1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu sử DỤNG INTERFERON TRONG PHÒNG BỆNH GUMBORO CHO gà 3 TUẦN TUỔI

43 145 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 5,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu bệnh Gumboro chủ yếu về: nguyên nhân gây bệnh, về quá trình diễn tiến của bệnh nhất là tác động của vi rút gây ức chế miễn dịch của gà và nghiên cứu sản xuất vắc xin phòng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: THÚ Y

Đề tài:

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG INTERFERON TRONG PHÒNG BỆNH GUMBORO CHO GÀ 3 TUẦN TUỔI

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện :

MSSV: 3042887 Lớp: Thú y K30

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIÊP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

….   …

Đề tài: “Nghiên cứu sử dụng Interferon trong phòng bệnh Gumboro cho gà 3 tuần tuổi” do sinh viên: Trương Trung Kiên thực hiện tại trại thực nghiệm và phòng thí nghiệm bệnh truyền nhiễm E008, Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2009

Cần Thơ, ngày …tháng…năm 2009 Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2009

Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn

HỒ THỊ VIỆT THU

Cần Thơ, ngày… tháng…năm 2009

Duyệt khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn:

Cô Hồ Thị Việt Thu đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Quý Thầy, Cô Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình truyền đạt kiến thức cho

em trong suốt thời gian học tại trường

Chị Huỳnh Ngọc Trang đã giúp đỡ nhiệt tình để em sớm hoàn thành bài luận văn

Chi Mai Trương Hồng Hạnh và các anh chị cùng các bạn trong và ngoài lớp Thú Y K30 đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống

Xin kính gởi đến quý Thầy, Cô, người thân và bạn bè tôi lời chúc sức khỏe, thành công và xin nhận nơi tôi lòng biết ơn sâu sắc

Cần Thơ, ngày… tháng … năm 2009

Sinh viên thực hiện đề tài

Trương Trung Kiên

Trang 4

MỤC LỤC

Phụ bìa ii

Tờ duyệt ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH SÁCH BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

TÓM LƯỢC viii

Chương 1 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển bệnh Gumboro trên thế giới và trong nước 2

2.1.1 Lịch sử phát triển bệnh Gumboro 2

2.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2

2.1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 3

2.2 Nguyên nhân gây bệnh 4

2.3 Sức gây bệnh 5

2.4 Sức đề kháng 6

2.5 Miễn dịch học 6

2.5.1 Miễn dịch chủ động 7

2.5.2 Miễn dịch thụ động 7

2.6 Cơ chế gây bệnh 7

2.7 Triệu chứng và bệnh tích 8

2.7.1 Triệu chứng 8

2.7.2 Bệnh tích 9

2.8 Chẩn đoán 11

2.9 Phòng bệnh Gumboro 12

2.10 Interferon 13

2.10.1 Định nghĩa về Interferon 13

2.10.2 Phân loại 14

2.10.3 Ứng dụng của interferon trong thú y 17

Chương 3 19

PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 19

3.1 Phương tiện thí nghiệm 19

Trang 5

3.1.2 Đối tượng 19

3.1.3 Chuồng nuôi nhốt, thức ăn được sử dụng 19

3.1.4 Dụng cụ, hóa sinh phẩm phòng thí nghiệm 19

3.2 Phương pháp thí nghiệm 20

3.2.1 Qui trình chăm sóc 20

3.2.2 Quy trình phòng bệnh chung 21

3.2.3 Công tác vệ sinh thú y 21

3.3 Bố trí thí nghiệm 21

3.4 Phương pháp xét nghiệm bằng phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch (Agar-Gel-Precipitation Test- AGP ) 22

3.5 Các chỉ tiêu theo dõi chung của toàn thí nghiệm 23

3.6 Xử lý số liệu 23

Chương 4 24

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh trên gà thí nghiệm 24

4.2 Kết quả theo dõi triệu chứng của gà sau khi gây nhiễm 26

4.3 Kết quả theo dõi tỷ lệ chết trên gà thí nghiệm 27

4.4 Kết quả theo dõi tần suất xuất hiện bệnh tích gà gây nhiễm với vi rút Gumboro 29

4.5 Kết quả kiểm tra kháng nguyên bằng phản ứng khuếch tán trên thạch 30

4.6 Kết quả kiểm tra kháng thể bằng phản ứng khuếch tán trên thạch 31

Chương 5 32

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 32

5.1 Kết luận 32

5.2 Đề nghị 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AGP: Agar gel precipitation

B.subtilis: Bacillus subtilis

BHV: Bovine herpesvi rút

Ctv: Cộng tác viên

IBDV: Infectious Bursal Disease Vi rút

IBR: Infectious Bovine Rhinotracheitis IFN: Interferon

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Phân loại và đặc tính sinh học của các IFN 14

Bảng 2.2 So sánh cơ chế tác dụng của Interferon và kháng thể 16

Bảng 3.1 Quy trình phòng bệnh chung 21

Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm 22

Bảng 4.1 Tỷ lệ gà mắc bệnh Gumboro (n=30) 24

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ mắc bệnh giữa các nghiêm thức 25

Bảng 4.2 Triệu chứng gà thí nghiệm mắc bệnh Gumboro (n=30) 26

Bảng 4.3 Tỷ lệ gà thí nghiệm chết theo thời gian (n=30) 27

Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ gà chết giữa các nghiệm thức 28

