Song song với sự gia tăng đó thì bệnh tật cũng gia tăng đáng kể, trong số đó bệnh Carré là một bệnh truyền nhiễm không những giết hại nhiều chó mà còn gây nên thiệt hại nặng nề về kinh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LÊ NHẬT MINH
KHẢO SÁT TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ BỆNH
TÍCH TRÊN PHỔI CHÓ MẮC BỆNH CARRÉ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Luận văn tốt nghiệp Nghành: THÚ Y
Cần Thơ, 2009
Trang 2là người bạn thân thiện với trẻ em và với những người độc thân Vì thế số lượng chó được nuôi ngày càng nhiều, đa dạng về nguồn gốc và giống
Song song với sự gia tăng đó thì bệnh tật cũng gia tăng đáng kể, trong số đó bệnh
Carré là một bệnh truyền nhiễm không những giết hại nhiều chó mà còn gây nên thiệt
hại nặng nề về kinh tế cũng như tinh thần của người nuôi Được sự đồng ý của Bộ Môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ
chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát bệnh tích trên phổi chó mắc bệnh Carré tại
Bệnh Xá Thú Y - Trường Đại Học Cần Thơ”
Mục tiêu đề tài:
- Ghi nhận biểu hiện lâm sàng trên chó bệnh Carré mang đến điều trị tại Bệnh Xá
- Khảo sát bệnh tích trên phổi chó mắc bệnh Carré từ đó thấy được tác hại của bệnh để
có biện pháp tăng cường phòng chống bệnh
Trang 3Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1 MỘT SỐ HẰNG SỐ SINH LÝ CỦA CHÓ VÀ Ý NGHĨA CHẨN ĐOÁN
2.1.1 Thân nhiệt
Bình thường thân nhiệt là một hằng số, có thay đổi trong khoảng dao động hẹp do các ảnh hưởng về tuổi, giới tính, loài, sự hoạt động, nhiệt độ môi trường Sự ổn định của nhiệt độ là do có sự cân bằng giữa sự sinh nhiệt và sự thải nhiệt dưới tác động chi phối của hệ thần kinh trung ương và trung khu điều hoà nhiệt Thân nhiệt bình thường ở chó là 38 – 390 C
* Ý nghĩa chẩn đoán:
Xác định được nguyên nhân gây bệnh qua phản ứng sốt (nhiễm trùng do viêm)
Xác định được tính chất và mức độ bệnh: bệnh nặng hay nhẹ, cấp tính hay mãn tính Đánh giá hiệu quả điều trị và tiên lượng bệnh: Nếu điều trị đúng có kết quả thì thân nhiệt hạ dần đến mức bình thường và thú khỏi bệnh Nếu đang sốt cao mà thân nhiệt
hạ xuống đột ngột là triệu chứng bệnh trầm trọng và thú có thể chết
2.1.2 Tần số hô hấp (nhịp thở)
Tần số hô hấp là số lần gia súc thở ra hít vào trong một phút Đếm 2 –3 phút rồi lấy số trung bình Tần số hô hấp sinh lý ở chó là 10 – 40 lần /phút Tần số hô hấp thay đổi phụ thuộc vào giống, tuổi, giới tính, điều kiện thời tiết, chế độ làm việc Để xác định tần số hô hấp dựa vào:
+ Sự phồng lên xẹp xuống của 2 bên thành ngực và 2 bên thành bụng
+ Sự dãn nở của 2 bên cánh mũi hoặc dùng tay để trước mũi
+ Đặt ống nghe ở khí quản vùng phổi
* Ý nghĩa chẩn đoán:
- Tần số hô hấp tăng : Gặp trong sốt cao, các bệnh ở hệ hô hấp (các chất độc kích thích gây hưng phấn ở trung khu hô hấp), các bệnh thiếu máu, các bệnh ở tim gây ứ máu ở phổi, thở nhanh
- Tần số hô hấp giảm: Gặp trong trúng độc
Trang 42.1.3 Màu sắc niêm mạc
Niêm mạc có nhiều mao mạch và tình trạng niêm mạc phản ánh tình trạng chung của
cơ thể như tuần hoàn, hô hấp, dinh dưỡng Bình thường niêm mạc có màu hồng, các mạch quản nổi không rõ
2.2 CẤU TẠO VÀ NHIỆM VỤ CỦA HỆ HÔ HẤP TRÊN CHÓ
Hệ hô hấp của chó bao gồm: Lỗ mũi và xoang mũi, yết hầu, thanh quản, khí quản, phế quản, phổi
Nhiệm vụ của hệ hô hấp: nhiệm vụ chủ yếu của hệ hô hấp là trao đổi khí (lấy oxy từ ngoài vào cung cấp cho các mô bào, và thải khí carbonic từ mô bào ra ngoài) Ngoài ra
hệ hô hấp còn làm nhiệm vụ điều hoà thân nhiệt (một phần hơi nước trong cơ thể đi ra ngoài qua đường hô hấp) (Phạm Ngọc Thạch, 2006)
2.2.1 Lỗ mũi và xoang mũi
Trước khi vào phổi không khí phải qua hai lỗ mũi đi vào xoang mũi Ở đây không khí được lọc sạch (nhờ lông mũi và lông chuyển của tế bào niêm mạc mũi), sưởi ấm (do các mạch máu), tẩm ướt (do tuyến niêm mạc mũi) Ngoài ra, xoang mũi còn là cơ quan cảm giác khứu giác (Đỗ Hoàng Long, 2000)
