1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu sử DỤNG INTERFERON TRONG PHÒNG BỆNH NEWCASTLE CHO gà 1 đến 2 TUẦN TUỔI

62 246 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀHơn nửa thế kỷ qua chất kháng sinh đã được sử dụng có hiệu quả như một vũkhí lợi hại góp phần đẩy lùi các loại bệnh nhiễm trùng do cả vi khuẩn và vi nấm thếnhưng đối v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 2

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Ngành: BÁC SĨ THÚ Y

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

MSSV: 3042854 Lớp: Thú Y K30

Cần Thơ, 05/2009

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

….   …

Đề tài: Nghiên cứu sử dụng interferon trong phòng bệnh Newcastle cho gà 1

tuần tuổi đến 2 tuần tuổi Do sinh viên: Nguyễn Ngọc Bích thực hiện tại Cần Thơ

từ tháng 03/2009 đến tháng 05/2009

Cần Thơ, ngày …tháng…năm 2009 Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2009

Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn

HỒ THỊ VIỆT THU

Cần Thơ, ngày… tháng…năm 2009

Duyệt khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Xin kính dâng lên ông bà, cha mẹ lòng biết ơn sâu sắc và sự quý trọng nhất,những người luôn cố gắng tạo mọi điều kiện tốt để tôi thực hiện được hoài bão củamình

Xin chân thành gởi lời cảm ơn đến

Cô Hồ Thị Việt Thu đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợicho tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Cô Trần Thị Minh Châu – Cố vấn học tập đã tận tình chỉ dạy và giúp đỡ tôitrong suốt 5 năm học vừa qua

Quý Thầy, Cô Trường Đại Học Cần Thơ, đặc biệt là Thầy Cô bộ môn Chănnuôi và bộ môn Thú Y khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng đã tận tìnhtruyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tại trường

Chị Huỳnh Ngọc Trang, chị Mai Trương Hồng Hạnh, chị Nguyễn Thị ThuTrang đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Các bạn trong và ngoài lớp Thú Y K30 đã giúp đỡ và động viên tôi trong quátrình học tập cũng như trong cuộc sống

Xin kính gởi đến quý Thầy, Cô, người thân lời chúc sức khỏe, thành công vàxin nhận nơi tôi lòng biết ơn sâu sắc

Xin gởi đến bạn bè tôi lời chúc sức khoẻ và lời chúc thành công trên conđường sự nghiệp tương lai

Nguyễn Ngọc Bích

Trang 5

MỤC LỤC

Trang tựa i

Trang duyệt ii

Lời cảm tạ iii

Mục lục iv

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Danh mục chữ viết tắt ix

Tóm lược x

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 13

2.1 INTERFERON VÀ SỰ BIỂU HIỆN INTERFERON-GÀ TRÊN BỀ MẶT BÀO TỬ BACILLUS SUBTILIS 13

2.1.1 Khái niệm interferon 13

2.1.2 Tình hình nghiên cứu interferon 13

2.1.3 Phân loại interferon 15

2.1.4 Sự tạo thành interferon 16

2.1.5 Các đặc tính cơ bản 17

2.1.6 Tác dụng của interferon 18

2.1.7 Cơ chế tác động của interferon 19

2.1.8 Ứng dụng của interferon trong phòng và trị bệnh cho gia súc, gia cầm .20

2.1.9 Sự biểu hiện interferon- α gà trên bề mặt bào tử B subtilis 21

2.2 BỆNH NEWCASTLE TRÊN GÀ 23

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 23

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

2.2.3 Căn bệnh học 25

2.3 TRUYỀN NHIỄM HỌC 29

2.3.1 Loài mắc bệnh 29

Trang 6

2.3.2 Chất có mầm bệnh 29

2.3.3 Đường lây lan 30

2.4 CƠ CHẾ SINH BỆNH 30

2.5 TRIỆU CHỨNG VÀ BỆNH TÍCH 31

2.5.1 Triệu chứng 31

2.5.2 Bệnh tích 31

2.6 CHẨN ĐOÁN 31

2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 31

2.6.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm 32

2.7 PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH 33

2.7.1 Phòng bệnh 33

2.7.2 Trị bệnh 33

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 35

3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 35

3.1.1 Thời gian và địa điểm 35

3.1.2 Đối tượng thí nghiệm 35

3.1.3 Vật liệu thí nghiệm 35

3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 35

3.2.1 Chuẩn bị nuôi gà để thí nghiệm 35

3.2.2 Phương pháp xác định nồng độ virus qua liều ELD (Embryo Lethal Dose) trên phôi gà 36

3.2.3 Bố trí thí nghiệm 37

3.2.4 Phương pháp xét nghiệm 38

3.2.5 Qui trình thực hiện phản ứng HA 39

3.2.6 Qui trình thực hiện phản ứng HI 41

3.2.7 Thống kê và xử lý số liệu 43

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44

4.1 KẾT QUẢ TÍNH LIỀU GÂY NHIỄM TRÊN PHÔI GÀ 44

4.2 KẾT QUẢ THEO DÕI TỶ LỆ MẮC BỆNH TRÊN GÀ THÍ NGHIỆM 45

4.3 KẾT QUẢ THEO DÕI TỶ LỆ CHẾT TREN GA THI NGHIỆM 46

Trang 7

4.4 KẾT QUẢ KHẢO SAT TRIỆU CHỨNG LAM SANG Ở GA THI NGHIỆM

48

4.5 KẾT QUẢ KHẢO SÁT BỆNH TÍCH CỦA BỆNH NEWCASTLE QUA MỔ KHÁM 50

4.6 KẾT QUẢ KIỂM TRA VIRUS BẰNG PHẢN ỨNG HA 52

4.7 KẾT QUẢ PHAN BỐ HIỆU GIA CỦA CAC MẪU BỆNH PHẨM 53

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54

5.1 KẾT LUẬN 54

5.2 ĐỀ NGHỊ 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ CHƯƠNG 59

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các loại IFN và các thuốc kích thích tế bào sản sinh IFN 17

Hình 2.1 Sơ đồ cơ chế tác động của interferon 20

Hinh 2.2 Cấu trúc virus newcastle 26

Bảng 3.1 Thí nghiệm tính ELD50 37

Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm sử dụng interferon cho gà con 1 tuần tuổi 38

Bảng 3.3 Trình tự tiến hành phản ứng HA 41

Bảng 3.4 Trình tự tiến hành phản ứng HI 43

Bảng 4.1 Kết quả thí nghiệm tính liều ELD50 44

Bảng 4.3 Tỷ lệ chết của gà thí nghiệm theo thời gian 46

Bảng 4.4 Tần số xuất hiện triệu chứng của gà bệnh thí nghiệm 48

Bảng 4.5 Tần số xuất hiện bệnh tích gà bệnh thí nghiệm 50

Bảng 4.6 Kết quả kiểm tra virus newcastle bằng phản ứng HA 52

Bảng 4.7 Phân bố hiệu giá kháng thể của các mẫu bệnh phẩm 53

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ cơ chế tác động của interferon 9

Hình 2.2 Cấu trúc virus Newcastle 15

Hình 4.1 Phân gà mắc bệnh có màu trắng xanh 38

Hình 4.2 Hậu môn gà dính phân trắng 38

Hình 4.3 Gà chảy nước dãi 38

Hình 4.4 Gà ủ rũ, bỏ ăn 38

Hình 4.5 Dạ dày tuyến xuất huyết 40

Hình 4.6 Khí quản xuất huyết 40

Hình 4.7 Ruột non xuất huyết 40

Hình 4.8 Hạch manh tràng viêm, xuất huyết 40

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

PMV: Paramyxovirus

Trang 11

TÓM LƯỢC

Đề tài “Nghiên cứu sử dụng interferon trong phòng bệnh Newcastle cho gà 1đến 2 tuần tuổi” Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức trong đó có 4 nghiệm thức sử dụng

interferon chuẩn và interferon – Bacillus subtilis với liều 5.000 UI/gà/ngày qua hai

đường cấp là tiêm bắp và nhỏ mắt, và một lô đối chứng virus không sử dụnginterferon Sau khi cấp interferon 8 giờ, chúng tôi gây nhiễm gà thí nghiệm bằngvirus Newcastle chủng cường độc venlogenic Qua thời gian nghiên cứu, chúng tôighi nhận được các kết quả như sau ở các lô đối chứng và nghiệm thức gà nhiễm

bệnh và chết với tỷ lệ là 100%, ở nghiệm thức IFN- B subtilis đường cấp nhỏ mắt

thời gian gà sống kéo dài đến ngày thứ 9 Kết quả khảo sát tần suất xuất hiện triệuchứng gà bệnh Newcastle cao nhất là bỏ ăn, ủ rũ, uống nhiều nước là (97,5%), vàthấp nhất là chảy nước dãi với tỷ lệ là (22,5%) Tần suất xuất hiện bệnh tích gà bệnhNewcastle cao nhất là xuất huyết dạ dày tuyến với tỷ lệ 95 % và thấp nhất là nãoxuất huyết với tỷ lệ 12,5%

Trang 12

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hơn nửa thế kỷ qua chất kháng sinh đã được sử dụng có hiệu quả như một vũkhí lợi hại góp phần đẩy lùi các loại bệnh nhiễm trùng do cả vi khuẩn và vi nấm thếnhưng đối với virus thì lại không có hiệu quả, điều này ảnh hưởng trực tiếp và gâythiệt hại nặng nề cho nhà chăn nuôi khi có dịch bệnh do virus gây ra Thêm vào đótác dụng phòng bệnh của vaccine chỉ tạo được kháng thể đặc hiệu với từng khángnguyên tương ứng và chỉ đặc hiệu với loại virus đã tiêm phòng

Những nghiên cứu mới hiện nay cho thấy interferon được xem là biện pháp

lý tưởng để chống bệnh do virus gây ra vì interferon được hình thành tại chổ vànhanh chóng hơn kháng thể đặc hiệu Interferon là một loại protein đặc biệt đượcsinh ra trong tế bào sau khi bị nhiễm virus Interferon ức chế quá trình tổng hợpARN của virus lạ, vì vậy mà virus có thể xâm nhập vào tế bào mà không nhân lênđược (Nguyễn Cẩm Vân, 2001) Do đó interferon đóng vai trò quan trọng trong cửangõ miễn dịch đầu tiên của cơ thể chống lại virus xâm nhập vào cơ thể vật chủ

Những năm gần đây người ta đã ứng dụng interferon trong việc phòng chốngbệnh do virus gây nên Interferon có thể ức chế rộng rãi nhiều loại virus khác nhau

vì nó không có tính đặc hiệu đối với virus mà chỉ có tính đặc hiệu đối với tế bào

chủ Trong đó, sản phẩm interferon- α gà biểu hiện trên bào tử Bacillus subtilis

đang được thử nghiệm để điều trị các loại virus trên gà Bệnh Newcastle là bệnh dovirus gây ra, bệnh đặc biệt nguy hiểm với tỷ lệ chết cao có thể lên đến 100% tổngđàn, do đó việc nghiên cứu phòng và trị bệnh Newcastle là vấn đề rất cần thiết Vì

thế chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu sử dụng interferon trong phòng bệnh

Newcastle cho gà từ 1 tuần tuổi đến 2 tuần tuổi”

Mục tiêu đề tài:

- Thử hiệu quả của interferon trong phòng bệnh Newcastle cho gà từ 1- 2 tuần tuổi

- So sánh hiệu quả phòng bệnh của IFN chuẩn và IFN – Bacillus subtilis giữa các

nghiệm thức qua 2 đường tiêm bắp và nhỏ mắt

Trang 13

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 INTERFERON VÀ SỰ BIỂU HIỆN INTERFERON-  GÀ TRÊN BỀ MẶT

BÀO TỬ BACILLUS SUBTILIS

2.1.1 Khái niệm interferon

Năm 1937, Findlay và Mac Callum nhận thấy nếu gây nhiễm virus thunglũng Rift cho khỉ, sau đó nhiễm tiếp virus sốt vàng liều gây chết thì khỉ không bịbệnh sốt vàng Hai ông gọi hiện tượng này là can thiệp (interference) của virus(trích dẫn Phạm Văn Ty, 2005)

Năm 1957, Isaacs và Lindenmann ở Viện nghiên cứu Y học Quốc giaLondon gây nhiễm virus cúm bất hoạt vào phôi gà đang phát triển, sau đó lại gâynhiễm tiếp bằng virus cúm cường độc thì virus cường độc này không thể nhân lênđược trong phôi thai gà Như vậy virus cúm đã hình thành một chất có khả năngngăn cản sự gây nhiễm của virus cúm cường độc Hai ông cho rằng hiện tượng này

có liên quan đến sự tạo thành trong tế bào nhiễm virus một chất đặc biệt và đặt têncho nó là interferon viết tắt là IFN

Interferon (IFN) là những glycoprotein xuất hiện ở trong tế bào bị nhiễmvirus hay sau sự kích thích cảm ứng IFN gây nên ở trong tế bào trạng thái khángvirus, những tế bào đã chịu ảnh hưởng của IFN sẽ làm giảm sự nhân lên của ARNhay ADN của virus Interferon có thể lan truyền từ tế bào này đến tế bào kia, điềunày có thể giải thích tại sao hoạt động bảo vệ của cơ thể lại nhanh như vậy để chốnglại virus ở tất cả các cơ quan cảm ứng Sự tổng hợp IFN một cách tốt nhất thể là khi

nó có mặt hai sợi xoắn ARN (Nguyễn Thị Chính và Trương Thị Hòa, 2005)

2.1.2 Tình hình nghiên cứu interferon

Năm 1805, Jenne nhận thấy khi chủng đậu cho người chốc mép vì nhiễmHerpes thì nốt đậu ít khi mọc Năm 1935, Magraxi phát hiện ở thỏ khi đã bị nhiễmmột loại virus Herpes thì sẽ đề kháng với một loại virus Herpes khác (trích dẫnTuyết Quỳnh, 2004)

Từ năm 1950, hiện tượng đối kháng giữa các virus ngày càng được khám phánhiều hơn khi kỹ thuật nuôi cấy tế bào phát triển Năm 1957, khi nuôi cấy virus cúmtrong phôi gà, Isac và Lidenman đã phát hiện ra bản chất của hiện tượng giao hoán

là do một chất đặc biệt đó là interferon

Trang 14

Năm 1980, các nhà khoa học Mỹ đã tách gen mã hoá cho IFN cấy vào tế bào

nấm men để sinh IFN, sau này người ta dùng E Coli thay cho nấm men (Phạm Văn

Ty, 2005)

Năm 1980, hai nhà khoa học Mỹ là Boyer và Coken đã tách được gen mã

cho IFN, tách dòng rồi biến nạp vào Saccharomyces cerevisiae, sau này dùng E.

coli thay cho nấm men (Phạm Văn Ty, 2005).

Năm 1982, Trung Quốc đã sản xuất thành công IFN bằng phương pháp côngnghệ sinh học Trước đây, khi dùng tế bào bạch cầu, mỗi tế bào chỉ tạo 100- 1000phân tử IFN, nay sản xuất bằng công nghệ sinh học mỗi tế bào có thể cho đến200.000 phân tử (tăng 100-1.000 lần ) (Phạm Văn Ty, 2005)

Năm 1987, Hoofnagle đã thành công trong việc dùng interferon để điều trịviêm gan C (trích dẫn Tuyết Quỳnh, 2004)

Năm 1989 ở Mỹ, interferon được dùng chữa trị cho bệnh nhân ung thư bàngquang, ung thư vú và u hắc tố (trích dẫn Tuyết Quỳnh, 2004)

Carry Canter- nhà khoa học người Phần Lan đã xây dựng phương pháp chiết

tế bào bạch cầu từ máu rồi cho nhiễm virus để các tế bào này tổng hợp nên IFN.Phương pháp có giá thành cao vì nguồn cung cấp rất hạn chế (Phạm Văn Ty, 2005)

Năm 1991, cơ quan quản lí dược phẩm và thực phẩm FDA (Food & DrugAdministration) của Hoa kỳ cấp giấy phép dùng interferon để chữa trị viêm gan Cvới tên thương phẩm là Roferon và IntronA (Phạm Văn Ty và Vũ Nguyên Thành,2001)

Ở Hy Lạp (1998), interferon đã được dùng để chữa khỏi cho 5/10 bệnh nhânung thư máu Đối với các bệnh ung thư xương, vòm họng, phổi, não, u hắc tố và cảviêm gan D mãn tính khi dùng interferon để điều trị cũng cho kết quả khả quan

Interferon còn dùng kết hợp với Tribavirin để chống viêm gan B, C và đượccoi là thuốc phụ trợ ZDV (AZT) trong điều trị bệnh AIDS (Phạm Văn Ty, 2005)

Năm 1999, Bệnh viện Bạch Mai và Học viện Quân y các thực nghiệm sửdụng interferon trong điều trị viêm gan B & C mãn tính cho kết quả khả quan.Trong trường hợp này interferon có tác dụng loại trừ virus gây nhiễm, chuyển đổihuyết thanh, cải thiện men gan và ngăn ngừa ung thư tiến triển (trích dẫn TuyếtQuỳnh, 2004)

Trang 15

Năm 2000, Việt Nam phối hợp với các nhà khoa học Ucraina đã sản xuất thửthành công IFN- tại viện vaccine Nha Trang theo công nghệ mới sử dụng phage

gắn gen mã cho IFN rồi cho phage nhân lên trong E coli (Phạm Văn Ty, 2005).

Năm 2003, viện vaccine Nha Trang cũng bắt đầu nghiên cứu sản xuất thuốcnhỏ mũi làm từ interferon để phòng chống bệnh cúm, các bệnh truyền nhiễm đường

hô hấp do virus (trích dẫn Tuyết Quỳnh, 2004)

Ở nước ta hiện đang lưu hành nhiều loại thuốc từ interferon với các tên biệtdược như RoferonA (của hãng Roche,Thụy Sỹ), IntronA (Mỹ), Shanthaferon (ẤnĐộ), La feron (Ucraina), Alpha Feron (Jedang- Hàn Quốc) và Superferon (ViệnVaccine Việt Nam) đều làm từ loại alpha 2a và 2b, trong khi đó ở Trung Quốcngười ta đã sử dụng cả loại gamma (trích dẫn Tuyết Quỳnh, 2004)

2.1.3 Phân loại interferon

Theo Phạm Văn Ty (2005), các interferon được chia làm 2 type: I và IIType I bao gồm IFN- và IFN- IFN- có ít nhất 15 type phụ có khốilượng phân tử khoảng 18kDa Các gen mã hóa cho chúng có 85% tính tương đồng.Nguồn tế bào chính sản xuất IFN- là bạch cầu đơn nhân IFN-: có khoảng 20polypeptit, mỗi một polypeptit được mã hoá bởi các gen riêng lẽ IFN- làglycoprotein với khối lượng phân tử 20kDa, là sản phẩm đơn gen, tế bào chủ yếusản xuất IFN- là nguyên bào sợi

IFN type I có 4 chức năng chính

+ Ức chế sự sao chép của virus : chức năng kháng virus của IFN typ 1 là khimột tế bào bị nhiễm virus thì IFN được tiết ra để bảo vệ các tế bào bên cạnh chưa bịnhiễm

+ Ức chế sinh tổng hợp protein : IFN- được sử dụng như một tác nhânchống tăng sinh trưởng của các khối u

+ Làm tăng khả năng tan của các tế bào giết tự nhiên : chức năng quan trọngcủa các tế bào NK (giết tự nhiên – Natural killer) là giết các tế bào gây nhiễm

+ Điều chỉnh sự biểu hiện của phân tử MHC I (Major histocompatibiltycomplex) và ức chế hoàn toàn biểu hiện của MHC II : hầu hết tế bào lympho T tiêuhuỷ các kháng nguyên lạ mà nó nhận biết được từ trước để phân biệt với MHC.Interferon type 1 đưa hiệu quả thời kỳ đáp ứng miễn dịch trung gian lên cao bằngcách nâng cao hiệu các lympho bào T giết trung gian

Trang 16

Type II là IFN- hay còn gọi là IFN miễn dịch vì chúng chủ yếu là do tế bào

T hoạt hóa tạo thành nên và thực chất cũng là một lymphokin IFN-là glycoproteingồm 2 chuỗi giống nhau với khối lượng phân tử 21kDa và 24kDa được mã hóa bởicác gen giống nhau

IFN- có rất nhiều chức năng nhưng chủ yếu là:

+ IFN- có tác dụng kích thích hoạt động mạnh của các tế bào đơn nhân.Trực tiếp tổng hợp enzyme trong đường hô hấp giúp đại thực bào giết các vi sinhvật gây độc và các tế bào ung thư

+ IFN- kích thích sự hoạt hoá tiêu hủy của các tế bào giết tự nhiên nhưng íthơn là IFN type 1

2.1.4 Sự tạo thành interferon

Các yếu tố thường xuyên kích thích sinh IFN có thể là: vi khuẩn, virus,protein, nội độc tố vi khuẩn, các lectin DHA (có mặt trong các loại đậu dùng trongthực phẩm), phức hợp kháng nguyên + kháng thể, một số hoá chất và phức hợpkháng nguyên, dị nguyên, nước miếng của các loại côn trùng hút máu (muỗi ), một

số hợp chất cao phân tử poly IC, poly GC… (Nguyễn Thị Chính và Ngô Tiến Hiển,2001)

Các thứ thuốc dưới dạng uống và dưới dạng tiêm kích thích sinh IFN như:Theophylin, Cofein, Dipyridamol, Papaveria, No- spa, Dibazol… là thuốc uốngkích thích sinh IFN tốt, còn thuốc tiêm kích thích sinh IFN tốt là : Dibazol, No – spa(Nguyễn Thị Chính và Ngô Tiến Hiển, 2001)

Trang 17

Bảng 2.1 Các loại IFN và các thuốc kích thích tế bào sản sinh IFN

Loại IFN mã hoá Số gen Tế bào sản sinh ra IFN Thuốc cảm ứng sinh IFN

Các mảnh payer ruột thừa Bạch cầu đơn nhân ở phổi Các hạch bạch huyết

Nguyên bào sợi( Fibroblaste)

Tế bào biểu mô ( Epithelium)

Tế bào lympho T Đại thực bào

Virus: vaccine Sabin phòng bại liệt, vaccine sởi, quai bị, cúm Các thuốc giãn mạch: Theophyllin, Piradamon, Dibazol

Tiloron (Amixin) Poly – Guanin (Arn hai mạch tổng hợp)

Nấm men rượu

Saccharomyces cervisiae

Vaccine ho gà+ giải độc

tố uốn ván + bạch hầu Vaccine vi khuẩn

Kkebsiella pneumoniae, Hemophillus influenzae

ở 85oC trong 1 giờ

Tính nhạy cảm của IFN với enzyme phân hủy protein: do bản chất là proteinhay glycoprotein, nên IFN dễ bị phân hủy bởi các men tiêu hóa protein như trysin,chymotrypsin và papain

Trang 18

Tính đặc hiệu theo loài: IFN có tính đặc hiệu cho từng loài.

Tính kháng nguyên: IFN từ các loài động vật khác nhau có cấu trúc khángnguyên khác nhau, tuy nhiên tính kháng nguyên này rất yếu

Interferon xuất hiện sớm chỉ sau 1 -2 giờ sau khi tế bào được kích thích IFNđược sản sinh ra nhưng chỉ tồn tại trong máu một vài ngày đến một vài tuần lễ(Phạm Văn Ty, 2005)

IFN có tác dụng ức chế không đặc hiệu đối với các virus và nhiều loại tế bàoung thư IFN ngăn cản sự nhân lên của nhiều loại virus khác nhau chứ không phải làchỉ với virus đã cảm ứng sinh IFN

IFN không tác động trực tiếp lên virus như kháng thể, chúng ngăn cản sựnhân lên của virus theo một cơ chế đặc biệt – cơ chế enzyme (Nguyễn Thị Chính,Ngô Tiến Hiển, 2001)

2.1.6 Tác dụng của interferon

Chức năng sinh học quan trọng nhất của IFN là cảm ứng để tế bào sản sinh

ra protein ngăn cản sự khởi đầu dịch mã và phá hủy mARN của virus Ở các bệnhnhiễm virus như cúm, sởi, sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản…, vào những ngàyđầu IFN xuất hiện trong máu với hàm lượng tăng dần Lượng IFN càng tăng thì sốlượng virus càng giảm và bệnh càng mau bị đẩy lùi Nhiều người cho rằng vai trò

ức chế sự nhân lên của virus trong giai đoạn đầu chủ yếu do IFN, vì IFN được hìnhthành tại chỗ và nhanh chóng hơn kháng thể đặc hiệu, còn kháng thể xuất hiện sauchỉ có tác dụng lâu dài chống tái nhiễm (Phạm Văn Ty, 2005)

IFN có tác dụng ức chế sự tăng sinh nhanh chóng của tế bào ác tính, điều nàycũng do tác động ngăn cản quá trình tổng hợp protein IFN- được dùng để ức chế

sự tăng sinh của các tế bào ung thư

IFN có vai trò hoạt hóa tế bào NK để chúng phá hủy tế bào đích nhiễm virus.IFN có tác dụng tăng cường sự biểu hiện của glycoprotein MHC-I và II trên

bề mặt tế bào, tạo điều kiện cho các tế bào của hệ thống miễn dịch nhận diện khángnguyên virus

IFN- với vai trò là lymphokin tham gia vào quá trình điều hòa miễn dịch,thúc đẩy quá trình biệt hóa của lympho T, NK, đại thực bào (Phạm Văn Ty, 2005)

Trang 19

2.1.7 Cơ chế tác động của interferon

Khi virus hoặc các tác nhân khác cảm ứng sản sinh IFN xâm nhập vào tếbào, sau vài giờ hoặc sau một ngày IFN sẽ được hình thành IFN không tác độngtrực tiếp vào virus như kháng thể mà tác động thông qua các enzyme của tế bào khi

tế bào hoạt động Quá trình tác động đó dẫn đến kết quả cuối cùng là tế bào mất khảnăng tạo các protein của virus, nghĩa là làm cho virus thế hệ con không đủ chất liệuprotein để hình thành nên vỏ capsid IFN ở ngoài tế bào, tác động vào các thụ thể ởmàng tế bào Từ đó IFN tác động như một hormon, nhờ AMP vòng (cAMP: CycleAdenosine Monophotphate) truyền tin vào nhân tế bào, cảm ứng bộ gen tế bào tổnghợp ra ít nhất là hai enzyme: enzyme protein kinase là enzyme tổng hợp 2,5A (2,5oligo –iso- Adenylate Synthetase)

Enzyme protein kinaza photphorin hoá một yếu tố của tế bào ức chế sự hìnhthành một phức hợp (gọi là phức hợp khởi động dịch mã) từ đó ức chế quá trìnhdịch mã mARN của virus thành protein (ức chế quá trình tổng hợp protein virus)

Enzyme tổng hợp 2,5A (2,5 oligo –iso- Adenylate Synthetase) sản sinh ra2,5A Sản phẩm 2,5A hoạt hoá một enzyme Endonucle tế bào Enzyme này phânhuỷ các mARN tự do của virus Các mARN tự do là các phân tử mARN viruskhông kết hợp được với các ribosome tế bào (để tạo thành các poliribosom) đều bịenzyme endonuclease phân huỷ, do đó tế bào không tổng hợp các protein virus(Nguyễn Thị Chính, Ngô Tiến Hiển, 2001)

Trang 20

(Nguồn: Nguyễn Thành Đạt, 2001)

Hình 2.1 Sơ đồ cơ chế tác động của interferon

2.1.8 Ứng dụng của interferon trong phòng và trị bệnh cho gia súc, gia cầm

Theo Hồ Nhân (2007), thì IFN được ứng dụng trong thú y ở các lĩnh vực sau:

Interferon được sử dụng như là tá dược trong vaccine

- Đối với gia cầm: IFN- khi được dùng chung với kháng nguyên có tác dụngtăng cường đáp ứng kháng thể thứ cấp duy trì nồng độ cao trong một thời gian dài.Hơn nữa, việc kết hợp kháng nguyên với IFN- đã làm giảm liều sử dụng vaccine

- Đối với gia súc: IFN- và IFN- được sử dụng kết hợp với vaccine trongphòng bệnh lở mồm long móng, hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo chohiệu quả cao PRRS (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome)

Interferon dùng chẩn đoán bệnh

- Interferon- dùng chuẩn đoán: bệnh lao ở bò (Bovine tuberculosis), John’sdisease, Brucellosis ngoài ra còn dùng chẩn đoán bệnh lao, bệnh phong hủi ở người

Trang 21

- Interferon-dùng chẩn đoán bệnh IBR (Infectious Bovine Rhinotracheitis).