Bảng 4.4 Tần suất xuất hiện bệnh tích (n=5) 29

Bảng 4.5 Tỷ lệ xuất hiện vi rút Gumboro ở các cơ quan của gà 30

Bảng 4.6 Tỷ lệ gà đáp ứng kháng thể 31

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Gà bệnh nằm phủ phục. 9

Hình 2.3 Xuất huyết trên niêm mạc dạ dày tuyến (chỗ tiếp giáp giữa mề và tiền mề) 9

Hình 2.4 Túi Fabricius sưng to, đỏ, xuất huyết lấm tấm 10

Hình 2.5 Cơ đùi xuất huyết thành từng vệt 10

Hình 2.6 IFN-α……… … ……….15

Hình 2.7 IFN-β 15

Hình 2.8 Sơ đồ khái quát cơ chế hình thành IFN (Burke, 1996) ……….… 16

Hình 4.1 Phân trắng nhày… .………2716

Hình 4.2 Túi Fabricius sưng ………31

Hình 4.3 Cơ ngực và cơ đùi xuất huyết 30

Hình 4.4 Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch 31

Trang 9

chuẩn, nghiệm thức II uống B subtilis - IFN tái tổ hợp, nghiệm thức III nhỏ IFN

chuẩn qua đường mắt

Qua thời gian nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được kết quả như sau:

Gà mắc bệnh bắt đầu vào ngày thứ 3 và kết thúc vào ngày thứ 6 tỷ lệ gà mắc bệnh thấp nhất ở nghiệm thức III 37,5% là nghiệm thức phòng bệnh qua đường nhỏ mắt

Gà bắt đầu chết vào ngày thứ 3 và kết thúc vào ngày thứ 6 tỷ lệ gà chết thấp nhất ở nghiệm thức III 0% là nghiệm thức phòng bệnh qua đường nhỏ mắt

Kết quả khảo sát tần suất xuất hiện triệu chứng ở gà mắc bệnh Gumboro cao nhất là

co bóp hậu môn 100%, thấp nhất là thức ăn không tiêu là 10%

Tần suất xuất hiện bệnh tích cao nhất là sưng túi Fabricius 80%, thấp nhất là thận sưng 20%

Tỷ lệ xuất hiện vi rút ở các cơ quan cao nhất là ở túi Fabricius là 100%, thấp nhất là

ở Lách và Gan là 40%

Tỷ lệ gà đáp ứng kháng thể là 92%

Trang 10

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong sản xuất chăn nuôi hiện nay nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, đặc biệt là chăn nuôi gà là một trong những ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao và nhanh nhất vì chúng có vòng quay ngắn nhưng lại có tỷ lệ rủi ro cao nhất, đặc biệt

là trong phương thức chăn nuôi tập trung theo kiểu công nghiệp Chăn nuôi theo kiểu tập trung công nghiệp khi dịch bệnh xảy ra đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm

do vi rút có thể gây chết hàng loạt và làm thiệt hại vô cùng nghiêm trọng đến kinh

tế Một bệnh truyền nhiễm do vi rút xảy ra rất phổ biến và nguy hiểm hiện nay đối với đàn gà nuôi tập trung là bệnh Gumboro Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính, nguy hiểm gà mắc bệnh có thể lên tới 100% và có thể gây chết từ 0-5% đối với chủng nhược độc, 5-20% đối với chủng có độc lực trung bình, 20-60% với chủng có độc lực cao và có thể gây chết 100% khi gà nhiễm ghép với các bệnh khác (Lê Văn Năm, 2003) Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thì đồng thời cũng có nhiều hướng khác nhau để đưa ra các biện pháp phòng và trị bệnh khác nhau cho các bệnh

do vi rút gây nên Trong đó, một phát hiện được cho là mới nhất hiện nay được áp dụng cho việc phòng và trị các bệnh do vi rút gây nên đó là sử dụng Interferon Interferon là một yếu tố miễn dịch hòa tan được tế bào sản sinh ra do sự kích thích của vi rút hay kích thích cảm ứng (Phan Thanh Phượng, ctv, 2007) Những tác dụng quan trọng của Interferon như: chống vi rút bằng cách ngăn cản sự nhân nên của vi rút qua cơ chế enzyme, chống tăng sinh tế bào, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể

… Để xác định hiệu quả của việc sử dụng Interferon trong việc phòng bệnh Gumboro trên đàn gà Được sự đồng ý của nhà trường và dưới sự giúp đỡ, hướng

dẫn của thầy cô, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu sử dụng Interferon trong phòng bệnh Gumboro cho gà 3 tuần tuổi”

Mục tiêu của đề tài:

- Khảo sát tác dụng của Interferon trong phòng bệnh Gumboro cho gà 3 tuần tuổi

- So sánh hiệu quả phòng bệnh Gumboro của IFN chuẩn và Bacilus

Subtilis-IFN tái tổ hợp qua 2 đường cấp là: nhỏ mắt và cho uống

Trang 11

có triệu chứng viêm thận nên người ta dùng tên Gumboro để gọi tên cho bệnh này

và cho đến nay được rất nhiều người dùng đến Trong quá trình nghiên cứu và theo dõi, người ta lại thấy bệnh tích đặc trưng của bệnh chủ yếu nằm tại túi Fabricius và được xác định là cơ quan đích của vi rút bệnh nguyên Do vậy, Hitchner (1970) đã

đề nghị lấy tên Infectious Bursal Disease (IBD) làm tên gọi chính thức của bệnh này

và vi rút bệnh nguyên được gọi là Infectious Bursal Disease Vi rút (IBDV)

2.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Từ năm 1962 đến 1979 Các nghiên cứu bệnh Gumboro chủ yếu về: nguyên nhân gây bệnh, về quá trình diễn tiến của bệnh nhất là tác động của vi rút gây ức chế miễn dịch của gà và nghiên cứu sản xuất vắc xin phòng bệnh

Năm 1967 Cheville nghiên cứu về quá trình gây bệnh của vi rút Gumboro trên các cơ quan như: túi Fabricius, tỳ tạng, tuyến ức của vi rút bệnh Gumboro

Từ năm 1979 đến 1990 Nghiên cứu sâu hơn về tính kháng nguyên của vi rút, các serotyp hoặc các type phụ (subtypes) Nghiên cứu về tác dụng của các loại vắc xin trong việc phòng bệnh, về phương pháp chẩn đoán bệnh và quy trình phòng bệnh:

Năm 1988 , Becht và Muler đã nghiên cứu và so sánh những đặc tính thuộc về cấu trúc và sinh kháng nguyên của hai serotyp của vi rút gây bệnh Gumboro

Việc thử nghiệm vắc xin vô hoạt trong phòng bệnh đã được tiến hành vào năm

1981 tại trại chăn nuôi của (Baxendale và Luttichken, 1981)

Vào những năm cuối của thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 tình hình bệnh Gumboro trên thế giới có những thay đổi lớn Trước đó bệnh thường xuất hiện với thể điển hình

Trang 12

với tỷ lệ chết từ 0-30% ở gà đẻ trứng và khoảng 3-5% ở gà thịt Một số biến chủng (variants) của vi rút đã gây chết với tỷ lệ cao hơn nhiều ở đàn gà mắc bệnh mà ta gọi là vi rút gây bệnh Gumboro có độc lực rất mạnh Vào năm 1987 ở Châu Âu trường hợp đầu tiên của bệnh Gumboro được tìm thấy ở Bỉ, rồi Vương quốc Anh bệnh gây chết từ 30-70% và bệnh cũng xảy ra sớm hơn ở gà con (2-4 ngày tuổi sau khi nở) Những năm sau bệnh nổ ra khắp Châu Âu (trích dẫn Nguyễn Thành Trung, 1997)

Ở Châu Á và Thái Bình Dương bệnh Gumboro ở thể nặng được tìm thấy ở một

số nước như: Trung Quốc vào năm 1990, sau đó bệnh xảy ra ở các nước trong vùng,

tỷ lệ gà chết do Gumboro lên đến 70% ở Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và Nhật Bản Bệnh cũng xảy ra ở các nước Malaysia, Philippines và Hàn Quốc nhưng có tỷ

2.1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở nước ta, theo báo cáo của các tác giả BitayZotan, Trần Minh Châu và Dương Công Thuận (1979-1984) thì bệnh Gumboro được phát hiện vào năm 1982 tại một trại nuôi gà Plymouth ở tỉnh Hà Tây Gà chết rất nhiều vào lúc 29-30 ngày tuổi, thời gian từ lúc xuất hiện bệnh cho đến khi kết thúc là 20 ngày, tỷ lệ chết là 34% đối với toàn đàn Dựa vào kết quả nghiên cứu về triệu chứng, bệnh tích đại thể

và vi thể, cùng diễn biến của bệnh, các tác giả đã xác định là bệnh Gumboro, từ năm

1986 bệnh Gumboro lại bùng phát ồ ạt tại các trại gà công nghiệp (Nguyễn Thành Trung,1997)

Các công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu

Về chẩn đoán bệnh

Qua khảo sát kháng thể Gumboro trên đàn gà được tiêm vắc xin bằng phương pháp kết tủa khuếch tán trên thạch của Trần Thị Tố Liên và Phương Song Liên Nhận thấy phương pháp phát hiện kháng thể Gumboro trên thạch là phương pháp

Trang 13

đơn giản và hiệu quả kinh tế hơn các phương pháp khác (Trần Thị Tố Liên, ctv, 1995)

Khảo sát vùng “ siêu biến đổi ” chuỗi gen VP2 của các mẫu vi rút Gumboro phân lập tại Thừa Thiên Huế bằng phương pháp sinh học phân tử Từ công trình nghiên cứu trên tác giả đã tách chiết và thực hiện thành công phản ứng RT-PCR và thu nhận được vùng ”siêu biến đổi” đoạn gen VP2 từ mẫu này (Đinh Thị Bích Lân

và ctv, 1995)

Về sản xuất vắc xin

Kết quả nghiên cứu vắc xin Gumboro trong phòng thí nghiệm của Nguyễn Tiến Dũng và ctv từ năm 1990 đến 1991, cho thấy vắc xin có đặc tính ổn định, an toàn và có hiệu quả tôt

Năm 1993, Phạm Văn Chức và ctv tiến hành thử nghiệm vắc xin Gumboro trong điều kiện sản xuất của công ty thuốc Thú Y trung ương 2, qua đó các tác giả cho rằng vắc xin được sản xuất không gây phản ứng đặc biệt ở đàn gà khi tiêm chủng, đảm bảo mức độ lý thuyết, có thể sử dụng trong điều kiện sản xuất dưới sự hướng dẫn và theo dõi trực tiếp của cán bộ thú y

Về quy trình phòng bệnh

Nghiên cứu dịch tễ và biện pháp phòng bệnh Gumboro tổng hợp tại một số tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long của Châu Bá Lộc 1996, cho rằng: mật độ gà càng cao sẽ ảnh hưởng đến việc phát sinh bệnh Lứa tuổi gà mắc bệnh thường tập trung

từ 3-7 tuần tuổi là phổ biến Tháng mắc bệnh cao nhất trong năm là tháng 4 và tháng 5, đặc biệt trong chăn nuôi hộ gia đình, dịch bệnh Gumboro không có khuynh hướng giảm theo thời gian Sự khác biệt về giống không ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh Sự khác biệt về loại gà (gà đẻ trứng thương phẩm, gà thịt công nghiệp, gà thả vườn) không ảnh hưởng đến việc nhiễm bệnh, tỷ lệ chết từ 0-20%, thường chiếm 70% ở gà đẻ trứng, 62% ở gà thịt, ở gà ta là 47,7% Việc chủng ngừa đơn độc bằng vắc xin ở trại gia đình đã không đem lại kết quả tốt trong việc hạn chế bệnh( Châu

Bá Lộc, 1996)

2.2 Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh Gumboro do một loại vi rút gây ra, đây là một loại vi rút có cấu tạo có chuỗi ARN xoắn kép là vi rút gây viêm túi Fabricius truyền nhiễm (Infectious

bursal disease vi rút viết tắt là IBDV thuộc họ Birnaviridae, giống Birnavi rút, là

loại vi rút trần, không có vỏ bọc bên ngoài cùng, cấu tạo khối đa diện, kích thước

Trang 14

của vi rút từ 55-60nm, là vi rút có chứa 2 sợi cuốn tròn, phân làm 2 đoạn riêng biệt,

vì vậy có tên là Birnavi rút (Hồ Thị Việt Thu, 2006)

Phần capxit của vi rút được cấu tạo bởi 32 capxome, mỗi capxome được tạo thành bởi 4 loại protein có cấu trúc khác nhau với tên gọi là VP1; VP2; VP3; VP4 ( VP: viral protein ) trong đó VP2 và VP3 là thành phần protein chủ yếu của vi rút, còn VP1 và VP4 là những protein phụ

Loại protein có tính kháng nguyên kích thích cơ thể sinh ra kháng thể kết tủa (precipitating antibody) được gọi là kháng nguyên đặc hiệu nhóm (Group specific antigen = GS kháng nguyên) về cấu trúc gọi là kháng nguyên đặc hiệu nhóm (Group specific protein = GS protein) Loại protein có tính kháng nguyên kích thích

cơ thể sinh ra kháng thể trung hòa (Neutralizing antibody) được gọi là kháng nguyên đặc hiệu typ (Type specific antigen = TS kháng nguyên ) về cấu trúc gọi là protein đặc hiệu typ (Type specific antigen = TS protein) Về cấu trúc phân tử, hai loại protein GS và TS đan chéo nhau và tạo nên các lớp protein trên bề mặt và vỏ bọc, bao bọc lấy nhân ARN của vi rút, trong đó TS protein có xu hướng ở bề mặt của vi rút gồm các lớp protein nổi, các gai, các móc, các receptor, còn GS protein thường nằm lặn sâu hơn, xen kẽ vào các protein cấu trúc khác và gắn chặt với lớp protein liên kết với axit nucleic của nhân vi rút (Nguyễn Như Thanh, ctv, 1997)

Về tính kháng nguyên, hiện nay đã phát hiện được 2 loại serotyp là serotyp I

và serotyp II, hai loại này khác nhau về tính gây bệnh cho gà và gà tây Hai serotyp không gây miễn dịch chéo cho nhau, thậm chí cùng một serotyp sự khác biệt về tính kháng nguyên cũng rất lớn, nhiều khi tính tương đồng kháng nguyên chỉ đạt 30%

Vì vậy cần lưu ý trong việc sử dụng các loại vắc xin nhược độc phòng bệnh Gumboro Khi xác định serotyp cần phải dựa trên cơ sở của phản ứng trung hòa vi rút

2.3 Sức gây bệnh

Gumboro là bệnh truyền nhiễm cấp tính, nguy hiểm tỷ lệ gà mắc bệnh có thể nên tới 100% và có thể gây chết từ 0-5% đối với chủng nhược độc, 5-20% đối với chủng có độc lực trung bình, 20-60% với chủng có độc lực cao và có thể gây chết 100% khi gà nhiễm với bệnh ghép khác (Lê Văn Năm, 2003)

Chỉ có gà bị bệnh Gumboro được biết là mắc bệnh với biểu hiện triệu chứng

và bệnh tích rõ nhất (trích dẫn Nguyễn Thành Trung, 1997) Các vi rút trong tự nhiên có khả năng gây ra mức độ bệnh khác nhau trong đàn gà Các giống vi rút

Trang 15

bệnh của vi rút thuộc serotyp 2 đang được chú ý nghiên cứu Jackwood và ctv, (1985) đã có báo cáo gà và gà tây bị bệnh do serotyp 2 không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng cũng như bệnh tích đại thể và vi thể Tuy nhiên, Sivanandan và ctv, (1986) đã quan sát thấy bệnh tích đặc trưng của bệnh Gumboro ở gà nhiễm cùng loại vi rút phân lập được Trong nghiên cứu sau này, có 5 chủng được phân lập từ serotyp 2, 3 có nguồn gốc từ gà, serotyp 2 từ gà tây (gồm cả vi rút trong nghiên cứu của Jackwood và ctv, 1985 và Sivanandan và ctv, 1986) là không gây bệnh cho gà Trong phòng thí nghiệm: dùng phôi gà ấp 10-11 ngày và gà 3-6 tuần tuổi để gây nhiễm bệnh thực nghiệm, sau khi gây bệnh gà sẽ có triệu chứng và bệnh tích giống như gà mắc bệnh trong tự nhiên (Nguyễn Như Thanh, ctv, 1997)

2.4 Sức đề kháng

Gumboro là bệnh có tính lây lan cao và vi rút tồn tại lâu dài trong môi trường nuôi gà Benton và ctv (1967) cho rằng chuồng nuôi của gà bị bệnh vi rút tồn tại trong thời gian dài và có thể truyền bệnh cho gà khác từ 54-122 ngày sau Nước uống, thức ăn, phân lấy từ chuồng gà bị bệnh là nguồn lây bệnh tới 52 ngày sau (trích dẫn Nguyễn Thành Trung, 1997)

Không có bằng chứng cho thấy rằng bệnh Gumboro truyền qua trứng, cũng như trạng thái mang trùng thật sự ở gà đã bị bệnh Vi rút đề kháng với nhiệt, các loại thuốc sát trùng giúp nó sống trong môi trường giữa các cơn bệnh xảy ra Howie

và Thorsen (1981) phân lập được vi rút bệnh Gumboro từ muỗi (Aedes vexans) bắt

được ở vùng nuôi gà từ miền Nam Ontario, vi rút này không gây bệnh cho gà (trích dẫn của Nguyễn Thành Trung, 1997)

2.5 Miễn dịch học

Cả 2 serotyp của vi rút gây bệnh Gumboro thường có chung nhóm kháng nguyên được xác định bằng phản ứng huỳnh quang và ELISA Do đó không thể phân biệt các serotyp và kháng thể của chúng bằng những phản ứng này Nhóm kháng nguyên thường gặp của 2 dạng serotyp là VP2 và VP3 VP2 có nhóm kháng nguyên đặc hiệu của serotyp mà kháng nguyên này được phát hiện bằng phản ứng trung hòa vi rút Becht và ctv (1988) đã báo cáo rằng các kháng thể chống lại VP3 không bảo vệ cho gà nhiễm bất cứ kháng nguyên khác Các nghiên cứu đã chứng thực quan sát này: gà có kháng thể chống lại các vi rút có serotyp 2 thì không bảo

vệ gà chống lại vi rút serotyp 1

Trang 16

2.5.1 Miễn dịch chủ động

Gà nhiễm vi rút từ tự nhiên hoặc do sự tiêm phòng vắc xin với cả 2 loại vắc xin sống hay chết đều kích thích sự tạo miễn dịch chủ động Kháng thể được tạo ra được xác định bằng nhiều phương pháp như là phản ứng trung hòa vi rút (VN test),

phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch AGP (Agar-Gel-Precipitation Test) và phản

ứng ELISA Hàm lượng kháng thể thường cao sau khi nhiễm hoặc được tiêm vắc xin khoảng 10 ngày và hàm lượng kháng thể trung hòa vi rút lớn hơn 1/ 1000 là bình thường Gà trưởng thành đề kháng với vi rút qua đường tiêu hóa, nhưng vẫn tạo ra kháng thể sau khi tiêm vi rút

2.5.2 Miễn dịch thụ động

Kháng thể truyền từ mẹ qua lòng đỏ của trứng có thể bảo vệ gà con chống lại

vi rút trong giai đoạn đầu đời của gà Hàm lượng kháng thể mẹ truyền giảm đi một nửa sau ngày thứ 3 và ngày thứ 5 Do đó việc biết hàm lượng kháng thể của gà con, thì có thể tiên đoán được thời điểm gà con cảm nhiễm với bệnh Lucio và Hitchner (1979) chỉ ra rằng hàm lượng kháng thể giảm dưới 1/100 thì 100% gà mẫn cảm với bệnh và hàm lượng kháng thể từ 1/100 – 1/600 có 40% gà có khả năng chống lại bệnh

2.6 Cơ chế gây bệnh

Thời gian ủ bệnh của gà rất ngắn khoảng 2-3 ngày sau khi nhiễm bệnh Mulen

et al (1979) thấy rằng vi rút trong các tế bào lympho và các đại thực bào của ruột chỉ 4-5 giờ sau khi nhiễm qua đường miệng Sau đó nó tấn công vào gan, gây nhiễm trùng máu, sau khoảng 24 giờ thì đã thấy những tổn thương ở túi Fabricius, phá hủy các các tế bào lympho B trong phần tủy và vỏ của các nang Phản ứng viêm xuất hiện sau đó, gây nên hiện tượng phù nề, sung huyết và sự tràn ngập các tế bào viêm làm cho túi Fabricius sưng to lên, thể hiện rõ vào ngày thứ 3-4 sau khi lây nhiễm Đến ngày thứ 5 kích thước túi Fabricius bắt đầu bình thường lại rồi teo dần đi Đến ngày thứ 8 thì kích thước túi Fabricius chỉ còn lại 1/3 so với ban đầu, gà dần trở lại bình thường (Mulen và ctv, 1979)

Trang 17

2.7 Triệu chứng và bệnh tích

2.7.1 Triệu chứng

Thời kỳ nung bệnh rất ngắn và triệu chứng bệnh được quan sát từ 2-3 ngày sau khi nhiễm bệnh Do có sự khác nhau về độc lực của vi rút gây bệnh, nên tính chất gây bệnh cũng rất khác nhau, có hai thể biểu hiện cơ bản:

Thể lâm sàng hay còn gọi là Gumboro cổ điển

Thể lâm sàng do các chủng IBV có độc lực trung bình và cao gây nên, chủ yếu gây ra ở gà từ 3-6 tuần tuổi Bệnh Gumboro ở thể lâm sàng có những biểu hiện rất điển hình

Sau khi vi rút mới vừa xâm nhập vào túi Fabricius, gà có những biểu hiện triệu chứng như: gà có phản xạ như muốn đi ngoài nhưng không thực hiện được (Võ Bá Thọ, 2004) Đây là triệu chứng đặc trưng đầu tiên giúp ta phát hiện sớm bệnh Gumboro về mặt lâm sàng Sau đó không lâu gà sốt rất cao Đó là lúc vi rút gây bệnh đã nhập vào đường máu, đường lamba đến tế bào B hệ 2 Tại thời điểm này chúng sản sinh rất nhanh và tăng gấp nhiều lần về số lượng Do sốt cao nên gà uống nước nhiều và sinh ra rối loạn tiêu hóa, mất cân bằng sinh thái đường ruột, dẫn đến

gà tiêu chảy và viêm ruột Lông vũ quanh hậu môn ướt và bẩn do gà tiêu chảy Phân

gà lúc này trở nên loãng, lúc đầu là màu trắng ngà sau chuyển sang màu trắng vàng, xanh vàng đôi khi lẫn máu Gà mắc bệnh Gumboro lúc đầu thường co ro, trông như buồn ngủ, cổ rụt lại và phân đôi khi có lẫn máu rất dễ nhầm với bệnh cầu trùng gà, điều chủ yếu phân biệt giữa bệnh cầu trùng và bệnh Gumboro là bệnh Gumboro gà thường sốt rất cao Bệnh nặng dần lên đàn gà bị tiêu chảy và mất nước, dẫn đến gà nằm liệt một bên, chân và cánh duỗi ra thân nhiệt giảm xuống thấp hơn mức bình thường Một đến hai ngày sau khi phát bệnh gà bắt đầu chết Hiện tượng gà chết kéo dài khoảng 7-8 ngày, tùy vào mức độ nghiệm trọng và sức đề kháng của đàn gà Ngày đầu tiên chết rải rác, số gà chết tăng dần và đạt cao nhất vào ngày thứ 4-5 sau khi phát bệnh Số gà chết giảm dần và dừng hẳn vào ngày thứ 8-9 sau khi phát bệnh Cuối cùng gà tự khỏi bệnh Đạt cao nhất vào ngày thứ 4-5 sau khi phát bệnh Gà chết đột ngột và khỏi bệnh cũng đột ngột Tỷ lệ tử vong tùy thuộc vào độc lực của

vi rút và tùy lứa tuổi và điều kiện vệ sinh… Tỷ lệ chết thường vào khoảng 30-50% (Phạm Sỹ Lăng, 2004)

Trang 18

Hình 2.1 Gà bệnh nằm phủ phục Hình 2.2 Phân gà bị bệnh Gumboro

( Nguồn từ http://www.anova.com.vn/image_taitieu/gum1)

Thể không có biểu hiện lâm sàng (thể ẩn bệnh)

Không biểu hiện triệu chứng Chỉ thấy bệnh tích ở tuyến ức và túi Fabricius teo (Hồ Thị Việt Thu, 2006)

2.7.2 Bệnh tích

Bệnh tích đại thể

Gà bệnh gầy khô, cơ đùi và cơ ngực xuất huyết Màng niêm mạc ruột có khi dầy lên và kèm theo xuất huyết lấm chấm, thậm chí cả dạ dày tuyến, lách bị hoại tử lấm chấm (Rinaldi et al, 1965) Thận sưng và có muối urat trắng đọng trong đó hoặc nằm dọc theo ông dẫn niệu nhưng đến nay bệnh tích này ít gặp (5%) (Helmbolb và Garner,1964) Bệnh tích kể trên nói chung không đồng đều và ổn định trừ hai bệnh tích ở túi Fabricius và xuất huyết cơ

Hình 2.3 Xuất huyết trên niêm mạc dạ dày tuyến (chỗ tiếp giáp giữa mề và tiền mề)

Theo Cheville (1967) kích thước túi Fabricius biến đổi như sau: ngày thứ 3 sau

Trang 19

so với bình thường Đến ngày thứ 5 kích thước túi trở lại bình thường để rồi bắt đầu teo đi Đến ngày thứ 8 kích thước túi chỉ còn lại 1/3 so với kích thước ban đầu Màu sắc của túi Fabricius ở gà không có bệnh có màu trắng Trong khi đó ở gà mắc bệnh thì màu sắc của túi Fabricius thì biến đổi, thông thường chuyển từ màu vàng chanh

và được bao xung quanh một lớp tiết xuất nhớt cùng màu Trong trường hợp nặng

có thể có xuất huyết, màu của túi chuyển sang màu đỏ, có khi đỏ thẫm Khi cắt đôi túi ra ta cũng thấy màu bên trong giống như bên ngoài Các nếp nhăn ở bên trong dày lên nhiều khi có cả thể bã đậu

Hình 2.4 Túi Fabricius sưng to, đỏ, xuất huyết lấm tấm

(Nguồn từ http://www.anova.com.vn/image_taitieu/gum1)

Bệnh tích đặc trưng quan trọng thứ hai là xuất huyết cơ ngực, cơ đùi ở bên trong da Các điểm xuất huyết này không có hình thù cố định Số lượng đám xuất huyết tỷ lệ với sự nghiêm trọng của bệnh

Hình 2.5 Cơ đùi xuất huyết thành từng vệt

(Nguồn từ http://www.anova.com.vn/image_taitieu/gum1)

Trang 20

Bệnh tích vi thể

Các bệnh tích vi thể của bệnh Gumboro chủ yếu xảy ra ở các tổ chức lâm ba của xoang hậu môn, túi Fabricius, lách, tuyến ức và hạch manh tràng Những biến đổi nghiêm trọng nhất là ở túi Fabricius Sau khi nhiễm bệnh không quá một ngày

có sự hoại tử, thoái hóa các tế bào lâm ba cầu ở trong các tiểu thùy của túi Các lâm

ba cầu sớm được thay thể bởi tế bào đa nhân trung tính, các mảnh tế bào chết và sự tăng sinh của các hệ thống lưới nội mô Tất cả các tiểu thùy lâm ba đều bị ảnh hưởng sau khi bị nhiễm bệnh 3 hoặc 4 ngày, ở thời điểm này trọng lượng của túi Fabricius tăng do ứ nước nặng, dung huyết và tích tụ tế bào đa nhân trung tính Khi phản ứng viêm giảm, các xoang trong các vùng tủy của tiểu thùy phát triển, hoại tử và sự thực bào của tế bào bạch cầu đa nhân, tương bào và mô liên kết tăng sinh ở giữa các tiểu thùy

2.8 Chẩn đoán

Bệnh Gumboro ở thể cấp tính xảy ra trên toàn đàn thì dễ nhận biết và việc chẩn đoán có thể thực hiện được ngay Bệnh bắt đầu nhanh, bệnh số cao, tử số thể hiện tuân theo dạng đồ thị hình chuông, hồi phục nhanh sau 5-7 ngày, có các biểu hiện triệu chứng bệnh Việc chẩn đoán được thực hiện bằng việc mổ khám xem các biến đổi đại thể của túi Fabricius, như sự thay đổi về kích thước và màu sắc trong suốt giai đoạn bệnh diễn ra, thí dụ sưng lớn do bị viêm sau đó teo lại

Bệnh có thể xảy ra ở gà con hoặc gà có nhận kháng thể từ mẹ nhưng rất ít, nếu không có triệu chứng thì chẩn đoán bằng phương pháp mổ khám để quan sát bệnh tích đại thể và vi thể của túi Fabricius

Chẩn đoán phân biệt

Trong khi chẩn doán bệnh Gumboro bằng lâm sàng và mổ khám bệnh tích, cần chú ý một số vấn đề sau:

Hiện tượng sưng thận có thể thấy ở đàn gà bị thiếu nước uống hoặc do viêm thanh khí quản truyền nhiễm

Xuât huyết cơ ngực và đùi có thể do hội chứng xuất huyết ở gà

Teo túi Fabricius có thể quan sát thấy trong bệnh Marek hoặc trong bệnh Adenovi rút

Trang 21

Chẩn đoán bằng phương pháp huyết thanh học

ELISA là phương pháp hiện đang được sử dụng để kiểm tra kháng thể của bệnh Gumboro của đàn gà Marquardt và ctv (1983) là người đầu tiên mô tả phản ứng Indirect ELISA để đo lường kháng thể ELISA có thuận lợi là nhanh, đọc kết quả dễ dàng qua chương trình máy vi tính, với chương trình này người ta có thể xác định hàm lượng kháng thể của đàn gà giống và cho thấy mức độ miễn dịch của đàn

gà và cung cấp thông tin cho việc xác định một chương trình phòng bệnh thích hợp cho đàn gà giống và đàn gà con Từ việc xác định hàm lượng kháng thể giúp ta xác định được hiệu quả của chương trình phòng bệnh bằng vắc xin Hàm lượng kháng thể có thể xác định được từ mẫu huyết thanh lấy từ đàn gà giống bố mẹ hoặc từ đàn

gà con 1 ngày tuổi Nếu mẫu huyết thanh lấy từ đàn gà con thì 60-80% hàm lượng kháng thể sẽ thấp hơn so với đàn gà bố mẹ Bằng phương pháp ELISA không thể chẩn đoán phân biệt được kháng thể giữa hai serotyp 1 và 2 Trước khi phương pháp ELISA được sử dụng thì phản ứng trung hòa vi rút đã được thực hiện

Một phương pháp khác dùng để xác định hàm lượng kháng thể có hiệu quả đối với vi rút bệnh Gumboro là phương pháp khuếch tán kết tủa trên thạch Ở vương quốc Anh việc sử dụng phản ứng kết tủa trên thạch được thực hiện thường xuyên để định lượng kháng thể

2.9 Phòng bệnh Gumboro

Dịch tễ học của bệnh Gumboro chưa được nghiên cứu rộng rãi nhưng người ta biết bệnh nổ ra do tiếp xúc với gà bệnh và tác nhân truyền bệnh làm bệnh nhanh chóng nổ ra thành dịch

Công tác quản lý trại: người ta có thể áp dụng phương pháp phòng bệnh cho gà con bằng cách cho tiếp xúc với gà bệnh, biện pháp này được áp dụng để kiểm soát bệnh Gumboro trước khi phát triển vắc xin Điều này được khuyến cáo ở các trại có lịch sử của bệnh và gà con thường có kháng thể từ mẹ để phòng bệnh Gà con dưới

2 tuần tuổi thường không có triệu chứng lâm sàng khi nhiễm bệnh Gumboro Ở nhiều trại việc vệ sinh giữa hai giai đoạn nuôi không được chặt chẽ và do vi rút tại bền trong tự nhiên, nó dễ dàng lưu trú và làm bệnh sớm phát cho đàn gà con một cách tự nhiên

Việc tạo miễn dịch là phương pháp cơ bản đã sử dụng để kiểm soát bệnh Gumboro ở gà Điều đặc biệt quan trọng là tạo sự miễn dịch cho đàn gà bố mẹ để truyền kháng thể từ mẹ sang gà con Kháng thể mẹ sẽ bảo vệ cho gà con khỏi bị nhiễm bệnh sớm làm suy yếu hệ thống miễn dịch Kháng thể mẹ sẽ bảo vệ gà con từ

Ngày đăng: 12/04/2018, 18:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Mazza, P., 1994. The use of Bacillus subtilis as an antidiarhoeal microorganism. Boll. Chim. Farm. 133: 3-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bacillus subtilis" as an antidiarhoeal microorganism. "Boll. Chim. Farm
1. Phạm văn ty , 2001. Miễn dịch học. Nxb Đại học Quốc gia Hà nội. Trang 137-140 Khác
2. Phan Thanh Phượng, ctv, 2007. Miễn dịch học thú y và ứng dụng. Nxb Nông nghiệp. Trang 81-84 và trang 116-121 Khác
3. Nguy ễn Thành Trung, 1997 . Tình hình và biện pháp phòng bệnh Gumboro tại xí nghiệp gia cầm Meko. Luận án thạc sĩ Khoa nông nghiệp và SHƯD trường Đại học Cần thơ. Trang 15-20 Khác
4. Võ Bá Thọ, 2004. 80 câu hỏi –trả lời về kỹ thuật nuôi gà công nghiệp. Nxb Nông nghiệp. Trang 75-76 Khác
5. Hồ Thị Việt Thu, 2006. Bệnh truyền nhiễm gia súc và gia cầm. Trang 184- 188 Khác
6. Lê Thanh Hòa, 2004. Khoa học kỹ thuật Thú Y tập 11 số 4. Trang 6-8 Khác
7. Nguy ễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương, 1997. Vi sinh vật Thú Y. Nxb Nông nghiệp. Trang 246-251 Khác
8. Vũ Nguyên Thành và ctv,2001. Miễn dịch học. Nxb Đại học Quốc gia Hà nội. Trang 137-140 Khác
9. Nguy ễn Bá Thành, 2006. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh Gumboro, vi rút gây bệnh và đề xuất quy trình tiêm chủng vắc xin phù hợp để phòng bệnh cho đàn gà tại tỉnh Đồng Nai. Luận án tiến sĩ nông nghiệp. Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Khác
10. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thiện, 2004. Một số bệnh mới do vi rút ở gia súc, gia cầm và biện pháp phòng trị. Nxb Nông nghiệp. Trang 172-174 Khác
11. Nguy ễn Xuân Bình, 2002. 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị. Nxb Nông nghiệp. Trang 172-194 Khác
12. Lê Văn Năm, 2003. Hướng dẫn điều trị bệnh ghép ở gà. Nxb Nông nghiệp. Trang 12-13, 70-71 Khác
13. Isaacs, A., and J. Lindenmann, 1957. Vi rút interference. I. The interferon. Proc. R. Soc. London Ser. B 147. pp 258-267 Khác
14. Marcus P. I., Van Der Heide L., Sekellick M. J., 1999. Chicken interferon action and avian vi rútes. I. Oral administration of interferon-alpha ameliorates Newcastle disease. J Interferon Cytokine Res 19:pp 881-885 Khác
15. Mo C. W., Cao Y. C., and Lim B. L., 2001. The In Vivo and In Vitro Effects of Chicken Interferon a on Infectious Bursal Disease Vi rút and Newcastle Disease Vi rút Infection. Avian Disease 45: 389-399 Khác
16. Kraneveld, F.C. 1926, A poultry disease in Dutch East Indies, Ned Indisch BI Diergeneeskd 38. pp 448-450 Khác
17. La Ragione, R. M.,G. Casula, S. M. Cutting, and M. J. Woodward, 2001. Bacillus subtilis spores competitively exclude Escherchia coli 078:K80 in poultry.Vet. Microbiol. 79,pp 133-142 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm