Salmonella được quan tâm của các nhà nghiên cứu không những bởi thiệt hại do chúng gây ra đối với chăn nuôi mà còn liên quan đến các vụ ngộ độc thực phẩm ở người do vi sinh vật gây ra,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HOC ỨNG DỤNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH BÁC SĨ THÚ Y
NUÔI CẤY, PHÂN LẬP, ĐỊNH DANH VI KHUẨN S ENTERITIDIS VÀ S TYPHIMURIUM TRÊN PHÂN VỊT
NGHI BỆNH THƯƠNG HÀN TẠI QUẬN CỜ ĐỎ, Ô MÔN
THUỘC THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Sinh viên thực hiện:
Quách Thị Bế MSSV: 3064567 Lớp: Thú Y K32
Cần Thơ – Tháng 12/2010
Giáo Viên Hướng dẫn:
ThS: Nguyễn Thu Tâm
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: “ Nuôi cấy, phân lập, định danh vi khuẩn S enteritidis và S
typhimurium trên phân vịt nghi bệnh thương hàn tại quận Cờ Đỏ, Ô Môn
thuộc Thành Phố Cần Thơ” do sinh viên: Quách Thị Bế thực hiện tại khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2010 Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2010
Nguyễn Thu Tâm
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2010
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Qua bao năm tháng được học tập dưới mái trường, hôm nay khi luận văn tốt nghiệp đã hoàn thành tôi đã được sự giúp đỡ của rất nhiều người Trong những giây phút còn lại của thời sinh viên, tôi không biết nói gì hơn là:
Xin kính dâng lên cha mẹ
Người đã sinh thành, dưỡng dục và luôn đặt hết niềm tin yêu vào tôi lòng biết ơn sâu sắc
Xin chân thành biết ơn cô Nguyễn Thu Tâm
Người đã hết lòng tận tụy, chỉ bảo, động viên để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
Quý thầy cô trong bộ môn Thú Y và Chăn Nuôi đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học và làm đề tài
Xin chân thành cảm ơn
Anh chị em của tôi, cùng tất cả bạn bè, những người bạn thân thiết trong và ngoài lớp Thú Y K32 luôn luôn giúp đỡ, động viên cũng như chia sẽ những hạnh phúc, khó khăn trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài này
Cuối cùng, tôi xin nói lời cảm ơn đến Hội Đồng Giám Khảo đã dành thời gian đọc, xem xét và đóng góp những ý kiến quý báu cho đề tài tốt nghiệp của tôi
Dù mai này có sống và làm việc tại nơi nào, trong lòng tôi lúc nào cũng nhớ đến những tình cảm quý báo này
Quách Thị Bế
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang duyệt i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng, hình, sơ đồ vi
Tóm lược vii
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 Một số đặc điểm sinh học của vịt 3
2.1.1 Đặc điểm da và lông 3
2.1.2 Đặc điểm tiêu hóa, hấp thu thức ăn của vịt 3
2.1.3 Một số bệnh thường gặp khi nuôi vịt 5
2.2 Bệnh thương hàn trên vịt 6
2.2.1 Nguyên nhân và phương thức truyền lây 6
2.2.2 Cơ chế sinh bệnh 7
2.2.3 Triệu chứng 8
2.2.4 Bệnh tích 9
2.3 Sơ lược về vi khuẩn Salmonella spp 9
2.3.1 Lịch sử phát triển và phân loại của Salmonella spp 9
2.3.2 Hình thái vi khuẩn Salmonella spp 11
2.3.3 Đặc tính nuôi cấy 11
2.3.4 Đặc tính sinh hoá 12
2.3.5 Tính biến dị 13
2.3.6 Sức đề kháng 13
2.3.7 Cấu tạo kháng nguyên 13
2.3.8 Độc tố của vi khuẩn 16
Trang 62.3.9 Tính gây bệnh trên gia súc, gia cầm 17
2.3.10 Đối tượng mắc bệnh 19
2.4 Bệnh thương hàn và ngộ độc do Salmonella spp trên người 20
2.4.1 Sơ lược về vi khuẩn S typhimurium và S enteritidis 20
2.4.2 Cơ chế gây độc 21
2.4.3 Một số thông tin về tình hình ngộ độc thực phẩm 23
2.5 Tình hình nghiên cứu Salmonella spp ở gia cầm trong và ngoài nước 24
2.5.1 Tình hình nghiên cứu Salmonella spp ở gia cầm trong nước 24
2.5.2 Tình hình nghiên cứu Salmonella spp ở gia cầm ngoài nước 25
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 27
3.1 Phương tiện thí nghiệm 27
3.1.1 Mẫu 27
3.1.2 Thiết bị dụng cụ 27
3.1.3 Hóa chất và môi trường 27
3.2 Phương pháp tiến hành thí nghiệm 28
3.2.1 Phương pháp lấy mẫu 28
3.2.2 Phương pháp nuôi cấy, phân lập 28
3.2.3 Phương pháp xác định khuẩn lạc 30
3.2.4 Kiểm tra đặc tính sinh hoá 30
3.3 Phương pháp định danh tìm S enteritidis và S typhimurium 34
3.4 Kháng sinh đồ 35
3.4.1 Nguyên tắc 35
3.4.2 Môi trường làm kháng sinh đồ 35
3.4.3 Đĩa làm kháng sinh và cách điều chế canh khuẩn 35
3.4.4 Phương pháp làm kháng sinh đồ 35
3.4.5 Đọc kết quả 35
3.5 Xử lý số liệu 36
Trang 7Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 37
4.1 Tỷ lệ nhiễm Salmonella spp trên các mẫu phân vịt 37
4.2 Tỷ lệ nhiễm Salmonella spp theo địa bàn quận 38
4.3 Tỷ lệ nhiễm Salmonella spp theo lứa tuổi 38
4.4 Kết quả định danh vi khuẩn Salmonella spp 39
4.5 Kết quả kiểm tra tính nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh 40
Chương 5: KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Phân chia loài, phụ loài Salmonella spp dựa trên chủng huyết thanh học.