Interferon dùng trong phòng, trị bệnh cho gia súc, gia cầm

Sử dụng interferon- trong việc phòng, trị bệnh cho gia súc, gia cầm là mộtgiải pháp thay thế kháng sinh an toàn - hiệu quả cao

+ Đối với trâu, bò

- Bệnh viêm đường hô hấp: Bovine herpesvirus 1- BHV 1 là nguyên nhângây nên bệnh viêm đường hô hấp trên ở bò, đây là bệnh truyền nhiễm do virus xảy

ra phổ biến trên toàn thế giới với các triệu chứng điển hình như sốt, sẩy thai và kèmtheo các triệu chứng hô hấp khác Khi bò mắc bệnh này nếu được điều trị sớm vớiinterferon- thì sẽ giảm triệu chứng lâm sàng, giảm tỷ lệ chết do nhiễm khuẩn kếphát

- Bệnh viêm vú: liệu pháp sử dụng kháng sinh chỉ mang lại hiệu quả vừa phảinên việc kết hợp điều trị với interferon đã mang lại hiệu quả cao hơn, giảm hiệntượng kháng thuốc của vi khuẩn và vấn đề tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chănnuôi

- Bệnh do Salmonella: điều trị kết hợp với interferon- đã làm giảm nhiễmtrùng máu, giảm sốt, hạn chế tiêu chảy và tỷ lệ chết

+ Đối với heo: interferon- được sử dụng như là một chất tăng cường tácdụng của hệ miễn dịch không đặc hiệu trong trường hợp con vật mắc các bệnhtruyền nhiễm do virus như hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo PRRS(Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome), bệnh viêm dạ dày ruột truyềnnhiễm (TGE- Transmissible gastroenteritis) …

+ Đối với gia cầm

- Tăng sức đề kháng với bệnh truyền nhiễm do Salmonella, E.coli…

- Ứng dụng hiệu quả trong điều trị các bệnh do virus gây ra như: cúm,Marek, Gumboro, viêm gan B do virus ở gia cầm

2.1.9 Sự biểu hiện interferon- α gà trên bề mặt bào tử B subtilis

Bacillus spp là vi khuẩn Gram (+), hoại sinh, hiếu khí, hình que, tạo nội bào

tử và hiện diện trong đất, nước, thực vật và cả thực vật đang thối rữa Cho đến nay,

giống Bacillus có ít nhất 65 loài chủ yếu phân thành 5 nhóm khác nhau dựa trên trình tự 16S rRNA (Priest, 1993) và Bacillus subtilis (B subtilis) thuộc nhóm II.

Trang 22

Các báo cáo cho thấy B subtilis gây kích thích miễn dịch hệ thống và miễn

dịch tế bào sau khi uống vào đường tiêu hóa và làm giảm tiêu chảy (Mazza, 1994)

Tác dụng của bào tử B subtilis như probiotics hay tác nhân cạnh tranh đã được xác

định khi đưa vào đường miệng gà con 1 ngày tuổi với lượng 2,5 x 108 bào tử B.

subtilis đã ngăn chặn được sự lây nhiễm của E coli 078:K80 (La Ragione và ctv,

2001), với lượng 1 x 109 bào tử B subtilis đủ để ức chế Salmonella enterica (La

Ragione và ctv, 2003)

Các nghiên cứu in vivo cho thấy, mặc dù B subtilis trong probiotics ở dạng

bào tử nhưng khi vào đường ruột sẽ vẫn tiến hành chu kỳ sống của mình: bào tử nẩy

mầm, tăng sinh và lại tạo bào tử Điều này giải thích cho sự ứng dụng rộng rãi B.

subtilis ở dạng bào tử ngủ (dormant spores) sản xuất các probiotics thương mại cho

người và động vật (Tran Thu Hoa và ctv, 2001)

Với những ưu điểm trên của B subtilis, người ta nghiên cứu tạo ra sản phẩm biểu hiện interferon- α gà trên bề mặt bào tử B subtilis và tiến hành thử nghiệm in

vivo trên bệnh Newcastle ở gà.

Trang 23

2.2 BỆNH NEWCASTLE TRÊN GÀ

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Năm 1833, lần đầu tiên Petemi mô tả tỉ mỉ về một trận dịch gà ở Hungari Năm

1880, Denprato ở Ý bắt đầu phân biệt bệnh Dịch tả với Tụ huyết trùng gà và gọi tên

là Typhus exudavitus gallinarum Năm 1901, Xentani tìm ra căn bệnh là một virus

(trích dẫn Nguyễn Trường Giỏi,1999)

Bệnh Newcastle xảy ra lần đầu tiên vào năm 1926 tại Java, Indonesia(Kraneveld, 1926) và ở Newcastle- upon- Tyne, Anh (Doyle, 1927) Từ đó, Doyle

đã đặt tên bệnh là Newcastle để tránh nhằm lẫn với các bệnh khác Sau đó, có nhiềubài báo cáo về sự bùng phát của bệnh ở Châu Âu giống với những gì người ta biết

về bệnh Newcastle đã từng xảy ra trước đó vào năm 1926 Levine (1964) trích dẫncủa Ochi và Hashimoto, cho rằng bệnh có thể xảy ra sớm hơn ở Hàn Quốc vào năm1924

Năm 1927, Doyle mô tả bệnh Newcastle là bệnh truyền nhiễm cấp tính vớibệnh tích chủ yếu là xuất huyết ở đường tiêu hóa Đặc trưng của bệnh là virus gâybệnh có tính hướng nội tạng do chủng velogenic gây ra Bệnh còn được gọi tên làviscerotropic velogenic Newcastle disease (VVND)

Tại Mỹ năm 1930, bệnh thường xảy ra ở thể mãn tính kèm theo rối loạn hệ

thần kinh trung ương, vì vậy bệnh còn có tên Pneumoencehalitis (Saif, 2008 ).

Beaudette và Black (1946) mô tả bệnh Newcastle là bệnh cấp tính xảy ra vớibệnh tích xuất hiện ở đường hô hấp và thần kinh; xảy ra chủ yếu ở gà con, ở gà lớn

có tỷ lệ chết thấp, do chủng mesogenic gây ra

Năm 1948, Hitchner và Johnson mô tả bệnh xảy ra ở thể nhẹ với triệu chứng

hô hấp, có tỷ lệ chết thấp Bệnh do chủng lentogenic gây ra

Đầu những năm 1960, có nhiều báo cáo về việc sử dụng vaccine để chống lạichủng virus có độc lực cao ở Trung Đông (Chu và Rizk, 1971)

Theo ghi nhận của Walker và ctv (1973), ở Mỹ đã áp dụng thành côngchương trình phòng bệnh ở Nam California Bệnh đã được khống chế thông quaviệc tiêu hủy những chim bệnh và quản lý chặt chẽ việc tiêm phòng những loài giacầm mẫn cảm bệnh

Năm 1980, người ta phát hiện bệnh xảy ra trên bồ câu và virus gây bệnhNewcastle được đặt tên là Pigeon paramyxovirus type 1 (PPMV- 1), mặc dù trên

Trang 24

thực tế thì chủng virus gây bệnh được xác định là virus gây bệnh trên gia cầm (Saif,2008).

Tại đảo Western của Scotland năm 1986, một trận dịch xảy ra làm chết toàn

bộ gà ở đây, người ta tìm thấy chủng virus gây bệnh Newcastle trên đàn gà ở địaphương (Saif, 2008)

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, bệnh Newcastle đã xuất hiện ở khắp hai miền Nam và Bắc.Trong thời kỳ thuộc Pháp, bệnh được gọi là dịch tả gà Năm 1933, Phạm VănHuyến có mô tả một bệnh dịch tả gà mà tác giả gọi là dịch tả gà giả Năm 1938,Vittoz báo cáo về một bệnh mà tác giả gọi là “dịch tả gà giả Nam bộ” (trích dẫnDương Nghĩa Quốc, 1997) Tuy nhiên, bệnh được chính thức ghi nhận qua chẩnđoán ở phòng thí nghiệm vào năm 1949 Từ đó, Newcastle được xem là bệnh gâytác hại lớn nhất đối với nền chăn nuôi gà ở Việt Nam (Tran Đinh Tu et al, 1998)

Giai đoạn 1955 - 1959, phòng Thú y thuộc viện Khảo cứu Nông Lâm (1955),sau là viện Khảo cứu Chăn nuôi (1957), ở Hà nội do Đặng Trần Dũng đã nghiêncứu được chủng vaccine Newcastle hệ 1 làm giống chuẩn tối miễn dịch gà, lấyhuyết thanh để điều tra bệnh toi gà ở miền Bắc Việt Nam và đã kết luận bệnh toi gà

ở Việt Nam là Newcastle (Trần Diễm Uyên và Nguyễn Quang Sức, 1999)

Năm 1956, Nguyễn Văn Lương và Neter đã chẩn đoán được những gà bệnh

ở miền Nam là do Newcastle Trong thời gian này, Trần Quang Nhiên và NguyễnLương (1956), đã xác định bệnh Newcastle xảy ra rất phổ biến ở nhiều tỉnh thuộcmiền Bắc và đã nghiên cứu vaccine phòng bệnh này (trích dẫn Dương Nghĩa Quốc,1997)

Các kết quả nghiên cứu về bệnh Newcastle và áp dụng vaccine phòng bệnh

do hai nhà khoa học Nguyễn Bá Huệ và Nguyễn Thu Hồng thực hiện vào thập kỷ

80 ở viện Thú Y đã phân lập nhiều chủng virus Newcastle từ các ổ dịch ở các trại

gà nuôi công nghiệp và gà nuôi thả trong đàn Hai tác giả này cũng nghiên cứu ápdụng vaccine Lasota bằng các phương pháp cho uống và cho ăn (trích dẫn NguyễnTrường Giỏi,1999)

Năm 1981, Trần Đình từ và cộng tác đã nghiên cứu độc lực của các chủngvirus vaccine Newcastle và có kết luận rằng chủng hệ I có nhiều đặc tính tươngđồng với chủng Mukterwar (trích dẫn Dương Nghĩa Quốc, 1997)

Việc sử dụng vaccine để khống chế bệnh Newcastle được thực hiện vàonhững năm 1960 Ở thời điểm này, gia cầm được chủng ngừa bằng vaccine virus

Trang 25

sống nhược độc, đông khô Gần đây, phát triển vaccine Newcastle chịu nhiệt đượcsản xuất từ chủng V4 và I2 Năm 1999, gần 8000 liều vaccine chịu nhiệt đã đượccông ty Navetco sản xuất và cung cấp trên thị trường (Tran Đinh Tu et al, 1998).

2.2.3 Căn bệnh học

Phân loại

Virus thuộc họ Paramyxoridae, giống Avulavirus, loài Paramyxovirus Virus gây bệnh Newcastle là một Paramyxovirus và trong thời gian dài được coi là một Avian Paramyxovirus duy nhất Tuy nhiên gần đây, một loạt Avian

Paramyxovirus khác được phát hiện Có 9 serotype đã được xác định ký hiệu từ

PMV1 đến PMV9 NDV (Newcastle disease virus) thuộc PMV1

Đặc điểm hình thái và cấu trúc của virus Newcastle

Paramyxovirus là một loại virus đa hình thái, ở dạng hình cầu có kích thước

khoảng 100-500 nm, ở dạng hình sợi có kích thước chiều ngang khoảng 100nm vớichiều dài thay đổi Hình thái của virus biến đổi theo nồng độ muối của môi trườngsống Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, ở trong nước mảnh virus có hình tròn và

có dạng hình sợi kéo dài trong dung dịch muối

Bộ gen là một phân tử ARN, một chuỗi âm có trọng lượng phân tử khoảng5.106 Dalton, chiếm 5% trọng lượng của tiểu thể virus Nucleocapsid có dạng đốixứng xoắn với đường kính 18nm và khoảng cách vòng xoắn 5-6nm, được bao bọcbởi một lớp áo ngoài

Theo Nguyễn Như Thanh (1997), virus Newcastle chứa ít nhất 6 protein cấutrúc như sau:

- Haemagglutinin-neuraminidase (HN): có đặc tính ngưng kết hồng cầu và cóhoạt tính của men neuraminidaza có tác dụng cắt đứt các thụ thể của hồng cầu

- Fusion protein ( F) : có tác dụng liên hợp các tế bào bị nhiễm virus với nhau

để tạo thành tế bào khổng lồ đa nhân

- Large protein (L): chưa rõ chức năng

- Matrix protein (M): có tác dụng gắn ARN của virus với vỏ bọc

- Phospho nucleoprotein (NP): hình ống dài và xoắn ốc nhiều vòng, cũng chưa

rõ chức năng

- Nucleoprotein ( N): là một protein kiềm có tác dụng bảo vệ ARN của virus

Trang 26

Kháng nguyên HN có chứa hemagglutinin và neuraminidase Enzyme

neuraminidase có mặt ở tất cả các thành viên của nhóm Paramyxovirus, enzyme này

có tác dụng làm tách dần các hồng cầu đã bị ngưng kết Còn kháng nguyên F gắnliền với sự phản ứng của virus đối với các tế bào đích và kháng thể trung hòa Các

Trang 27

kháng nguyên HN và F, khi mới tạo thành chưa có hoạt tính và nó chỉ thể hiện hoạttính sau khi bị phân cắt bởi các protease của tế bào chủ.

+ Đặc tính gây bệnh

Các chủng virus Newcastle khá đồng nhất về tính kháng nguyên nhưng lạirất khác nhau về khả năng gây bệnh Khả năng này thay đổi từ những chủng gây rathể quá cấp với tỷ lệ chết 100% đàn gà đến những chủng hoàn toàn không gây bệnhkhi chúng lan truyền trong điều kiện tự nhiên Các chủng virus Newcastle gây bệnhnghiêm trọng với tỷ lệ chết cao ở gà được xếp vào nhóm velogenic Tùy thuộc vàotính hướng thần kinh hay phủ tạng, nhóm này lại được chia thành hai nhóm phụ làneurotropic và viscerotropic Các chủng viscerotropic velogenic đang gây ra nhiềuthiệt hại cho ngành chăn nuôi gà tại Châu Á Nhóm mesogenic có độc lực trungbình, có thể gây chết đến 50% đàn gà và làm giảm nghiêm trọng tỷ lệ đẻ trứng Cácchủng độc lực thấp được xếp vào nhóm lentogenic, có thể làm giảm đẻ trứng nhưng

ít gây chết, trừ gà con mới nở không có kháng thể hoặc gà đang mắc bệnh khác.Gần đây, nhóm virus không có độc lực mà đại diện là các chủng V4 và Ulster được

bổ sung thành nhóm thứ tư, nhóm virus này hoàn toàn không gây bệnh cho gà conqua đường lây nhiễm tự nhiên

+ Sự bền với nhiệt

Spalatin và Hanson (1976), đã chứng minh có sự thay đổi về tính bền vớinhiệt của các chủng virus Newcastle và tính chất này đã được áp dụng trong nghiêncứu dịch tễ học (trích dẫn Tran Dinh Tu et al, 1998)

Năm 1995, Glolam và Hanson đã chọn lọc được một chủng virus Newcastlechịu nhiệt dùng trong nghiên cứu tái tổ hợp virus Phát hiện này đã gợi ý cho cácnhà khoa học Úc phát triển virus Newcastle chịu nhiệt từ chủng V4 Vaccine này đãđược áp dụng thành công trong phòng bệnh Newcastle trên gà nuôi ở nông thôn củanhiều nước Đông Nam Á (trích dẫn Tran Dinh Tu et al, 1998)

Độc lực

Trong tự nhiên, virus Newcastle có biểu hiện độc lực ở những mức độ khácnhau Có những ổ dịch xảy ra rất nặng, tỷ lệ chết rất cao và bệnh tích rất điển hìnhnhưng cũng có những ổ dịch xảy ra rất nhẹ, tỷ lệ chết không đáng kể Độc lực củavirus Newcastle ở Châu Á và Châu Âu thường cao hơn ở Bắc Mỹ

Cho đến nay, người ta đã phân lập được nhiều chủng virus Newcastle, cácchủng virus khác nhau về độc lực và hướng phủ tạng nhưng lại giống nhau về tínhkháng nguyên Có 3 nhóm độc lực:

Trang 28

Nhóm cường độc (velogenic): gồm các chủng có độc lực cao, đó chính làvirus cường độc tự nhiên.

Nhóm độc lực vừa (mesogenic): gồm các chủng có độc lực vừa, là nhữngvirus chỉ gây bệnh nhẹ cho gà trên 6 tuần tuổi như chủng H (Herforshire), chủng M(Mukteswar), hai chủng này khi tiêm cho phôi gà 10-11 ngày, làm chết phôi và xuấthuyết toàn phôi thai

Nhóm độc lực yếu (lentogenic): là các chủng có độc lực thấp như B1, Lasota

và F Những chủng này không có khả năng gây bệnh hoặc gây bệnh nhẹ cho gà con

Để đánh giá độc lực của virus Newcastle, theo FAO (Food AgricultureOrganization) căn cứ vào các chỉ số sau đây:

MDT( Mean dead time ): chỉ số thời gian gây chết phôi trung bình

ELD50 ( Embryo Lethal Dose): chỉ số liều gây chết cho 50 % phôi gà

ICPI ( IntraCerebral – Pathogenicity – Index): chỉ số gây chết khi tiêm vàonão gà con một ngày tuổi

IVPI ( IntraVenous – Pathogenicity – Index): chỉ số gây chết khi tiêm vàotĩnh mạch gà 6 tuần tuổi

Sức đề kháng

Virus có sức đề kháng tương đối yếu Trong thịt thối rữa, phân, xác chết,virus không thể tồn tại quá 24 giờ Trong ổ rơm, nền chuồng, virus bị tiêu diệtnhanh Trong điều kiện khô ráo, virus có thể sống trong nhiều tháng Nhiệt độ thấp

có thể bảo quản virus trong thời gian dài Ở 1-20C virus có thể tồn tại trong 3 tháng,

ở -200 C virus có thể tồn tại trong 1 năm Virus trong phôi gà bệnh được bảo quản ởtrạng thái khô, lạnh có thể giữ được tính gây bệnh trong 2 năm Trong tủy xương,thịt được giữ lạnh, virus còn độc lực trong 6 tháng Theo Foster và Thompson(1957), ở 100oC virus bị diệt trong 1 phút, ở 60oC trong 30 phút, ở 56oC thì độclực, khả năng ngưng kết hồng cầu và gây miễn dịch bị phá huỷ từ 5 phút đến 6 giờ,

ở 37oC phải nhiều giờ và nhiều ngày, ở 20o C đến 8o C phải nhiều tháng năm mớiphá huỷ virus ( trích dẫn Nguyễn Trường Giỏi, 1999)

Ở nhiệt độ bình thường, trong nước sinh lý virus còn sống sau 3 tháng nhưngvirus dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao Virus dễ dàng bị tiêu diệt bởi các chất sát trùngnhư crezyl 5%, NaOH 2% Một số hóa chất như formol, proiolacton làm vô hoạtvirus nhưng không làm thay đổi tính kháng nguyên của virus

Trang 29

2.3 TRUYỀN NHIỄM HỌC

2.3.1 Loài mắc bệnh

Trong điều kiện tự nhiên, gà, gà tây, gà lôi, chim công dễ mắc bệnh Tuynhiên, sức mẫn cảm của các loại gia cầm không giống nhau Gà cảm thụ bệnh mạnhnhất rồi đến gà tây Tất cả các giống gà và gà ở mọi lứa tuổi đều mẫn cảm với bệnhnhưng gà ở giai đoạn còn non mẫn cảm nhất Gà lớn có sức đề kháng mạnh hơn, ở

gà con sức đề kháng kém trừ trường hợp được miễn dịch từ gà mẹ truyền sangtrứng, thời gian miễn dịch thụ động đó có thể 15 – 45 ngày sau khi nở Ngỗng, vịt

có thể mắc bệnh nhưng ít và nhẹ hơn gà (trích dẫn Nguyễn Trường Giỏi, 1999)

Nhiều loài chim hoang dã, bồ câu, chim sẻ cũng cảm thụ với bệnh, chúng lànguồn mang virus có độc lực cao Chủng virus có độc lực thấp thường gây bệnh phổbiến ở loài thủy cầm

Bệnh có thể lây sang người khi thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với gà bệnhhoặc qua khí dung Bệnh làm viêm kết mạc mắt, thời gian ủ bệnh từ 1 đến 2 ngày,thông thường chỉ có một bên mắt bị bệnh Đôi khi bệnh gây ra giống như bệnh cúmnên người ta dễ bỏ qua (Bùi Quý Huy, 2002)

Trong phòng thí nghiệm, một số loài động vật cũng có thể mắc bệnh như là

gà, bồ câu, chuột nhắt trắng, chuột đất vàng, phôi gà

2.3.2 Chất có mầm bệnh

Theo Traub (1956), khi virus vào cơ thể nó nhân lên tại chổ nhiễm chưa đầy

24 giờ sau khi nhiễm và cả trong bạch cầu (trích dẫn Nguyễn Trường Giỏi, 1999).Nhiễm trùng huyết đạt mức cao sau 36 giờ, sau đó virus xâm nhập vào hệ thần kinhtrung ương Từ ngày thứ ba đã có virus trong phân, nếu con vật không chết thì sẽhình thành kháng thể và đến ngày thứ sáu tại nơi virus xâm nhập và trong máukhông còn virus Phần lớn các trường hợp virus còn tồn tại một vài ngày trong phân

Tất cả các phủ tạng đều có virus, đặc biệt là lách, gan các chất bài tiết Cóvirus ở cả buồng trứng, các noãn ở thời kỳ phát triển (Beaudette,1946)

Theo Heinig và Schmith (1954), đã tìm ra virus trong não, phổi, lách, thận

từ ngày thứ hai đến ngày thứ tám sau khi nhiễm bệnh Ngoài ra có thể thu virustrong dịch của mắt (Clark và Johns, 1955) (trích dẫn Nguyễn Trường Giỏi, 1999)

Trang 30

2.3.3 Đường lây lan

Những gà bị bệnh hay gà bị thể ẩn đều bài virus qua các chất tiết và chất bàitiết, phân, nước tiểu có chứa virus Theo Mayr (1985), bệnh có thể lây mà khôngcần phải có virus bài thải ra ngoài, đó là trường hợp bệnh đang ở giai đoạn nhiễmvirus máu và máu là nguồn virus cho các côn trùng hút máu (trích dẫn NguyễnTrường Giỏi, 1999)

Virus Newcastle xâm nhập vào cơ thể gà qua đường hô hấp, đường tiêu hóanhư hít phải không khí có mang mầm bệnh hay do thức ăn, nước uống nhiễm virus

Gà nhiễm bệnh thải virus ra không khí, dịch mũi và phân Virus bài thải suốt thời kỳnung bệnh, phát bệnh và đầu thời kỳ hồi phục Qua không khí là phương thứctruyền lây chủ yếu trong đàn và những chủng virus có tính hướng hô hấp có khảnăng lây truyền nhanh nhất

Sự nhiễm bệnh qua đường tiêu hóa cũng xảy ra nhưng đòi hỏi phải có mộtlượng virus lớn hơn và sự lan truyền qua đường phân-miệng chậm hơn qua khôngkhí

Sự di chuyển của các loài chim di trú, bồ câu làm lây bệnh khắp thế giới Sựlây lan bệnh trong phạm vi một nước thường do sự di chuyển gia cầm hoặc chimhoang dã Trên lông gà trong các chuồng, quần áo người chăn nuôi, các dụng cụkhác đều có mang virus, do virus có nhiều trong các chất tiết của bộ máy hô hấp nênnước trong các máng nước chung là một nguồn truyền bệnh trong đàn

Ngoài ra, virus còn gây nhiễm cho trứng trong ống dẫn trứng và thường làmchết phôi trong lúc ấp, sự lây nhiễm trong máy ấp sẽ diễn ra khi trứng này vỡ,nhưng thường thấy hơn cả là qua gia cầm non bị nhiễm lúc nở qua trung gian của vỏtrứng bị nhiễm virus

Gia cầm bị stress, thời tiết thay đổi sang lạnh và ẩm ướt có thể mở đường cho

sự bùng nổ bệnh

2.4 CƠ CHẾ SINH BỆNH

Đường xâm nhập virus Newcastle vào cơ thể gia cầm là miệng và mũi Virusthâm nhiễm qua niêm mạc hầu họng rồi vào máu, virus gây nhiễm trùng huyết, bạihuyết và đi đến hầu hết các cơ quan tổ chức của cơ thể gây viêm hoại tử Nội môthành huyết quản bị phá hủy gây xuất huyết và thâm nhiễm dịch xuất vào các xoangtrong cơ thể (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)

Trang 31

Phần lớn gà bệnh ở thể cấp tính thường chết ở thời kỳ nhiễm trùng huyết.Trong trường hợp bệnh kéo dài, virus từ máu đến ký sinh ở các cơ quan phủ tạnghoặc thần kinh trung ương.

2.5 TRIỆU CHỨNG VÀ BỆNH TÍCH

2.5.1 Triệu chứng

Thời gian ủ bệnh từ 2-15 ngày, trung bình 5-6 ngày Gà có các biểu hiện chủyếu ở đường hô hấp và tiêu hóa Lúc đầu gà ủ rũ, bỏ ăn, mào tím tái, há mỏ ra đểthở, mắt sưng, phân lỏng màu trắng, xanh đôi khi có máu Một số gà có triệu chứngliệt chân, liệt cánh, vặn xoắn đầu, mổ thóc không trúng Thông thường triệu chứngthần kinh chỉ có ở những ổ dịch kéo dài trên 10-14 ngày

2.5.2 Bệnh tích

+ Bệnh tích đại thể

Bệnh tích điển hình thường tập trung ở đường tiêu hóa Niêm mạc dạ dàytuyến xuất huyết, lấm tấm màu đỏ tròn bằng đầu đinh ghim, điểm xuất huyết tươngứng với các lổ đổ ra của tuyến tiêu hóa, các điểm xuất huyết này có thể tập trungthành từng vệt Dạ dày cơ xuất huyết và thâm nhiễm dịch xuất kiểu gelatin Ruộtnon xuất huyết, viêm, trong trường hợp bệnh kéo dài, có thể có những nốt loét hìnhtròn, hình bầu dục, cúc áo Hạch manh tràng viêm, xuất huyết, hoại tử Xuất huyếthậu môn, gan xuất huyết có đám thoái hoá mỡ, thận sưng màu nâu xám Trên gà đẻ

có thể thấy một số con bị vỡ trứng trong xoang bụng (Hồ Thị Việt Thu, 2006)

+ Bệnh tích vi thể

Thoái hóa và viêm không có mủ của nơron thần kinh với sự thâm nhiễm các

tế bào lympho quanh mạch quản (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)

2.6 CHẨN ĐOÁN

2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng

Chẩn đoán bệnh dựa vào các dữ liệu về dịch tễ học như tỷ lệ mắc bệnh cao,lây lan nhanh, gà ở mọi lứa tuổi đều cảm thụ và tỷ lệ chết cao Triệu chứng lâmsàng thể hiện chủ yếu ở sự rối loạn cơ năng đường tiêu hóa, hô hấp Bệnh tích điểnhình là xuất huyết và viêm loét đường tiêu hóa Hoặc ở trường hợp mãn tính, bệnh

có tử số thấp, kéo dài, có triệu chứng thần kinh

Cần phân biệt với bệnh cúm, bệnh thương hàn, bệnh tụ huyết trùng

Ngày đăng: 12/04/2018, 18:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm