và cân mạc, cắt đứt dây chằng cánh ngoài, bôc lộ khớp gối, cắt đứt dây chằng chéo trước Sau đó, theo dõi triệu chứng lâm sàng 1 tuần, rồi thực hiện phẫu thuật điều trị: bằng cách mổ khớp đầu gối cắt căng cân mạc đùi, bộc lộ đầu ngoài cơ sinh đôi cẳng chân và mào chày, dùng kim và chỉ tổng hợp nối dây chằng hạt mè – lồi cầu với mào chày (qua lỗ đã khoan ở mào chày) Theo dõi hiệu quả điều trị 3 tuần Nghiệm thức 2 cắt đứt dây chằng chéo trước rồi thực hiện phẫu thuật điều trị ngay sau
đó, theo dõi hiệu quả điều trị 3 tuần Trong đó, 3 trường hợp được cố định bằng chỉ tổng hợp số 2 và 1 trường hợp trong nghiệm thức 1 được cố định bằng chỉ kim loại số
1 Kết quả: các triệu chứng lâm sàng điển hình của chấn thương đứt dây chằng chéo trước là con vật thường đi bằng 3 chân (hay co giò) và bước đi khập khiễng, cẳng chân
bị xoay vào trong Trong đó, quan trọng nhất là kiểm tra kéo trượt có dấu hiệu ngăn kéo Trong 2 nghiệm thức thí nghiệm, trường hợp sử dụng chỉ kim loại: con vật không hồi phục được, 3 trường hợp dùng chỉ tổng hợp: triệu chứng đứt dây chằng chéo trước
đã hết, con vật phục hồi tốt sau 19 ngày, bước đi bình thường, khi chạy nhanh thỉnh thoảng bỏ 1 – 2 nhịp
Trang 10Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Chó là loài vật thân thiện và trung thành với con người từ hàng ngàn năm qua Ngày nay, người ta còn xem chó là một người bạn thân thiết, một thành viên không thể thiếu trong gia đình Chó cũng là loài vật rất hiếu động, chúng thích chạy nhảy và nô đùa Thế nên, có một chú chó vui vẻ với hệ vận động bình thường cũng là điều mong mỏi của những người nuôi chó Nhưng nếu một ngày nào đó, chú chó cưng của bạn đột nhiên đi khập khiễng hay chỉ đi được bằng 3 chân thì sao? Đâu là nguyên nhân gây ra tình trạng này và cách điều trị như thế nào?
Có rất nhiều nguyên nhân khiến chó đi khập khiễng hay bị què Trong đó, đứt dây chằng chéo trước là một trong những nguyên nhân cần được quan tâm Chấn thương này làm con vật đau đớn khi vận động và sự vận động không bình thường (co giò, dáng đi khập khiễng), nếu không điều trị kịp thời sẽ đẩy nhanh đến quá trình thoái hóa khớp gối Đứt dây chằng chéo trước bản thân nó không thể tự lành được, vì vậy cần phải có sự can thiệp ngoại khoa để cố định lại dây chằng chéo trước nhằm làm vững chắc và phục hồi chức năng khớp gối Tuy nhiên, ở nước ta phẫu thuật điều trị này vẫn chưa được thực hiện phổ biến
Đó là lý do chúng tôi thực hiện đề tài “Phẫu thuật điều trị chấn thương
đứt dây chằng chéo trước ở đầu gối chó”, với mục tiêu: tìm hiểu kỹ hơn về những triệu chứng lâm sàng điển hình và phẫu thuật điều trị, đồng thời theo dõi hiệu quả điều trị của phương pháp này
Trang 11Hình 2.1 Xương đùi bên phải của chó (Evans, H.E and Alexander deLahunta, 1971)
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Cơ thể học khớp gối
Đầu gối là khớp lớn nhất trong cơ thể và cũng là một trong những khớp phức tạp nhất Các khớp gối được tạo thành bởi 4 xương (xương đùi, xương chày, xương mác và xương bánh chè) được kết nối bởi các cơ, dây gân và dây chằng
2.1.1 Các xương ở khớp gối (Tiền Ngọc Hân, 2007)
bé (ở phía trong) Giữa 2 mấu có gờ liên mấu Đầu dưới, hình khối vuông, hơi cong ra sau Ròng rọc: là rãnh phẳng nằm ở phần trước và sau của xương, nó khớp với xương bánh chè và kéo dài đến hố liên cầu Mép ròng rọc trong dầy hơn mép ròng rọc ngoài Phần sau đầu dưới là hai lồi cầu: lồi cầu trong và lồi cầu ngoài Chúng cách nhau bởi hố liên cầu sâu và rộng Phía trên hai lồi cầu là hai xương hạt mè, hai xương hạt mè này khớp với lồi cầu xương đùi bởi dây chằng hạt
mè – lồi cầu Mặt kheo thì rộng, dẹt, có vùng tam giác ở mặt sau từ phía trên đầu dưới đến lồi cầu và hố liên cầu
Trang 12Xương cẳng chân
Gồm xương chày, to nằm ở trong và xương mác, bé nằm ở ngoài
Xương chày: là xương chắc nhất cơ thể có hai đầu và một thân Thân xương chày hình lăng trụ tam giác 3 mặt (trước, ngoài, sau), tương ứng với 3 bờ (trước, trong, ngoài) Bờ trước rất sắc gọi là mào liên cốt có thể sờ thấy qua da
Mâm chày là phần đầu trên của xương chày khớp với lồi cầu của xương đùi để tạo nên khớp gối, nó phát triển mạnh mang 2 lồi cầu 2 bên Trên hai lồi cầu có hai hõm khớp (để khớp với hai lồi cầu xương đùi) Hai diện khớp trên cách nhau bằng vùng gian lồi cầu trước, vùng gian lồi cầu sau và gò gian lồi cầu Gò gian lồi cầu có hai củ gian lồi cầu trong và ngoài Ở vùng gian lồi cầu trước và sau có chỗ bám của dây chằng chéo của khớp gối Mặt trước có u chày là nơi bám của cơ tứ đầu đùi Phía ngoài có diện khớp với xương mác Đầu dưới hình hơi vuông, phía trong có mỏm trâm để khớp với xương sên của bàn chân tạo thành mắt cá trong
Xương mác: là xương nhỏ chắc Đầu trên không khớp với đầu xương đùi mà
chỉ dính vào xương chày Đầu dưới nhọn, phình ra tạo nên mắt cá ngoài Thân xương hình lăng trụ, có 3 mặt, 3 bờ Bờ trong sắc là nơi bám của màng liên cốt
Hình 2.2 Xương cẳng chân (Evans, H.E and Alexander deLahunta, 1971)
Trang 13Mắt cá trong và mắt cá ngoài tạo thành gọng kìm, kẹp lấy xương sên của gót chân, tạo sự vững chắc khi hoạt động
Xương bánh chè
Xương bánh chè là một xương hình tam giác hơi tròn, nằm trước đầu dưới xương đùi như một cái mũ bảo vệ khớp gối Bánh chè chạy trên mặt khớp bánh chè của lồi cầu xương đùi và được giữ hai bên trong và ngoài bởi hai dây chằng cánh trong và ngoài, xương bánh chè được bọc trong gân cơ tứ đầu đùi Xương bánh chè là loại xương vừng lớn nhất cơ thể, có tác dụng không cho xương cẳng chân gập về trước
2.1.2 Mặt khớp
Đầu dưới xương đùi có 2 lồi cầu, nó ǎn khớp vào 2 hõm khớp của xương chày Giữa 2 lồi cầu của xương đùi là rãnh ròng rọc, nơi xương bánh chè nằm lên trên, tạo nên phần trước của khớp gối
Trong đầu gối, các lồi cầu của xương đùi, các rãnh xương đùi, mâm chày và dưới xương bánh chè được bao phủ bởi một lớp sụn Mô này có màu trắng xanh, đàn hồi, lấp lánh và nhẵn Nó được giữ bởi một chất giữ chặt và bởi những đường giao nhau không theo quy luật của những lớp sụn sâu hơn và xương ở mặt dưới sụn Việc cung cấp máu đến sụn được giới hạn trong các mạch dưới chất hoạt dịch tại đường giao nhau giữa bao khớp và sụn Sụn khớp xương đầu gối cho phép đầu gối uốn cong và co duỗi dễ dàng, giữ vai trò lớp đệm bảo vệ hai đầu xương không bị hư hỏng khi tiếp xúc với nhau
Hình 2.3 Diện khớp trên xương chày phải
(http://www./sp05001.htm)
Trang 14Sụn chêm
Sụn chêm: là một loại mô chỉ có ở khớp gối, hình vành khăn ôm theo rìa của mâm chày, gồm có sụn chêm ngoài và sụn chêm trong Chúng có hình như cái đĩa hình chữ C, với mép ở ngoại biên dày và mỏng, lõm ở giữa để phù hợp cho sự khớp giữa xương đùi và xương chày Chức năng của nó là nhằm giảm sốc khi sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày tiếp xúc trong quá trình vận động Sụn chêm di chuyển theo động tác của khớp
2.1.3 Phương tiện nối khớp
Là một bao bọc xung quanh khớp, nối liền 2 đầu của 2 xương kế tiếp nhau Bao khớp gối mỏng Về phía xương đùi, bao khớp bám trên diện ròng rọc, trên 2 lồi cầu và hố gian lồi cầu Về phía xương chày, bao khớp ở phía dưới 2 diện khớp Phía trước, bao khớp bám vào các bờ của xương bánh chè và được gân bánh chè đến tăng cường Phía ngoài, bao khớp bám vào sụn chêm
Bao khớp gồm 2 lớp chính Lớp lót bên trong hay màng hoạt dịch là một lớp
mô liên kết đặc biệt có màu hồng nhạt, mỏng Nó chứa nhiều nhung mao nhỏ và những nếp gấp mỏng, có nhiệm vụ cung cấp dưỡng chất, tiết ra chất bôi trơn khớp
và sản xuất những tế bào làm nhiệm vụ bảo vệ, chống lại các tác nhân tấn công khớp Lớp ngoài hay màng sợi là lớp mô liên kết mềm, dễ uốn, không đàn hồi và chắc chắn, nó tiếp xúc mật thiết với màng hoạt dịch, ngoại trừ ở vùng xương bánh chè, nơi có một khối mỡ dày nằm ở phía trước
Hình 2.4 Sụn chêm mặt trên xương chày phải (http://www.arthroscopy.com/sp05001.htm)
Trang 15Các dây chằng
Dây chằng bám từ xương tới xương, làm cho khớp vững chắc vì giữ cho các đầu xương ở đúng vị trí Khớp gối có ba bộ dây chằng: bên trong, bên ngoài và chéo trước sau
Dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau nằm trong khớp, các dây chằng bên trong và dây chằng bên ngoài nằm ngoài khớp Dây chằng chéo trước và chéo sau giúp cho lồi cầu vừa xoay vừa trượt trên mâm chày khi gập duỗi Nhờ vị trí đặc biệt, cho nên vẫn giữ được khớp mà không làm hạn chế vận động
Dây chằng bên ngoài: dây chằng bên ngoài đi từ mỏm gò bên xương
đùi đến đầu xương mác Dây chằng này vượt qua đường nối khớp ở mặt sau bên Nó có thể vào sâu trước gân cơ nhị đầu đùi để bám vào đầu xương mác
Dây chằng bên trong: dây chằng này gồm có một phần nông và các
sợi sâu, chúng nối mỏm trên lồi cầu giữa xương đùi và mặt giữa xương chày
Nó thực sự liên kết vào trong bao khớp Các sợi sâu bám dọc bờ xương chày
và phần nông chạy xa hơn để bám vào chỗ loe ra của xương chày Phần nông đem lại sự ổn định khi đầu gối gập ở mọi mức độ Phần sâu của dây chằng góp phần vào sự ổn định chủ yếu khi khớp duỗi hoàn toàn
Dây chằng chéo trước: dây chằng này phát xuất ở vùng gian lồi cầu
trước của xương chày và bám vào mặt giữa sau của mỏm trên lồi cầu bên xương đùi Nó hạn chế độ chuyển động ra phía trước của xương chày trong quan hệ với xương đùi
Hình 2.5 Các dây chằng khớp gối (http://www.arthroscopy.com/sp05001.htm)
Trang 16Dây chằng chéo sau: dây chằng này xuất phát từ xương chày sau vượt
qua gian khớp để bám vào mặt giữa của mỏm trên lồi cầu giữa xương đùi
Nó hạn chế mức độ chuyển động sau của xương chày trong quan hệ với xương đùi
Ở phía trên, túi hoạt dịch lên rất cao tạo thành túi thanh mạc trên bánh chè Ngoài ra quanh khớp gối còn có nhiều túi thanh mạc khác
2.1.5 Các cơ vùng gối
Cơ là nguồn động lực của khớp, có thể co, duỗi, tạo nên cử động Các cơ chủ yếu của khớp gối gồm:
Gồm 4 đầu: rộng ngoài, rộng giữa, rộng trong và thẳng đùi
Nơi bám: đầu trên xương đùi và xương chậu
Nơi móc: ở lồi củ chày sau khi đi ngang qua rãnh ròng rọc xương đùi
Nó chứa một xương hạt vừng lớn, xương bánh chè
Hình 2.6 Vị trí của các dây chằng chéo ở khớp gối trái chó
(http://www.vetsurgerycentral.com/tplo.htm)
Trang 17Từ xương bánh chè đến lồi củ chày, dây gân cơ tứ đầu đùi được gọi
là dây chằng bánh chè, nó được gắn với bề mặt cân mạc, là cân mạc của cơ nhị đầu đùi và cơ căng cân mạc đùi
Động tác: duỗi cẳng chân, riêng cơ thẳng đùi còn giúp gấp đùi
Cơ may (sartorius)
Nằm ở mặt trong về phía trước xương háng Cơ mỏng, nhỏ, chạy từ trên xuống phía dưới biến thành cân nạc
Nơi bám: xương cánh chậu, cơ đi chéo từ ngoài vào trong
Nơi móc: mào chày
Động tác: gấp đùi, dang và xoay đùi Gấp và xoay trong cẳng chân
Cơ nhị đầu đùi (biceps femoris)
Là cơ lớn nhất và chiếm hầu hết mặt ngoài vùng đùi
Nơi bám: u ngồi, dây chằng khum ngồi
Nơi móc: chỏm mác và lồi cầu ngoài xương chày
Động tác: gấp cẳng chân, duỗi đùi và hơi xoay trong cẳng chân
Cơ kheo (popliteus)
Nơi bám: bám vào lồi cầu ngoài xương đùi
Nơi móc: cơ tỏa thành hình tam giác bám ở mặt sau và trong của xương
chày
Động tác: gấp và xoay trong cẳng chân
Nơi bám: đầu ngoài bám vào lồi cầu ngoài xương đùi và phần quanh lồi cầu ngoài, trong đầu này thường có xương hạt mè, đầu trong lớn hơn đầu ngoài, bám vào lồi cầu trong xương đùi và phần quanh lồi cầu trong
Sự bám của cơ này rất chắn chắn, do đó khi phẫu thuật cố định dây chằng chéo trước ta sẽ luồn chỉ qua đầu của cơ này (mặt sau xương hạt mè) tới mào chày để khắc phục sự xoay vào phía trong của xương cẳng chân Nơi móc: thớ cơ của 2 đầu này chụm lại thành hình tam giác dưới của
hố kheo và kéo dài thành gân gót
Trang 182.1.6 Mạch máu và thần kinh vùng gối
Các mạch máu và thần kinh của vùng gối bao gồm: động mạch, tĩnh mạch kheo, thần kinh chày và thần kinh mác chung Tất cả các thành phần trên được bọc trong một khối tế bào mỡ
Động mạch kheo
Động mạch kheo là phần tiếp theo của động mạch đùi, băng qua giữa 2 đầu của cơ sinh đôi cẳng chân Khi đến bờ dưới cơ kheo thì chia thành 2 nhánh: động mạch chày trước và động mạch chày sau
Động mạch kheo cung cấp máu cho khớp, cơ sinh đôi cẳng chân và cơ kheo
Tĩnh mạch kheo
Do nhánh của các tĩnh mạch chày trước và tĩnh mạch chày sau hợp thành Sau đó tĩnh mạch đi qua vòng gân cơ khép và đổi tên thành tĩnh mạch đùi Ngoài
ra tĩnh mạch kheo còn nhận máu từ tĩnh mạch hiển bé và các tĩnh mạch khớp gối
Thần kinh chày và thần kinh mác chung
Dây thần kinh sciatic ở đùi phân nhánh cho ra thần kinh mác chung và thần kinh chày Thần kinh chày tiếp tục đi theo động mạch chày sau đến vùng cẳng chân Thần kinh mác chung đi dọc theo bờ trong cơ nhị đầu đùi, sau đó đi trên bề mặt cơ sinh đôi cẳng chân (đầu ngoài) để đến đầu trên xương mác và vòng quanh
cổ xương mác đi dưới cơ mác dài đến vùng cẳng chân trước
Các mạch máu và thần kinh phần lớn nằm ở mặt sau gối Trong phẫu thuật điều trị chúng ta chỉ cần can thiệp ở mặt trước gối Do đó, không ảnh hưởng đáng
kể đến hệ mạch và thần kinh vùng gối Sự chảy máu chủ yếu là chảy máu dưới da
Hình 2.7 Điểm bám của cơ sinh đôi cẳng chân (Evans, H.E and Alexander deLahunta, 1971)
Trang 192.1.7 Động tác của khớp gối
Động tác chủ yếu của khớp là gấp và duỗi Tuy nhiên khi cẳng chân gấp, khớp có thể làm động tác dang, khép, xoay trong và xoay ngoài rất ít
2.2 Đứt dây chằng chéo trước
Sự vững chắc của khớp gối là sự vững chắc của mối quan hệ giữa xương đùi
và xương chày, theo chiều trước sau rất quan trọng và được bảo đảm bởi hai dây chằng trong của khớp gối, đó là dây chằng chéo trước khớp gối và dây chằng chéo sau khớp gối Nhờ có sự vững chắc này mà thú có thể thực hiện được các động tác vận động nhanh, mạnh Trong hai dây chằng này thì dây chằng chéo trước khớp gối dễ bị tổn thương nhất và phẫu thuật phục hồi dây chằng này cũng là phẫu thuật phổ biến nhất trong các phẫu thuật vùng khớp gối trên chó tại những nước tiên tiến (http://dogligament.com)
Do cấu tạo cơ thể học: mâm chày ở chó có độ dốc cao hơn so với các loài khác Không giống như các loài khác loài chó có thể đứt dây chằng chéo
Hình 2.8 Dây chằng chéo trước bị đứt (http://www.arthroscopy.com/sp05001.htm)
Trang 20trước trong các hoạt động hằng ngày như đi bộ hay chạy nhảy, và đối với những chó quá trọng lượng thì càng có nguy cơ bị đứt dây chằng chéo trước Ngoài ra còn do những nguyên nhân miễn dịch hoặc do những bất thường về mặt cơ thể học làm dây chằng chéo trước trở nên dễ bị đứt và kém bền chắc hơn
2.2.2 Cơ chế
Do cấu tạo cơ thể học của chó: theo tiến sĩ Barclay Slocum, một bác sĩ phẫu
thuật thú y người Mỹ, khi con chó bước đi tất cả các lực của bàn chân được truyền qua xương cẳng chân Bởi vì ở loài này, mâm chày bị nghiêng, gân gót lại có chiều dài cố định, một phần của lực này sẽ được truyền đi theo một hướng về phía trước và đó là lực gây ra đứt dây chằng chéo trước
Do chấn thương: chấn thương làm cho đầu gối bị xoắn và bẻ vẹo vào trong
theo 2 chiều ngược nhau của xương đùi và xương cẳng chân làm cho dây chằng