10
Bảng 2: Đặc tính sinh hóa của một số loài Salmonella spp 12
Bảng 3 Công thức kháng nguyên của một số chủng Salmonella spp 14
Bảng 4 Tình hình ngộ độc thực phẩm năm 2004 – 2005 23
Bảng 5 Các nguyên nhân gây ngộ độc năm 2004 – 2005 23
Bảng 6 Ngộ độc tại bếp ăn tập thể năm 2004 – 2005 23
Bảng 7 Các nguyên nhân gây ngộ độc bếp ăn tập thể năm 2004 – 2005 24
Bảng 8: Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp từ vịt còi cọc .37
Bảng 9: Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp trên từng quận 38
Bảng 10: Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp theo lứa tuổi 38
Bảng 11: Kết quả định danh 2 chủng vi khuẩn Salmonella spp phân lập 39
Bảng 12: Kết quả kiểm tra tính nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn Salmonella spp .40
DANH MỤC HÌNH Hình 1: Hình thái vi khuẩn Salmonella spp .11
Hình 2: Vịt làm mẫu 28
Hình 3: Khuẩn lạc Salmonella spp trên môi trường BGA 30
Hình 4: Khuẩn lạc Salmonella spp trên môi trường XLD 30
Hình 5: Kết quả thử sinh hóa của Salmonella spp .33
Hình 6: Kháng huyết thanh chuẩn O4, O9 34
Hình 7: Kháng huyết thanh chuẩn H:i, H:g,m 34
Hình 8: Kết quả thử tính nhạy cảm của vi khuẩn Salmonella spp đối với kháng sinh 36
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1: Sự lây nhiễm của Salmonella spp trong tự nhiên 19
Sơ đồ 2 Quy trình phân lập vi khuẩn Salmonella spp 29
Trang 9TÓM LƯỢC
Qua quá trình phân lập, nuôi cấy vi khuẩn Salmonella spp trên 96 mẫu phân
của vịt còi cọc, ủ rũ, mệt mỏi, bỏ ăn, chậm lớn thu thập được tại 2 quận Cờ Đỏ và Ô Môn thuộc khu vực thành phố Cần Thơ từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2010 có 32
mẫu dương tính với Salmonella spp chiếm tỷ lệ 33,33% Kết quả kiểm tra tính nhạy cảm của Salmonella spp với các kháng sinh Norfloxacin (37,5%), Gentamycin
(34,4%), Neomycin (34,4%), Colistin (21,4%), Tetracycline (18,7%), Amoxicillin (3,1%), Streptomycin (0.0%) Kết quả định danh 32 mẫu dương tính có 6 mẫu hiện
diện S enteritidis chiếm tỷ lệ 18,75% và chưa tìm thấy S typhimurium trên mẫu
khảo sát
Trang 10Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta là một nước nông nghiệp có tiềm năng nuôi vịt rất lớn Ngoài ra với diện tích sông ngòi dày đặc cho nên nghề nuôi vịt rất được ưa thích từ Bắc tới Nam
vì nuôi vịt chăn thả rất phù hợp với điều kiện ngoại cảnh, điều kiện sinh thái và có hiệu quả kinh tế cao
Với kinh nghiệm chăn nuôi theo lối cổ truyền của nhân dân kết hợp với khoa học kỹ thuật tiên tiến về giống, chăm sóc, nuôi dưỡng, thú y, … nghề nuôi vịt nước
ta có nhiều thuận lợi phát triển
Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn là vấn đề gây nhiều trở ngại đến sự phát triển của ngành chăn nuôi vịt Trong đó nổi trội là bệnh thương hàn vịt do vi khuẩn
Salmonella spp gây ra Vịt ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh, điều này cho thấy mầm
bệnh bài thải ra ngoài môi trường với số lượng lớn và chúng lây lan không những từ vịt bệnh sang vịt khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của con người
Sự tiếp xúc ngẫu nhiên giữa người và động vật trong điều kiện vệ sinh không thích hợp đã tạo điều kiện cho vi khuẩn lây sang người Theo Teresa (2000),
Salmonella spp thường truyền cho người qua nguồn phân và chất thải chăn nuôi Salmonella được quan tâm của các nhà nghiên cứu không những bởi thiệt hại do
chúng gây ra đối với chăn nuôi mà còn liên quan đến các vụ ngộ độc thực phẩm ở
người do vi sinh vật gây ra, trong đó Salmonella mà đặc biệt là S enteritidis và S typhimurium là một trong những nguyên nhân quan trọng
Xuất phát từ những thực tế trên, được sự cho phép của bộ môn Thú y khoa Nông Nghiệp & SHƯD, trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài “Nuôi cấy, phân lập, định danh vi khuẩn S enteritidis và S typhimurium trên
phân vịt nghi bệnh thương hàn tại quận Cờ Đỏ, Ô Môn thuộc Thành Phố Cần Thơ”
nhằm kiểm tra sự hịên diện của Salmonella spp trên phân vịt nghi nhiễm bệnh
thương hàn và kiểm tra tính nhạy cảm của chúng đối với kháng sinh
Trang 11Mục tiêu đề tài: Nuôi cấy, phân lập vi khuẩn Salmonella spp trên phân của
những vịt còi cọc, ủ rủ, mệt mỏi, bỏ ăn, chậm lớn
Định danh vi khuẩn S enteritidis và S typhimurium trên mẫu nói trên
Thử độ nhạy của vi khuẩn đối với kháng sinh
Trang 12Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Một số đặc điểm sinh học của vịt
2.1.1 Đặc điểm da và lông
Da
Da vịt khá mỏng và không có sự thay đổi theo định kỳ Không có tuyến mồ hôi ngoại trừ tuyến phao câu hay còn gọi là tuyến dầu nằm ở phía trên của phần đuôi Vịt dùng mỏ rỉa chất dầu nhờn được sản xuất ra từ tuyến này để trải trên bề mặt bộ lông, có tác dụng đặc biệt quan trọng, như một chất chống thấm nước làm cho vịt nổi trên mặt nước, giúp vịt bơi lội dễ dàng và không bị thấm lạnh qua lông khi ngâm lâu trong nước
Vùng da mỏ của vịt được bao phủ bằng một lớp sừng mỏng, tiếp giáp với các đầu mút dây thần kinh nên nhạy cảm như một cơ quan xúc giác Vùng da chân của vịt cũng được bao phủ bởi lớp sừng không thay đổi
Lông vịt
Vịt cũng như các loại gia cầm khác, trên bề mặt thân mình được bao bọc bởi một lớp lông vũ có chức năng như cơ quan điều chỉnh thân nhiệt cho cơ thể Nhiệm
vụ chính của bộ lông vũ là bảo vệ cho vịt không bị nhiễm lạnh Giữa lớp lông vũ và
da là lớp không khí, nhờ đó mà thân nhiệt luôn được duy trì ở mức cao
Vịt con khi nở ra có một lớp lông tơ mềm, mịn và mượt mà nhưng lông này
sẽ được thay nhanh chóng bằng loại lông phủ thô hơn Cũng như những gia cầm khác, lông vịt gồm 3 loại khác nhau: lông ống, lông tơ và lông hình sợi
2.1.2 Đặc điểm tiêu hóa, hấp thu thức ăn của vịt
Cấu tạo cơ quan tiêu hóa
Bộ máy tiêu hóa của vịt có những cấu tạo đặc trưng phù hợp với chức năng lấy thức ăn, tiêu hóa thức ăn thô, cứng của nó để duy trì quá trình sống, sinh trưởng
và sinh sản Bộ máy tiêu hóa của vịt bao gồm miệng, diều, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, ruột già, tuyến tụy, túi mật và ống mật
Trang 13Miệng
Vịt không có răng nên dùng mỏ để lấy thức ăn, mỏ vịt dẹt và dài, bên trong
có các mẫu nhỏ để lọc và giữ thức ăn Mỏ cấu tạo bởi lớp sừng, trong đó có nhiều sợi dây thần kinh bao bọc
Lưỡi vịt ở đáy khoang miệng, toàn bộ mặt dưới được phủ một lớp biểu mô hình vảy xếp thành lớp hướng vào trong cổ họng để làm chức năng chuyển thức ăn xuống thực quản
Vịt dùng mỏ lấy thức ăn và nuốt nhờ lưỡi chuyển động nhanh, thức ăn xuống lưỡi được đẩy nhanh vào thực quản Vịt có đặc điểm vừa ăn, vừa uống nước để làm ướt và trơn thức ăn giúp cho quá trình nuốt được dễ dàng Mặt trong thực quản phủ lớp cơ dày, gấp nếp, trong đó có các tuyến tiết chất nhầy để bôi trơn thức ăn
Diều
Diều là bộ phận phình to của phần cuối thực quản Diều ở vị trí tiếp giáp giữa ngực và cổ, nằm phía ngoài khoang ngực, được gắn với lớp da cổ và ngực, có tính đàn hồi lớn giúp cho thức ăn giữ lại đó dễ dàng Diều không có tuyến tiết dịch nhầy
Sự co bóp của diều thực hiện ngay sau khi thức ăn xuống diều Độ pH của dịch diều khoảng 4,5–6,0 Nhịp và đợt co bóp của diều phụ thuộc vào lượng thức ăn
có trong diều Điều hòa sự co bóp của diều do dây thần kinh phế vị và thần kinh phó giao cảm
Dạ dày cơ
Đây là nơi tập trung số lượng lớn của cơ, phía trong phủ một lớp màng nhầy rất dày có tác dụng chống lại sự ăn mòn của dịch tiêu hóa và khi dạ dày co bóp nghiền nhỏ thức ăn thì sỏi sạn không làm tổn thương dạ dày cơ Màng nhầy dạ dày
cơ có cấu tạo 2 lớp tế bào biểu bì phủ lớp màng và một lớp nhầy với mô liên kết chặt phía dưới gồm nhiều tuyến hình ống tiết ra dịch nhầy thấm ướt thức ăn trong khi dạ dày cơ co bóp nghiền nhỏ thức ăn
Trang 14Ruột non
Đoạn trên của ruột non liền với dạ dày cơ, nó gấp khúc gọi là tá tràng Bên trong của khoang ruột non là tuyến dịch tiêu hóa và lớp nhung mao nằm khắp bề mặt trong của ruột non Bên trong lông mao là những mao dẫn Thành ruột được cấu trúc bởi 2 lớp cơ: cơ vòng và cơ dọc
Có 2 dạng nhu động ruột: nhu động thuận và nhu động ngược nhờ hệ cơ vòng và cơ dọc, có 3 tác dụng: đảo trộn, tiêu hóa và hấp thu thức ăn tốt hơn
Ruột già
Ruột già bao gồm manh tràng và trực tràng Manh tràng là 2 nhánh xuất phát
từ phần cuối của ruột non Phần tiếp theo là trực tràng, nối liền với lỗ huyệt
Chức năng tiêu hóa là thủy phân thức ăn, biến thức ăn thành các phần tử nhỏ
để tạo điều kiện cho các tế bào lông nhung ruột hấp thu
2.1.3 Một số bệnh thường gặp khi nuôi vịt
Bệnh bướu cổ: bệnh do loại giun chỉ Oshimaia Taiwana gây ra, thường lưu
tồn ở những nơi bùn lầy, nước đọng có nhiều loại giáp xác sinh sống và là ký chủ trung gian truyền bệnh Triệu chứng thường gặp là dưới da vùng dưới hầu, đùi, khớp chân nổi cục bướu
Bệnh trụi lông: do vịt thiếu ăn hoặc chất lượng thức ăn kém, nghèo protein, thiếu nước tắm Ngoài ra, cũng do chuồng trại ẩm thấp, mất vệ sinh, nền cứng và
Trang 15nhám Triệu chứng thường gặp: vịt bị trụi lông không thể mọc được nếu không khắc phục những nguyên nhân gây ra
Bệnh nấm phổi: do điều kiện chuồng trại có chất độn ẩm thấp tạo điều kiện
cho các loại nấm phát triển trong đó có loại Aspergillus fumigatus là nguyên nhân
chính gây bệnh nấm phổi với triệu chứng khó thở, phải há miệng ra thở một cách khó khăn
Bệnh dịch tả vịt: bệnh do nhóm herpes virus gây ra cho các loại thủy cầm với những biểu hiện: uể oải, xõa cánh, đi lại khó khăn, không chịu vận động, nằm một chỗ
Bệnh tụ huyết trùng: do pasteurella multocida gây ra với những biểu hiện: có
dịch nhờn từ hốc mũi chảy ra, đi phân màu vàng hoặc xanh đôi khi lẫn máu, chết đột ngột, chết vào ban đêm
Đặc biệt bệnh thương hàn vịt do Salmonella spp gây ra Bệnh không những
gây hại cho đàn vịt nuôi mà còn gây nguy hiểm cho cả người khi ăn phải thức ăn nhiễm bệnh nấu không chín
2.2 Bệnh thương hàn trên vịt
Bệnh thương hàn vịt hay còn gọi là bệnh Salmonella ở vịt Vi khuẩn này
thường gây bệnh cấp tính ở vịt con, gây chết tỷ lệ cao 1–60% Không những thế mà còn gây nguy hiểm cho người khi dùng phải sản phẩm thịt và trứng đã nhiễm vi khuẩn này (Nguyễn Xuân Bình, 1999)
2.2.1 Nguyên nhân và phương thức truyền lây
Nguyên nhân
Bệnh do vi khuẩn Salmonella ở vịt thường do các chủng S typhimurium, S enteritidis, S anatum, …gây ra Vịt ở bất cứ lứa tuổi nào cũng có thể nhiễm bệnh
Phương thức truyền lây
Bệnh thương hàn thường phổ biến ở vịt, ngỗng, bồ câu, đôi khi cũng thấy ở
gà và gà tây Gia cầm non thường mắc bệnh nặng hơn gia cầm lớn Trong tự nhiên gia cầm lớn chỉ bị bệnh khi sức đề kháng giảm sút Bệnh nguy hiểm cho người khi
ăn phải thịt gia cầm chứa bệnh
Bệnh lây lan bằng nhiều cách Bệnh lây lan qua trứng, gia cầm non nở ra từ trứng bệnh không những tự nó mắc bệnh mà còn lây cho những con khác cùng lứa
Trang 16tuổi và làm ô nhiễm máy ấp, chuồng nuôi Vì vậy nếu ấp phải một lượng trứng chứa căn bệnh, dù nhỏ cũng làm bệnh lan ra rất nhanh
Vi khuẩn ở vỏ trứng cũng có vai trò lây bệnh gián tiếp hết sức nguy hiểm
Vì nó không chỉ ở ngoài vỏ chờ cơ hội gây bệnh mà còn có khả năng xuyên qua vỏ trứng vào bên trong để gây nhiễm cho phôi thai Nếu ổ đẻ, chuồng nuôi ẩm ướt, dơ
bẩn, có nhiều phân ứ động sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn Salmonella tồn tại và bám
vào trong trứng Người ta còn thấy ở vịt mang trùng, khi đẻ, vi khuẩn bám vào vỏ trứng ở chổ tiếp nối giữa ống dẫn trứng và trực tràng Sau khi đẻ trong quá trình nguội dần, căn bệnh sẽ được hút vào bên trong quả trứng Ngoài ra tại các lò ấp việc
vệ sinh không đúng kỹ thuật cũng có thể làm tăng độ nhiễm trùng của vỏ trứng
Ngoài trứng, phân gia cầm bệnh rất nguy hiểm vì là nguồn gốc dẫn đến mọi
sự ô nhiễm khác Phân chứa căn bệnh làm ô nhiễm nền chuồng và rơm độn chuồng Nền chuồng ẩm ướt căn bệnh không chỉ tồn tại trong nhiều tháng mà còn có khả năng sinh sản Phân bệnh cũng gây nhiễm trùng các nguồn nước và các ao đầm mà gia cầm thường bơi lội, tắm rữa Phân gây nhiễm trùng thức ăn và gây bệnh Các phế phẩm lò sát sinh dùng làm thức ăn gia súc nhưng chưa nấu chín, các bột xương, bột thịt, bột cá nhiễm trùng dễ làm bệnh phát ra
Ngoài ra, chính gia cầm còn mang trùng, nếu không thường xuyên kiểm tra máu để loại thải cũng sẽ là nguồn truyền bệnh rất nguy hiểm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Khả năng mang mầm bệnh của vịt là rất lâu dài, I.X.Zagaevxki đã tìm thấy
được Salmonella trong manh tràng và trong túi mật của vịt qua 2 năm 6 tháng khi
triệu chứng lâm sàng của bệnh thương hàn đã mất hết (Phan Thanh Phong, 1997)
2.2.2 Cơ chế sinh bệnh
Gia cầm lớn phát bệnh thường do vi khuẩn Salmonella ký sinh sẵn ở niêm
mạc đường tiêu hoá hoặc ở một số cơ quan phủ tạng trổi dậy khi sức đề kháng gia cầm giảm sút Bệnh ở gia cầm con thường do lây từ phôi thai hoặc từ những con nhốt chung ngay sau khi mới nở Ở giai đoạn đầu, căn bệnh gây nhiễm trùng huyết, niêm mạc, tương mạc Nếu bệnh tiến triển chậm sẽ xuất hiện các quá trình viêm, hoại tử ở các cơ quan phủ tạng Con vật hoặc bị chết hoặc trở thành con vật mang trùng Ngoài ra, cũng có trường hợp sau khi nhiễm trùng gia cầm bị bệnh ẩn tính, không có triệu chứng Nhưng một lúc nào đó nếu sức đề kháng của cơ thể mất thăng bằng bệnh sẽ phát ra (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Trang 17Vịt bệnh tiêu chảy nặng, mất nước nghiêm trọng, ủ rủ, xã cánh, lông dựng ngược, sau đó quỵ và suy sụp Tỷ lệ vịt ốm cao, nhưng tỷ lệ chết chỉ dưới 10% Triệu chứng thần kinh chủ yếu là loạng choạng, run, lắc đầu và ngoẹo cổ ở một số con
Bệnh nặng nhẹ phụ thuộc nhiều ở chế độ chăm sóc, quản lý, thiếu vitamin A, các ảnh hưởng stress, …
Bệnh do Salmonella có thể là bệnh thứ phát sau khi phát các bệnh viêm gan
siêu vi trùng và nhiều bệnh do siêu vi trùng khác
Sau khi bị nhiễm Salmonella, trong thời gian ấp nở, vi khuẩn sinh sôi nảy nở
và làm chết phôi, lòng đỏ không tiêu và chuyển màu thẩm
Tổn thương đại thể là hoại tử điểm ở gan, thận, manh tràng sưng lên, trong chứa từng cục như bã đậu Niêm mạc trực tràng viêm và trương lên chứa nhiều dịch trắng
Ở vịt con
Nếu nhiễm bệnh từ mẹ hoặc vỏ trứng vào phôi thì phôi bị chết trước khi nở (vịt sát)
Nếu nhiễm ít, khi nở ra vịt có triệu chứng:
Xã cánh, rụt cổ, rụng lông, tiêu chảy phân trắng, phân dính hậu môn màu trắng
Bụng trễ xuống do lòng đỏ không tiêu, trọng lượng thấp, vịt ốm yếu
Có con bị viêm khớp, chân yếu hoặc bị bại liệt
Phần lớn sau 2–3 ngày vịt hết bệnh nhưng nếu bệnh nặng thì kéo dài 1–2 tuần Trong trường hợp này, con vật suy yếu trầm trọng, viêm ruột nặng, thở khó dần rồi chết
Trang 18Ở vịt lớn
Bệnh thường xảy ra ở thể mãn tính như:
Vịt ủ rủ, gầy yếu, xù lông, phân có màu trắng như vôi dính ở hậu môn Vịt đẻ trứng giảm, vỏ xù xì, lòng đỏ có máu
Ở vịt lớn đôi khi cũng xảy ra ở thể cấp tính (thể nhiễm trùng huyết) vịt đột nhiên ủ rủ, bỏ ăn, tiêu chảy nặng (Nguyễn Xuân Bình, 1999)
2.2.4 Bệnh tích
Ở vịt con
Vịt con chết mổ thấy lòng đỏ không tiêu (còn to), màu nhợt nhạt
Lách sưng to gấp 2–3 lần so với bình thường
Ruột tụ máu, xuất huyết, có sự tích tụ fibrin Trường hợp nặng, niêm mạc
ruột loét, trực tràng hoại tử
Nếu bệnh kéo dài cơ tim, phổi, gan, lách có những nốt hoại tử màu vàng
xám, to nhỏ không đều
Đôi khi có viêm màng bao tim, viêm túi khí hoặc viêm khớp (khớp đầu gối)
Ở vịt lớn
Xác gầy, viêm hoại tử mãn tính ở các cơ quan phủ tạng
Gan sưng trên bề mặt có những nốt hoại tử màu vàng xám to nhỏ không đều Viêm bao tim, bao tim dày lên, trong bao tim có dịch thẩm xuất fibrin
Lách sưng to, ruột viêm, hoại tử, loét thành từng vệt trên niêm mạc
Buồng trứng méo mó, dị hình, có màu vàng nâu, xanh đen Viêm buồng trứng dẫn đến viêm phúc mạc làm cho ruột, ống dẫn trứng và thành bụng dính lại
với nhau
Một số con viêm khớp mãn tính
Ở con trống có những nốt hoại tử to nhỏ ở dịch hoàn
2.3 Sơ lược về vi khuẩn Salmonella spp
2.3.1 Lịch sử phát triển và phân loại của Salmonella spp
Salmonella mang tên của bác sĩ Thú y người Mỹ Daniel E Salmon vào năm
1885 nhưng người có công lớn nhất và là người đầu tiên có công phát hiện ra S
Trang 19choleraesuis là Theobald Smith, một thuộc cấp của Daniel E Salmon, lúc đó đang
nghiên cứu về tính quá mẫn
Năm 1934, theo đề nghị của hội nghị sinh học quốc tế, để kỷ niệm người đầu
tiên tìm ra vi khuẩn, tên chính của vi khuẩn được đặt tên là Salmonella
Theo D’ Aoust (2000), đã nêu lên một vài con đường phân chia loài trong lịch sử phân chia loài Một vài nhà nghiên cứu dựa trên đặc điểm sinh hoá, AND
đơn và thành phần điện enzym để sử dụng cho việc phân nhóm Salmonella
Những nhà nghiên cứu dựa trên ngoại hình, đặc điểm của tính tương đồng
của gene cho là S choleraesuis có thể chia làm 7 loại phụ bao gồm loại phụ S choleraesuis, S salamae, S aionae, S diarizonae, S houtenae, S bongori và S indica
Năm 1987, một nhóm các nhà nghiên cứu khác cũng dựa trên tính tương
đồng của gene nhận thấy rằng S enterica có thể chia làm 7 loài phụ như trên thay
vì S choleraesuis Năm 1989, loài phụ S bongori được nâng lên mức loài
Năm 1995, các nhà khoa học đã chia nhóm gene của Salmonella ra làm 2 loài lớn là S enterica bao gồm 6 loài phụ S enterica, S salamae, S aionae, S diarizonae, S houtenae, S indica và S bongori
Bảng 1: Phân chia loài , phụ loài Salmonella dựa trên chủng huyết thanh học
Salmonella enterica
Salmonella bongori
enterica salamae aionae diarizonae houtenae indica
Trang 20m, không hình thành giáp mô
và nha bào Đa số các loài
Salmonella đều có khả năng di
động mạnh do có từ 7–12 lông
xung quanh thân (trừ S
gallinarum, S pullorum) Vi
khuẩn dễ nhuộm với các thuốc
nhuộm thông thường, Gram âm, khi nhuộm vi khuẩn bắt màu đều toàn thân hoặc hơi đậm ở hai đầu (Nguyễn Như thanh, 1997)
2.3.3 Đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn Salmonella vừa hiếu khí, vừa kỵ khí, dễ nuôi cấy trong nhiệt độ
thích hợp 37 oC, vi khuẩn Salmonella có thể phát triển ở nhiệt độ 6–42 oC, pH thích
hợp cho sự phát triển của Salmonella 7,6 (phát triển được ở pH từ 6–9)
Môi trường nước thịt: cấy vài giờ đã đục nhẹ, nuôi lâu ở đáy ống nghiệm có cặn, trên mặt môi trường có màng mỏng
Môi trường thạch: Xuất hiện những khuẩn lạc tròn, trong sáng, ẩm ướt, nhẵn
bóng, hơi lồi lên ở giữa, nhỏ hơn và trắng hơn khuẩn lạc của E coli Ở một số loài (S paratyphi B, S cholerae suis), sau khi cấy được 24 giờ, để ở phòng thí nghiệm
thấy khuẩn lạc được bao bọc bởi một bờ chất dính, chất keo, muốn bờ chất dính hình thành phải có khuẩn lạc đứng riêng một mình, lớp thạch phải dày, thạch có
peptone Trực khuẩn S typhimurium không hình thành khuẩn lạc có bờ chất dính
Thỉnh thoảng có thể thấy khuẩn lạc dạng R nhám, mặt trong mờ
S abortus equi nuôi cấy từ cơ thể súc vật sang môi trường thạch đầu tiên
hình thành khuẩn lạc khô, hình hạt lỗ chỗ
Môi trường phân lập: Có thể dùng các nhóm môi trường có agar để phân lập
vi khuẩn Salmonella Trong đó phổ biến nhất là môi trường Brilliant Green Agar
(BGA), Xylose Lysine Desoxycholate (XLD) và Manitol Lysine Crystal Violet Brilliant Green Agar (MLCB) Khuẩn lạc tròn, nhẵn bóng, hơi lồi, có màu đỏ nhạt trên BGA và màu đen viền xám trên MLCB, XLD
Hình 1: Hình thái vi khuẩn Salmonella spp
Trang 21Gelatin: Vi khuẩn không làm chảy gelatin
2.3.4 Đặc tính sinh hoá
Bảng 2: Đặc tính sinh hóa của một số loài Salmonella spp (Nguyễn Như Thanh, 1997)
Loài vi khuẩn Xylose Arabinose Trehaloza Inositon Mantose Sản
+H
+H +H +, - +H +H +H +H +
+H
+H +H + +H +H +H +H +
-
+H
-
- +H
-
-
- -
+H
+H +H + +H +H +H +, - +
-
+ + + +
- + + +, -
H: sinh hơi,+,- : thay đổi
Chuyển hoá đường: mỗi loài Salmonella có thể lên men và chuyển hoá
đường nhất định và không đổi
Môi trường để kiểm tra tính chất lên men đường thường là môi trường nước peptone cho thêm một loại đường với tỷ lệ 0,5% và chất chỉ thị màu như xanh bromothymon, tía bromocrezon, hoặc đỏ phenon
Phần lớn các loài Salmonella lên men có sinh hơi các nhóm đường: glucose, maltose, mannit, galactose, levulose, … Một số loài lên men nhưng không sinh hơi:
S abortus bovis, S typhi, S gallinarum, S enteritidis, …
Tất cả các loài Salmonella đều không lên men đường lactose, saccharose trừ
S arizonae
Enzym khử Cacboxyl Khoảng 96% Salmonella đều tiết ra enzym khử
cacboxyl đối với lysine, arginine, ornithine
Phản ứng H2S dương tính (trừ S parataphy A, S typhisuis, S choleraesuis)
Phản ứng indol âm tính
Trang 22Phản ứng VP, MR âm tính
2.3.5 Tính biến dị
Vi khuẩn Salmonella có thể biến dị về khuẩn lạc và kháng nguyên
Biến dị khuẩn lạc S => R Vi khuẩn mới phân lập có khuẩn lạc dạng S
(smooth), có kháng nguyên đặc hiệu của chúng Qua một thời gian nuôi cấy, vi khuẩn phát sinh khuẩn lạc dạng R (Rough), lúc đó kháng nguyên O không còn đặc hiệu nữa
Biến dị kháng nguyên O => H Trong khi nuôi cấy, dưới ảnh hưởng của một
số chất như acid phenic, … vi khuẩn sẽ mất lông, sinh biến dị không di động chỉ còn kháng nguyên O
Biến dị của kháng nguyên H Vi khuẩn có lông có thể biến dị từ phase 1
sang phase 2 có cấu tạo kháng nguyên khác phase 1
Trong xác động vật chết Salmonella có thể sống 100 ngày, trong đất bùn
hoặc cát khô từ 2–3 tháng, trong nước đóng băng từ 2–3 tháng Vi khuẩn giữ trong nước có thể sống 1-2 tháng
Clorua thủy ngân 1%, acid phenic 3% có thể diệt vi khuẩn trong 15–20 phút
Salmonella có sức đề kháng tương đối mạnh hơn các vi khuẩn khác đối với các hóa
chất: lục sáng (vert brilliant), tím kết tinh (NaHSO3)
Salmonella có thể sống từ 4–8 tháng trong thịt ướp muối có tỷ lệ muối 29% ở
nhiệt độ 6–12 0C (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
2.3.7 Cấu tạo kháng nguyên
Hiện nay trong việc phân loại các loài Salmonella, ngoài việc căn cứ vào
những đặc tính sinh hóa, cần nghiên cứu kỹ cấu tạo kháng nguyên Các nhà nghiên
cứu vi khuẩn học đã chứng thực từ lâu vi khuẩn Salmonella ngoài phản ứng huyết
thanh có ngưng kết có tính chất đặc hiệu ra, còn có hiện tượng ngưng kết tương tự,
ngưng kết chéo do cấu tạo kháng nguyên của Salmonella hết sức phức tạp Vì có cả
Trang 23kháng nguyên đặc hiệu và kháng nguyên không đặc hiệu chung cho nhiều loại biến chủng cộng đồng (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Cấu trúc kháng nguyên của Salmonella gồm 3 nhóm là kháng nguyên O,
kháng nguyên H và kháng nguyên Vi
Bảng 3 Công thức kháng nguyên của một số chủng Salmonella spp. (Theo Popoff, 2001)
- -
- 1,2 1,2 1,5 1,5
-
-
- -
Kháng nguyên O hay kháng nguyên vách tế bào (cell wall antigen)
Kháng nguyên O là kháng nguyên đề kháng với nhiệt độ và cồn Ngày nay, người ta tìm thấy khoảng 63 nhóm kháng nguyên O, và những nhóm kháng nguyên
này thường được sử dụng để nhận dạng ra chủng Salmonella spp Nếu những chủng Salmonella spp có cùng một số trên kháng nguyên O thì chúng có thể có
quan hệ gần với nhau, mặc dầu những yếu tố này không phải lúc nào cũng là cần
thiết cho việc nhận dạng ra kháng nguyên Salmonella spp (Kenneth, 2005)
Kháng nguyên O là một nhóm kháng nguyên thân, nó có vai trò rất quan trọng Mỗi nhóm vi khuẩn có kháng nguyên O được cấu tạo bởi một số thành phần
nhất định được ký hiệu bằng số La Mã Một số vi khuẩn Salmonella có thể có nhiều
yếu tố
Yếu tố đặc hiệu: chỉ có loài mới có
Yếu tố không đặc hiệu: có thể chung cho một vài loài
Trang 24Kháng nguyên O là một phần ngoài của tế bào, gồm có 4 lớp: lớp lipopolysaccharide (LPS), lớp photpholipide, lớp lipoprotein và lớp peptidoglycan
Kháng nguyên Vi (Surface or envelope antigen)
Salmonella còn có thêm kháng nguyên bề mặt, kháng nguyên này dễ dàng tìm thấy ở Escherichia coli, Shigella, … Kháng nguyên bề mặt có thể bao phủ và che kín kháng nguyên thân O, và khi đó vi khuẩn Salmonella sẽ không thể ngưng
kết với kháng huyết thanh O Một trong những kháng nguyên đặc biệt được biết đến
đó là kháng nguyên Vi (Kenneth, 2005)
Kháng nguyên Vi cuả Salmonella không phức tạp, chỉ có thể có hoặc không
có ở 3 chủng huyết thanh học là S typhi, S paratyphi C và S dublin (Kenneth,
2005)
Bản chất của kháng nguyên Vi là phức hợp glucid – lipid – polypeptid gần giống như kháng nguyên O, kháng nguyên Vi không tham gia vào quá trình gây bệnh
Kháng nguyên H
Kháng nguyên H bản chất là những protein không bền với nhiệt độ Kháng
nguyên này chỉ có ở Salmonella có lông Đây là nhóm kháng nguyên góp phần cho việc xác định một cách chính xác các chủng Salmonella, kháng nguyên H bao gồm:
Salmonella có phase 1 Có tính chất đặc hiệu bao gồm 28 loài kháng nguyên
lông được biểu thị bằng chữ La tinh thường: a, b, c, d, …, z
Salmonella có phase 2 Không có tính chất đặc hiệu, loài này có thể ngưng kết với các loài khác đôi khi thành phần này có thể gặp ở E coli (Nguyễn Như
Thanh, 1997) Gồm có 6 nhóm được biểu thị bằng chữ số Ả rập: 1, 2, 3, 4, 5, 6, … hay chữ La tinh thường: e, n, x, …
Một vài chủng huyết thanh của loài S enterica như phụ loài S enteritidis, S typhi, … sản xuất ra kháng nguyên lông mà những kháng nguyên lông này luôn có
những tính kháng nguyên đặc hiệu giống nhau Lúc này những kháng nguyên này
được gọi là phase 1 Hầu hết các chủng Salmonella còn lại có thể sản sinh ra 2
nhóm kháng nguyên lông đặc hiệu trên cơ thể chúng, những vi khuẩn này được gọi
là có phase 2 kháng nguyên H
Nghiên cứu các kháng nguyên O, H, Vi người ta xây dụng bảng công thức kháng nguyên
2.3.8 Độc tố của vi khuẩn.
Trang 25Nội độc tố (Endotoxin)
Nội độc tố thường có ở những vi khuẩn gram âm Nội độc tố hay lipopolysaccharide là một nữa màng tế bào hoá học bên ngoài bao gồm 3 phần: một lipid chứa độc tố A (Lipid A), nằm ở màng ngoài, một lõi polysaccharide chứa kháng nguyên đặc hiệu về giống hay loài của vi khuẩn, một kháng nguyên thân O liên kết với hàng loạt các chuỗi oligosaccharide nằm ở bề mặt ngoài của tế bào
Chủng S typhimurium có thể tiết độc tố lên trên bề mặt của tế bào Các gene khống chế các yếu tố độc lực trên vi khuẩn Salmonella chưa được nghiên cứu đầy đủ Tuy nhiên, có rất nhiều gene mang yếu tố độc lực của S enterica nằm trên vùng gây
bệnh của nhiễm sắc thể Những đoạn gene này rất cần thiết cho quá trình chuyển đổi
giữa các vi khuẩn Salmonella với nhau
Có ít nhất là 6 chủng huyết thanh học của Salmonella (S abortusovis, S choleraesuis, S dublin, S enteritidis, S gallinarum, S pullorum và S typhimurium)
có chứa đoạn gene mang độc lực Kích thước của những đoạn gene này thay đổi tuỳ theo chủng huyết thanh học Những đoạn gene này chứa đựng những đoạn gene
ngắn mang yếu tố độc lực plasmid của Salmonella
Theo Rychlik (2005), những gene trên được hình thành do các yếu tố sau: ức
chế sự phát triển của vi khuẩn, sụt giảm pH, sự sống sót của vi khuẩn Salmonella
bên trong đại thực bào
Salmonella sản sinh ra nội độc tố gồm có 2 loại là độc tố ruột gây xung huyết
và mụn loét trên ruột, và độc tố thần kinh gây triệu chứng thần kinh (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Nội độc tố của vi khuẩn Salmonella có tính độc rất mạnh, với liều thích hợp
tiêm tĩnh mạch sẽ giết chết chuột bạch trong vòng 48 giờ Bệnh tích đặc trưng như ruột non xuất huyết, đôi khi hoại tử Độc tố ở ruột gây độc thần kinh, gây hôn mê,
Trang 26Ngoại độc tố có thể chế thành giải độc tố bằng cách trộn thêm 5% formol để
ở 37 0C trong 20 ngày Giải độc tố tiêm cho thỏ sẽ tạo kháng thể ngưng kết, kháng thể kết tủa và thỏ có khả năng trung hoà độc tố của vi khuẩn (Nguyễn Như Thanh, 1997)
2.3.9 Tính gây bệnh trên gia súc, gia cầm
Bình thường có thể phát hiện Salmonella trong ruột bò, lợn, vịt và một số
động vật khỏe mạnh Nhưng nếu điều kiện chăm sóc quản lý không được tốt làm
cho sức đề kháng của con vật sút kém thì Salmonella xâm nhập nội tạng mà gây
Theo kết quả nghiên cứu của Loynachan và Harris (2005), đã đề nghị rằng số
lượng cần thiết để mà vi khuẩn Salmonella gây bệnh cấp tính trên biểu mô đường
ruột và không phải đường ruột là vào khoảng cao hơn 1x103 vi khuẩn Salmonella
trên 1 gram phân
Trong phòng thí nghiệm chuột bạch cảm nhiễm nhất đối với Salmonella, cho
ăn hay tiêm vi khuẩn có thể gây bệnh được Ngoài chuột bạch ra, còn có thể dùng chuột lang, thỏ Sau khi tiêm dưới da (hoặc vào phúc mạc) ở nơi tiêm dưới da phát sinh thủy thũng, sưng, nung mủ, loét, con vật gầy dần rồi chết (4-6 ngày đến 8–10 ngày), mổ khám có bệnh tích tụ máu, lá lách sưng, viêm ruột trong trường hợp bệnh kéo dài thì gan và lá lách có những điểm hoại tử
Một số loài Salmonella như S enteritidis, S typhimurium, S cholerae suis có
thể gây cho người bệnh ngộ độc về thức ăn
Tính miễn dịch: Sau khi khỏi bệnh hoặc sau khi tiêm vacxin có sinh ra miễn dịch tương đối lâu dài, trong cơ thể sản sinh ra ngưng kết tố, kết tủa và kháng thể có tính chất kết hợp bổ thể, kháng nguyên O có tác dụng sinh ra miễn dịch rõ rệt, tác dụng của kháng nguyên H không rõ rệt (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Quá trình di chuyển và nhân lên trong ký chủ của vi khuẩn Salmonella
spp
Trang 27Sau khi vi khuẩn Salmonella xâm nhập vào trong ruột, gặp điều kiện thuận lợi như stress vận chuyển, sự giảm sức đề kháng của vật chủ, Salmonella nhân lên
nhanh chóng sau đó lan tỏa và bao phủ bề mặt ruột non đến cả phần hồi tràng Đi xuyên qua và phá huỷ tế bào biểu mô ruột, sau đó xâm nhập vào trong các hạch bạch huyết và sinh sản lên tại đây Sau đó chúng phóng thích một số lượng lớn vào trong máu, lan toả đi khắp cơ thể gây nhiễm trùng máu Từ máu, vi khuẩn có thể đi đến các tổ chức và gây nên các ổ áp xe (Wilcock, 1992)
Các yếu tố ảnh hưởng của sự tồn tại cả Salmonella spp cơ thể ký chủ
Theo Rychlik và Borrow (2005), để vi khuẩn Salmonella tồn tại được trong
cơ thể ký chủ nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Mật độ pH trong dạ dày
Mức độ tác động của kháng sinh mạnh hay yếu đến mật độ
Sự giảm lượng oxy cung cấp
Chất xơ, chất chứa bình thường và sự trao đổi chất trong ruột
Sự nhu động của ruột
Mức độ liên kết của các cation trong kháng sinh trên bề mặt biểu mô ruột
Cách lây nhiễm
Trong tự nhiên, sự lây nhiễm của vi khuẩn Salmonella thể hiện bằng sơ đồ
sau: