LÊ VĂN LÊN KHẢO SÁT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CÁC LOẠI CAO CHIẾT TỪ CÂY TRÀM Melaleuca leucadendra L., CÂY SẢ Cymbopogon citratus Stapf VÀ CÂY RAU MÁ Centella asiatica L... TRƯỜNG ĐẠI HỌC C
Trang 1LÊ VĂN LÊN
KHẢO SÁT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CÁC LOẠI
CAO CHIẾT TỪ CÂY TRÀM (Melaleuca leucadendra L.), CÂY SẢ (Cymbopogon citratus Stapf) VÀ CÂY RAU
MÁ (Centella asiatica (L.) Urban)
Luận văn tốt nghiệp Ngành: THÚ Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, 5/2009
Trang 2Luận văn tốt nghiệp Ngành: THÚ YTên đề tài:
KHẢO SÁT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CÁC LOẠI
CAO CHIẾT TỪ CÂY TRÀM (Melaleuca leucadendra L.), CÂY SẢ (Cymbopogon citratus Stapf) VÀ CÂY RAU
MÁ (Centella asiatica (L.) Urban)
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS Huỳnh Kim Diệu Lê Văn Lên MSSV: 3042806 Lớp: THÚ Y K30
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, 5/2009
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y Trang duyệt của hội đồng Khoa
Đề tài: khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của cây Tràm (Melaleuca leucadendra L.), cây Sả (Cymbopogon citratus Stapf) và cây Rau má (Centella asiatica (L.) Urban) ; do sinh viên : …Lê Văn Lên … thực hiện tại … khoa
Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường đại học Cần Thơ…
từ…30/01/2009… đến…28/05/2009…
Cần thơ, ngày … tháng … năm 2009 Cần thơ, ngày … tháng … năm 2009
Cần thơ, ngày … tháng … năm 2009
Duyệt khoa Nông Nghiệp & SHƯD
………
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, không sao chép bất cứ ai
và chưa từng công bố Kết quả của tôi là hoàn toàn chân thật không thay đổi
Cần Thơ, ngày …… tháng …… năm 2009
(tác giả)
Lê Văn Lên
Trang 5Cám ơn thầy, cô Bộ môn Thú Y, cám ơn cô Huỳnh Kim Diệu đã tận tình giúp
đỡ để tôi có thể hoàn thành bài luận văn này
Chân thành cám ơn thầy Trần Kim Tính và toàn thể anh, chị ở phòng thí nghiệm Chuyên Sâu đã nhiệt tình giúp đỡ trong thời gian tôi thực hiện đề tài
Cám ơn các bạn trong nhóm đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua
Trang 6MỤC LỤC
trang
Trang duyệt của hội đồng Khoa i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM TẠ iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH viii
TÓM LƯỢC ix
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 VỀ DƯỢC LIỆU 2
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2
2.1.1.1 Cây Tràm (Melaleuca leucadendra L.) 2
2.1.1.2 Cây Sả (Cymbopogon citratus Stapf) 2
2.1.1.3 Cây Rau má (Centella asiatica (L.) Urban) 2
2.1.2 Tràm (Melaleuca leucadendra L.) 3
2.1.2.1 Mô tả 3
2.1.2.2 Phân bố, sinh thái 3
2.1.2.3 Bộ phận dùng 4
2.1.2.4 Thành phần hóa học 4
2.1.2.5 Tác dụng dược lý 5
2.1.2.6 Tính vị công năng 6
2.1.2.7 Công dụng 6
2.1.2.8 Một số bài thuốc có Tràm 6
2.1.3 Rau má (Centella asiatica (L.) Urban) 6
2.1.3.1 Mô tả 6
2.1.3.2 Phân bố, sinh thái 7
2.1.3.3 Bộ phận dùng 7
2.1.3.4 Thành phần hóa học 7
2.1.3.5 Tác dụng dược lý 8
2.1.3.6 Tính vị công năng 9
2.1.3.7 Công dụng 9
2.1.3.8 Một số bài thuốc có Rau má 10
2.1.4 Sả (Cymbopogon citratus Stapf) 10
2.1.4.1 Mô tả 10
2.1.4.2 Phân bố sinh thái 11
2.1.4.3 Bộ phận dùng 11
2.1.4.4 Thành phần hóa học 11
2.1.4.5 Tác dụng dược lý 12
2.1.4.6 Tính vị công năng 12
2.1.4.7 Công dụng 12
2.2 VỀ VI SINH VẬT 13
2.2.1 Các chủng vi khuẩn Gram dương 13
2.2.1.1 Staphylococcus aureus 13
2.2.1.2 Streptococcus faecalis 16
2.2.2 Các chủng vi khuẩn Gram âm 18
2.2.2.1 Salmonella spp 18
Trang 72.2.2.2 Pseudomonas aeruginosa 21
2.2.2.3 Escherichia coli 24
2.2.2.4 Aeromonas hydrophilla 25
2.2.2.5 Edwardsiella tarda và Edwardsiella ictaluri 27
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 30
3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 30
3.2.1 Thời gian và địa điểm 30
3.2.2 Nguyên liệu 30
3.2.3 Thiết bị và hóa chất 30
3.2.3.1 Thiết bị 30
3.2.3.2 Hóa chất 30
3.2.4 Vi khuẩn 31
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.3.1 Điều chế cao 31
3.3.1.1 Thu mẫu 31
3.3.1.2 Cách chiết xuất 31
3.3.1.3 Tính ẩm độ của cao 31
3.3.1.4 Tính hiệu suất 32
3.3.2 Thử hoạt tính kháng khuẩn 32
3.3.2.1 Chuẩn độ đục 32
3.3.2.2 Chuẩn độ vi khuẩn 33
3.3.2.3 Thử hoạt tính kháng khuẩn 33
3.3.3 Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) 33
3.3.3.1 Chuẩn bị nồng độ chất thử 34
3.3.3.2 Tiến hành cấy vi khuẩn 34
3.3.4 Chỉ tiêu theo dõi 34
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 HIỆU SUẤT CHIẾT CAO 36
4.2 ẨM ĐỘ CAO 36
4.3 THỬ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN 36
4.4 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH NỒNG ĐỘ ỨC CHẾ TỐI THIỂU (MIC) 38
4.4.1 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao Tràm 38
4.4.2 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao Sả 40
4.4.3 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao Rau má 42
4.5 SO SÁNH KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN CỦA 3 LOẠI CAO 44
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 KẾT LUẬN 46
5.2 ĐỀ NGHỊ 46
PHỤ CHƯƠNG 51
Trang 8E coli Escherichia coli
Stap aureus Staphylococcus aureus
Strep faecalis Streptococcus faecalis
Aero hydrophilla Aeromonas hydrophilla
Sal ssp Salmonella spp
Pseu aeruginosa Pseudomonas aeruginosa
Edwar ictaluri Edwardsiella ictaluri
Edwar tarda Edwardsiella tarda
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
trang
Bảng 2.1: Tỷ lệ kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập từ thịt gà 21 Bảng 4.1: Hiệu suất của các cây Tràm, Rau má, Sả 36 Bảng 4.2: Ẩm độ của các cao Tràm, Sả, Rau má (%) 36 Bảng 4.3: Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn của cao Tràm, Sả và Rau má (mm) 37 Bảng 4.4: Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và đường kính vòng vô khuẩn của cao Tràm 38 Bảng 4.5: Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao Sả 40 Bảng 4.6: Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao Rau má trên các chủng vi
khuẩn 42 Bảng 4.9: So sánh MIC cao của 3 loại cây được quy đổi ra khô hoàn toàn (µg/ml) 44 Bảng 6.1: Tổng hợp tìm nồng độ ức chế tối thiểu MIC của cây Tràm (µg/ml) 52 Bảng 6.2: Tổng hợp tìm nồng độ ức chế tối thiểu MIC của cây Sả (µg/ml) 52 Bảng 6.3: Tổng hợp tìm nồng độ ức chế tối thiểu MIC của cây Rau má (µg/ml) 52
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
trang
Hình 2.1: Cây Tràm (Melaleuca leucadendra L.) 3
Hình 2.2: Cây Rau má (Centella asiatica (L.) Urban) 7
Hình 2.3: Cây Sả (Cymbopogon citratus Stapf) 10
Hình 4.1: Cao Tràm ở nồng độ 64 µg/ml trên 6 chủng vi khuẩn 39
Hình 4.2: Cao Tràm ở nồng độ 512 µg/ml trên 6 chủng vi khuẩn 40
Hình 4.3: Cao Tràm ở nồng độ 32 µg/ml, 64 µg/ml trên 2 chủng vi khuẩn 40
Hình 4.5: Cao Sả ở nồng độ 2048 µg/ml trên 6 chủng vi khuẩn 41
Hình 4.5: Cao Sả ở nồng độ 512 µg/ml, 2048 µg/ml trên hai chủng vi khuẩn Edwar 42
Hình 4.7: Cao Rau má ở nồng độ 2048 µg/ml trên 6 chủng vi khuẩn 43
Hình 4.8: Cao Rau má ở nồng độ 512 µg/ml, 1024 µg/ml trên 2 chủng vi khuẩn Edwar 44
Hình 6.1: Thử tính kháng khuẩn của 3 loại cây Tràm, Sả và Rau má 51
Trang 11TÓM LƯỢC
Để xác định hoạt tính kháng khuẩn của cây Tràm (Melaleuca leucadendra L.), cây Sả (Cymbopogon citratus Stapf) và cây Rau má (Centella asiatica (L.) Urban),
cao thô được trích từ methanol của 3 cây này được dùng thử hoạt tính trên 8 chủng
vi khuẩn bao gồm: Staphylococcus aureus 291003, Streptococcus faecalis 010408,
Pseudonomas aeruginosa 1110008, Escherichia coli 101008, Salmonella spp
291003, Aeromonas hydrophilla 011004, Edwardsiella tarda 280208 và Edwardsiella ictaluri
Kết quả cho thấy cao Tràm có phổ kháng khuẩn rộng ức chế được hầu hết các chủng vi khuẩn nghiên cứu ở nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và vòng vô khuẩn như
sau: Staphylococcus aureus (64 µg/ml, 20mm), Streptococcus faecalis (64 µg/ml, 18mm), Aeromonas hydrophilla (512 µg/ml, 14mm), Pseudomonas aeruginosa (512 µg/ml, 13mm), Edwardsiella ictaluri (64 µg/ml, 25mm), Edwardsiella tarda (64µg/ml, 25mm) Trên hai chủng E coli và Salmonella spp ở nồng độ 2048 µg/ml
> MIC > 4096 µg/ml và không có vòng vô khuẩn Cao Sả thì có tính kháng khuẩn
yếu được 8 chủng nhưng ở nồng độ cao Staphylococcus aureus (2048 µg/ml, 7mm), Edwardsiella ictaluri (512 µg/ml, 14mm), Edwardsiella tarda (1024 µg/ml, 14mm)
còn những chủng còn lại thì chỉ bị ức chế ở 2048 µg/ml > MIC > 4096 µg/ml và không có vòng vô khuẩn Rau má có tính kháng khuẩn yếu nhất chỉ ức chế 6/8
chủng vi khuẩn như: Staphylococcus aureus (2048 µg/ml, 7mm) , Edwardsiella ictaluri (1024 µg/ml, 10mm), Edwardsiella tarda (1024 µg/ml, 12mm), Streptococcus faecalis, Aeromonas hydrophilla, và Pseudomonas aeruginosa (2048 µg/ml > MIC > 4096 µg/ml) còn trên E coli và Salmonella spp vẫn không bị ức
chế ở nồng độ 4096 µg/ml
Trang 12Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày xưa ông cha ta đã biết sử dụng cây cỏ để làm thuốc phòng và trị bệnh Do
xã hội ngày càng phát triển, dân số ngày càng đông, môi trường ngày càng ô nhiễm nên bệnh tật càng gia tăng và càng phức tạp Thuốc tây ra đời khẳng định sự phát triển vượt bậc của y học hiện đại
Tuy nhiên, mặt tiêu cực của thuốc tây là mang lại tác dụng phụ khi sử dụng không đúng cách hoặc quá liều Vì vậy mà hiện nay người ta đang có xu hướng tìm
về các loại dược liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên để thay thế dần các loại thuốc đã được chứng minh có tính tích lũy hoặc gây độc
Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu thực phẩm sử dụng cho con người ngày càng gia tăng và đòi hỏi cao về an toàn và chất lượng Điều này được chú trọng đặc biệt ở các nước phát triển Vì thế mà rất nhiều sản phẩm thủy sản chế biến của nước
ta gặp trở ngại ở thị trường các nước này về vấn đề dư lượng kháng sinh
Ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản nước ta cần có chiến lược và giải pháp
an toàn sinh học để cho ra sản phẩm an toàn, chất lượng cho người tiêu dùng, để có thể đứng vững trên thị trường quốc tế
Nhiều biện pháp được đưa ra để giải quyết vấn đề này, trong đó việc nghiên cứu
và ứng dụng các chế phẩm nguồn gốc tự nhiên trong phòng, trị bệnh cho gia súc, gia cầm và thủy sản đang là vấn đề cấp bách
Được sự cho phép của bộ môn Thú Y – khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng
Dụng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của cây Tràm
(Melaleuca leucadendra L.), cây Sả (Cymbopogon citratus Stapf) và cây Rau má (Centella asiatica (L.) Urban)”
Mục tiêu đề tài
- Điều chế cao thô
- Xác định tính kháng khuẩn của các loại cao Tràm, Sả và Rau má
- Xác định nồng độ ức chế tối thiểu của cao Tràm, Sả và Rau má
Trang 13Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 VỀ DƯỢC LIỆU
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1.1.1 Cây Tràm (Melaleuca leucadendra L.)
Tình hình nghiên cứu trong nước:
Năm 1994, Nguyễn Duy Cương và ctv đã nghiên cứu tinh dầu Tràm có khả
năng ức chế Staphylococcus aureus và chất 1-8-cineol là chất chính tác dụng lên vi
khuẩn này với đường kính vòng vô khuẩn là16mm Ngoài ra tác giả cũng nêu ra các
chất terpinen – 4 – ol và α – terpineol có tác dụng đối với Streptococcus spp., Salmonella spp., E coli, Pseudomonas aeruginosa
Năm 2002, Nguyễn Minh Phúc và ctv đã chứng minh tinh dầu Tràm có khả năng ức chế vi khuẩn Gram âm và Gram dương
Theo Đỗ Huy Bích (2004) tinh dầu Tràm có khả năng kháng E coli và Salmonella typhi nhưng yếu
Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Theo Naturforsch (2002) tinh dầu 1,8 – Cineol có thể kháng E coli ở nồng độ
2,4 mg/ml
Carson và ctv (2006) đã khẳng định tinh dầu Tràm có khả năng tác động lên vi
khuẩn Pseudomonas aeruginosa ở nồng độ 1 - 8 % (vol/vol) trong khi Staphylococcus aureus là 0,5 - 1,25% (vol/vol)
2.1.1.2 Cây Sả (Cymbopogon citratus Stapf)
Năm 2007, Anonymous cũng đã báo cáo về khả năng kháng khuẩn của cao Sả Đến năm 2008, Okigbo và Meka chứng minh cao Sả chiết bằng ethanol và nước
có khả năng ức chế Staphylococcus aureus
Theo Odunbaku và Ilusanya (2008) cao chiết từ cây Sả có thể ức chế
Staphylococcus aureus ở nồng độ là 650mg/ml và tác giả cũng chứng minh cao Sả chiết bằng methanol ức chế E coli và Pseudonomas aeruginosa ở nồng độ cao (500
mg/ml)
2.1.1.3 Cây Rau má (Centella asiatica (L.) Urban)
Zaidan và ctv (2005), cho thấy cao chiết methanol của cây Rau má không có khả
năng kháng trên các chủng E coli, Pseudomonas aeruginosa Tuy nhiên, cao Rau
má có khả năng ức chế Staphylococcus aureus
Wei và ctv (2008), chứng minh cao Rau má chiết bằng methanol không thấy
vòng vô khuẩn ở các chủng Aeromonas hydrophilla, E coli , Edwardsiella tarda, Salmonella spp
Trang 142.1.2 Tràm (Melaleuca leucadendra L.)
2.1.2.1 Mô tả
Cây Tràm là một cây nếu phát triển tự nhiên có thể cao tới 4 – 5 m Trên thân cây to lớp vỏ bong ra thành từng mảng to dài Lá mọc so le, cuống màu xanh vàng nhạt, phiến lá hình mác, trên có những gân chạy dọc theo gân chính, lúc đầu mỏng
và mềm về sau dầy, cứng và dòn; thường dài 4 – 8 cm, rộng 10 – 20mm (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Cụm hoa mọc ở đầu cành thành bông tận cùng bằng một túm lá non; lá bắc hình mác, sớm rụng; hoa màu trắng vàng nhạt tụ tập 2 – 3 cánh trên cụm; đài hình trụ có lông mềm, 5 răng, sớm rụng; tràng 5 cánh có móng rất ngắn; nhị rất nhiều, hàm liền
ở gốc thành 5 bó đối diện với lá đài; bầu ẩn trong ống đài, 3 ô Quả nang, gần hình cầu, cụt ở đầu, đường kính: 4mm, khi chín nứt thành 5 mảnh; hạt hình nệm hoặc gần hình trứng Mùa hoa: tháng 3 – 5 (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Hình 2.1: Cây Tràm (Melaleuca leucadendra L.)
2.1.2.2 Phân bố, sinh thái
Chi Melaleuca ước tính có khoảng 250 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở
vùng nhiệt đới, sống tập trung từ vùng châu Đại Dương, bao gồm Australia, Papua Niu Ghinê, Niu Caliđôni,… đến vùng nhiệt đới châu Á Ở Việt Nam, chi này có hai
loài là Tràm lá hẹp (M alternifolia Cheel) nhập nội từ Australia, trồng ở vùng đồi khô hạn tỉnh Quảng Bình và Tràm lá lớn (M leucadendra L.) Các loài trong cùng
một chi có nhiều đặc điểm sinh học liên hệ chặt chẽ với nhau (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Theo Đỗ Tất Lợi (2003) ở Việt Nam Tràm được phân bố ở một số tỉnh dọc theo
bờ biển và vùng Đồng Tháp Mười Căn cứ vào môi trường nơi mọc, có thể chia Tràm ở Việt Nam thành hai quần thể là Tràm đồi và Tràm trên đất phèn ngập Trước đây Tràm hầu như không được khai thác Mãi tới vào khoảng năm 1990, cây
Trang 15Tràm vào vùng Quảng Bình, Quảng Trị mới được khai thác để cất tinh dầu bán rộng rãi trên thị trường với tên “dầu khuynh diệp”
Việt Nam là một trong những nước có diện tích Tràm tự nhiên lớn nhất châu Á Mỗi năm, có thể sản suất từ 80 – 100 tấn tinh dầu chủ yếu là xuất khẩu Nếu có thêm thị trường tiêu thụ thì tinh dầu Tràm của Việt Nam sản suất ra sẽ còn lớn hơn rất nhiều Rừng Tràm của Đồng Tháp Mười còn có ý nghĩa lớn về mặt sinh học và môi trường (Võ Văn Chi, 1991)
Tinh dầu Tràm là một chất lỏng, không màu hay hơi vàng nhạt, vị hơi cay, mùi thơm đặc biệt Nếu tinh chế, tinh dầu trong, hầu như không màu, tan trong 2,5 – 3 thể tích cồn 700 (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Tinh dầu Tràm chứa 14 – 65% là 1,8 – cineol tùy theo tuổi cây, thổ nhưỡng và các điều kiện khác Các thành phần khác là 3, 5 – dimethyl – 4, 6 – di – O – methylphloroacetophenon, terpineol, pinen, nerolidol, benzaldehyd (vết), valeraldehyd (vết)
Tinh dầu Tràm từ nguyên liệu thu thập ở Long An có 34 thành phần trong đó α – pinen 3,8%, β – pinen 2,6%, limonen 4,8%; 1, 8 – cineol 48%, p.cymen 13,2%, linalool 3,4%, β – caryophylen 2,1%, terpinen – 4 – ol 1,6%, α – humulen (hay α – selinen 1,3%, aloaromadendren 1,5%, б – malen 1,4%, α – terpinen 9,8%
Tinh dầu Tràm từ nguyên liệu thu thập ở Bình Trị Thiên cũ có 31 thành phần trong đó có α – pinen 1,25 – 3,01%, 1,8 – cineol 24,23 – 66,83%, α – terpineol l5,44 – 11,96%, β – caryophylen 1,26 – 2,56%, β – selinen 1,18 – 6,04%
Theo quy định của Dược điển Việt Nam II, tập 3, tinh dầu Tràm phải chứa ít nhất 60% cineol 1, 8 – cineol là chất lỏng, không màu, trong suốt, mùi thơm nhẹ, thoảng mùi long não lẫn bạc hà, vị cay, không tan trong nước, hòa tan với bất cứ tỷ
lệ nào trong ethanol tuyệt đối, ether, chloroform, dầu vaselin, dầu thảo mộc, tinh dầu thông, acid acetic loãng
Quy trình chiết tách hàm lượng cineol được tiến hành theo nhiều giai đoạn (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Trang 16- Giai đoạn I: cho tinh dầu với hàm lượng cineol từ 60% trở lên Nếu tinh dầu
có hàm lượng cineol thấp, cần phải chưng cất dưới áp lực giảm
- Giai đoạn II: kết tinh phân đoạn ở nhiệt độ thấp, đưa tinh thể cineol vào túi vải, ly tâm nhanh
- Sản phẩm có thể đạt 90 – 98% cineol, muốn được với hàm lượng cao hơn cần tiếp tục tinh chế
Ngoài tinh dầu, Tràm còn có flavonoid và tanin Các flavonoid trong lá Tràm là kaempferol, quercetin, myricetin, myricitryl, quercitrin, miquelianin, và quercetin –
3 – O – xyloglucosid Tinh dầu khuynh diệp tinh chế làm tăng tác dụng kháng sinh của streptomycin và đặc biệt của penicillin (Đỗ Tất Lợi, 2003)
2.1.2.5 Tác dụng dược lý
Tinh dầu Tràm có tác dụng kháng khuẩn in vitro theo thứ tự hoạt tính giảm trên
các chủng vi khuẩn: Candida albicans, Bacillus subtilis, Proteus vulgaris, Shigenlla shigae, Sh flexneri, Mycobacterium turberculosis (giảm độc), Sh dysenteriae, Bacillus mycoides, Sh sonnei, Salmonella typhi, Klebsiella sp., Escherichia coli,
phế cầu, tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh Linalool, terpinen – 4 – ol từ tinh dầu
Tràm có tác dụng trên E coli Tinh dầu Tràm và cineol có tác dụng ức chế in vitro các chủng nấm: Candida albicans, Trichophyton, rubrum, Microsporum gypseum,
M lanosum và Epidermophyton flocosum (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Nồng độ ức chế tối thiểu của tinh dầu 1,8 – Cineol trên một số chủng vi khuẩn
như sau: Staphylococcus aureus (9,5 mg/ml), Pseudomonas aeruginosa (2,75 mg/ml), E coli (2,4 mg/ml) (Naturforsch, 2002)
Thường dùng tinh dầu Tràm nguyên chất để xoa bóp chữa đau nhức, tê thấp, ho, cảm Mặc dù tỷ lệ cineol trong tinh dầu Tràm thấp hơn trong tinh dầu bạch đàn nhưng người ta cho rằng tính chất sát trùng của tinh dầu Tràm lại mạnh hơn tinh dầu bạch đàn, người lớn và trẻ em đều có thể dùng tinh dầu nguyên chất để xoa bóp, hoặc có thể uống tinh dầu 10 đến 50 giọt (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Cặn tinh dầu Tràm được bào chế thành thuốc trị nấm da, và đưa thử nghiệm trên lâm sàng đạt kết quả tốt Thuốc xức trị ngứa chứa hỗn hợp cặn dầu Tràm (79,8%), cồn tô mộc 1% (20%) và bột berberin (0,2%) được thử nghiệm trên lâm sàng, xức lên vùng da ngứa sẽ có tác dụng rõ rệt, đặt biệt có tác dụng tốt với ghẻ ngứa, hắc lào, lang ben, viêm nang râu Dung dịch tinh dầu Tràm 20% pha trong dầu lạc, và dung dịch cineol trong dầu chữa bỏng Kết quả da bỏng bị hoại tử se lại, giảm phù
nề, nhiễm khuẩn nung mủ bị hạn chế, quá trình tái tạo mô phát triển, vết bỏng chóng lành và lên sẹo tốt hơn Tinh dầu Tràm tinh chế có trong thành phần của một thuốc cùng với bromoform, được thử nghiệm trên lâm sàng, có tác dụng khá tốt để giảm ho, long đờm, sát khuẩn và làm thông thoáng đường hô hấp trong điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp thể nhẹ (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Trang 172.1.2.6 Tính vị công năng
Lá Tràm có vị cay chát, mùi thơm, tính ấm, vào hai kinh: tỳ, phế, có tác dụng hoạt huyết, khu phong, an thần, giảm đau, tiêu đờm, sát trùng
2.1.2.7 Công dụng
Trong dân gian thường dùng lá và cành non mang lá để pha, hãm hoặc sắc với tỉ
lệ 20g lá trong 1 lít nước để uống thay nước giúp tiêu hóa, chữa ho hoặc để xông
Có thể dùng dưới dạng ngâm rượu với tỷ lệ 1/5 với tên cồn khuynh diệp cùng một công dụng như trên với liều 2 – 5g cồn một ngày (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Lá Tràm tươi nấu nước rửa vết thương chống nhiễm khuẩn, bôi lên vết bỏng tránh hiện tượng phồng nước, tắm chữa mẩn ngứa Lá Tràm phơi khô cũng được dân gian nấu nước uống thay trà (2g trong 1 lít nước) có tác dụng kích thích tiêu hóa Tinh dầu Tràm được dùng xoa bóp ngoài làm nóng chữa đau khớp, chân tay nhức mỏi Tinh dầu Tràm pha trong dầu thầu dầu với tỷ lệ 5 – 10% dùng nhỏ mũi
để sát khuẩn, chống cúm, ngạt mũi Còn dùng tinh dầu Tràm pha vào nước với nồng
độ 0,2% để rửa vết thương
Trong y học cổ truyền Ấn Độ, tinh dầu Tràm pha loãng được dùng uống làm thuốc long đờm trong viêm thanh quản và viêm phế quản mạn tính và làm thuốc gây trung tiện giảm chướng bụng; liều quá cao gây kích thích đường tiêu hóa Có tác dụng trị giun, đặc biệt giun đũa Chấm tinh dầu Tràm vào lỗ răng sâu, làm đỡ đau răng
2.1.2.8 Một số bài thuốc có Tràm
Chữa ứ huyết: lá Tràm khô, rễ ô rô tía, mỗi vị 20 – 30g Sắc đặc uống trong
ngày
Chữa thần kinh suy nhược, ít ngủ: vỏ Tràm 20g; dây lạc tiên, lá vống, mỗi vị
15g Sắc uống trong ngày
Chữa cảm cúm: lá Tràm 30g, đun sôi với nước vài dạo để xông và uống một bát
nước sắc lúc nóng cho ra mồ hôi Hoặc dùng 15 giọt tinh dầu pha với nước đường
để uống và xoa tinh dầu vào mũi, gáy, sống lưng
2.1.3 Rau má (Centella asiatica (L.) Urban)
2.1.3.1 Mô tả
Rau má là loại cây cỏ mọc bờ, có rễ ở các mấu, thân gầy, nhẵn Lá hình mắt chim, khía tay bèo, rộng 2 – 4 cm, cuống dài 2 – 4 cm trong những nhánh mang hoa
và dài từ 10 – 12 cm trong những nhánh thường (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Cụm hoa hình tán đơn mọc riêng lẻ hoặc 2 – 5 cái ở kẽ lá, mỗi tán mang 1 – 5 hoa (thường là 3) màu trắng hoặc phớt đỏ, hoa giữa không có cuống; tổng bao có 2 – 5 mảnh hình trái xoan, lõm, dạng màng; cánh hoa hình tam giác hoặc trái xoan; nhị có
Trang 18chỉ nhị ngắn, bao phấn hình mắt chim; bầu hình cầu Quả màu nâu đen, đỉnh lõm, có
7 – 9 cạnh lồi, nhẵn hoặc có lông nhỏ, có vân mạng (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004) Mùa hoa quả tháng 4 – 6
Hình 2.2: Cây Rau má (Centella asiatica (L.) Urban)
2.1.3.2 Phân bố, sinh thái
Chi Centella có khoảng 40 loài, phân bố tập trung ở vùng Bắc Phi, còn loài Rau
má kể trên chỉ thấy ở vùng nhiệt đới Nam và Đông Nam châu Á, các tỉnh Nam Trung Quốc bao gồm cả đảo Hải Nam (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Rau má được phân bố nhiều ở khắp vùng nhiệt đới cổ, từ các nước Arap, Trung Đông qua Pakistan, đến các nước Đông Nam Á và châu Đại Dương Ở nước ta Rau
má mọc hoang khắp nơi, thường gặp ở các bãi cỏ, bờ ruộng, ven suối, quanh các làng bản (Võ Văn Chi, 2005)
Rau má có một alkaloid gọi là hydrocotylin C22H33O8N, có độ chảy 210 –
212oC alkaloid này cho các muối oxalate với độ chảy là 250oC, muối picrat với độ chảy 110 – 112oC, muối cloroplarinat với độ chảy 134 – 136oC (Đỗ Tất Lợi, 2003) Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2004) Rau má chứa những hợp chất thuộc nhiều nhóm khác nhau như:
- Triterpen: Sapinin triterpenic; asiaticoid (madecassol), madecassosid, irahminosid
- Ngoài ra, còn có thankunisid và isothankunisid Khi thủy phân, thankunisid cho ra acid thankunic, glucose và rhamnose
Trang 19- Isothankunisid đem thủy phân sẽ cho acid isothankunic, glucose và rhamnose
- Các acid triterpennic trong Rau má là acid Asiatic, acid brahmic, acid isobrahmic
- Tinh dầu: phần trên mặt đất của cây Rau má mọc ở Malaysia có 41 thành phần, trong đó 80% là các sesquiterpen (thành phần chính) và 10% germacgen – D (thành phần có nhiều)
- Cây Rau má mọc ở Srilanca chứa tinh dầu; trong đó có α – copaen 14%,
β – caryophylen 12%, trans – β – farnesen 53% và α – humulen 9% (Prosea 12 (1), 1991)
- Flavonoid: các flavonoid gồm kaempferol, quercetin, 3 – glucosyl, 3 – glucosyl – kaempferol
- Steroid: các hợp chất này gồm β – sitosterol, stigmasterol và campestrol
- Dầu béo: các glycerid của các acid oleic, linoleic, lignoceric, palmitic, stearic, linolenic, elaidic
- Acid amin: Acid glutamic, serin, alanin
- Các nhóm thành phần khác: tanin, carotenoid, vitamin C, alkaloid (hydro cotylin), oligosaccharide (centelose)
2.1.3.5 Tác dụng dược lý
Nhân dân coi vị Rau má là vị thuốc mát, vị ngọt, hơi đắng, tính bình, không độc,
có tính chất giải nhiệt, giải độc, thông tiểu, dùng chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư, bạch
đới, lợi sữa (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Hai chất asiaticosid của Rau má đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị bệnh phong, do làm tan màng bao sáp của vi khuẩn phong; trực khuẩn trở nên mỏng manh và dễ bị phá hủy Khi tiêm dung dịch thuốc, các u nhỏ của bệnh nhân phong
bị vỡ ra, những thâm nhiễm lan tỏa mất đi, những vết loét thủng và những thương tổn ở ngón tay lành lại, và đặc biệt những tổn thương ở mắt khỏi nhanh chóng, nếu tiến hành điều trị trước khi hốc sâu của mắt bị tổn thương Asiaticosid và oxy – asiticoid (thu được do oxy hóa asiaticosid) được dùng để điều trị một số thể bệnh lao (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Rau má có vị ngọt tính mát, có tác dụng chống nhiễm trùng, chống độc, giải nhiệt và lợi tiểu Thường được chỉ định trị: đau gan mật và bệnh sởi, sổ mũi, viêm hạnh nhân, đau họng, viêm khí quản, bệnh đường tiết niệu, ngộ độc lá ngón, nấm độc và thạch tín, trị rắn cắn, mụn nhọt ngứa lở và vết thương (Võ Văn Chi, 2005)
Trang 20Nước sắc Rau má, qua phân tích bằng sắc ký lớp mỏng, thấy có một số vết chất
có tác dụng chống oxy hóa trong ống kính
Nước sắc có tác dụng kháng khuẩn đối với trực khuẩn mủ xanh và tụ cầu
Staphylococcus aureus (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Hỗn hợp brahmosid và brahminosid có hoạt tính chống co thắt, hạ sốt, ức chế hệ thần kinh trung ương, an thần và hạ áp Rau má có tác dụng gây ngủ, giảm đau trung gian qua các thụ thể đáp ứng với thuốc phiện (Lê Ba và ctv, 1999)
Trong cây Rau má có alkaloid là hydrocotylin và các glycoside là asiaticoside, centelloside,… có tác dụng tới mô liên kết giúp cho các mô tái tạo nhanh chóng, do
đó làm cho các vết thương mau lành và lên da non Chất asiaticoside có tác dụng kháng khuẩn (do làm tan màng sáp của vi khuẩn) và làm cho vết thương chóng lên
da non (Võ Văn Chi, 2000)
Theo Panthi và Chaudhary (2006) cao Rau má được ly trích từ methanol kháng
được các chủng vi khuẩn như: Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Shigella boydii Còn đối với E coli thì không kháng (http://www planetaobservatory.gov.np/publication/sw4/Antibacterial%20Activity%20of%20So me%20.pdf)
Tại một số nước, người ta chú ý nghiên cứu Rau má để tìm tác dụng chữa bệnh phong và bệnh lao (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Gần đây, Rau má đã được dùng chữa các chứng bệnh cảm mạo, đau đầu, viêm amiđan, mắt đỏ, đau răng, viêm gan siêu vi truyền nhiễm, viêm đường tiết niệu, tiểu khó, eczema, mẩn ngứa, ho gà
Theo y học cổ truyền, cây có vị ngọt nhạt, hơi đắng, mùi thơm mát, có tác dụng giải nhiệt, lợi tiểu, tiêu viêm, sát trùng, cầm máu, dùng trị cảm mạo, phong nhiệt thủy đậu, sởi, sốt vàng da mặt, viêm họng, viêm hạnh nhân, viêm khí quản, ho, viêm đường dẫn tiểu, tiểu gắt buốt, mụn nhọt, lở ngứa Còn trị thổ huyết, chảy máu,
tả lỵ, khí hư,… (Võ Văn Chi, 2000)
Ở Madagascar Rau má có tác dụng chữa loét đường tiêu hóa, làm liền sẹo bên trong và bên ngoài Trong y học dân gian Srilanca, Rau má được dùng làm thuốc lợi sữa
Trang 21Rau má có trong thành phần một bài thuốc ở Indonesia chữa sỏi và nhiễm trùng đường tiết niệu, và trong một siro chống động kinh ở Ấn Độ; siro này có hoạt tính chống động kinh rõ trong thử nghiệm trên chuột cống trắng Trong y học hiện đại, Rau má ít được dùng trực tiếp, mà thường ở dạng cao đã được tiêu chuẩn hóa bằng đường uống, tiêm bắp hoặc dưới da Một pomat đặc chứa 1 – 2% cao Rau má điều trị có hiệu quả những vết thương nhiễm bẩn Cao Rau má điều trị bỏng độ 2 và độ 3
có tác dụng phòng sự co rút và sưng do nhiễm khuẩn và ức chế tạo sẹo lồi Cao Rau
má cũng điều trị có hiệu quả loét chân lâu lành Kem chứa 1% cao Rau má điều trị loét da nhiễm khuẩn mãn tính (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
2.1.3.8 Một số bài thuốc có Rau má
Chữa bệnh ngoài da thể phong nhiệt: chàm khô, tổ đĩa khô, á sừng, viêm da
thần kinh, viêm nang lông và vảy nến thể khô; Rau má 16g, chi tử, huyền sâm, chiên môn, đậu đen, ngưu tất, thạch cao, mỗi vị 20g; hoài sơn, lá đậu, mỗi vị 16g, hoàng liên 8g, thiền thoái 16g Sắc uống ngày 1 thang
Chữa tiêu chảy cấp tính: Rau má sao vàng 10g, biển đậu 12g, hoắc hương,
hương phụ, hạt mã đề, mỗi vị 8g; nhân sâm 3g, gừng 2g Sắc uống ngày một thang
Chữa viêm bàng quang cấp tính: Rau má 12g, công anh 20g, mã đề 16g, thài lài
tía, chi tử, râu ngô, cam thảo dây, mộc thông, mỗi vị 12g Sắc uống ngày một thang
2.1.4 Sả (Cymbopogon citratus Stapf)
2.1.4.1 Mô tả
Sả là loại cỏ sống lâu năm, mọc thành bụi, cao từ 0,8 – 1,5 m hay cao hơn Thân
rễ trắng hay hơi tím Lá hẹp, dài giống như lá lúa, mép hơi nhám Cụm hoa gồm nhiều bông nhỏ không cuống Toàn cây có mùi thơm đặc biệt mùi sả (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Hình 2.3: Cây Sả (Cymbopogon citratus Stapf)
Cụm hoa thành chùy dài 60 – 80 cm hoặc hơn; bông giả hình chum không đều, xếp từng đôi một, có đốt ngắn; hoa màu tím hoặc nâu hồng, hoa lưỡng tính hình mác nhọn, không có râu gai; hoa đực có cuống, hình elip hoặc hình mác, đỉnh có hai
Trang 22răng ngắn, mép có lông, nhị 3, bao phấn hai ô, xếp song song, bầu nhẵn, khi khô màu nâu sẫm
Mùa hoa: tháng 12 – 1
2.1.4.2 Phân bố sinh thái
Sả là loài cây được con người sớm biết sử dụng Các mẫu Sả khô được phát hiện trong các lăng mộ Ai Cập cổ có niên đại cách đây khoảng 3000 năm Trên thế giới,
chi Cymbopogon Spreng có tổng số khoảng 1200 loài; trong đó 55 loài có chứa tinh
dầu phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á; hiện 13 loài đã được trồng ở các mức độ khác nhau Đáng chú ý nhất là 4 loại: Sả chanh, Sả Java, Sả dịu, Sả hoa hồng
Nguồn gốc chưa biết chính xác, nhưng nhiều người cho rằng từ Malaysia Được trồng nhiều ở các nước Đông Nam Á, Ấn Độ và Trung Quốc Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cây mới được du nhập sang Nam và trung Mỹ, Madagasca và châu Phi Ở Việt Nam, Sả được trồng từ lâu đời trong dân gian, để làm gia vị, làm thuốc, nấu nước gội đầu và cất tinh dầu (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Nhu cầu tinh dầu Sả vào khoảng 3000 đến 4000 tấn/năm Những nước sản xuất nhiều tinh dầu Sả nhất là Indonesia, Xrilanca, Ấn Độ, Trung Quốc,… (Đỗ Tất Lợi, 2003)
2.1.4.3 Bộ phận dùng
Toàn cây Sả dùng tươi hoặc phơi khô Riêng đối với rễ, rửa sạch, cắt thành đoạn
3 – 5 cm hoặc thái lát 2 – 3mm phơi âm can đến khô
2.1.4.4 Thành phần hóa học
Trong Sả có 20% là tinh dầu mà thành phần chủ yếu là xitral với hàm lượng từ
65 – 85% ngoài ra còn khoảng 40% geraniol Tinh dầu thường có màu vàng nhạt, thơm mùi chanh (Võ Văn Chi, 2000)
Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2003) trong Sả có những chất sau:
- Tinh dầu Sả ở Philippin thấy thành phần chính là citral 69,39%; ngoài ra, còn
có geraniod, myrcen, α, β - pinen, laurat ethyl, 1,8 cineol, limonen, linalool, caryophyllen, menthol, terpineol, và citronellol
- Chất luteolin – 7 – O – neohesperoid, luteolin, homoorientin, luteolin 7 – O –
β glucosid; 2’’ – O – rhamnosylhomỏoientin cùng với các chất acid p coumeric, các đường fructose và sacrose, các alcol octacosanol, triacontanol,
và dotriancontanol
- Chất myrcen trong Sả có tác dụng làm giảm đau ngoại biên (peripheral analgesic effcct) Còn chất d limonene có tác dụng chống ung thư
Trang 232.1.4.5 Tác dụng dược lý
Tinh dầu Sả có tác dụng kháng khuẩn in vitro trên các chủng vi khuẩn theo thứ
tự hoạt tính giảm dần: Bacillus subtilis, Bacillus mycoides, Shigella dysenteriae, Proteus vulgaris, phế cầu khuẩn, trực khuẩn lao (giảm độc), E coli, Citronellal và
geraniol là hai thành phần chính có tác dụng kháng khuẩn Tinh dầu Sả diệt
Entamoeba moshkowskii Geraniol có cùng nồng độ ức chế thấp trên amip như tinh
dầu Sả (Đỗ Huy Bích và ctv, 2003)
Tinh dầu Sả dùng làm thuốc giúp tiêu hóa, đuổi muỗi, còn dùng trong công nghiệp chất thơm, làm nước hoa, xà phòng thơm,… Lá Sả dùng pha nước uống cho mát và tiêu Củ Sả có công dụng thông tiểu tiện, ra mồ hôi, chữa cảm sốt (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Citronellal ở nồng độ 112 mg/l và linalool 14-56 mg/l chống lại sự phát triển
một số nấm Aspergillus, Penicillium và Eurotium
Ở nồng độ 0,10 – 0,25%, Sả có tác dụng rõ rệt kháng các nấm Aspergillus flavus, A oryzae, A sp., Penicillium citriorum, P coryliphilum, P janthanmellium,
P sp., Rhizopus sp Mucor sp., Botrytis sp., Circinella sp và Mycelia sterillia Sả
có tác dụng kháng khuẩn và kháng các men yếu (Đỗ Huy Bích và ctv, 2003)
Trong thử nghiệm in vitro đánh giá về hoạt tính kiềm hãm nấm, Sả có tác dụng
đáng kể đối với các chủng nấm Candida spp., Aspergillus fumigatus, Microsporum canis,… Tác dụng mạnh nhất trên Candida albicans và M gypseum Citral và
citronella có hoạt tính kháng nấm tốt trong khi dipenten và myrcen không có tác dụng
Cho chuột cống trắng ăn dài ngày với chế độ ăn có thêm các nồng độ khác nhau của tinh dầu Sả tính theo thể trọng Sau 60 ngày, các chuột tăng thể trọng rõ rệt hơn
và ăn thức ăn nhiều hơn so với đối chứng
2.1.4.6 Tính vị công năng
Sả có vị the cay, mùi thơm tính ấm, vào phế, tùy vị, có tác dụng làm ra mồ hôi, thông tiểu, hạ khí tiêu đờm
2.1.4.7 Công dụng
Sả được chữa cảm sốt, đau bụng, đi ngoài, đầy hơi, trướng bụng, nôn mửa, trẻ
em kinh phong, ho, viêm phổi, thuỷ thũng, ngộ độc rượu Ngày dùng 8 – 12g lá và
rễ dưới dạng thuốc xông hay thuốc hãm uống Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác Rễ Sả giã nát, xát vào vết chàm chữa chàm mặt ở trẻ em Lá Sả nấu lấy nước gội đầu là sạch gầu, trơn tóc, tránh bệnh về da đầu Tinh dầu Sả dùng để trừ muỗi, khử mùi hôi tanh, dùng xoa ngoài chống cúm, phòng bệnh truyền nhiễm Có thể dùng tinh dầu Sả uống dưới dạng giọt, mỗi ngày 3 – 6 giọt pha trong siro và nước thành nhũ tương để chữa đầy bụng, đau bụng, thông trung tiện, chống nôn và trị tiêu chảy (Đỗ Huy Bích và ctv, 2003)
Trang 24Ở các nước châu Âu, nước Sả có đường được dùng làm nước giải khác Tinh dầu Sả phối hợp với nhiều loại tinh dầu khác dùng xoa bóp làm giảm đau xương, đau mình (Đỗ tất Lợi, 2004)
2.2 VỀ VI SINH VẬT
2.2.1 Các chủng vi khuẩn Gram dương
2.2.1.1 Staphylococcus aureus
Theo hội nghị quốc tế về xếp loại Micrococcus, giống Staphylococcus bao gồm
3 loại: Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis, Staphylococcus saprophyticus (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997) Do Rosenbach phân lập được vào
năm 1884 (Bergey’s Manual, 2005)
Đặc điểm
Là cầu khuẩn hình chùm nho, sinh mủ điển hình làm cho các tổ chức của động vật, người bị sưng, vết thương nung mủ gây viêm có mủ, một số trường hợp chuyển sang huyết nhiễm mủ và bại huyết (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Staphylococcus aureus còn có khả năng hình thành độc tố ruột trong thực phẩm,
do đó mới gây nên chứng nhiễm độc (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Hình thái
Đường kính 0,5 - 1,5 µm, gồm nhiều cầu khuẩn gắn liền nhau tạo thành hình giống như chùm nho (Asperger, 1994) Gram dương, không di động, không sinh nha bào (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Đặc tính nuôi cấy và sinh hóa
Dễ nuôi cấy phát triển ở nhiệt độ 10 – 45oC, nồng độ muối từ 10% - 15%, thích hợp điều kiện hiếu khí, kỵ khí, nhiệt độ thích hợp 30 – 37oC, pH thích hợp là 7,0 – 7,5 (Asperger, 1994)
Có khả năng lên men đường glucose, lactose, levulose, mannose, mannit,
saccarose, không lên men đường galactose Staphylococcus aureus lên men
mannitol (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Môi trường thạch máu Staphylococcus aureus làm dung huyết và làm đông
huyết tương thỏ (Trần Thị Phận, 2004)
Thạch: 12 – 24 giờ khuẩn lạc tròn đường kính 2 – 4mm, màu trắng, vàng, vàng chanh, hơi ướt Phần lớn khuẩn lạc có màu vàng thẫm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977) Môi trường thạch Mannitol Salt Agar (MSA) sau 12 – 24 giờ mọc thành đám nhỏ, tròn, màu vàng, rìa gọn, khô Môi trường thạch chuyển sang màu vàng (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Gelatin: cấy sâu, sau mấy ngày (3 – 4 ngày) tan chảy từ từ thành phễu từ ở giữa,
phần đản bạch ở keo bị tan là do một thứ men làm tan keo Staphylococcus aureus
làm tan gelatin rất rõ (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Trang 25 Sức đề kháng
Nhiệt độ 70oC diệt vi khuẩn 1 giờ; 80oC trong vòng 10 – 30 phút, đun sôi vài phút vi khuẩn mới chết (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Staphylococcus aureus có đề kháng với nhiệt độ và hóa chất cao hơn các vi
khuẩn không có nha bào khác Nhiệt độ 80oC diệt vi khuẩn trong 1 giờ Đun sôi
100oC chết sau 1-2 phút Staphylococcus aureus dễ bị tiêu diệt bởi các thuốc sát
trùng thông thường nhưng đề kháng với sự khô và sự đóng băng Ở nơi khô ráo,
Staphylococcus aureus sống từ 4-5 tháng (Trần Thị Phận, 2004)
Đặc tính gây bệnh
Tụ cầu thường ở trên da và niêm mạc các hốc tự nhiên, khi sức đề kháng của tổ chức bị phá hoại thì gây viêm cục bộ có tính chất mưng mủ, gây ápxe, sưng khớp, viêm tủy xương, viêm màng kết mạc, viêm tuyến sữa của dê, bò, ngựa
Staphylococcus aureus gây mưng mủ ở những vết thương hở (Nguyễn Vĩnh Phước,
Về môi trường tự nhiên: ngựa cảm nhiễm nhất rồi đến chó, bò, heo, cừu Gà, vịt,
ít cảm nhiễm nhất Người dễ cảm nhiễm với Staphylococcus aureus
Staphylococcus aureus có thể theo đường máu gây ra mưng mủ ở nội tạng, từ đó
gây ra bại huyết và độc huyết
Staphylococcus aureus còn gây ra một số bệnh ở chó như: viêm tử cung cấp và
mãn tính, tích mủ ở tử cung, viêm vú có nhiễm trùng, viêm tuyến tiền liệt, viêm bàng quang, viêm mủ nếp gấp, viêm da mõm (Nguyễn Văn Biện, 2001)
Hyaluronidase: men này có khả năng phá hủy chất cơ bản của tổ chức, giúp
vi khuẩn có thể phát tán trong tổ chức
Trang 26 Hemolysine và leukocidine: phá hủy hồng cầu (tan máu) và gây chết các tế
bào hạt cũng như đại thực bào
Exfoliatine: là các men phá hủy lớp thượng bì Men này gây tổn thương da
tạo các bọng nước
Năm độc tố ruột (Enterotoxine A, B, C, D, E) bền với nhiệt Các độc tố ruột
này đóng vai trò quan trọng trong ngộ độc thực phẩm
Chẩn đoán vi khuẩn học
Năm 1950, 40% số chủng Staphylococcus aureus được phân lập từ các bệnh
viện đã kháng lại penicillin, nhưng đến năm 1960 tỷ lệ đó đã tăng đến 80%
(http://en.wikipedia.org/wiki/Staphylococcus aureus)
Sự kháng kháng sinh của Staphylococcus aureus là một đặc điểm rất đáng chú
ý Đa số Staphylococcus aureus kháng penicillin G do vi khuẩn này sản xuất được
men penicillinase Một số còn kháng lại được methicillin gọi là methicillin resistant
Staphylococcus aureus (viết tắt là MRSA), do nó tạo ra các protein gắn vào các vị
trí tác động của kháng sinh
Theo Võ Thị Huyền Trân (2007), Staphylococcus aureus có tỉ lệ nhạy cảm thấp
đối với kháng sinh như Tetracycline (41,46%), Ampicillin (36,59%)
Staphylococcus aureus đã đề kháng cao với Erythromycin (70,73%)
Năm 1977 người ta ghi nhận rằng Staphylococcus aureus mặc dù bị ức chế bởi
penicillin ở nồng dộ thông thường nhưng nó chỉ bị diệt ở nồng độ cao hơn Hiện tượng này gọi là sự dung nạp kháng sinh, cơ chế của sự dung nạp chưa hoàn toàn rõ ràng nhưng liên quan đến hiện tượng không tan bào của các chủng vi khuẩn này khi
có sự hiện diện của kháng sinh ở nồng độ nhạy cảm bình thường, có thể do vi khuẩn
đã ức chế được hiện tượng tan bào Sự dung nạp kháng sinh đã được phát hiện trong trường hợp viêm nội tâm mạc
Đến năm 2002, Staphylococcus aureus đã thật sự kháng với những kháng sinh
glycopeptide Từ năm 2005, đã phát hiện có 3 trường hợp xảy ra sự kháng thuốc của
Staphylococcus aureus được báo cáo ở Mỹ ( http://en.wikipedia.org/wiki/ staphylococus aureus ) Một nghiên cứu khác của David và ctv (2002) cho biết Staphylococcus aureus cũng kháng với tetracyclin (40%, MIC90 > 32 µg/mg), Licomycin (19%, MIC90 >32 µg/mg), Erythoromycin (12%, MIC90 > 8 µg/mg) và Kanamycin (8%, MIC90 > 128 µg/mg)
Qua kết quả nghiên cứu của trường Đại học Buenos Aires, Argentina, trong 206
mẫu Staphylococcus aureus phân lập từ bò bị viêm ở Argentina từ 1996 đến 1998 thì Staphylococcus aureus kháng với nhiều loại kháng sinh như Penicillin, Erythromycin (nhạy cảm 11,6%), Pirlimycin và Gentamycin (http://www.ncbi.nih gov)
Trang 27Những kháng sinh có hoạt lực mạnh như ceftriazol, Ciprofloxacine cũng bắt đầu
bị vi khuẩn này kháng lại Đáng chú ý là tỷ lệ đề kháng của Staphylococcus aureus
với methicillin lên tới 50% Theo một số tác giả Việt Nam, mức độ kháng của
Staphylococcus aureus với oxacillin cũng tăng khá nhanh, từ 9,6% năm 1989 lên
đến 20,7% năm 1994 những nghiên cứu khác trên thế giới cho thấy nguy cơ lan
rộng của Staphylococcus aureus kháng Methicillin (MRSA) trong nhiễm trùng bệnh viện nói chung và nhiễm khuẩn ngoại khoa nói riêng (http://www.khangsinh.htm)
Theo Trần Thị Phận (2004), chẩn đoán nhiễm trùng Staphylococcus aureus dựa
trên phân lập được chúng có trong mủ hay trong các dịch cơ thể Chẩn đoán nhiễm độc tụ cầu vàng chủ yếu là dựa vào lâm sàng hay dựa vào các đặc tính như:
Sắc tố vàng cam
Dung huyết
Đông huyết tương
Lên men đường mannitol
Phản ứng catalase
Điều Trị
Nafcillin và Oxacillin là 2 loại Penicillin kháng β-lactamase trị trong trường hợp nhiễm tụ cầu nặng Dicloxacillin và Cephalexin là kháng sinh dạng uống được khuyến cáo dùng trong trường hợp nhiễm trùng nhẹ (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
2.2.1.2 Streptococcus faecalis
Streptococcus feacalis hiện nay được gọi là Enterococcus faecalis và được phân
loại như sau:
Streptococcus feacalis xếp thành chuỗi dài hay ngắn như chuỗi hạt Cầu khuẩn
đường kính có khi đến 1 µ Gram dương, không di động, không có giáp mô Ở bệnh
Trang 28phẩm phân lập ra Streptococcus feacalis thành chuỗi ngắn có từ 6 – 8 đơn vị, có
khi dưới hình thái song cầu khuẩn (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Tỷ lệ nhiễm tăng lên từ những năm 1970 và những năm 1980, Streptococcus faecalis có thể lây lan trực tiếp (http://www.freshpatents.com /Bactiophage-lysins- for-enterococcus-faecalis-enterococcus-faecium-and-other-bacteria-
dt20070201ptan20070025978.php)
Đặc tính nuôi cấy
Hiếu khí hay yếm khí không bắt buộc, mọc tốt ở tất cả các môi trường
Môi trường nước thịt: vi khuẩn hình thành hạt hoặc những bông, rồi lắng xuống đáy ống Vì vậy sau 24 giờ nuôi cấy, môi trường trong, đáy ống có cặn
Môi trường thạch thường: vi khuẩn hình thành khuẩn lạc dạng S, khuẩn lạc nhỏ,
tròn, lồi, bóng, màu hơi xám Khi làm tiêu bản, Streptococcus feacalis không xếp
thành chuỗi dài mà thường hình thành chuỗi ngắn (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977) Hiếu khí hay yếm khí không bắt buộc, mọc tốt ở tất cả các môi trường
Nước thịt: hình thành cụm không làm đục môi trường, rồi lắng cặn
Thạch hay huyết thanh đông: khuẩn lạc trắng nhạt
Gelatin: hình lá dương xỉ
Môi trường đường: Streptococcus spp lên men glucose, lactose, saccarose,
salicine, trehalose, không lên men mannit, inulin, dunxit, glycerin, rafinose
Enterococci có khả năng phát triển ở nhiệt độ từ 10-45oC, và có thể phát triển
trong môi trường nhược trương, ưu trương, acid và kiềm Enterococci cũng có khả
năng tồn tại ở 60oC trong 30 phút Streptococcus faecalis có khả năng phát triển trong NaCl 6,5% Enterococci cũng có thể tăng trưởng trong muối mật 40% và môi trường có độ pH khác nhau (http://microbewiki.kenyon.edu/index.php/Entero- coccus)
khuẩn khác (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Theo Fraser (2008) Trường Đại học Case Western Reserve cho rằng
Enterococcus bao gồm hơn 17 loài, nhưng chỉ có một vài bệnh nhiễm trùng gây ra
cho người Với kháng kháng sinh ngày càng tăng gây khó khăn để chữa trị
(http://emedicine.medscape.com/article/216993-overview)
Streptococcus faecalis có thể gây ra viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng bàng quang,
nhiễm trùng hệ thần kinh nhưng chưa được phổ biến
Trang 29Trong phòng thí nghiệm thỏ cảm thụ đối với Streptococcus spp tiêm vi khuẩn
vào dưới da thỏ làm phát sinh ápxe, tiêm vi khuẩn vào tĩnh mạch hay phúc mạc gây chết do bại huyết Ở người, vi khuẩn gây những chứng nhiễm trùng như nung mủ ở phủ tạng, tương mạc, bại huyết, mẩn đỏ (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Độc tố
Streptococcus feacalis sản sinh ngoại độc tố có khả năng dung huyết, diệt bạch
cầu, gây hoại tử, làm tan tơ huyết, gây khuếch tán Dung huyết tố bị nhiệt phá hoại
ở 56oC, và độc tố diệt bạch cầu bị diệt ở 70oC, độc tố làm tan sợi huyết không bị diệt khi đun sôi 50 phút (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Tính kháng thuốc
Phần lớn các chủng Streptococcus faecalis đề kháng với cefaclor và các loại cephalosporin khác (http://www.thuocbietduoc.com.vn/thuoc/thuoc-goc92.aspx)
Theo Lee Ann Thal và ctv (1993) nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của
Gentamycin đối với Streptococcus faecalis lớn hơn 2000 µg/ml, Ampicillin là 0,5 –
1 µg/ml, Penicillin là 4 µg/ml và Streptomycin là 125 µg/ml (http://ukpmc.ac.uk/ pagerender.cgi?artid=60059&pageindex=1)
Điều trị
Penicillin V, amoxillin được dùng phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết do
Streptococcus faecalis ở đường tai - mũi - họng
2.2.2 Các chủng vi khuẩn Gram âm
2.2.2.1 Salmonella spp
Đặc điểm
Giống Salmonella spp gồm trên 500 loài vi khuẩn Loại đại diện của giống này
là salmonella cholerae suis, trực khuẩn phó thương hàn heo, do Salmon và Smil phân lập ra năm 1885 từ heo mắc bệnh dịch tả Giống Salmonella spp bao gồm
nhiều vi khuẩn gây bệnh cho người và súc vật (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Hình thái học
Salmonella spp là một loại vi khuẩn hình gậy ngắn, hai đầu tròn, kích thước 0,4
– 0,6 µ x 1 – 3 µ, không hình thành giáp mô và nha bào, phần lớn vi khuẩn thuộc
giống Salmonella spp có thể di động, trên thân có lông (7 – 12 lông chung quanh thân), trừ Salmonella pullorum và Salmonella gallinarum không có lông, gram âm,
dễ nhuộm với các thuốc nhuộm thông thường (aniline) (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn Salmonella spp vừa hiếu khí, vừa yếm khí, dễ nuôi cấy, nhiệt độ thích
hợp 37oC, pH 7,2 – 7,6 Ở gia súc Salmonella spp sinh trưởng tốt trong điều kiện
Trang 30hiếu khí, kém hơn ở điều kiện yếm khí, phát triển tốt trong cơ thể hay trong môi trường trung tính hay hơi kiềm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Môi trường nước thịt: cấy vi khuẩn vài giờ đã đục nhẹ, sau 18 giờ đã đục đều, nuôi cấy lâu thì đáy ống nghiệm có cặn, trên bề mặt môi trường có màng mỏng (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Thạch: xuất hiện những khuẩn lạc tròn, trong sáng, ẩm ướt, nhẵn bóng, hơi lồi
lên ở giữa, nhỏ hơn và trắng hơn khuẩn lạc của Escherichia coli Ở một số loài như Salmonella paratyphi B, Salmonella suipestifer (Salmonella cholerae suis), sau khi
cấy được 24 giờ, để ở phòng thí nghiệm 1 – 2 ngày thì thấy khuẩn lạc được bao bọc
bằng một bờ chất dính, chất béo, khuẩn lạc Salmonella typhimurium không hình
thành khuẩn lạc có bờ chất dính (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Gelatin: vi khuẩn không làm chảy gelatin Salmonella paratyphi B sau 8 – 10
ngày sinh ra nhiều chất dính, dần dần lắng xuống đáy ống (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Đặc tính sinh hóa
Trực khuẩn Salmonella spp phần lớn lên men và sinh hơi đường glucose, mannit, mantose, galactose, levulose, arabinose, trừ một số Salmonella sau đây chỉ lên men các loại đường này nhưng không sinh hơi: Salmonella abortus equi, S abortus bovis, S abortus ovis, S typhi suis, S cholerae suis, S Newport, S typhi, S gallinarum, S enteritidis Dublin
Salmonella pullorum không lên men mantose, Salmonella cholerae suis không lên men arabinose, phần lớn các loài Salmonella spp không lên men lactose,
saccarose, gelatin, thủy hóa urea, sản sinh indol
Để phân lập Salmonella spp thường dùng các loại môi trường đặc biệt như
thạch E.M.B, thạch xanh Trung Quốc (China blue), môi trường Kofam, môi trường S.S (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Sức đề kháng
Trực khuẩn Salmonella spp Bị tiêu diệt ở 60oC trong một giờ, 70oC trong 12 phút, 75oC trong 5 phút, có thể sinh trưởng trong môi trường thạch ở nhiệt độ 10oC trong 115 ngày, Ánh sáng mặt trời chiếu thẳng diệt vi khuẩn trong nước trong 5 giờ,
trong nước đục 9 giờ, Salmonella spp có thể sống từ 4 – 8 tháng trong nước thịt
ướp muối có tỷ lệ muối là 29% ở nhiệt độ 6 – 12oC Xử lý bằng cách hơ lửa hay
nướng miếng thịt nhiễm trùng ít có tác dụng diệt Salmonella spp ở bên trong
(Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Cấu tạo kháng nguyên
Cấu trúc kháng nguyên của Salmonella spp hết sức phức tạp bao gồm 3 loại:
kháng nguyên O, kháng nguyên H và kháng nguyên vỏ K
Trang 31 Tính gây bệnh
Vi khuẩn Salmonella spp xâm nhập vào cơ thể qua đường miệng, qua thức ăn,
nước uống Đến ruột non vi khuẩn chui qua niêm mạc ruột để xâm nhập vào các hạch bạch huyết, dừng lại và phát triển ở đó, khi sinh sản nhiều, một số vi khuẩn tự
ly giải, phóng thích nội độc tố, một số khác theo hệ bạch huyết vào máu gây nhiễm trùng huyết
Tùy theo độc lực của vi khuẩn và sức đề kháng của cơ thể mà mức độ bệnh khác nhau Nếu vi khuẩn có độc lực yếu, sau khi xâm nhập vào cơ thể vi khuẩn theo đường tiêu hóa gây viêm dạ dày ruột Nếu vi khuẩn có độc lực cao, sau khi vào đường tiêu hóa, vi khuẩn tiến đến các hạch lâm ba, gây viêm hạch rồi vào máu gây nhiễm trùng huyết, lách sưng, gan hoại tử (Trần Thị Phận, 2004)
Salmonella gây bệnh đường ruột cho người, gia súc và gia cầm gọi là bệnh thương hàn và phó thương hàn Bình thường có thể phát hiện Salmonella trong ruột
của người, bò, heo, gà, vịt… và một số động vật khỏe mạnh Trong điều kiện sức đề kháng của động vật giảm sút, vi khuẩn sẽ xâm nhập vào nội tạng và gây bệnh (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Salmonella spp sản sinh ra nội độc tố gồm có 2 loại là độc tố ruột gây xung
huyết và mụn loét trên ruột, và độc tố thần kinh gây triệu chứng thần kinh (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Chẩn đoán vi khuẩn
Dựa vào tình hình dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, bệnh tích và kết hợp với phân lập nuôi cấy trong phòng thí nghiệm
Tính kháng thuốc
Hiện nay có 37,4 – 68,1% số chủng Salmonella kháng lại Chloramphenicol,
33,4 – 59,6% kháng lại tetracyclin, 74,6 – 89,24% kháng lại Streptomycin Những kháng sinh dùng nhiều và rộng rãi thì tỷ lệ kháng thuốc cao như Streptomycin, sulfanamide, Chlotetracyclin…(Bùi Thị Tho, 2003)
Natsue Ogasawara và ctv (2001) cho biết: giá trị MIC50 và MIC90 của các chủng
Salmonella spp được phân lập tại ĐBSCL đối với oxytetracyclin (MIC50 = 2µg/ml
và MIC90 = 128µg/ml), Streptomycin (MIC50 và MIC90 = 8µg/ml), Kanamycin (MIC50 và MIC90 = 2µg/ml), Ampicillin (MIC50 = 1µg/ml và MIC90 = 2µg/ml), Cefazolin (MIC50 và MIC90 = 1µg/ml)
Salmonella spp có tỷ lệ kháng thuốc thấp hơn E coli nhưng kháng cũng khá
cao với 6 loại kháng sinh: Tetracycline và Nalidixic acid (82,4%), Amoxicillin
Cotrimoxazole/Bactrim (52,9%) Salmonella spp có tỷ lệ kháng thấp với
Cefhalothin (5,9%), Gentamicin và Cefhalothin (23,5%) (Nguyễn Thị Nguyệt và ctv, 2006), được liệt kê qua bảng 2.1
Trang 32Bảng 2.1: Tỷ lệ kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập từ thịt gà
Điều trị
Cả 2 loại thuốc azithromycin hoặc gatifloxacin đều có hiệu quả và an tòan để điều trị bệnh thương hàn không biến chứng ở trẻ em, đặc biệt ở những vùng mà các chủng vi khuẩn thương hàn đã đề kháng cao với nalidixic acid và giảm nhạy cảm với các loại thuốc quinolones cũ (Nguyễn Ngọc Rạng và Dương Thanh Long,
Pseudomonas aeruginosa thuộc lớp Gamma Proteobacteria, chi:
Pseudomonadales, loài: Pseudomonas
Là trực khuẩn gram âm, hiếu khí, hình que, kích thước 0,6 x 2 µm, hai đầu tròn
có khả năng di động nhờ một tiêm mao đơn cực, không hình thành nha bào, đứng