2.2.2 Yết hầu
Có phía trên giáp với xoang mũi và miệng, nhờ đó mà không khí có thể đi vào phổi theo cả đường mũi và đường miệng Đây là ngã ba, nơi đường hô hấp và đường tiêu hoá thông với nhau Bề mặt phía trong hầu được lót bởi các lông nhỏ của tế bào biểu
Trang 5mô, khi chúng chuyển động có tác dụng đẩy các chất cặn bã ra khỏi hầu (Đỗ Hoàng Long, 2000)
2.2.3 Thanh quản
Là xoang ngắn nằm giữa yết hầu và khí quản, dưới xương thiệt cốt Giữ vai trò trong việc điều chỉnh dung lượng không khí đi vào phổi, ngăn chặn sự hít ngoại vật vào phổi, đồng thời nó là cơ quan phát âm (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003) Thanh quản được cấu tạo bởi các sụn thanh quản, liên hệ với nhau bằng cơ và dây chằng
2.2.4 Khí quản
Là ống dẫn khí bắt đầu từ sụn nhẫn của thanh quản đến phế quản Gồm nhiều vòng sụn không trọn vẹn nối tiếp nhau nhờ mô liên kết, phía trên được thay thế bằng một tấm cơ trơn Mặt trong khí quản được lót bởi niêm mạc có nhiều tế bào lông rung và
có nhiều tuyến tiết dịch nhầy để cản bụi và những vật lạ lọt vào đường hô hấp (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)
2.2.5 Phế quản
Phế quản tách ra làm hai phế quản chính phải và trái chạy vào hai rốn phổi tương ứng Sau khi qua rốn phổi, phế quản phân nhánh đến các thuỳ của phổi, rồi lại phân nhánh tiếp tục làm cho các phế quản càng ngày càng nhỏ cuối cùng là các tiểu phế quản tận cho ra nhiều nhánh thông với những nang nhỏ đó là phế nang (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)
2.2.6 Phổi
Phổi được cấu tạo do các thành phần qua rốn phổi toả dần trong phổi: cây phế quản, động mạch và tĩnh mạch phổi, mạch phế quản, mạch bạch huyết, các sợi thần kinh của đám rốn phổi và mô liên kết xung quanh
2.3 CẤU TẠO CỦA PHỔI
2.3.1 Cấu tạo đại thể của phổi
Hai lá phổi phải và trái chiếm phần lớn xoang ngực, ngăn cách nhau bởi màng trung thất Phổi bình thường màu hồng, láng, mềm, xốp, đàn hồi cao, ấn nghe tiếng lào xào
và nổi trong nước Phổi phải to hơn phổi trái Mỗi lá phổi được bao bọc bên ngoài bằng màng phổi Phổi chó được chia bởi những phân thuỳ sau:
- Phổi phải có 4 thuỳ: thuỳ đỉnh, thuỳ tim, thuỳ hoành cách mô, thuỳ phụ
- Phổi trái có 3 thuỳ: thuỳ đỉnh, thuỳ tim, thuỳ hoành cách mô
Trang 6Thuỳ phổi được phân chia bởi những vách cứng thành tiểu thuỳ Quá trình bệnh thường xảy ra ở tiểu thuỳ, ranh giới tiểu thuỳ là ranh giới bệnh tích
có các vết lõm của xương sườn
- Mặt trung (hay mặt trung thất): có rốn phổi nằm gần phía trên hơn phía dưới, có các thành phần của phế quản gốc chui vào phổi Trong rốn phổi có các phế quản gốc, động mạch phổi và tĩnh mạch phổi
- Mặt sau hay đáy phổi (hay mặt hoành): lõm và úp vào vòm cơ hoành, và vòm cơ hoành đáy phổi có liên quan đến các tạng bụng đặc biệt là mặt trước gan
Màng phổi gồm hai màng tương mạc, lá thành và lá tạng Khoảng giữa màng phổi là khoảng giữa lá thành và lá tạng của màng phổi Nó được chiếm bởi một lớp chất lỏng
có nhiệm vụ làm ướt và làm trơn hai lớp màng phổi Khi màng phổi viêm, chất dịch
Trang 7này tăng lên, lúc đó màng phổi trở nên dày và có thể kết dính lá thành với lá tạng (Đỗ
Hoàng Long, 2000)
2.3.2 Cấu tạo mô học của phổi
Phổi gồm hai phần cấu tạo chính:
- Những đường dẫn khí (các phế quản và các tiểu phế quản) gọi là cây phế quản
- Phần hô hấp (các phế nang, tiểu phế quản hô hấp, ống phế nang)
2.3.2.1 Cây phế quản
Cây phế quản gốc phải và trái chia đôi tạo thành các phế quản thuỳ Các phế quản thuỳ tiếp tục chia đôi và đi vào phổi ở cuống mỗi thuỳ phổi, nơi có phế quản và động mạch phổi cũng như có tĩnh mạch phổi và mạch huyết đi ra Trong phổi các phế quản tiếp tục chia đôi nhiều lần tạo thành các phế quản chạy trong các vách liên kết giữa các tiểu thuỳ phổi gọi là phế quản gian tiểu thuỳ
Những nhánh phế quản gian tiểu thuỳ cùng với nhánh động mạch phổi sẽ xâm nhập vào tiểu thuỳ phổi ở đỉnh tiểu thuỳ Trong tiểu thuỳ các phế quản gọi là tiểu phế quản, chúng tiếp tục chia nhánh theo kiểu phân đôi tạo thành các tiểu phế quản tận Các tiểu phế quản tận lại chia nhánh cho ra các tiểu phế quản hô hấp rồi ống phế nang và cuối cùng tạo nên các phế nang
Phế quản lớn (phế quản gốc, phế quản thuỳ) thành có chứa sụn và cơ, lòng nhẵn niêm mạc không tạo nếp gấp
Phế quản nhỏ và tất cả phế quản gian tiểu thuỳ, tiểu phế quản đều có lòng nhăn nheo hình khế, niêm mạc tạo thành nếp gấp Càng phân chia nhỏ nếp gấp càng ít và thấp, đến tiểu phế quản tận thì nếp gấp không còn nữa
Trang 8Hình 2: Cấu tạo vi thể phổi bình thường
(Nguồn: MARIANO S.H DI FIORE,1974)
Chú thích: (1) lá tạng phế mạc, (2) ống phế nang, (3) tĩnh mạch, (4) phế nang, (5) tiểu phế quản hô hấp, (6) tiểu phế quản tận, (7) tiểu động mạch phổi,(8) tiểu phế quản hô hấp, (9) ống phế nang, (10) tiểu động mạch phổi, (11) hạch lâm ba, (12) tiểu phế quản tận, (13) cơ trơn, (14) túi phế nang, (15) ống phế nang, (16) tiểu phế quản, (17) tiểu phế quản hô hấp, (18) trung biểu mô phế mạc, (19) mô liên kết phế mạc, (20) túi phế nang, (21) phế nang,(22) ống phế nang, (23) tiểu phế quản hô hấp, (24) biểu mô đơn trụ, (25) phế nang, (26) tiểu phế quản hô hấp, (27) (28) động mạch phổi, (29) tĩnh mạch phổi, (30) sụn, (31) cơ trơn, (32) biểu mô, (33) phế quản lớn
Quan sát các chi tiết trên kính hiển vi tiêu bản phổi ta phân biệt đặc điểm cấu tạo mô học của phế quản các loại:
Trang 9Phế quản: Lòng ống rộng, ít nhăn nheo do niêm mạc không có nếp gấp Niêm mạc
gồm biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển, có 3 loại tế bào (tế bào trụ có lông chuyển chiếm đa số, tế bào tiết nhày, tế bào đáy), lớp đệm có nhiều mạch máu, nhiều loại tế bào liên kết Cơ trơn tạo thành bó xếp vòng quanh tương đối đều gọi là vòng cơ Reissessen Hạ niêm mạc gồm mạch liên kết ngoài vòng cơ Reissessen Kế đó là những miếng sụn trong rời rạc Ngoài cùng là vỏ liên kết chứa nhánh của động mạch, tĩnh mạch, nang bạch huyết, đám rối thần kinh
Phế quản gian tiểu thuỳ: có cấu tạo khác với phế quản ngoài phổi ở các điểm sau:
- Sụn trong không còn dạng chữ C, mà là những mảnh sụn
- Cơ trơn tạo thành bó xếp vòng quanh tương đối đều gọi là vòng cơ Reissessen
- Lớp niêm mạc có nhiều nếp gấp nhăn nheo
Tiểu phế quản: Thành của tiểu phế quản có cấu tạo gồm:
Niêm mạc gồm biểu mô trụ đơn có lông chuyển cũng có đủ các loại tế bào như ở phế quản Tế bào chế tiết ở đây nhiều hơn Chất tiết có chứa Cytochrom P450 có tác dụng làm bất hoạt các chất gây hại có trong khí hít vào Niêm mạc tạo thành nếp gấp nên tiểu phế quản đều có lông nhăn nheo hình khế Càng phân chia nhỏ nếp gấp càng ít và thấp đến tiểu phế quản tận thì nếp gấp không còn nữa, kế đó là lớp đệm vòng cơ Reissessen vỏ nằm ngoài vòng cơ Reissessen là màng tương Tiểu phế quản có cấu tạo khác phế quản là không có sụn, không có tuyến
Tiểu phế quản tận: Lớp niêm mạc được lợp bởi lớp biểu mô vuông đơn hoặc trụ thấp
có lông chuyển cũng có dủ các loại tế bào như biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển, sợi chun ở lớp đệm nhiều nhưng cơ trơn không tạo thành vòng cơ Reissessen rõ rệt mà chỉ
ít cơ trơn không xếp thành lớp
2.3.2.2 Phần hô hấp (tiểu phế quản hô hấp, ống phế nang, các phế nang)
Gồm những cấu tạo có thể thực hiện một công việc trao đổi khí (tiểu phế quản hô hấp, ống phế nang) hoặc là nơi quyết định quá trình trao đổi khí giữa máu và không khí trong phổi (phế nang)
Tiểu phế quản hô hấp: Có cấu tạo giống như tiểu phế quản tận nhưng bắt đầu có
những phế nang rãi rác, toàn bộ phế nang xuất phát từ một tiểu phế quản hô hấp gọi là chùm phế nang
Ống phế nang: Cấu tạo giống tiểu phế quản hô hấp nhưng có một số đặc điểm khác
nhau là nhiều phế nang hơn, thành miệng ống phế nang có nhiều biểu mô vuông đơn
Trang 10không có lông chuyển, mỗi tiểu thuỳ phổi có từ 12 – 18 chùm ống phế nang Tận cùng mỗi ống phế nang là 4 – 5 túi phế nang (Đỗ Hoàng Long, 2000)
Phế nang: Phế nang là những túi nhỏ đường kính khoảng 0,25 mm, đứng sát nhau và
mở vào ống phế nang Chen vào giữa hai phế nang là vách liên kết gian phế nang mỏng Hai mặt của vách này (mặt trông vào lòng các phế nang) được bao phủ bởi một biểu mô đặc biệt gọi là biểu mô hô hấp, trừ diện tích ở miệng các phế nang là nơi đính các túi ấy vào với ống phế nang và là nơi mà vách liên kết gian phế nang hơi to phình lên Như vậy nhu mô phổi gồm có: biểu mô hô hấp (đại diện cho thành phế nang), miệng phế nang và vách liên kết gian phế nang
- Biểu mô hô hấp là một biểu mô lát đơn, tạo thành bởi một hàng tế bào dẹt có nhân dẹt và lồi vào lòng phế nang Dưới biểu mô là một màng đáy mỏng và được tăng cường mặt ngoài bởi những sợi võng Phủ lên trên mặt biểu mô hô hấp là một lớp dịch rất mỏng chừng 0,2 micromet Dịch đó thường xuyên được đổi mới, hoặc nó sẽ chảy vào đường hô hấp, hoặc được tiêu thoát bằng đường bạch huyết
- Miệng phế nang: là nơi đính của các phế nang vào ống phế nang Bao phủ trên mặt các miệng phế nang là lớp biểu mô vuông đơn nối tiếp với biểu mô hô hấp lợp thành của những phế nang Trong phần trung tâm của miệng phình là tổ chức liên kết có nhiều chất căn bản (các chất căn bản bao gồm: Một vòng chun tạo thành bởi những sợi chun hướng vòng và nằm ngay bên dưới lớp biểu mô Một vòng cơ trơn bao lấy mặt ngoài vòng chun, hình thành như một cơ thắt Những sợi tạo keo ở ngoài cùng, chúng nối miệng phế nang với vách liên kết gian phế nang)
- Vách liên kết gian phế nang là lớp tổ chức liên kết mỏng chừng vài micromet, xen vào giữa những phế nang hoặc cùng thuộc một ống phế nang hoặc thuộc những ống phế nang cạnh nhau Trong tổ chức liên kết có một lưới mao mạch hô hấp rất phong phú Ngoài ra ở đấy còn có những sợi võng, sợi chun và những tế bào, hình thành nên một tổ chức chống đỡ đặc biệt
Sự trao đổi khí xảy ra giữa không khí trong phế nang và máu trong các mao quản làm thành một hệ thống dày đặc bên trong phế nang Khí phải xuyên qua niêm mạc của phế nang và nội mạc của mao quản bằng sự khuếch tán lý học (Trương Cam Cống, 1973)
2.4 BỆNH CARRÉ (CANINE DISTEMPER)
2.4.1 Lịch sử và phân bố bệnh lý
Bệnh Carré hay còn gọi là bệnh sài sốt chó non
Trang 11Bệnh xuất hiên ở Tây Ban Nha vào thế kỷ 18, có nguồn gốc Châu Á hay Peru Mãi đến năm 1905, căn bệnh này được người Pháp tên là Henri Carré phân lập
Bệnh có khắp nơi trên thế giới, đặc biệt trong các trại nuôi chó nhưng cũng không hiếm trong chăn nuôi chó sinh sản trong các gia đình Ở nước ta bệnh phát sinh lẻ tẻ hay thành đại dịch ở nhiều nơi Quanh năm có bệnh nhưng bệnh phát sinh nhiều nhất vào mùa rét (Nguyễn Lương, 1993)
2.4.2 Nguyên nhân, đường xâm nhập
Bệnh do virus thuộc nhóm paramyxovirus Virus xâm nhập vào chó qua đường hô
hấp, tiêu hoá, da Đầu tiên khi xâm nhập vào cơ thể chó, virus nhân lên ở mô bạch huyết đường hô hấp trên, sau đó nhiễm vào máu và virus tiếp tục nhân lên ở mô bạch huyết của các cơ quan khác Mầm bệnh được thải ra qua dịch tiết mắt mũi, nước bọt, phân, nước tiểu
2.4.3 Dịch tễ học
2.4.3.1 Loài thú mắc bệnh
Chó là loài mắc bệnh nhiều nhất và bệnh Carré là bệnh làm hại cho chó hơn bất cứ bệnh nào khác Chó một tuổi trở xuống nhất là giữa 2 – 6 tháng tuổi là loại chó cảm thụ nhất (đến 70%) Chó đang bú mẹ ít mắc bệnh nếu chó mẹ có miễn dịch, vì chó mẹ
có thể truyền miễn dịch thụ động cho chó con qua sữa đầu tới hơn 1 tháng, có khi tới 3 tháng
2.4.3.2 Chất chứa căn bệnh và đường xâm nhập
Ở chó bị bệnh, virus có mặt khắp cơ thể: máu, phủ tạng, chất bài tiết Virus xuất hiện trong máu khi mới bắt đầu sốt và mãi cho đến khi lành bệnh Các phủ tạng bắt đầu có mầm bệnh khi trong máu đã có virus và cũng chứa virus khá lâu Dịch chảy ra từ mắt, mũi chứa nhiều virus Nước tiểu và phân thường xuyên có virus và có thể truyền bệnh Căn bệnh được bài xuất qua dịch tiết mũi, nước mắt, nước bọt, tạo ra khí dung hoặc nhiễm vào không khí nên virus có thể truyền qua đường hô hấp và tiêu hoá để xâm nhập vào cơ thể Virus còn ở nước tiểu, phân Bệnh phẩm dùng để chẩn đoán: lách hạch lâm ba, não, tuỷ xương Thường chó bài xuất vào ngày thứ bảy sau nhiễm
2.4.3.3 Cách lây lan
Bệnh lây do tiếp xúc trực tiếp với con bệnh, con mắc thể ẩn tính, con mang trùng, hoặc gián tiếp do ăn thức ăn, nước uống bị nhiễm những chất bài tiết của con bệnh Có lẽ bệnh lây chủ yếu vào cơn sốt đầu tiên, khi mà virus nhiễm vào máu và mọi chất tiết của
Trang 12cơ thể đều chứa nhiều virus Sự lây lan chủ yếu do những hạt nước nhỏ được tung ra trong không khí qua các chất tiết của mắt và mũi Những chất tiết đó trực tiếp đi vào đường hô hấp của chó cảm thụ, vào kết mạc mắt hoặc nhiễm vào thức ăn, nước uống hoặc nhiễm vào môi trường xung quanh chỗ ở của chó Cách lây lan đó càng làm cho bệnh dễ lây cho những chó nhỏ sống xung quanh mẹ trong cùng một ổ chó Có những trường hợp bệnh nhẹ, triệu chứng không rõ rệt và chó có miễn dịch Chó mẹ có miễn dịch truyền kháng thể cho chó con qua sữa đầu trong một thời gian ngắn, trong khoảng
8 tuần
2.4.3.4 Sinh bệnh học
Sau khi nhiễm, virus nhân lên đầu tiên ở đại thực bào, những tế bào lymphô của đường
hô hấp và bạch huyết, 6 – 9 ngày sau khi cảm nhiễm virus sẽ tấn công đến tất cả các cơ quan sinh lymphô rồi đến cơ quan khác và những tế bào biểu mô Nếu kháng thể được trung hoà trong 10 ngày sau khi cảm nhiễm thì biểu hiện lâm sàng không rõ ràng, trong trường hợp này virus ít bị phân tán trong cơ quan thú bệnh, nhất là não với những biểu hiện lâm sàng và con vật chết
2.4.4 Những triệu chứng lâm sàng đặc trưng
Trong thời gian ủ bệnh, chó mệt mỏi, ít hoạt động, ăn kém Sau đó chó đột ngột sốt cao 40 – 410C, kéo dài 1 – 2 ngày Khi sốt, chó bỏ ăn mắt đỏ Tiếp theo cơn sốt giảm dần, thân nhiệt chó trở lại 38,5 – 39,50C, chó tỉnh táo hơn Nhưng 3 – 4 ngày sau, chó lại xuất hiện đợt sốt thứ hai là cao điểm (vài ngày sau đó và sốt cách quãng), thường đi kèm là chảy nước mắt, nước mũi, suy nhược và biếng ăn Luôn luôn có sự giảm bạch cầu đặc biệt là lymphô bào Nguyên nhân của hiện tượng này là do chó bị nhiễm khuẩn thứ phát Cơn sốt thứ hai kéo dài 3 – 4 ngày, làm cho chó rất mệt mỏi, tiên lượng xấu Đầu tiên, chó khậm khạc nôn khan, nôn liên tục, ăn vào lại nôn, uống cũng nôn làm chó mệt lả Sau đó, chó ỉa chảy, phân lỏng lẫn máu màu cà phê, hoặc máu chó đỏ lờ
đờ, mùi tanh khẳn rất điển hình Khoảng 60% chó bệnh thể hiện các triệu chứng viêm
dạ dày và ruột rất nặng
Khi khởi phát bệnh, mũi trở nên khô và bong tróc, chảy dịch Dần dần dịch chuyển thành mủ Da trở nên dầy lên nứt và có thể loét, màng kết sung huyết chung Mắt đổ nhiều ghèn và nếu không chống lại được ghèn sẽ bám chặt vào màng sừng giác mạc và
mí mắt Suốt thời kỳ bắt đầu này có thể 2 hoặc 3 tuần sau nhiệt độ sẽ lên xuống nhưng thường sẽ không hơn trong khoảng 39,40C
Trang 13Có thể xác định sự tăng sừng hoá ở da chân trong giai đoạn đầu tiên của bệnh hoặc là sau 3 tuần của bệnh Thời gian đầu lớp da này có thể mềm sau đó nó trở nên nhẵn nhụi
và bóng Ở tiến trình này da trở nên rất dày
Chứng rối loạn thần kinh và liệt có thể xảy ra tách rời nhau hoặc kết hợp nhau Khoảng 50% ca bệnh viêm niêm mạc Hội chứng thần kinh kèm theo các cơn sốt cao, chó điên loạn đặc biệt là chó con 1 – 4 tháng tuổi, chó chạy lung tung không định hướng, sủa rống lên, miệng chảy nhiều nhớt dãi, chó ngã quay, dãy dụa Một số trường hợp chó bị bệnh cấp tính và quá cấp tính sẽ chết sau vài giờ Còn các trường hợp khác, sau các cơn điên loạn chó tỉnh táo trở lại, nhưng rất mệt mỏi, đi lại chệnh choạng Sau
đó chó co giật từng cơn hoặc giật nhẹ, run rẩy, nhưng liên tục Kết thúc, chó bị liệt chân và chết Hội chứng thần kinh trong bệnh Carré khác với bệnh dại là chó vẫn tỉnh táo sau các cơn điên loạn, vẫn giữ được phản xạ quen chủ, không cắn chủ và các súc vật khác
Những ca bệnh nghiêm trọng hoàn toàn có thể liệt chân sau làm cho dáng đi loạng choạng khi tiến về phía trước, vì thế mất kiểm soát về đại tiện và tiêu tiểu (Phạm Sỹ Lăng, 2004)
Niêm mạc ruột, dạ dày có nhiều điểm xuất huyết, có khi bị bào mỏng, trong ruột chứa đầy máu màu cà phê Thành ruột có những nốt loét sâu màu nâu sẫm
Lách sưng xuất huyết, có khi xuất hiện thành vệt, có khi thành những điểm bằng hạt
đỗ, hạt ngô
Niêm mạc bàng quang nhiều khi bị xuất huyết
Hạch lâm ba phổi và hạch lâm ba màng treo ruột sưng, có khi xuất huyết phù rất to Tim nhão, lớp mỡ vành tim đôi khi bị xuất huyết (Phạm Sỹ Lăng, 2006)
Trang 14SƠ ĐỒ DIỄN BIẾN CỦA BỆNH CARRÉ (Quinn & ctv, 1997)
Virus distemper ở chó
Tiếp xúc trực tiếp hoặc khí dung
Sao chép ở mô lymphô của đường hô hấp trên
Nhiễm virus máu (tế bào được kết hợp)
Đáp ứng miễn dịch chậm Hoặc không hiệu quả
Tấn công vào biểu mô
và mô thần kinh
Đáp ứng miễn dịch nhanh chóng và hiệu
quả
Bình phục hoàn toàn
Nhiễm trùng cận lâm sàng
Tấn công và sao chép giới hạn
Bệnh nhẹ
Bình phục hoàn toàn
Tấn công và sao chép rộng
Bệng nặng hay trung bình
Sống Chết
Bình phục hoàn toàn
Mang di chứng thần kinh
Trang 15** Tiến triển của bệnh tích ở phổi
* Tổn thương tiêu biến: Bạch cầu đa nhân và đại thực bào giải phóng nhiều men tiêu
đạm và một số men khác làm mạng lưới tơ huyết và các tế bào khác tiêu tan, dần dần biến thành một thứ nước sánh rồi lỏng, được thải ra ngoài theo đường phế quản, dưới hình thái đờm qua phản xạ ho Bạch cầu đơn nhân dần dần được thay thế bằng bạch cầu một nhân và đại thực bào
Khối phổi viêm từ chắc sẽ trở thành mềm hẳn, từ màu xám trở thành màu hồng rồi dần dần trở về màu sắc bình thường Đàm đang từ màu xanh đặc quánh, trở thành vàng đỏ rồi lỏng và ít dần trong đó đại thực bào chiếm ưu thế
Như vậy tổn thương sẽ tiêu biến hoàn toàn, vách phế nang sẽ được hồi phục nguyên vẹn, không có di chứng
* Mưng mủ: tổn thương mưng mủ nếu lan toả con vật sẽ chết nhanh Nếu mưng mủ
khu trú thành áp xe có vách rõ thì việc điều trị sẽ kéo dài Về vi thể, tùy mức độ, mô phổi có thể bị hoại tử nhiều hay ít: khối tơ huyết tiêu tan, trong khi bạch cầu đa nhân thoái hóa thành tế bào mủ, vách phế nang cũng bị phá hủy và tiêu biến, có thể hình thành vách xơ chung quanh Áp xe có thể gây ra những biến chứng sau:
- Viêm màng phổi mủ nếu áp xe vỡ ra màng phổi
- Viêm màng tim mủ nếu vỡ vào ngoại tâm mạc
- Khạc được mủ nếu áp xe thông với phế quản vừa hoặc lớn
- Hoại thư phổi
* Mô hoá: Khi bệnh kéo dài phổi mất xốp, không đàn hồi, dai chắc, giống thịt (phổi
nhục hoá) Hoạt động tiêu bào và thực bào yếu làm chất rỉ viêm tơ huyết không tiêu biến hết, dính vào vách phế nang, có thể thoái hoá trong Mô liên kết non sẽ xâm nhập vào lòng phế nang sinh ra một mô hạt giàu tế bào xơ non và huyết quản, sau này càng
xơ hoá tạo thành di chứng không hồi phục (Nguyễn vượng, 2000)
2.4.6 Chẩn đoán
2.4.6.1 Chẩn đoán lâm sàng
Nên nghĩ đến bệnh Carré khi chó con sốt, nhấy là dạng sốt hai thì Các triệu chứng điển hình như viêm hô hấp, viêm ruột, mụn mủ ở da, cứng bàn chân, các cơn co giật Nhưng đôi khi những dấu hiệu đặc trưng thường không phát hiện ở giai đoạn sớm mà chỉ thấy được ở giai đoạn quá trễ (Nguyễn Văn Biện, 2005)
2.4.6.2 Chẩn đoán đặc biệt
Trang 16Dùng test thử Carré
2.4.7 Điều trị
Không có loại thuốc kháng virrus đặc hiệu có tác dụng đối với virrus gây bệnh Carré ở chó, chủ yếu là điều trị chống phụ nhiễm vi trùng, hỗ trợ chống mất nước và chất điện giải Vì vậy, liệu pháp kháng sinh được chỉ định cho tình trạng nhiễm vi khuẩn kế phát
ở đường tiêu hoá và đường hô hấp, đồng thời chó bị nhiễm Carré thường bị tiêu chảy nên mất nước do đó việc truyền dịch và cung cấp chất điện giải là liệu pháp rất quan trọng trong điều trị bệnh Carré
Việc điều trị cho những con chó có triệu chứng thần kinh thì không được khuyến khích Thuốc giảm đau và thuốc chống co giật có thể làm giảm nhẹ triệu chứng nhưng những thuốc này không có tác dụng chữa trị Tuy nhiên theo thời gian thì những con chó có dấu hiệu thần kinh và chứng co giật cơ, viêm dây thần kinh thị giác có thể giảm Nếu các triệu chứng thần kinh càng nặng thêm thì nên gây chết êm ái cho chó (Phạm
2.4.8.2 Thực hiện vệ sinh thú y
Khi phát hiện chó bị bệnh Carré thì phải cách ly triệt để, để điều trị kịp thời bằng kháng huyết thanh hoặc xử lý nếu không chữa được để tránh lây nhiễm sang chó khoẻ Chó chết do bệnh Carré không được mổ thịt, phải chôn sâu và rắc vôi bột vào hố chôn Chuồng trại và môi trường nuôi thả chó phải làm vệ sinh định kỳ, hạn chế môi giới truyền bệnh và tránh ô nhiễm bằng phun thuốc sát trùng Vim.iodin hoặc Han.iodin –
5%, nước vôi 10% (Phạm Sỹ Lăng, 2006)
Trang 17Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 NỘI DUNG
* Đánh giá một số đặc tính bệnh Carré trên chó được điều trị tại Bệnh Xá Thú Y - Trường Đại Học Cần Thơ
- Tỷ lệ chó bệnh Carré được mang đến khám và điều trị theo tuổi
- Tỷ lệ các dấu hiệu lâm sàng trên chó bệnh Carré
* Đánh giá bệnh tích trên phổi chó bệnh Carré đã chết
- Các bệnh tích đại thể trên phổi của chó bệnh Carré đã chết
- Các bệnh tích vi thể trên phổi của chó bệnh Carré đã chết
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Thời gian
Đề tài được thực hiện từ 2/2/2009 đến 15/4/2009
3.2.2 Địa điểm
Đề tài được thực hiện tại Bệnh Xá Thú Y - Trường Đại Học Cần Thơ
Phòng thí nghiệm mô học, bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp Và Sinh Học ứng Dụng, Đại Học Cần Thơ
3.2.3 Đối tượng khảo sát
Tất cả những chó dương tính với test thử Carré tại Bệnh Xá Thú Y Trường Đại Học Cần Thơ
Mẫu phổi chó bệnh Carré chết
3.2.4 Dụng cụ và hoá chất
Dụng cụ: Dao, kéo, pence, khay mổ, túi nhựa đựng mẫu, kính hiển vi, lame, lamelle, bàn hấp thụ tiêu bản, máy cắt mẫu (Mycrotome), chậu tải mẫu, lọ nhuộm tiêu bản, bút, thước, sổ ghi chép, tủ ấm
Hoá chất: Formalin, cồn 70 – 99,5%, xylen, paraffin, acid Acetic đậm đặc, keo Canada, thuốc nhuộm Hematoxylin và Eosin
Test thử Carré
Trang 183.2.5 Phương pháp nghiên cứu
3.2.5.1 Phương pháp khảo sát triệu chứng lâm sàng tại Bệnh Xá Thú Y
Lập phiếu theo dõi (xem phần phụ Chương)
Tìm hiểu tuổi, giới tính, giống thông qua chủ nuôi
Tìm hiểu về các triệu chứng lâm sàng ở mắt, mũi, miệng (có ói không), hậu môn ( có tiêu chảy không), sừng hoá gan bàn chân, nốt sài và dấu hiệu thần kinh ở từng lứa tuổi thông qua khám lâm sàng
3.2.5.2 Phương pháp khảo sát bệnh tích đại thể tại Bệnh Xá
Nhận định phân loại bệnh tích xuất hiện trên phổi chó bệnh Carré qua sự thay đổi về hình dáng, kich thước, màu sắc, thể chất, mức độ lan rộng của bệnh tích Quan sát lồng ngực, xem dịch tiết nếu có Thông qua mổ khám những chó không qua khỏi Dùng tay sờ nắn vùng phổi có bệnh tích để nhận biết độ đàn hồi, mức độ cứng, mềm, lồi lõm của vùng bệnh so với vùng lành ở xung quanh
Dùng dao bén cắt xuyên qua vùng phổi có bệnh tích, quan sát mặt cắt dùng tay bóp nặn mặt cắt xem tính chất của dịch thể thoát ra từ vết cắt dưới dạng nước, bọt màu hồng hay dịch nhày, mủ Đồng thời cắt mẫu nhỏ 2 – 3 cm bỏ vào túi nhựa đựng mẫu
có chứa formon 10% để cố định mẫu và mang về phòng thí nghiệm mô học để làm tiêu bản vi thể
Chụp ảnh đại thể những bệnh tích điển hình trên phổi, ngoài ra chúng tôi còn quan sát các cơ quan nội tạng khác như ruột, gan, thận
Các chỉ tiêu theo dõi Số con bệnh Carré trong độ tuổi khảo sát
Tỷ lệ bệnh theo độ tuổi = x 100
(%) Tổng số con khảo sát
Số con thể hiện các triệu chứng
Tỷ lệ các triệu chứng thể hiện trên = x 100
chó mắc bệnh (%) Tổng số con khảo sát
Trang 19Số trường hợp phổi có bệnh tích
Tỷ lệ phổi có bệnh tích = x 100
(%) Số phổi khảo sát
3.2.5.3 Phương pháp khảo sát bệnh tích vi thể trên phổi
Tiến hành lần lượt qua 3 giai đoạn:Lấy mẫu, xử lý mẫu, đọc kết quả
Lấy mẫu
Dùng dao bén cắt một số bệnh tích ở phổi có kích thước 2 x 1 x 1 cm Mẫu cắt xong được cố định ngay trong formol 10% để đảm bảo mẫu còn tươi Mỗi mẫu đựng trong một túi đựng mẫu có đánh số ký hiệu và mang về phòng thí nghiệm để làm tiêu bản vi thể
đỏ tiếp tục cố định mẫu trong formol 10% thêm cho đủ thời gian là 48 giờ Nếu mẫu
cố định lâu sẽ giòn khi cắt mẫu
Rửa nước
Rút nước: cồn 700 –
800 – 900 – 99,50mỗi lọ 1 – 2 giờ
Cố định trong formol
10%, 48 giờ
Rửa nước 1 giờ
Cắt
mẫu
Đúc khuôn
Tẩm paraffin I,II,III mỗi lọ 1,2 gi
Tẩm dung môi Xylen I, II, mỗi
lọ 45 phút
Tải-dán-hấp mẫu
Dán lamelle
Đọc kết quả Nhuộm
mẫu
Trang 20Mẫu cố định xong rửa ngay bằng nước để loại bỏ formol trong mẫu Ngâm mẫu dưới vòi nước chảy liên tục từ 1 – 2 giờ
Rút nước
Nhằm rút hết nước trong mẫu ra vì nước còn lại trong mẫu thì không tẩm được paraffin vào mẫu Tuy nhiên lượng nước còn lại trong mẫu có thể chấp nhận được là tỷ lệ 1/1000 tỷ lệ nước ban đầu
Có nhiều hoá chất để rút nước như: aceton, butanol, cồn, Nhưng để thuận lợi trong giai đoạn này, chúng tôi sử dụng cồn vì nó thông dụng, dễ tìm
Tẩm dung môi trung gian
Có nhiều hoá chất làm dung môi trung gian như: Benzen, Toluen, Xylen Nhưng ở đây chúng tôi chọn xylen vì nó thông dụng ít độc hơn Toluen, và Xylen tan được trong cồn và parffin Xylen sẽ đẩy hết cồn ra khỏi mẫu giúp paraffin tẩm vào mẫu được tốt (paraffin không tan trong cồn)
Tẩm paraffin
Paraffin được dùng làm chất nền để giữ cho tế bào nguyên hình dạng khi cắt dưới tác dụng của lưỡi dao vì thế paraffin cần được tẩm hoàn toàn vào mẫu, để loại hết Xylen ra khỏi mẫu thì paraffin phải ở dạng lỏng (ở nhiệt độ 600C)
Ba quá trình rút nước, tẩm dung môi trung gian, tẩm paraffin được thực hiện thủ công
Đúc khuôn
Dùng những tấm kim loại và thanh kim loại có nếp gãy để tạo khuôn đúc mẫu Có hai loại thanh kim loại dài và ngắn thuận lợi cho việc điều chỉnh block lớn, nhỏ tuỳ thuộc vào độ lớn của mẫu và tránh lãng phí paraffin Khung thước khi đúc phải lau sạch vì
nó sẽ là mặt cắt sau này
Sau khi tạo khuôn xong, hạ miệng cốc sát thanh kim loại, nghiêng cốc đổ paraffin từ từ vào, khi paraffin đầy khung thì dừng lại Hơ kẹp nóng gấp mẫu từ vĩ chứa mẫu nhanh vào và điều chỉnh mẫu cho ngay ngắn giữa block Ngoài ra, dùng hai đầu kẹp ấn mạnh xung quanh và giữa mẫu làm cho mặt cắt mẫu thẳng giúp cho quá trình cắt mẫu dễ hơn (trong giai đoạn này mọi thao tác phải nhanh và dứt khoát, nếu không mẫu sẽ dễ bị tách rời với paraffin)
Sau thời gian khoảng 1 giờ mẫu sẽ cứng lại, mẫu đúc sẽ được tách ra khỏi đúc một cách dễ dàng và đem trữ lạnh
Trang 21Cắt mẫu
Sử dụng máy cắt để cắt mẫu và thực hịên trong điều kiện mẫu được trữ lạnh
Các bước tiến hành:
Cho dầu vào máy cắt quay thử
Gắn dao vào máy có độ nghiêng 70
Gắn block vào máy cắt, chỉnh cho block ngang và thẳng đứng
Quay cần điều chỉnh block sao cho block gần sát lưỡi dao và tiến hành phá block cho đến khi phá mẫu
Chỉnh độ dày mẫu cần cắt ở độ dày 2 – 5 µm ở cần quay
Quay tay quay từ từ và cắt được mẫu Mẫu cắt ra làm thành băng dài
Tải - dán - hấp mẫu
Tải mẫu
Lấy nước lạnh đổ vào chậu thuỷ tinh Nước trong chậu có thể là nước ấm hay nước lạnh đều được Nếu sử dụng nước ấm (35 – 400C) thì mẫu sẽ căng đẹp và không bị gấp
Băng mẫu được cắt ra dùng kim mũi giáo đỡ ngang và thả nhẹ nhàng vào chậu nước, lúc này paraffin căng từ từ ra Dùng kim mũi giáo tách nhẹ nhàng riêng mẫu mà ta chọn
Dán mẫu
Dùng lame sạch, đưa một đầu lame vào chậu nước và độ nghiêng 450 kê gần mẫu đã chọn sau đó nâng từ từ đầu lame để vớt mẫu, cùng lúc này dùng kim mũi giáo chỉnh mẫu ngay trên lame
Hấp mẫu
Mẫu dán xong được đặt trong tủ hấp đã được điều chỉnh nhiệt độ 600C Sau khoảng 30 phút thì paraffin chảy hết ra khỏi mẫu và tiến hành nhuộm mẫu hoặc có thể để qua đêm với nhiệt độ 30 – 370C
Nhuộm mẫu
Nhuộm mẫu theo phương pháp Haris’s Hematoxylin và Eosin Stain, nhân sẽ được ăn màu tím xanh Hematoxylin, tế bào chất ăn màu hồng Eosin