TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN PHƯỚC LỢI PHÂN LẬP VÀ KIỂM TRA TÍNH NHẠY CẢM ĐỐI VỚI KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN ESCHERICHIA COLI VÀ SALMONELLA GÂY BỆNH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN PHƯỚC LỢI
PHÂN LẬP VÀ KIỂM TRA TÍNH NHẠY CẢM ĐỐI VỚI KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN
ESCHERICHIA COLI VÀ SALMONELLA
GÂY BỆNH TIÊU CHẢY CHO HEO CON
TẠI TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ, 12 - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BÁC SĨ THÚ Y
PHÂN LẬP VÀ KIỂM TRA TÍNH NHẠY CẢM ĐỐI VỚI KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN
ESCHERICHIA COLI VÀ SALMONELLA
GÂY BỆNH TIÊU CHẢY CHO HEO CON
TẠI TỈNH BẾN TRE
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Phước Lợi
MSSV: 3072686 Lớp: Thú Y khóa 33
Giáo viên hướng dẫn
TS Lý Thị Liên Khai
Cần Thơ, 12 - 2011
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: Phân lập và kiễm tra tính nhạy cảm đối với kháng sinh của vi
khuẩn Escherichia coli và Salmonella gây bệnh tiêu chảy cho heo con tại tỉnh Bến
Tre, do sinh viên Nguyễn Phước Lợi thực hiện tại các trại chăn nuôi ở tỉnh Bến Tre
và phòng Thí Nghiệm Vệ Sinh Thực Phẩm - Bộ môn Thú y - Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 11 năm 2011
Cần Thơ, ngày tháng năm 2011 Cần Thơ, ngày tháng năm 2011
Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua bao năm học tập, hôm nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn ngoài nổ lực của bản thân, còn có nguồn động viên và dạy bảo tận tình của cha mẹ và thầy cô Tôi xin thành kính dâng lên cha mẹ lòng biết ơn sâu sắc, người đã dành trọn cả cuộc đời mình cho tôi cất bước đến trường
Xin chân thành biết ơn
Mãi mãi ghi nhớ công ơn cố vấn học tập cô Lý Thị Liên Khai cũng là người
đã hết lòng lo lắng, chỉ bảo, động viên trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Thầy Lưu Hữu Mãnh, Nguyễn Hữu Hưng đã tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Quý thầy cô Bộ môn Thú Y, Bộ môn Chăn Nuôi đã truyền đạt cho tôi những
kiến thức, kinh nghiệm quý báu, lẫn nhận thức xã hội trong quá trình học tập tại trường đại học Cần Thơ
Xin chân thành cảm ơn
Ban lãnh đạo của Chi Cục Thú y tỉnh Bến Tre đã hết lòng tạo điều kiện cho tôi trong quá trình lấy mẫu
Các chú, các anh của các trại chăn nuôi ở tỉnh Bến Tre đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình lấy mẫu
Cùng tất cả bạn bè của lớp Thú y 33 đã động viên, chia sẽ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Mai đây dù ở nơi đâu, thành công hay thất bại Tôi vẫn sẽ giữ mãi những ký ức đẹp nơi Giảng đường Đại Học - nơi đó có những người đã dạy dỗ, thương yêu, nâng
đỡ để tôi có được như ngày hôm nay!
Nguyễn Phước Lợi
Trang 5MỤC LỤC
Trang tựa i
Trang duyệt ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH HÌNH viii
DANH SÁCH SƠ ĐỒ viii
DANH SÁCH BẢNG ix
TÓM LƯỢC x
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 Tình hình ngiên cứu trong và ngoài nước 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 4
2.2 Đặc điểm sinh lý heo con 4
2.2.1 Chức năng thần kinh và điều tiết nhiệt chưa hoàn chỉnh 4
2.2.2 Bộ máy tiêu hóa phát triển chưa hoàn chỉnh 5
2.2.3 Hệ vi sinh vật đường ruột của heo con 5
2.3 Những nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy heo con 5
2.3.1 Nguyên nhân do truyền nhiễm 5
2.3.2 Nguyên nhân không truyền nhiễm 18
2.4 Chẩn đoán phân biệt một số bệnh gây tiêu chảy trên heo con 20
2.4.1 Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) 20
2.4.2 Bệnh tiêu chảy do Rotavirus 21
2.4.3 Tiêu chảy do Salmonella spp 21
2.4.4 Tiêu chảy do Escherichia coli 23
2.4.5 Tiêu chảy do Treponema hyodysenteriae (bệnh hồng lỵ) 23
2.4.6 Viêm ruột hoại tử do Clostridium perfringens type C 24
2.4.7 Tiêu chảy do cầu trùng trên heo con 25
Trang 62.5 Tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella spp 26
2.5.1 Tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Escherichia coli 26
2.5.2 Tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Salmonella spp .27
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 29
3.1 Phương tiện thí nghiệm 29
3.1.1 Địa điểm và thời gian thực hiện 29
3.1.2 Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm 29
3.1.3 Hóa chất và môi trường 29
3.1.4 Đối tượng nghiên cứu 29
3.1.5 Thuốc kháng sinh 29
3.2 Phương pháp thí nghiệm 30
3.2.1 Phương pháp lấy mẫu 30
3.2.2 Phương pháp nuôi cấy phân lập 30
3.2.3 Phương pháp định danh vi khuẩn bằng phản ứng sinh hóa 33
3.2.4 Kiểm tra tính nhạy cảm của vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella spp đối với kháng sinh bằng phương pháp khuếch tán trên thạch 36
3.2.5 Điều trị bệnh tiêu chảy cho heo con 37
3.2.6 Các chỉ tiêu theo dõi bệnh tiêu chảy heo con 37
3.2.7 Phương pháp xử lý số liệu 37
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 38
4.1 Kết quả khảo sát tỷ lệ tiêu chảy của heo con ở tỉnh Bến Tre 38
4.2 Kết quả khảo sát tỷ lệ tiêu chảy của heo con ở tỉnh Bến Tre theo phương thức chăn nuôi 38
4.3 Kết quả khảo sát tỷ lệ tiêu chảy của heo con ở tỉnh Bến Tre theo tuổi 40
4.4 Kết quả khảo sát trạng thái màu sắc phân của heo con tiêu chảy ở tỉnh Bến Tre 41
4.5 Kết quả phân lập vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella spp trên phân heo con tiêu chảy ở tỉnh Bến Tre 42
4.6 Kết quả khảo sát sự phân bố của vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella spp theo độ tuổi của heo con tiêu chảy 43
4.7 Tỷ lệ nhiễm ghép giữa vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella spp trên heo con tiêu chảy ở tỉnh Bến Tre 44
4.8 Kết quả kiểm tra tính nhạy cảm của vi khuẩn Escherichia coli đối với kháng sinh 45
Trang 74.9 Kết quả kiểm tra tính nhạy cảm của vi khuẩn Salmonella spp đối với kháng sinh 46
4.10 Khảo sát kết quả điều trị bệnh tiêu chảy cho heo con ở tỉnh Bến Tre 47
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Tiếng Việt 50
Tiếng Anh 53
Internet 56
PHỤ CHƯƠNG 57
Phụ lục 1 57
Phụ lục 2 59
Trang 8DANH SÁCH CHỮ VIÊT TẮT
brilliant geen agar
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
1 Vi khuẩn Escherichia coli dưới kính hiển vi điện tử 6
2 Vi khuẩn Salmonella spp dưới kính hiển vi điện tử 12
3 Khuẩn lạc Escherichia coli trên môi trường MC 30
4 Khuẩn lạc Salmonella spp trên môi trường XLD và MLCB 31
5 Phản ứng sinh hóa định danh vi khuẩn Escherichia coli 33
6 Phản ứng sinh hóa định danh vi khuẩn Salmonella spp 35
7 Kết quả kiểm tra tính nhạy cảm của vi khuẩn E coli đối với kháng sinh 45
DANH SÁCH SƠ ĐỒ
1 Qui trình nuôi cấy phân lập vi khuẩn E coli và Salmonella spp 32
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
1 Định danh vi khuẩn E coli bằng phản ứng sinh hóa 33
2 Phản ứng sinh hóa của một số chủng Salmonella 34
3 Bảng tiêu chuẩn tính kết quả đường kính vô khuẩn của Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh và Difco Laboratories, 1993 36
4 Một số phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy heo con được sử dụng ở các trại
5 Kết quả khảo sát tỷ lệ tiêu chảy của heo con ở tỉnh Bến Tre 38
6 Kết quả khảo sát tỷ lệ tiêu chảy của heo con ở tỉnh Bến Tre theo hình thức
7 Kết quả khảo sát tỷ lệ tiêu chảy của heo con ở tỉnh Bến Tre theo độ tuổi 40
8 Kết quả khảo sát trạng thái màu sắc phân của heo con tiêu chảy ở tỉnh Bến
9 Kết quả phân lập vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella spp trên phân
10 Khảo sát sự phân bố của vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella spp phân
lập được trên phân heo con tiêu chảy theo độ tuổi 43
11 Tỷ lệ nhiễm ghép giữa vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella spp trên
12 Kết quả kiểm tra tính nhạy cảm đối với kháng sinh của vi khuẩn
Trang 11TÓM LƯỢC
Bệnh tiêu chảy là một trong những bệnh xảy ra thường xuyên trên heo con Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra có thể do việc chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, điều kiện thời tiết thay đổi làm cho sức đề kháng của heo con giảm tạo điều kiện cho các vi khuẩn tấn công gây bệnh, trong đó đáng quan tâm là vi khuẩn E coli và Salmonella spp Vi khuẩn E coli và Salmonella spp là những vi khuẩn thường xuyên tồn tại trong đường ruột ở người và động vật, có khả năng sinh độc tố gây bệnh tiêu chảy Qua điều tra và lấy mẫu bằng kỹ thuật vô trùng, chúng tôi đã khảo sát được 271 bầy heo với 3.664 heo con Trong đó, có 168 bầy bị tiêu chảy với 1.058 heo con chiếm
tỷ lệ 28,88%, tỷ lệ tiêu chảy heo con ở các giai đoạn 1 (33,79%), 2 (36,41%), 3 tuần tuổi (36,9%) là như nhau và cao hơn gấp 2 lần ở giai đoạn 4 tuần tuổi (18,42%) Chúng tôi đã thu thập được 166 mẫu phân heo con bị tiêu chảy và tiến hành phân lập, kiểm tra tính nhạy cảm đối với kháng sinh của vi khuẩn E coli và Salmonella spp Kết quả cho thấy có 163/166 mẫu dương tính với E coli và 14/166 mẫu dương tính với Salmonella spp chiếm tỷ lệ tương ứng là 98,19% và 8,43% Bệnh tiêu chảy heo con do vi khuẩn E coli và Salmonella spp không phụ thuộc độ tuổi Vi khuẩn E coli phân lập được có tỷ lệ kháng kháng sinh cao bactrim (88,24%), ampicillin (82,35%), amoxicillin (79,41%) Chỉ có colistin nhạy cảm với vi khuẩn E coli chiếm tỷ lệ (67,65%) Vi khuẩn Salmonella spp rất nhạy cảm với norfloxacin (100%), colistin (85,71%) nhưng đã kháng với ampicillin và amoxicillin (78,57%) Tỷ lệ khỏi bệnh sau khi điều trị ở 4 phác đồ gồm các kháng sinh phổ rộng và thuốc điều trị triệu chứng nâng cao sức đề kháng là 100%
Trang 12CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở nước ta, ngành nông nghiệp là ngành sản xuất chính của nền kinh tế quốc dân Tỉnh Bến Tre nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, với những điều kiện
tự nhiên thuận lợi thích hợp cho ngành nông nghiệp phát triển đặc biệt là ngành chăn nuôi Với điều kiện thuận lợi trên, thời gian qua phong trào chăn nuôi heo ở tỉnh Bến Tre ngày càng phổ biến, trong đó chăn nuôi với phương thức trang trại ngày càng phát triển
Trong quá trình sản xuất, chăn nuôi hộ gia đình cũng như các cơ sở chăn nuôi theo phương thức trang trại đã gặp không ít khó khăn với bệnh tiêu chảy heo con Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới và do nhiều nguyên nhân khác nhau như: sự thay đổi đột ngột của môi trường, thức ăn của heo mẹ kém phẩm chất hay thay đổi đột ngột, chuồng trại ẩm thấp, thời tiết lạnh, tác động vào cơ thể heo con gây rối loạn thần kinh dẫn đến rối loạn tiêu hóa Những yếu tố trên làm giảm sức đề kháng của heo con; tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập nhất là hệ vi khuẩn đường ruột phát triển
và gây bệnh Điều đó ảnh hưởng lâu dài đến nguồn cung cấp thực phẩm và thu nhập của người chăn nuôi
Có nhiều tác nhân khác nhau gây bệnh tiêu chảy ở heo con như vi khuẩn, virus,
ký sinh trùng, Tại tỉnh Bến Tre, việc xác định vi khuẩn gây bệnh cũng như sự nhạy cảm và đề kháng đối với kháng sinh thì chưa được nghiên cứu
Bệnh tiêu chảy ở heo con có thể do nhiều nguyên nhân gây ra nhưng xét về mặt
vi khuẩn học, vi khuẩn Escherichia coli (E coli) thuộc nhóm có khả năng sinh độc tố đường ruột (Enterotoxigenic E coli - ETEC) đã được nhiều tác giả trên thế giới thống
nhất là một trong các nguyên nhân thường gặp và quan trọng gây bệnh tiêu chảy ở heo
con Ngoài ra, vi khuẩn Salmonella spp cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy ở heo
con; nó sẽ xâm nhập vào nội tạng và gây bệnh khi sức đề kháng của heo con giảm Bệnh tiêu chảy ở heo con đã và đang gây ra nhiều thiệt hại đáng kể cho kinh tế của ngành chăn nuôi heo ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở tỉnh Bến Tre nói riêng
Bên cạnh đó, việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh trong chăn nuôi rất phổ biến Vì vậy, tình hình kháng thuốc của vi khuẩn trong những năm gần đây đang là mối quan tâm lớn của nhà chăn nuôi Do đó, để việc sử dụng kháng sinh đúng, có chọn lọc, tránh hiện tượng kháng kháng sinh đối với nhiều loại vi khuẩn như hiện nay thì việc thử độ nhạy của vi khuẩn đối với kháng sinh là rất cần thiết
Trang 13Xuất phát từ tình hình thực tế và được sự phân công của Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài “Phân lập và kiểm tra tính nhạy cảm đối với kháng sinh của vi
khuẩn Escherichia coli và Salmonella gây bệnh tiêu chảy cho heo con tại tỉnh Bến
Tre”
Mục tiêu đề tài:
- Xác định tỷ lệ tiêu chảy của heo con ở tỉnh Bến Tre
- Xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn E coli và Salmonella spp trên heo con bị bệnh
tiêu chảy ở tỉnh Bến Tre
- Kiểm tra tính nhạy cảm đối với kháng sinh của vi khuẩn E coli và Salmonella
spp phân lập được và theo dõi kết quả điều trị bệnh tiêu chảy heo con tại các trại chăn nuôi thuộc tỉnh Bến Tre
Trang 14CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tình hình ngiên cứu trong và ngoài nước
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tình hình tiêu chảy do E coli trên heo con theo mẹ tại một số trại heo ở miền
Bắc Việt Nam chiếm tỷ lệ khá cao như ở Hà Nội là 88,37%, Hà Tây là 86,21%, Thái Nguyên là 75,93% và ở Hải Phòng là 69,23% Các chủng phân lập được chủ yếu mang kháng nguyên K88 và K99 với tỷ lệ lần lượt là 45,24% và 16,67% Hiện tượng kháng với các loại kháng sinh thông thường vẫn dùng điều trị bệnh như amoxicillin (76,42%), chloramphenicol (79,25%), trimethroprim/sulfamethoxazole (80,19%),
streptomycin (88,68%) và tetracyclin (97,17%) (Cù Hữu Phú và ctv, 2001)
Theo Lý Thị Liên Khai và cvt (2003) thì tỷ lệ nhiễm vi khuẩn E coli trên heo
con theo mẹ bị tiêu chảy ở Cần Thơ là 87,5% Trong đó đã xác định được các chủng K88, K99, 987P với tỷ lệ lần lượt là 7,32%, 18,29%, 13,41%
Theo Nguyễn Thành Tâm (2007) thì tỷ lệ dương tính E coli chiếm 87,88%
E coli phân lập được có tỷ lệ kháng kháng sinh cao là streptomycin (100%),
ampicillin (98,04%), bactrim (90,20%), gentamycin (62,75%) Hiện trạng vi khuẩn
E coli đa kháng với 5 loại kháng sinh là phổ biến nhất (43,14%)
Một nghiên cứu của Nguyễn Minh Lực (2007) cho thấy tỷ lệ nhiễm vi khuẩn
E coli, Samonella spp và Proteus spp ở Cần Thơ lần lượt là 96,96%, 10,10%,
6,06% Tỷ lệ nhiễm ghép giữa 2 loại vi khuẩn là 14,14% và thấp nhất là tỷ lệ nhiễm
ghép cả 3 loại vi khuẩn E coli, Salmonella spp và Proteus spp là 1,01% Vi khuẩn
E coli nhạy cảm với ofloxacin 75%, gentamycin 70% và đã kháng với streptomycin
95%, bactrim 85% và ampicillin 55% Đối với Salmonella spp thì nhạy cảm với
gentamycin 90%, ofloxacin 80% và ampicillin 50% nhưng cũng đã kháng lại bactrim 70% và streptomycin 60%
Theo Lương Thị Thanh (2008) tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Salmonella spp trên heo
con theo mẹ và heo con cai sữa ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp lần lượt là 16%,
10% Tỷ lệ kháng của vi khuẩn Salmonella spp cao nhất với kháng sinh doxycycline
(68%), bactrim (48%), norfloxacin (44%), gentamycin (40%), amoxicillin (32%), thấp
nhất là cefotaxime (24%) Những chủng Salmonella spp phân lập từ mẫu phân tiêu
chảy đa kháng nhiều loại kháng sinh như: bactrim, doxycycline, norfloxacin (100%), gentamycin (87,5%), cefotaxime (75%)
Trang 15Tỷ lệ nhiễm E coli trên heo con bị tiêu chảy ở tỉnh Hưng Yên là 56%, trong đó
tỷ lệ mang kháng nguyên K88 là 80% và K99 là 20% (Phạm Thế Sơn và ctv, 2008)
Nghiên cứu của Trần Thị Diễm Châu (2010) thì tỷ lệ vi khuẩn E coli trên heo con theo mẹ bệnh tiêu chảy ở Trà Vinh là 100% Các chủng E coli phân lập được có
tỷ lệ kháng kháng sinh rất cao: tetracyclin (94,58%) kế đến là amoxicillin (67,57%)
Kháng sinh imipenem nhạy cảm với E coli với tỷ lệ cao (97,29%) kế đến là
enrofloxacin (48,65%)
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Theo nghiên cứu của Vũ Khắc Hùng và M Pilipcinec (2003) ở Cộng hòa
Slovakia thì trong 220 mẫu phân heo con theo mẹ bị tiêu chảy dương tính với E coli
có 83 mẫu mang kháng nguyên bám dính F4, chiếm 37,7%; 7 mẫu mang tổ hợp F5 và F41; 6 mẫu mang kháng nguyên F6; 19 mẫu mang kháng nguyên F18 và 1 mẫu mang kháng nguyên bám dính F17
Nghiên cứu từ năm 2002 - 2004 của Wang et al (2006) ở Trung Quốc thì trong
227 mẫu phân heo con cai sữa bị tiêu chảy do E coli có 23/277 mẫu (10,1%) mang
kháng nguyên K88, 13/277 mẫu (5,7%) mang kháng nguyên K99 Trong 179 mẫu phân heo con theo mẹ có 20,1% K88, 1,1% K99 và 6,1% 987P
Một nghiên cứu của Ken Katsuda et al (2006) nghiên cứu về nguyên nhân gây
tiêu chảy của heo con ở Nhật Bản cho rằng E coli chiếm 2% trong các nguyên nhân gây tiêu chảy heo con E coli ở các lứa tuổi 1 - 7 ngày (13,3%); 8 - 14 ngày (13,6%);
15 - 21 ngày (13%) và >21 ngày là 55%
2.2 Đặc điểm sinh lý heo con
2.2.1 Chức năng thần kinh và điều tiết nhiệt chưa hoàn chỉnh
Heo con sơ sinh có chức năng thần kinh chưa hoàn chỉnh, các phản xạ thích nghi chưa được hình thành nên heo con rất dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động xấu của môi trường
Trong bụng mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai được xác định do thân nhiệt của
mẹ Sau khi sinh, cơ thể heo con chưa bù đắp được nhiệt lượng mất đi do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài Vì vậy, hầu như tất cả heo con sơ sinh trong những giờ đầu tiên đều bị giảm thân nhiệt, sau đó thân nhiệt dần dần tăng lên (Đào Trọng Đạt và ctv, 1999)
Heo con có lớp mỡ dưới da ít, bộ lông thưa thớt, diện tích tiếp xúc của bề mặt
cơ thể và môi trường lớn nên dễ bị ảnh hưởng bởi tác động của môi trường làm giảm sức đề kháng nên heo dễ bị bệnh, đặc biệt là rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy
Trang 162.2.2 Bộ máy tiêu hóa phát triển chưa hoàn chỉnh
Ở heo con, quá trình tiêu hóa ở ruột nhờ vào các enzyme tiêu hóa protid, lipid, glucid Các enzyme này thay đổi theo giai đoạn của heo Lúc mới sinh ra enzyme tiêu hóa protid rất ít và tăng lên lúc 3 - 4 tuần tuổi, chính vì vậy sự phân giải protein trong
2.2.3 Hệ vi sinh vật đường ruột của heo con
Vi sinh vật xuất hiện trong đường ruột của heo con ngay từ những giờ đầu sau khi sinh, chúng bao gồm vi sinh vật có trong sữa đầu và ở môi trường sống xung quanh Các hoạt động tiêu hóa của heo phụ thuộc rất nhiều vào hệ vi sinh vật cư trú trong đường tiêu hóa từ khi mới đẻ và tạo thành vi sinh vật cộng sinh Thành phần vi sinh vật trong hệ thống tiêu hóa của heo thay đổi tùy điều kiện chuồng trại, dinh dưỡng và lứa tuổi của heo (Nguyễn Thị Kim Ngân, 2007) Khi động vật sơ sinh được nuôi bằng sữa thì trong ruột có nhiều vi khuẩn lactic Lúc con vật chuyển sang thức ăn thô thì thành phần vi sinh vật cũng thay đổi, tùy loại thức ăn nếu thức ăn chứa nhiều glucid thì số lượng vi khuẩn tạo acid trong ruột phát triển nhiều
Hệ vi sinh vật bắt buộc ở heo là Streptococcus lactic, Lactobacillus
acidophillus, trực khuẩn lactic, E coli Trong điều kiện bình thường, vi sinh vật sống
cộng sinh trong đường tiêu hóa của heo con, không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của chúng Khi điều kiện sống thay đổi như thiếu dinh dưỡng, thời tiết thay đổi, vệ sinh
chăn nuôi kém thì một số vi khuẩn trở thành tác nhân gây bệnh như E coli, Bacillus
perfringens (Trần Cừ, 1972)
Sự cần bằng quần thể vi sinh vật trong đường tiêu hóa của heo con có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của động vật chủ Chính vì vậy, việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tạo điều kiện môi trường sống thích hợp, vệ sinh là một trong những biện pháp phòng các bệnh đường ruột của heo
2.3 Những nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy heo con
2.3.1 Nguyên nhân do truyền nhiễm
Truyền nhiễm do vi khuẩn
Bệnh do vi khuẩn Escherichia coli
Đặc điểm bệnh tiêu chảy do E coli
Trang 17Trong các vi khuẩn đường ruột, loài Escherichia coli là loài phổ biến nhất
Chúng chiếm 80% vi khuẩn hiếu khí trong ruột (Trần Cẩm Vân, 2001) Loài này xuất hiện và sinh sống trong động vật chỉ vài giờ sau khi sinh và tồn tại cho đến khi con vật
chết E coli sinh sống bình thường trong đường ruột của người và động vật, khi các
điều kiện nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y kém, sức chống đỡ bệnh tật
của con vật yếu thì E coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh (Đào Trọng
Đạt và ctv, 1999)
Ở trong ruột, chúng sống đối kháng với một số vi khuẩn khác như Salmonella
và Shigella nhờ có khả năng tạo ra một loại chất ức chế có tên là Colixin Chúng còn
có khả năng tổng hợp một số vitamin thuộc nhóm B, E và K Vì thế, khi không gây bệnh chúng có lợi cho đường ruột nhờ hạn chế được một số vi khuẩn khác, giữ thế cân bằng sinh thái trong ruột và sinh tổng hợp một số vitamin (Trần Cẩm Vân, 2001)
Vi khuẩn E coli được mô tả lần đầu tiên vào năm 1885 do Theodore Escherich
người Đức, được xem là nguyên nhân gây tiêu chảy ở động vật (Levine, 1987)
E coli là vi khuẩn thường xuyên khu trú và hoạt động trong đường ruột của
heo và có thể trở thành nguyên nhân gây bệnh (Leman, 1992; Fairbrother, 1992)
Hiện nay, E coli gây tiêu chảy cho người được chia thành 6 nhóm là: Enteropathogenic E coli (EPEC), Enterotoxigenic E coli (ETEC), Enteroinvasive E
coli (EIEC), Enterohaemorrhagic E coli (EHEC), Enteroaggregative E coli (EAEC)
và diffusely adhering E coli (DAEC) (Nataro và Kaper, 1998) Theo To et al (1984) hiện nay, người ta đã phân lập nhiều chủng E coli khác nhau, nhưng các chủng gây
bệnh chính đối với heo chủ yếu là: K88, K99, 987P, F41
Hình 1 Vi khuẩn Escherichia coli dưới kính hiển vi điện tử
(Nguồn: http://library.thinkquest.org/C004535/prokaryotic_cells.html)
Trang 18Trong đó, ETEC là nhóm vi khuẩn khu trú thường xuyên trong ruột ở người và động vật ETEC có khả năng sinh ra độc tố ruột (enterotoxin) có khả năng gây bệnh rất nặng (Smith và Gyles, 1970)
Cùng với nghiên cứu về yếu tố bám dính của E coli, yếu tố độc tố cũng được
nghiên cứu làm rõ hơn về cấu trúc, chức năng của từng loại độc tố và vai trò của từng loại trong từng thể bệnh (Fairbrother et al., 1992) ETEC bám dính lên biểu mô ruột sản sinh độc tố làm thay đổi sự cân bằng nước và chất điện giải của ruột non và có thể gây tiêu chảy nếu những chất này không được hấp thu kịp ở ruột già (Fairbrother, 1992) Có hai loại độc tố được sản sinh từ ETEC là: độc tố chịu nhiệt ST (heat - stable enterotoxin) và độc tố kém chịu nhiệt LT (heat - labile enterotoxin) (Smith và Gyles,
1970) Ngoài ra còn có độc tố verotoxin dạng biến thể 2e (VT2e) do E coli sinh ra và gây bệnh phù Nhiều nhóm huyết thanh của E coli như O138, O139 và O141 được
phân lập từ heo cai sữa bị tiêu chảy sinh độc tố VT (Fairbrother, 1992)
Theo Đào Trọng Đạt và ctv, (1999), các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất hiện như điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc không đầy đủ, thức ăn của heo mẹ không cân đối, chất lượng thức ăn thấp, không cung cấp kịp thời sữa đầu cho heo con sau khi sinh
làm thành phần vi sinh vật trong ruột heo con có sự thay đổi lớn Trực khuẩn E coli
gây bệnh xâm nhiễm, sau đó sinh sản tự do không ngăn cản lại được Sự gia tăng của
trực khuẩn E coli làm ức chế sự phát triển những vi sinh vật có lợi cho đường ruột,
làm cho bệnh đường ruột heo con càng thêm trầm trọng
Bệnh do vi khuẩn E coli gây ra là bệnh truyền nhiễm có điều kiện Căn cứ vào
sự tác động của các yếu tố gây bệnh của E coli khi gây bệnh, tuổi heo mắc bệnh và triệu chứng bệnh do E coli gây ra, người ta chia bệnh thành 2 loại: bệnh đường ruột
do E coli (bệnh tiêu chảy) và bệnh nhiễm trùng máu (bệnh phù đầu) (Lê Văn Tạo,
thành nên nhóm E coli gây bệnh trong môi trường sẽ dẫn đến sự bộc phát tiêu chảy
cho heo sơ sinh (Fairbrother, 1992) Trong một thực nghiệm lây bệnh với chủng ETEC K88, đường lây truyền qua không khí ở heo rất phổ biến Bệnh có thể xảy ra quanh năm Bệnh thường xảy ra khi thời tiết thay đổi, khí hậu lạnh, mưa nhiều, độ ẩm cao (Lê Văn Tạo, 2006)
Trang 19Sữa đầu chứa kháng thể chống lại vi khuẩn do heo mẹ tạo ra, nếu sữa đầu thiếu kháng thể đặc hiệu chống vi khuẩn và thiếu IgA mà chính IgA ức chế sự kết bám của
vi khuẩn E coli gây bệnh trong quá trình tiêu hóa Nếu heo mẹ phát tán E coli gây
bệnh vào môi trường heo sơ sinh thì heo sơ sinh nhạy cảm với yếu tố cảm nhiễm Tương tự, khi heo sơ sinh không tiếp cận với sữa đầu do bị thương tích hoặc không có khả năng cạnh tranh bú hay heo mẹ mất sữa hoặc không đủ vú nên heo con dễ nhạy cảm với yếu tố cảm nhiễm hơn (Fairbrother, 1992)
Nhiệt độ chuồng cũng rất quan trọng Nhiệt độ nhốt heo thấp hơn 25oC, nhu
động ruột giảm mạnh, việc bài thải vi khuẩn và tiếp nhận kháng thể bị đình trệ làm
tăng số lượng E coli gây bệnh trong ống tiêu hóa của những heo con này làm cho heo
bị tiêu chảy trầm trọng hơn những heo con khác được giữ ở nhiệt độ 30oC (Sarmiento, 1983)
Khả năng gây bệnh
E coli là nguyên nhân của khoảng 50% trường hợp tử vong do tiêu chảy ở heo
Nó là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở heo con (Hồ Thị Việt Thu, 2006)
Bệnh do E coli gây ra cho heo gồm có 3 thể: tiêu chảy, phù thủng và nhiễm
trùng máu Có thể xuất hiện một triệu chứng hoặc cùng kết hợp hai hoặc cả ba triệu chứng Ở thể tiêu chảy, có thể chia làm hai loại tiêu chảy heo sơ sinh (một vài ngày
đầu khi mới sinh) và tiêu chảy sau cai sữa E coli là nguyên nhân chính gây bệnh tiêu chảy trên heo con sơ sinh và heo sau cai sữa (http://greengroup.com.vn)
Trong đường tiêu hóa E coli chiếm tỷ lệ cao nhất trong số vi khuẩn hiếu khí (80%) Tuy nhiên, E coli cũng là một vi khuẩn gây bệnh quan trọng, nó đứng đầu
trong các vi khuẩn gây tiêu chảy, viêm đường tiết niệu, viêm đường mật; đứng hàng
đầu trong các căn nguyên gây nhiễm khuẩn huyết E coli có thể gây nhiều bệnh khác
nhau như viêm màng não, nhiễm khuẩn vết thương Theo báo cáo của chương trình quốc gia giám sát tính kháng thuốc của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp
(1988 - 1994) thì E coli đứng thứ hai (sau Staphylococcus aureus) về tỷ lệ phân lập
được từ các loại bệnh phẩm ở nước ta (viện sốt rét ký sinh trùng - côn trùng Quy Nhơn)
Bình thường E coli sống trong ruột nhưng không gây bệnh Khi cơ thể suy yếu một số chủng trở nên gây bệnh E coli không chỉ gây bệnh đường ruột như tiêu chảy,
kiết lỵ mà còn co thể gây một số bệnh khác như viêm phế quản, viêm màng phổi (Trần Cẩm Vân, 2001)
Bệnh do trực khuẩn E coli có thể xảy ra như một bệnh truyền nhiễm kế phát
trên cơ thể thiếu vitamin và mắc các bệnh do virus và ký sinh trùng
E coli thường gây bệnh cho súc vật mới đẻ từ 2 - 3 ngày hoặc 4 - 8 ngày
Trang 20Gia cầm: thường đi tháo dạ, phân màu xanh lá cây rất hôi thối, có khi có hiện tượng viêm kế mạc mắt, viêm phổi, viêm niêm mạc mũi làm cho gia cầm khó thở
Ở heo, bệnh có thể lây cho cả ổ thậm chí từ ổ này qua ổ khác Ở động vật lớn,
vi khuẩn có thể gây một số bệnh như viêm phúc mạc, viêm gan, thận, bàng quang, túi mật, buồng vú, khớp xương
Ở người, đặc biệt là trẻ em dưới một tuổi vi khuẩn có thể gây bệnh viêm dạ dày
và gây nhiễm độc, viêm túi mật, bàng quang, đường niệu sinh dục và viêm não, đôi khi gây nhiễm khuẩn huyết trầm trọng (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Mầm bệnh và điều kiện xuất hiện bệnh
Escherichia coli thuộc họ Enterobacteriaceae, nhóm Escherichae, loài Escherchia E coli xuất hiện và sinh sống trong cơ thể động vật chỉ vài giờ sau khi
sinh và tồn tại đến khi con vật bị chết Hầu hết các các loài động vật đều mẫn cảm với bệnh như: các loài gia súc, gia cầm, loài chim, loài bò sát, chúng bị nhiễm bệnh bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng chủ yếu là đường tiêu hóa Vì vậy việc cho
bú sữa đầu có tầm quan trọng trong biện pháp ngăn ngừa nhiễm E coli cường độc
(Đào Trọng Đạt và ctv, 1999)
Bệnh do vi khuẩn E coli gây ra sẽ xuất hiện bởi một số yếu tố sau đây:
điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc không đầy đủ (lạnh, mưa tạt, gió lùa, ẩm thấp, ), thức ăn cho heo mẹ kém chất lượng, heo con không được bú sữa đầu kịp thời gây thiếu globulin miễn dịch, cơ thể heo sơ sinh nhạy cảm với bất kỳ tác động nào bên
ngoài làm cho cơ thể heo con bị yếu Mặt khác, vi khuẩn E coli là loài vi khuẩn
thường xuyên khu trú trong đường ruột người và động vật Nếu điều kiện ngoại cảnh
không thuận lợi làm cơ thể heo con bị yếu thì các chủng E coli gây bệnh sẽ thừa cơ
hội phát triển nhanh và gây bệnh (Đào Trọng Đạt và ctv, 1999)
E coli là vi khuẩn môi trường, nơi nào cũng có Bình thường, vi khuẩn không
gây tác hại trên ký chủ (103 CFU/g phân) Khi mật số tăng cao (106 - 109 CFU/g phân)
thì nó sẽ trở nên gây bệnh (http://greengruop.com.vn)
Triệu chứng lâm sàng
Bệnh tiêu chảy heo có thể thấy vào 2 - 3 giờ sau khi sinh và bệnh xảy ra lẻ tẻ trong đàn Heo có thể tiêu chảy mạnh và có thể phân lỏng như nước (Fairbrother, 1992)
Bệnh tiêu chảy heo con thường xảy ra từ 1 đến 21 ngày tuổi, tập trung chủ yếu trong 10 ngày đầu có con sớm hơn ngay khi sinh ra 2 - 3 giờ Tiêu chảy trên heo con theo mẹ với các đặc điểm: phân màu vàng kem, trắng hoặc hơi xanh, với nhiều nước, trong thời gian tiêu chảy heo con vẫn bú, tuy nhiên suy nhược rất nhanh, lông dựng
Trang 21lên, đuôi cụp xuống, gầy còm, nằm chồng chất lên nhau, heo ăn ít, uống nhiều nước Xuất hiện những vùng da tím tái ở mũi, chóp tai và bụng Một vài heo có triệu chúng thần kinh, đi vòng tròn theo một vòng nhất định hoặc liệt hai chân sau, vào giai đoạn cuối heo nằm nghiên chân bơi chèo (Lê Văn Tạo, 2006)
Một số trường hợp heo ói, thể trọng giảm sút nghiêm trọng 30 - 40% Trong một số trường hợp tối cấp heo con có thể chết trước khi thấy hiện tượng tiêu chảy, khi
mổ khám sẽ thấy có lượng nước rất lớn trong lòng ruột (Hồ Thị Việt Thu, 2006)
Bệnh tích
Bệnh tích đại thể có thể thấy được là heo con bị mất nước nặng Trong dạ dày
có chứa sữa chưa tiêu hóa hoặc thức ăn chưa tiêu hóa; dạ dày và ruột đều giãn nở, trên thành ruột có hiện tượng xuất huyết Trong trường hợp viêm dạ dày xuất huyết, bệnh tích đặc trưng là sự sung huyết rõ rệt ở thành ruột non và dạ dày, chất chứa trong ruột
có màu như máu (Đào Trọng Đạt và ctv, 1999)
Khi heo chết cơ thể gầy còm, ở hậu môn có dính phân, mổ khám thấy dạ dày giãn rộng, các bờ đường cong lớn bị nhồi máu, dạ dày chứa đầy sữa đông vón không tiêu, màu trắng hoặc xám trắng Ruột non căng phồng chứa đầy hơi với những đám xuất huyết ở thành ruột Nhìn từ ngoài vào thấy những đám niêm mạc ruột non bị tróc làm cho thành ruột mỏng ra (Faubert và Drolet, 1992) Toàn bộ đường tiêu hóa bị xuất huyết, thường thấy nhất là các điểm xuất huyết ở ruột non và thành dạ dày Hệ thống hạch lâm ba ruột tụ huyết Các cơ quan nội tạng khác như: tim, gan, thận, phổi ít biến đổi (Lê Văn Tạo và ctv, 1993)
Bệnh tích vi thể thường thấy là vi khuẩn gây bệnh thường bám dính vào tế bào biêu mô của màng niêm mạc ruột ở không tràng và hồi tràng, trong trường hợp này mẫu phân lập ETEC có sự hiện diện yếu tố bám dính F4 Dưới kính hiển vi điện tử, vi khuẩn luôn luôn định vị khoảng giữa vi nhung mao và đôi khi quan sát được yếu tố bám dính giữa vi khuẩn với vi nhung mao (Fairbrother, 1992)
Phòng bệnh
Vi khuẩn E coli là vi khuẩn tồn tại trong môi sinh, ở đường tiêu hóa vật chủ
Khi môi trường quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bị nhiễm
vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, heo con giảm sức đề kháng dễ bị nhiễm
E coli, bệnh sẽ xảy ra Vì vậy, khâu vệ sinh chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong
phòng bệnh Chuồng trại, thức ăn, nước uống phải đảm bảo vệ sinh Ổ đẻ phải được tiêu độc trước khi đưa heo nái vào đẻ (Lê Văn Tạo, 2006)
Duy trì điều kiện môi trường chăn nuôi thích hợp, đồng thời bảo đảm mức độ miễn dịch cao cho heo con (Fairbrother, 1992) Chuồng phải khô ráo, không ẩm ướt, đảm bảo nhiệt độ 32 - 34oC đối với heo con chưa cai sữa, 28 - 30oC đối với heo vừa
Trang 22mới cai sữa (Lê Văn Tạo, 2006) và heo nái cần có nhiệt độ mát khoảng 22oC (Fairbrother, 1992) Như vậy, phải có chuồng nuôi riêng cho từng loại heo, heo con nuôi trên sàn, không cho tiếp xúc với nền chuồng Cho heo bú sữa đầy đủ, tập ăn sớm
và cai sữa sớm cho heo con nhưng không nên thay đổi thức ăn đột ngột (Lê Văn Tạo, 2006)
Có thể dùng men vi sinh Lactobacillus cho heo con uống để phòng tiêu chảy
Ngoài ra còn có thể dùng vacine cho heo mẹ lúc 6 và 2 tuần trước khi đẻ, cũng như
việc tiêm chủng hoặc cho heo con uống vacine chống bệnh do E coli cũng là biện
pháp phòng bệnh có hiệu quả tốt (Nagy, 1986; Fahy, 1987)
Điều trị
Việc điều trị bệnh cần phải nắm được những dấu hiệu và đặc trưng của bệnh để chẩn đoán tương đối chính xác Nếu không sẽ dẫn đến hậu quả điều trị không hết bệnh
Điều trị bệnh tiêu chảy do E coli trước hết cần phải kết hợp giữa tiêu diệt mầm bệnh E coli với việc bổ sung nước và dung dịch điện giải để chống mất nước, nâng
cao sức đề kháng của con vật trong khi sử dụng kháng sinh và hóa dược tiêu diệt mầm bệnh
Cần lưu ý đến tính kháng kháng sinh của vi khuẩn E coli gây bệnh để lựa chọn
kháng sinh điều trị Nên chọn kháng sinh mà cơ sở chưa dùng hoặc ít dùng, kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng để điều trị sẽ có kết quả tốt hơn Tốt nhất nên lấy bệnh phẩm gửi các phòng thí nghiệm phân lập vi khuẩn, làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh mẫn cảm dùng điều trị (Lê Văn Tạo, 2006)
Trong thực tế có nhiều loại kháng sinh trị liệu như streptomycin, tetracyclin, chloramphenicol, gentamycin, neomycin, norfloxacin, colistin, ciprofloxacin, imipenem, amikacin, (Phạm Khắc Hiếu và ctv, 1997; Lý Thị Liên Khai và ctv, 2003; Võ Thành Thìn và ctv, 2010)
Để chống mất nước và chất điện giải cần cho uống dung dịch glucose hoặc pha dung dịch electroline vào nước cho heo uống
Dùng chlorpromazin để ngăn ngừa tác động của độc tố đường ruột
Dùng các loại vitamin để nâng cao thể trạng và sức đề kháng của cơ thể
Ngày nay có thể dùng kháng thể chống E coli chế tạo qua lòng đỏ trứng gà để
điều trị, cho hiệu quả tốt, không có tồn dư kháng sinh, không gây còi cọc heo sau điều trị (Lê Văn Tạo, 2006)
Trang 23 Bệnh do Salmonella spp
Đặc điểm bệnh tiêu chảy do Salmonella spp
Salmonella là trực khuẩn hình gậy, hai đầu tròn, không hình thành giác mô và
nha bào, di động, gram âm thuộc họ Enterobacteriaeceae Hiện nay các nhà khoa học phát hiện được khoảng 1600 chủng Salmonella khác nhau Ngoài hai chủng
Salmonella có độc lực cao gây bệnh phó thương hàn cho heo là Salmonella choleraesuis chủng kunzendorf gây bệnh ở thể cấp tính và Salmonella typhisuis chủng voldagsen gây bệnh ở thể mãn tính, các chủng còn lại thường xuyên có mặt trong ruột
gia súc khỏe Nhưng khi sức đề kháng của cơ thể thay đổi, hoạt động tiêu hóa bị rối loạn thì chúng phát triển mạnh và gây ra tiêu chảy Đối với heo con theo mẹ chúng thường xuyên gây rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy do tiết nội độc tố làm viêm loét ruột (Lê Văn Nam và ctv, 1999)
Chủng Salmonella được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1885 là Salmonella
choleraesuis bởi Salmon và Smith Năm 1934, heo đề nghị của hội sinh vật học quốc
tế để kỷ niệm người đầu tiên tìm ra vi khuẩn, tên chính thức của loại vi khuẩn này
được đặt tên là Salmonella (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Vi khuẩn Salmonella đa số sống trong đường ruột người và động vật, một số sống ngoài tự nhiên (Kenneth, 2011) Salmonella là vi khuẩn có khả năng gây bệnh
phổ biến ở khắp mọi nơi Nó sinh sản ở 7 - 45oC, sống sót trong đông lạnh và sấy khô tốt, có thể sống nhiều tuần, nhiều tháng và nhiều năm trong các chất hữu cơ thích hợp như trong bột thịt làm phân bón là 8 tháng, trong cống rãnh là 47 ngày Chống sống sót kém ở pH dưới 5 Chúng bị vô hoạt khi đun nóng hay tác động của ánh sáng mặt trời Vi khuẩn không hình thành nha bào và dễ bị phá hủy bởi các chất diệt trùng như phenol, chlorin, iodine (Đặng Thanh Tùng, 2006)
Hình 2 Vi khuẩn Salmonella spp dưới kính hiển vi điện tử
(Nguồn: http://library.thinkquest.org/C004535/prokaryotic_cells.html)
Trang 24Theo D’ Aoust (2000), Salmonella có thể tồn tại trong môi trường nước, nước
thải, phân gia súc, trong thực phẩm, trong thức ăn gia súc trong một thời gian dài Trong nước có thể tồn tại một tuần, nước đá có thể sống 2 - 3 tháng Ở xác động vật chết, bùn cát có thể sống trên 2 - 3 tháng Sống sót trong môi trường ngoài tế bào như
trong xác động vật chết, vi khuẩn sống khoảng 17 ngày Trong phân Salmonella có thể
sống sót trên 60 ngày Trên nền sàn chuồng có thể tồn tại khoảng 10 giờ Trong nước
đá có thể tồn tại khoảng 240 ngày và trên da Salmonella có thể sống từ 10 đến 20
phút
Theo Paluszak và Olszewska (2002) cho rằng mặc dù một số vi khuẩn bị giảm
đi về số lượng hay chết đi trong hầm chứa chất thải, nhưng bên cạnh đó có những vi
khuẩn như E coli O157, Salmonella và Camphylobacter có thể tồn tại trong thời gian
khá dài, khoảng trên 20 tuần
Độc tố vi khuẩn
Có hai loại độc tố: nội độc tố (enterotoxin) và ngoại độc tố (exotoxin)
- Nội độc tố (enterotoxin): hay lipopolysaccharide là một nửa màng tế bào hóa học bên ngoài bao gồm 3 phần: một lipid chứa độc tố A (lipid A), nằm ở màng ngoài, một lõi polysaccharide chứa kháng nguyên đặc hiệu về giống hay loài của vi khuẩn, một kháng nguyên O liên kết với hàng loạt các chuỗi oligosaccharide nằm ở bề mặt ngoài của tế bào
Nội độc tố của vi khuẩn Salmonella có tính độc rất mạnh, với liều thích hợp
tiêm tĩnh mạch sẽ giết chết chuột bạch trong vòng 48 giờ Bệnh tích đặc trưng như ruột non xuất huyết, mảng peyer phù nề đôi khi hoại tử Độc tố ruột gây độc thần kinh, gây hôn mê, co giật và chết
Salmonella sản sinh ra nội độc tố gồm hai loại là độc tố ruột gây xung huyết và
mụn loét trên ruột, và độc tố thần kinh gây triệu chứng thần kinh (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977) Nội độc tố bị phá hủy ở 100oC, có trọng lượng phân tử 110.000 dalton
và điểm đẳng điện là 4,3 - 4,8
- Ngoại độc tố: chỉ phát hiện khi vi khuẩn có độc tính cao cho vào túi colodion rồi đặt vào bụng chuột lang để nuôi Sau 4 ngày lấy ra, rồi lại cấy truyền như vậy từ 5 đến 10 lần Sau cùng đem lọc, nước lọc này có khả năng gây bệnh cho động vật thí nghiệm Ngoại độc tố hình thành trong cơ thể và trong môi trường kỵ khí Ngoại độc
tố tác động đến thần kinh và ruột Ngoại độc tố có thể chế thành giải độc tố bằng cách trộn thêm formol 5% để ở 37oC trong 20 ngày Giải độc tố tiêm cho thỏ sẽ tạo kháng thể ngưng kết và thỏ có khả năng trung hòa độc tố của vi khuẩn (Nguyễn Như Thanh
và ctv, 1997)
Trang 25
Tính gây bệnh
Tính gây bệnh tùy thuộc vào chủng độc lực, tình trạng đề kháng của cơ thể ký chủ, nguồn, số lượng mầm bệnh nhiễm và con đường xâm nhập của chúng (Wilcock
và Schwartz, 1992)
Bình thường có thể phát hiện Salmonella trong ruột người, heo, gà, bò, vịt, và
một số động vật khỏe mạnh khác Trong điều kiện sức đề kháng vật chủ giảm súc, vi khuẩn sẽ xâm nhập vào nội tạng và gây bệnh (Koupal, 1997)
Theo Wilcock và Schwartz (1992), vi khuẩn Salmonella sau khi xâm nhập vào
ruột, gặp điều kiện thuận lợi như stress vận chuyển, sự giảm sức đề kháng của vật chủ,
Salmonella nhân lên nhanh chóng trong ruột Theo National Environmental Health
Association (NAHE) (2007), vi khuẩn Salmonella có khả năng nhân lên trong các đại
thực bào khi có sự góp mặt của một số protein quan trọng, một trong những protein đó
có tên STM31117 Protein này cùng 2 protein nữa gần giống về mặt cấu trúc chuỗi peptidoglycan, có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và sửa đổi đặc tính hóa học trong màng tế bào vi khuẩn
Bệnh sẽ nghiêm trọng đối với động vật non (trẻ nhỏ và gia súc non), bệnh kết hợp với những bệnh khác như bệnh ký sinh, những bệnh làm suy yếu hệ thống miễn dịch như HIV, bệnh do virus như dịch tả, hoặc vi khuẩn khác (Shuping Zhang et al., 2003)
Dịch tễ học
Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, đặc biệt bệnh thường xảy ra ở heo mới cai sữa đến
4 tháng tuổi Bệnh thường xảy ra quanh năm, thực tế cho thấy từng thời kỳ trong năm đều có thể có những điều kiện làm cho bệnh dễ dàng phát triển như gió lùa, sự thay đổi đột ngột tiểu khí hậu của chuồng nuôi (Bành Ngọc Trang, 2006)
Theo Coordinating Center for Infectious Diseases (2006) cho rằng, bệnh thường xảy ra vào mùa hè và mùa đông, nhưng mùa hè bệnh thường xảy ra nhiều hơn mùa đông
Vi khuẩn Salmonella có mặt khắp mọi nơi, tuy nhiên tính gây bệnh của chúng
khác nhau ở từng nước, từng vùng và từng loại gia súc Nguồn lây bệnh cho gia súc là thức ăn, nước uống, động vật hoang dã, kể cả con người Những con bệnh sau khi khỏi cũng là nguồn mang trùng quan trọng, vi khuẩn từ những con này sẽ theo phân ra ngoài gây nhiễm khuẩn cho thức ăn, nước uống (Phạm Sỹ Lăng và ctv, 2002)
Cơ chế gây bệnh
Theo Đặng Thanh Tùng (2006), vi khuẩn vào cơ thể theo đường tiêu hóa vào hầu, ruột sinh sản và chui qua niêm mạc ruột, dạ dày gây thủy thủng, hoại tử cục bộ,
Trang 26xuất huyết gây viêm ruột, viêm dạ dày, sau đó vi khuẩn xâm nhập vào các tổ chức lâm
ba sinh sản và phóng thích nội độc tố gây phản ứng hạch viêm, sưng hạch và từ đó vào máu gây bại huyết Ở những con vật khỏi bệnh, vi khuẩn có khuynh hướng cư trú
ở một số phủ tạng như gan, đặc biệt ở hạch lâm ba và sinh sản Nội độc tố đóng vai trò rất lớn trong quá trình gây bệnh Nội độc tố ảnh hưởng đến huyết tương, khả năng đông máu, kích thích tiểu cầu và tấn công bạch cầu Phản ứng sốt và nhiễm trùng máu của bệnh cũng trực tiếp do ảnh hưởng của nội độc tố
Triệu chứng bệnh
- Nhiễm trùng huyết:
Dạng bệnh này thường do Salmonella Choleraesuis gây ra và xảy ra chủ yếu ở
heo con cai sữa dưới 5 tháng tuổi nhưng thỉnh thoảng thấy ở heo thương phẩm hoặc ở đàn heo giống, bệnh gây chết đột ngột và sẩy thai
Triệu chứng lâm sàng: thời gian ủ bệnh là 24 - 48 giờ, heo bị bệnh thường biến
ăn, ít vận động, thân nhiệt tăng, thường ho, thở khó, tim đập yếu Tiêu chảy nặng phân lỏng có màu vàng, có mùi hôi thối Trong hầu hết các ổ dịch tỷ lệ chết khá cao và tỷ lệ bệnh thì thay đổi nhưng thường ít hơn 10% Bệnh lây lan qua phân, những heo khỏi bệnh trở thành heo mang mầm bệnh và thải mầm bệnh qua phân
- Viêm dạ dày ruột:
Dạng bệnh này thường gặp ở heo từ cai sữa đến 4 tháng tuổi Vi khuẩn gây
bệnh là S Typhimurium và ít khi gặp hơn là S Choleraesuis
Triệu chứng lâm sàng: triệu chứng đầu tiên là tiêu chảy phân vàng không có máu và niêm mạc, thường kéo dài 3 - 7 ngày Bệnh lây lan một cách nhanh chóng sang hầu hết những heo trong chuồng trong vòng vài ngày Trong phân có thể có lẫn máu nhưng không nhiều như bệnh hồng lỵ Tỷ lệ chết thường thấp và xảy ra chỉ sau nhiều ngày tiêu chảy, thường là do giảm chất điện giải và mất nước Heo khỏi bệnh thường trở thành vật mang mầm bệnh và thải mầm bệnh ít nhất 5 tháng (Bành Ngọc Trang, 2006)
Điều trị và phòng bệnh
- Điều trị:
Việc điều trị bệnh Salmonella thường cho hiệu quả kém Do đó, nó đòi hỏi cần
phải tìm ra chủng huyết thanh, tính nhạy cảm của kháng sinh và bệnh ở giai đoạn đầu
Sử dụng kháng sinh kháng khuẩn gram âm hoặc có phổ kháng khuẩn rộng như: gentamycin, norfloxacin, enrofloxacin, neomycin, colistin, cần kết hợp điều trị triệu chứng như thuốc chống tiêu chảy (atropin, kaolin), cung cấp nước chất điện giải và vitamin (vitamin A, vitamin nhóm B) (Hồ Thị Việt Thu, 2006)
Trang 27- Phòng bệnh:
Định kỳ tiêm phòng vaccine kết hợp với vệ sinh chăm sóc, nuôi dưỡng và sát trùng chuồng trại Khi có heo bệnh phải cách ly ngay vì heo bệnh là nguồn lây chính cho những heo khác và tiến hành tiêu độc chuồng trại
Bệnh do Proteus spp
Proteus mirabilis và Proteus ammoniae các chủng thuộc loài này khá phổ biến
kết hợp với nhiễm trùng đường niệu ở các thú nhỏ, mặc dù chúng được phân lập từ những bệnh khác nhau, bao gồm viêm tuyến tiền liệt ở chó, viêm nội tâm mạc ở heo, nhiễm khuẩn huyết ở gà tây, viêm hô hấp ở chó, thương tổn da ở chó và bò sữa
Các giống vi khuẩn Proteus thường xuyên có mặt trong đường ruột động vật song ít
khi gây bệnh (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Bệnh do Shigella
Shigella gây bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ và heo sau cai sữa Vi khuẩn
được bài xuất qua phân, các chủng thường gây bệnh là: Shigella dysentery và Shigella
flexmitia Chúng xâm nhập vào đường tiêu hóa, sinh sản và tiết độc tố gây bệnh tiêu
chảy
Bệnh do Clostridium perfringens
Clostridium perfringens được phân thành 6 serotype A, B, C, D, E, F nhưng có
3 chủng Clostridium perfringens A, B, C là gây bệnh đường ruột quan trọng đối với
heo (Đào Trọng Đạt và ctv, 1999)
Clostridium perfringens thường gây tổn thương ở ruột, vi khuẩn thường xâm
nhập vào biểu bì của lông nhung và tăng sinh khắp màng nhầy của ruột và hoại tử ở tại đó, đồng thời gây xuất huyết, vùng hoại tử lan dần và gây tổn thương vào chiều sâu đến niêm mạc, dưới niêm mạc thậm chí đến cơ Vi khuẩn còn gây tác hại suốt chiều dài của không tràng nên tiêu chảy thường có máu niêm mạc hoại tử trong phân Tỷ lệ chết và còi cao ở heo sơ sinh, heo 3 - 4 tuần tuổi thì bệnh khó bình phục Tốc độ tăng trưởng chậm (Pedro và Ana, 2011)
Truyền nhiễm do virus
Bệnh tiêu chảy do virus xảy ra trên heo ở mọi lứa tuổi, thường thì bệnh lây lan
nhanh nhưng chủ yếu xảy ra trên heo con theo mẹ Một số loại virus như Coronavirus,
Rotavirus có tính hướng đến tế bào ruột (Đào Trọng Đạt và ctv, 1999)
Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE: Transmissble Gastroenteritis)
TGE là virus thuộc nhóm Coronavirus gây ra, thường xảy ra ở heo 3 - 4 ngày
đến 21 ngày tuổi, tuổi càng nhỏ tỷ lệ chết càng cao
Trang 28Những heo bị nhiễm TGE, phân có màu vàng, chứa thức ăn không tiêu, heo gầy, mất nước nặng, suy nhược do mất chất điện giải, thường heo chết từ 3 - 5 ngày sau khi mắc bệnh, không có biểu hiện sốt hoặc triệu chứng thần kinh Dạ dày căng lên, chứa sữa đông đặc, ruột non căng lên, chứa dịch màu vàng Heo con nhiễm TGE ở trường hợp mất dịch, mất chất điện giải gây tiêu chảy, do làm phá vỡ sự cân bằng các chất này trong cơ thể, dẫn đến heo bị suy nhược và chết Khi mầm bệnh xuất hiện trong cơ thể, nó xâm nhập vào các tế bào, chúng nhân lên và phá hủy nhanh các
tế bào nhung mao ruột làm ngăn chặn sự hấp thu và tiêu hóa dưỡng chất ở vật chủ (Woods, 1996)
Bệnh do Rotavirus
Tiêu chảy do Rotavirus được quan sát thấy ở heo từ 1 - 6 tháng tuổi Trong đó
heo con theo mẹ từ 1 - 3 tuần tuổi bị nặng nhất
Phân ở tiêu chảy do Rotavirus có màu vàng trắng hoặc trắng Lúc mới bị bệnh
thì phân toàn nước, sau đó vài giờ đến một ngày thì đặc như kem, quánh lại Khác với TGE là ở đây heo bệnh ít có hoặc không có biểu hiện nôn mửa, trong khi ở TGE tiêu chảy luôn kèm theo nôn mửa
Diễn biến của tiêu chảy do Rotavirus rất nhanh chỉ vài giờ đến vài ngày thì heo
bệnh sẽ chết hoặc nếu heo bệnh qua được 4 - 6 ngày thì sẽ không chết và heo tự khỏi bệnh
(http://www.namthai.com.vn/index.php?nv=news&action=NewsDetails&catid=13).
Theo Phạm Sĩ Lăng (2009), thì Rotavirus thuộc họ Rotaviridae, có hình răng
cưa khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử, chịu được pH thấp, tan trong mỡ, bị tiêu diệt bởi các chất sát trùng thông thường (formalin 5%, NaOH 3%, nước vôi 10%) nhưng chúng lại tồn tại rất lâu trong môi trường bình thường
Sau khi xâm nhập vào cơ thể heo, Rotavirus đi vào các tế bào của lớp nhung
mao ruột và gây ra các tổn thương ở đây Do tác động của virus, nhung mao co lại, tù đầu, làm cho sự hấp thu dinh dưỡng kém đi, gây ra trạng thái rối loạn tiêu hóa
Rotavirus thường phối hợp với các chủng E coli có độc lực gây bệnh phân trắng, còn
gọi là bệnh phân sữa ở heo 1 - 6 tuần tuổi và gây bệnh tiêu chảy ở heo sau cai sữa
Bệnh do ký sinh trùng
Ký sinh trùng ký sinh trong cơ thể heo là một trong những yếu tố gây tổn thất cho chăn nuôi heo Ở heo trước khi cai sữa, có loại ký sinh trùng do truyền qua nhau thai, qua sữa non làm heo con mới sinh ra đã mắc bệnh
Nhìn chung các loại ký sinh trùng ký sinh trong cơ thể cướp đoạt các dưỡng chất đồng thời tiết độc tố làm rối loạn tiêu hóa, dẫn đến tiêu chảy cho heo con, làm
Trang 29heo con giảm khả năng tăng trọng, còi cọc, chậm lớn Các loại ký sinh trùng có khả năng gây tiêu chảy thường gặp như:
Cryptosporidium
Là loài nguyên sinh động vật ký sinh, nếu gia súc non ăn phải sẽ phát triển trên
bề mặt ruột Nếu nhiễm nặng ký sinh trùng làm nhung mao ở ruột cụt đi và dính lại
vào nhau Bệnh tiêu chảy do Crytosporidium dai dẳng trong vài ngày và mức độ
nghiêm trọng tùy theo mức độ nhiễm bệnh
Strongyloides ransomi (bệnh giun lươn)
Ký sinh ở nhung mao ruột gây bệnh tích ở niêm mạc ruột, rối loạn tiêu hóa và dinh dưỡng do không tiêu hóa và hấp thu thức ăn Heo bị nhiễm nặng gây hấp thu acid amin kém do tổn thương chức năng của ruột non
Isospora suis (cầu trùng)
Với các giai đoạn phát triển khác nhau sẽ phá hoại các tế bào của lớp biểu mô lông nhung và những tế bào hoại tử lan vào xoang ruột Do làm mất nước và tạo nên quá trình viêm nhiễm, gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy (Đào Trọng Đạt, 1996)
Ngoài ra còn có các loại ký sinh trùng khác gây tiêu chảy như: giun kết hạt
(Oesophagostomum dentatum), giun tóc (Trichuris suis)
2.3.2 Nguyên nhân không truyền nhiễm
Do heo mẹ
Những đàn nái sinh sản nếu không được nuôi dưỡng đầy đủ, nhất là trong thời
kỳ mang thai, sẽ làm cơ thể nái bị suy yếu, điều này dẫn đến quá trình trao đổi chất giữa heo mẹ và bào thai rối loạn, làm ảnh hưởng đến trọng lượng cũng như sức đề kháng của heo con sau khi được sinh ra Vì thế khi heo con được sinh ra yếu và dễ bị mẫn cảm với mầm bệnh, nhất là tiêu chảy của heo con (Đào Trọng Đạt, 1996)
Do thay đổi khẩu phần ăn của heo mẹ đột ngột hoặc do sữa mẹ quá nhiều, heo
con bú không sử dụng hết chất đạm, trôi xuống ruột già ở đó có nhiều vi khuẩn E coli
sử dụng đạm sinh sản và tiết ra độc tố, gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy (Trần Thị Dân, 2004)
Khi khẩu phần của heo nái thiếu các vitamin thì hàm lượng vitamin trong sữa cũng giảm dẫn đến bệnh thiếu hay không có vitamin ở heo con kèm theo rối loạn tiêu hóa Ngoài vấn đề về dinh dưỡng, một số bệnh hậu sản ở heo nái như: viêm vú, viêm
tử cung, sốt cao làm thay đổi chất lượng sữa gây tiêu chảy cho heo con (Nikoxki, 1986; Đào Trọng Đạt và ctv, 1999)
Trang 30Do heo con
Đặc điểm sinh lý của heo con là khả năng điều tiết nhiệt chưa hoàn chỉnh, lớp lông thưa thớt và lớp mỡ dưới da xem như không đáng kể, không đủ khả năng giữ nhiệt Do đó khi có sự thay đổi đột ngột của môi trường, heo con không thể đáp ứng kịp thời làm giảm sức đề kháng và có khả năng bị tiêu chảy
Ở heo con mới sinh hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển, chưa đủ số lượng
vi khuẩn có lợi, chưa đủ khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh, nên rất dễ nhiễm bệnh nhất là các bệnh đường tiêu hóa (Đào Trọng Đạt, 1996)
Heo con trong giai đoạn sơ sinh không được cung cấp đầy đủ sữa đầu Nguồn sữa đầu đối với heo con rất quan trọng vì nó không chỉ là nguồn thức ăn, nguồn cung cấp nước trong thời gian đầu sau khi được sinh ra, mà còn cung cấp cho heo con nguồn kháng thể thụ động, chống lại sự xâm nhiễm của các mầm bệnh gây tiêu chảy cho heo con Heo con bình thường bắt đầu sản xuất kháng thể khi đạt được khoảng 10 ngày tuổi, trước thời gian này heo con hoàn toàn được bảo hộ bởi kháng thể do heo
mẹ cung cấp Một số nguồn dưỡng chất khoáng và vitamin khi bị thiếu cũng ảnh hưởng đến tiêu chảy ở heo con Trong trường hợp thiếu Cl trong khẩu phần sẽ làm giảm sự phân tiết acid chlohydric trong dạ dày, điều này có thể tạo điều kiện dễ dàng cho vi khuẩn đường ruột phát triển, đồng thời làm giảm khả năng tiêu hóa protid, đưa đến tình trạng rối loạn tiêu hóa và gây nên tiêu chảy ở heo con (Trần Cừ, 1972)
Sắt hiện diện với hàm lượng rất ít trong cơ thể heo con nhưng lại đóng một vai trò sinh lý rất quan trọng trong việc thành lập hemoglobin Khi được sinh ra heo con chứa khoảng 50mg sắt chủ yếu ở gan, nhu cầu về sắt mỗi ngày đối với heo con khoảng 7 - 15mg, trong khi sữa mẹ chỉ cung cấp khoảng 1mg mỗi ngày qua sữa đầu
Do đó thiếu sắt heo con bị giảm tăng trọng, dễ bị chứng bần huyết làm giảm sức đề kháng và dễ bị nhiễm bệnh tiêu chảy
Nhu cầu nước của heo con rất cao, trong cơ thể heo con nước chiếm 80% Đây là thành phần rất quan trọng của dịch tiêu hóa, dịch tổ chức, máu Ngoài ra, nước còn là dung môi của các phản ứng hóa học bên trong cơ thể (Poitrineau et al., 1995), vì cơ thể của heo con cũng đòi hỏi nhiều nước để tiêu hóa sữa Trong những ngày đầu sau khi sinh heo con bị mất nhiều nước qua da và trong quá trình hô hấp Như vậy, việc cung cấp nước đầy đủ cho heo con là điều cần thiết giúp cơ thể heo con tiêu hóa tốt thức ăn đồng thời hạn chế việc sử dụng nước bẩn trong chuồng có khả năng gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến bệnh tiêu chảy cho heo con (Trần Cừ, 1972)
Trang 31Do điều kiện ngoại cảnh
Theo Nguyễn Như Pho (1998), stress do tách mẹ, chuyển chuồng hay tập ăn có thể gây ức chế sợi phó giao cảm, làm giảm nhu động ruột, giảm tiết dịch tiêu hóa, tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại ở đường ruột phát triển
Trong những yếu tố về tiểu khí hậu quan trọng nhất là ẩm độ và nhiệt độ Độ
ẩm thích hợp cho heo con vào khoảng 75 - 85% Do đó trong những tháng mưa nhiều
tỷ lệ tiêu chảy của heo con có khi tới 90 - 100% Vì vậy, chuồng trại sạch sẽ khô ráo là
vô cùng quan trọng (Đào Trọng Đạt và ctv, 1999)
Sự bất lợi về môi trường thông thường đối với heo theo mẹ là nóng, lạnh, nhiệt
độ thay đổi, vệ sinh kém, chuồng trại không thích hợp và điều kiện như máng ăn, nền chuồng, sân chơi, nguồn nước, vị trí và lượng nước không hợp lý ảnh hưởng đến bệnh tiêu chảy heo con
2.4 Chẩn đoán phân biệt một số bệnh gây tiêu chảy trên heo con
2.4.1 Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE)
Mầm bệnh: Coronavirus
Đường truyền lây: chủ yếu lây qua đường tiêu hóa
Thời gian nung bệnh: 1 - 2 ngày
Lứa tuổi mắc bệnh: tập trung từ 3 - 4 ngày đến 21 ngày tuổi
Tử số: tùy thuộc lứa tuổi, tuổi càng nhỏ tỷ lệ chết càng cao, tỷ lệ chết 100% từ
0 - 7 ngày tuổi, 50% từ 8 - 14 ngày tuổi, 20% từ 15 - 21 ngày tuổi, tỷ lệ chết thấp đối với heo con lớn hơn 3 tuần tuổi
Triệu chứng:
- Tiêu chảy phân vàng với nhiều nước, có thể có các mảnh thức ăn không tiêu
- Ói mửa: ít xảy ra, chỉ xuất hiện nhưng không thường xuyên trên những heo con nhỏ hơn 3 tuần tuổi
- Màu sắc da: hồng đỏ đối với heo dưới 1 tuần tuổi
- Heo con gầy, mất nước nặng, suy nhược, và chết sau 3 - 5 ngày mắc bệnh
- Không có dấu hiệu sốt hoặc triệu chứng thần kinh
Phòng và trị bệnh:
Không có thuốc điều trị đặc hiệu, tuy nhiên các biện pháp tăng cường sức kháng bệnh, cấp nước và chất điện giải sẽ giúp một số heo con sống sót
Trang 32Cách tốt nhất là tiêm phòng vaccin TGE cho heo nái 2 tuần trước khi sanh, kháng thể sẽ truyền qua sữa đầu và heo con sẽ được miễn nhiễm Trường hợp không
có vaccin có thể dùng ruột heo con mắc bệnh, rửa sạch, cắt nhỏ rồi cho heo nái ăn (Nguyễn Như Pho, 2001)
2.4.2 Bệnh tiêu chảy do Rotavirus
Mầm bệnh: Rotavirus
Đặc điểm bệnh: tiêu chảy phân vàng, với nhiều bọt và chất nhầy Bệnh rất nặng trên heo con theo mẹ, và nhẹ hơn trên heo con đã cai sữa Tỷ lệ chết 30 - 40%
Thời gian nung bệnh: 18 - 24 giờ
Đường truyền lây: chủ yếu qua đường tiêu hóa
Triệu chứng: heo con lười bú, lười vận động, ói mửa, vài giờ sau thấy tiêu chảy
ở một vài con trong bầy Sau đó lây lan cho cả bầy, rồi các bầy heo lân cận Thời gian tiêu chảy thường kéo dài nhiều ngày (4 - 6 ngày) Trên heo đã cai sữa cũng có dấu hiệu tiêu chảy phân vàng nhưng thời gian tiêu chảy ngắn hơn (khoảng 3 ngày) Sau đó phần lớn sẽ khỏi bệnh Heo con gầy rất nhanh do mất nước nặng
- Cô lập khu vực mắc bệnh, dùng BIODINE (1/200) hoặc BIOXIDE (1/300) hoặc BIOSEPT (1/150) để sát trùng chuồng trại, lối đi, các dụng cụ chăn nuôi
- Cách phòng bệnh hữu hiệu là tiêm phòng vaccin cho heo nái 2 lần (trước khi sanh 4 tuần và lặp lại trước khi sanh 2 lần) (Nguyễn Như Pho, 2001)
2.4.3 Tiêu chảy do Salmonella spp
Mầm bệnh: do vi trùng Salmonella spp gây ra, thông thường chủng Salmonella
cholerasuis là chủng chính gây bệnh, tuy nhiên nhiều chủng khác như S
Typhimurium, S Derby, S Saintpaul, S Heidelberg, S Typhi suis cũng tham gia gây
bệnh
Trang 33Lứa tuổi mắc bệnh: heo con theo mẹ, heo sau cai sữa hoặc giai đoạn đầu nuôi
thịt có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn heo vỗ béo, heo giống
Thời gian nung bệnh: 3 - 4 ngày
Đường truyền lây: đường tiêu hóa do heo ăn thức ăn, nước uống có vấy nhiễm
phân, đất có chứa vi khuẩn hoặc do vi khuẩn có sẵn trong thức ăn nhất là bột cá Các
loài gặm nhấm (chuột) cũng truyền mầm bệnh vào khu vực chăn nuôi qua sự bài thải
phân của chúng
Triệu chứng:
- Thể viêm ruột cấp tính: xảy ra trên heo con theo mẹ; heo con mắc bệnh
thường tiêu chảy phân vàng với nhiều nước, kèm theo triệu chứng sốt vừa (40,6 - 41,5oC) Sau vài ngày vi trùng xâm nhập vào phổi gây viêm phổi, có thể thấy
xuất huyết ở vùng da mỏng; sau 5 - 6 ngày mắc bệnh heo con suy nhược nặng, nằm
liệt, có thể co giật nhẹ rồi chết Tỷ lệ chết có thể đến 100%
- Thể nhiễm trùng máu: thường xảy ra trên heo nuôi thịt, với các dấu hiệu: sốt vừa trong nhiều ngày, phân dạng bón có chất nhầy bọc chung quanh Sau 4 - 5
ngày, vi khuẩn tràn ngập trong máu, gây viêm phổi nặng Giai đoạn cuối của bệnh có
thể thấy tiêu chảy, đặc biệt phân rất thối, có nhiều màng giả, da vùng tai tím bầm, heo
suy nhược dần rồi chết
- Thể mãn tính: thường xuất hiện trên heo lớn Heo lười ăn, gầy ốm, sốt lên
xuống, thỉnh thoảng bị tiêu chảy, tử số rất thấp
Chẩn đoán:
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng đã mô tả Khác với các bệnh viêm dạ dày
ruột và tiêu chảy do Rotavirus; bệnh phó thương hàn gây xuất huyết nặng ở ruột non,
hoại tử hoặc loét ở ruột, kèm theo xuất huyết ở da, sốt vừa, xuất huyết ở thận và gây
biến chứng viêm phổi
Có thể phân lập vi trùng Salmonella bằng cách lấy bệnh thẩm ở túi mật hoặc
hạch màng treo ruột
Phòng và điều trị:
Tiêm phòng cho heo nái và bầy heo con vào lúc 30 - 35 ngày sau khi sanh, heo
nọc cũng phải tiêm phòng mỗi năm 2 lần vào các lúc giao mùa
Trường hợp mắc bệnh: dùng các kháng sinh nhạy cảm với vi trùng Salmonella
như gentamycin, norfloxacin, enrofloxacin, chloramphenicol, colistin để điều trị Cần
lưu ý: không nên dùng liều kháng sinh cao vì dễ gây sốc cho heo mắc bệnh (Nguyễn
Như Pho, 2001)
Trang 342.4.4 Tiêu chảy do Escherichia coli
Vi khuẩn E coli gây cho heo 3 loại bệnh sau đây: nhiễm trùng máu, tiêu chảy
và bệnh phù thủng
Mầm bệnh: vi khuẩn E coli sinh độc tố hướng ruột
Lứa tuổi mắc bệnh: từ lúc sơ sinh đến sau khi cai sữa
Đường truyền lây: đường tiêu hóa do heo con liếm láp các chất dơ bẩn, phân heo mẹ, thức ăn rơi vãi, hoặc bú sữa ở vú viêm
Triệu chứng:
- Tiêu chảy trên heo con sơ sinh từ 0 - 4 ngày tuổi với các đặc điểm: phân màu vàng sệt, hoặc hơi xanh, với nhiều nước, trong thời gian tiêu chảy heo con vẫn bú, tuy nhiên suy nhược rất nhanh, lông dựng lên, đuôi cụp xuống, gầy còm, nằm chồng chất lên nhau Sau 2 - 3 ngày tiêu chảy, một số con chết, số còn lại nếu điều trị tốt sẽ khỏi bệnh
- Tiêu chảy giai đoạn từ 5 ngày đến 3 - 4 tuần: nguyên nhân phần lớn là do không tiêu thức ăn, thiếu chất sắt hoặc do các yếu tố chăm sóc kém Phân có màu trắng hoặc xám trắng, heo con gầy ốm, lông dựng lên, có thể có sốt hoặc không
- Tiêu chảy sau cai sữa: thường do cho ăn quá nhiều, heo con không tiêu hóa
hết thức ăn, thức ăn còn thừa trong ruột tạo điều kiện cho vi trùng E coli phát triển và
gây bệnh
Chẩn đoán:
Không thấy có triệu chứng ói mửa như các bệnh do virus, triệu chứng sốt có thể có hoặc không, ruột chỉ xung huyết, không thấy xuất huyết, không có vết loét hoặc hoại tử như trong bệnh phó thương hàn
Phòng và điều trị:
Tiêm phòng vaccin E coli cho heo nái 2 lần vào lúc 4 tuần và 2 tuần trước khi
sanh, kháng thể thụ động truyền qua sữa sẽ bảo hộ heo con phòng bệnh trong thời gian
bú mẹ
Trên các heo con mắc bệnh, cần tiến hành điều trị sớm với các biện pháp: cấp đủ nước, chất điện giải, vitamin, bảo vệ niêm mạc ruột và tiêu diệt vi trùng gây bệnh (Nguyễn Như Pho, 2001)
2.4.5 Tiêu chảy do Treponema hyodysenteriae (bệnh hồng lỵ)
Bệnh xuất hiện phổ biến ở lứa tuổi 6 - 12 tuần
Đường truyền lây: qua đường miệng
Trang 35Thời gian nung bệnh: 4 - 14 ngày
Mầm bệnh: chủ yếu do xoắn khuẩn Treponema hyodysenteriae, tuy nhiên thông thường còn có sự phụ nhiễm các loại vi trùng khác như Campylobacter coli,
Bacteroides vulgatus hoặc Fusobacterium necrophorum
Cơ chế sinh bệnh: vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng theo thức ăn xuống ruột già, tại đây vi khuẩn nhân số lượng, tấn công vào toàn bộ niêm mạc và lớp dưới niêm mạc, gây lở loét ruột và tiêu chảy ra máu Bệnh lây lan chậm trong đàn heo, tỷ lệ chết có thể đến 25%
2.4.6 Viêm ruột hoại tử do Clostridium perfringens type C
Đặc điểm: bệnh chủ yếu xảy ra trên heo con Heo con dưới 7 ngày tuổi thường mắc bệnh ở thể quá cấp hoặc cấp tính, với các dấu hiệu tiêu chảy ra máu; heo trên
1 tuần tuổi chỉ mắc bệnh với thể bán cấp tính
Đường truyền lây: đường miệng, thường cả đàn mắc bệnh
Thời gian nung bệnh: 24 giờ
Triệu chứng và bệnh tích:
- Thể quá cấp: xuất hiện trên heo mới sanh (khoảng 2 - 4 ngày tuổi) Heo con mệt, lười bú, tiêu chảy ra máu, chết nhanh sau 1 - 2 ngày tiêu chảy Mổ khám thấy xuất huyết rất nặng ở ruột non
- Thể cấp tính: thường xảy ra tên heo con từ 5 - 7 ngày tuổi Heo con tiêu chảy
ra máu (phân màu đen), chết sau 2 - 3 ngày mắc bệnh Ngoài sự xuất huyết, trên ruột non còn thấy nhiều vùng bị hoại tử hoặc bị loét
- Thể bán cấp tính: xảy ra trên heo con từ 1 tuần tuổi đến cai sữa, với các đặc điểm tiêu chảy kéo dài, phân màu xanh, không có máu, heo con suy yếu và chết sau
5 - 7 ngày tiêu chảy Trên ruột non có nhiều vùng bị hoại tử, không thấy có dấu hiệu xuất huyết (Nguyễn Như Pho, 2001)
Trang 362.4.7 Tiêu chảy do cầu trùng trên heo con
Bệnh tập trung vào giai đoạn 5 - 25 ngày tuổi, tỷ lệ chết có thể lên đến
15 - 20%, với các triệu chứng tiêu chảy phân trắng, sau vài ngày chuyển sang màu vàng, bệnh xuất hiện ở nước ta nhiều năm nay, song chỉ 5 năm trở lại đây mới có công
bố chính thức
Mầm bệnh: do 8 chủng cầu trùng, trong đó Isospora suis và Crytosporidium là
2 chủng phổ biến Các loại cầu trùng tấn công vào niêm mạc ruột non tạo nên sự thoái hóa, hoặc bất dưỡng tế bào niêm mạc, hoặc tạo các vết loét phủ fibrin trên niêm mạc
Giai đoạn tiếp theo là sự phụ nhiễm của virus hoặc vi trùng làm tình trạng nhiễm trùng ruột nặng nề hơn và khó điều trị
Triệu chứng:
Heo con:
- Tiêu chảy phân trắng sau đó chuyển sang vàng Phân hơi lỏng, tính chất giống như kem chảy, mùi phân rất tanh Heo con gầy ốm, lông xù, không có dấu hiệu sốt, ói mửa
- Nếu bị phụ nhiễm vi trùng hoặc virus, màu phân có thể thay đổi sang màu vàng đậm, hoặc đỏ, tính chất phân rất lỏng, không sền sệt như thể cầu trùng nguyên phát
Heo thịt, heo giống:
Ở heo trên 2 tháng tuổi, cơ thể đã tạo sự miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, do
đó heo chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy Thường sự nhiễm bệnh trên heo lớn, nhất là heo nái mang thai, là nguồn bài thải trứng cầu trùng,
từ đó nhiễm qua heo con sơ sinh
Chẩn đoán:
Để chẩn đoán bệnh cần lưu ý các điểm sau:
- Lứa tuổi mắc bệnh: tập trung từ 5 - 36 ngày tuổi
- Đặc điểm phân: vàng, sệt, không có màu; cần phân biệt với phân vàng loãng
do chứa nhiều nước trong các bệnh tiêu chảy do Salmonella, do Rotavirus, do
Coranavirus và viêm dạ dày ruột truyền nhiễm
- Kiểm tra noãn nang cầu trùng chứa trong phân (Oocyst) bằng phương pháp phù nổi trong dung dịch nước muối bão hòa, rồi tìm noãn nang qua kính hiển vi Phương pháp này dễ làm, kết quả chính xác nhưng đôi khi không tìm thấy được noãn nang do thời điểm thu thập phân quá sớm, lúc cầu trùng chưa hình thành noãn nang và bài xuất noãn nang ra ngoài
Trang 37Phòng bệnh: sát trùng và vệ sinh chuồng heo nái trước khi sanh (Nguyễn Như Pho, 2001)
2.5 Tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella spp 2.5.1 Tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Escherichia coli
Vi khuẩn E coli có khả năng tăng sức kháng đối với kháng sinh nhanh nhất
(Bùi Thị Tho, 2003) Đây là vấn đề cấp bách cần được nghiên cứu để tìm ra loại
kháng sinh mẫn cảm dùng trong điều trị các bệnh xảy ra do E coli
Các nhà khoa học người Anh thông báo kết quả xét nghiệm vi khuẩn tại bệnh
viện nhiễm trùng của thủ đô London Người ta đã tìm được 27% E coli và Klebsiella
pneumonia kháng lại gentamycin và apramycine ở người do E coli gây bệnh ở gia súc
truyền sang (Bùi Thị Tho, 2003)
Theo các nhà khoa học Liên Xô (1973), tình hình kháng thuốc của vi khuẩn của
tương tự Khi kiểm tra tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của các chủng E coli gây
bệnh trên bê, tác giả cho thấy: đã có 15 chủng (88%) đa kháng với 2 thuốc chlortetracyclin và oxytetracyclin, 14 chủng (82%) kháng streotomycin, 7 chủng (41%) kháng chloramphenicol, 6 chủng (35%) kháng lại furazolidon, 23% kháng lại polymycine, 18% kháng lại neomycin (Bùi Thị Tho, 2003)
Năm 1975, người ta đã biết được cấu tạo của gen kháng thuốc và phát hiện ra khả năng truyền các yếu tố gây bệnh, trong đó có sức kháng thuốc của vi khuẩn bằng
con đường tiếp hợp Trong số 522 chủng E coli phân lập từ bệnh phân trắng của heo con, có 34,8% chủng E coli kháng lại chloramphenicol và 10,2% chủng E coli kháng lại streptomycin Các tác giả đều nhận thấy rằng E coli là vi khuẩn có khả năng tăng sức kháng nhanh nhất E coli dễ dàng thích ứng với streptomycin và oxytetracyclin
(Bùi Thị Tho, 2003)
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Hạnh Lê, cho biết một khảo sát trong năm 2005 và
2006 của bệnh viện nhi Trung ương 2 cũng cho thấy tỷ lệ các chủng của E coli kháng
thuốc cao với ampicillin (95%), bactrim (trimethoprim - sulphamethaxazole) (85%), chloramphenicol (65%) và nalidixic acid (46%) Trước đây, bactrim được xem là chọn lựa số một trong việc điều trị bệnh lỵ thì nay thuốc gần như không đáp ứng trong điều trị bệnh này nữa (Thùy Dương, 2006)
Theo Nguyễn Ngọc Hải (2006), qua kết quả kiểm tra kháng sinh đồ của các
chủng E coli phân lập được cho thấy hiện tượng vi khuẩn đề kháng với nhiều loại kháng sinh 100% các chủng E coli phân lập được đề kháng với cefriaxone, bactrim
và cephalexin 71,4% E coli phân lập được đề kháng với colistin Chỉ có 7,7% các chủng E coli phân lập được mẫn cảm với kanamycin và 84,6% các chủng E coli phân
lập được mẫn cảm với gentamycin
Trang 38Hiện tượng đa kháng của E coli tăng rất nhanh Năm 1976, đã phát hiện 17,5% chủng E coli kháng với 2 loại thuốc và 6,3% đa kháng với 3 loại thuốc, không có
chủng nào đa kháng một lúc với 4; 5; 6 hay 7 loại thuốc Hiện nay kiểm tra, thấy tỷ lệ
E coli đa kháng với 3; 4 loại thuốc là phổ biến nhất Đặc biệt đã xuất hiện chủng E coli đa kháng một lúc với 5, 6 hay 7 loại thuốc với tỷ lệ tương ứng: 14,92%; 8,95% và
E coli có khả năng kháng chéo và các thuốc kháng chéo là những thuốc mà
E coli này chưa hề được tiếp xúc tong quá trình sống Những cá thể có khả năng phát
sinh đột biến của E coli chỉ khoảng 10-7 (cứ 10.000.000 cá thể sẽ có một cá thể có khả năng phát sinh đột biến tự nhiên) Vi khuẩn phân chia tế bào mỗi lần 40 phút, như vậy
cứ 22 giờ mỗi tế bào đột biến sẽ có 109 đời con (Bùi Thị Tho, 2003)
Cũng nhờ phương pháp này, để giải thích sự xuất hiện hiện tượng kháng thuốc
ở vi khuẩn một phần cũng tuân theo quy luật biến đổi ngẫu nhiên khách quan không phụ thuộc vào việc tế bào vi khuẩn có tiếp xúc với các chất kháng sinh hay không (Bùi Thị Tho, 2003)
Hiện tượng kháng đồng thời với trên 3 loại kháng sinh là phổ biến (chiếm 90,57%) và kiểu kháng thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (72,64%) là kháng với các loại kháng sinh: tetracyclin, bactrim, streptomycin và chloramphenicol (Cù Hữu Phú và ctv, 2001)
2.5.2 Tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Salmonella spp
Năm 1972, một đại dịch đã xảy ra ở Mexico do sự kháng chloramphenicol của
S Typhi Ngoài ra, sự kháng thuốc này của Salmonella còn xảy ra ở Ấn Độ, Thái Lan
và Việt Nam Sự kháng chloramphenicol đã thật sự trở thành vấn đề nghiêm trọng khi xảy ra ở Mỹ (Kenneth, 2011)
Năm 1974, sự đề kháng tetracyclin của Salmonella ở người và heo là nguyên
nhân làm bệnh xảy ra khắp nước Hà Lan Năm 1985, tại California trên 1.000 người
đã ngã bệnh vì ăn phải hamburger có nhiễm khuẩn Salmonella Newport đề kháng với
nhiều loại thuốc (Nguyễn Thượng Chánh, 2007)
Vi khuẩn Salmonella đã đề kháng cùng một lúc với nhiều thuốc như ampicilin,
chloramphenicol, streptomycin và tetracyclin Vào cuối thập niên 1990 tại Anh quốc,
vi khuẩn S Typhimurium DT104 đã hoành hành dữ dội trong chăn nuôi Một thời
gian sau đó, người ta đã phát hiện những chủng vi khuẩn này ở người và điều tai hại
Trang 39nhất là chúng đã đề kháng với nhiều loại thuốc kể cả với thuốc trimethroprime sulfa
và fluoroquinolone (Nguyễn Thượng Chánh, 2007)
Theo báo cáo của WHO (1997), đã có sự xuất hiện của những chủng
Salmonella đề kháng fluoroquinolone ở một số nước như Pháp, Đức, Liên Bang Nga,
Tây Ban Nha, Hà Lan và Anh
Năm 1998, hai bệnh nhân ở Đan Mạch chết do S Typhimurium DT104 kháng
fluoroquinolone là một ví dụ gây ra bởi sự kháng chất kháng sinh trong thức ăn gia súc (Molback et al., 1999)