Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Cấu tạo hệ niệu Hệ niệu được chia làm hai phần: Hệ niệu trên gồm thận và ống dẫn tiểu nối thận với bàng quang, hệ niệu dưới gồm bàng quang và ống thoát tiểu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
HUỲNH THỊ THANH HUYỀN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Văn Biện Huỳnh Thị Thanh Huyền MSSV: 3042795
Lớp: THÚ Y K30
Cần Thơ, 2009
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: Khảo sát những thay đổi sinh lý và sinh hóa máu trên chó rối loại hệ niệu tại Bệnh Xá Thú Y – Đại học Cần Thơ Do sinh viên: HUỲNH THỊ THANH HUYỀN thực hiện tại Bệnh Xá Thú Y – Đại học Cần Thơ từ ngày 02 tháng 02 năm 2009 đến ngày 30 tháng 03 năm 2009
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009 Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009
Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn
NGUYỄN VĂN BIỆN
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu Trường Đại học Cần Thơ
- Ban chủ nhiệm Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
- Thầy Nguyễn Văn Biện đã tận tình dạy bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- Thầy cô trong Bộ Môn Thú Y đã tận tình truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quí báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường
- Ban lãnh đạo Bệnh xá thú y và các anh chị làm việc tại bệnh xá đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin gởi lời tri ân chân thành nhất đến cha mẹ và anh chị em trong gia đình đã ủng
hộ và tạo điều kiện tốt để tôi hoàn thành công việc học tập
Cần thơ, tháng 05 năm 2009
Huỳnh Thị Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
Chương 1: Đặt vấn đề 1
Chương 2: Cơ sở lý luận 2
2.1 Cấu tạo hệ niệu 2
2.1.1 Cấu tạo và chức năng thận 2
2.1.2 Ống dẫn nước tiểu 6
2.1.3 Bàng quang 7
2.1.4 Ống thoát tiểu 7
2.2 Những dấu hiệu lâm sàng của rối loạn hệ niệu 7
2.2.1 Tiểu đau 7
2.2.2 Tiểu có mủ 7
2.2.3 Tiểu quá nhiều 8
2.2.4 Vô niệu 8
2.2.5 Bí tiểu 8
2.2.6 Tiểu ra máu 8
2.3 Bệnh lý hệ niệu 9
2.3.1 Suy thận cấp tính 9
2.3.2 Suy thận mãn tính 9
2.3.3 Viêm nhiễm trùng bàng quang (VNTBQ) 10
2.3.4 Sỏi niệu 10
2.4 Máu 10
2.4.1 Chức năng của máu 10
2.4.2 Chỉ tiêu sinh lý máu 11
2.4.3 Chỉ số sinh hóa máu 14
Chương 3: Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 18
Trang 63.2 Phương tiện 18
3.2.1 Địa điểm 18
3.2.2 Thời gian 18
3.2.3 Đối tượng nghiên cứu 18
3.2.4 Trang thiết bị, dụng cụ 18
3.2.5 Hóa chất 18
3.3 Phương pháp tiến hành 19
Chương 4: Kết quả thảo luận 21
4.1 Tỉ lệ chó biểu hiện rối loạn hệ niệu 21
4.2 Tỉ lệ chó rối loạn hệ niệu theo giới tính 21
4.3 Các biểu hiện lâm sàng liên quan đến bệnh lý trên hệ niệu 22
4.4 Kết quả xét nghiệm máu theo các biểu hiện lâm sàng trên chó RLHN 23
4.4.1 Chó có biểu hiện tiểu đau 23
4.4.2 Chó có biểu hiện tiểu máu 24
4.4.3 Chó có biểu hiện bí tiểu 25
4.4.4 Chó biểu hiện tiểu nhiều 26
4.4.5 Chó có biểu hiện tiểu mủ 26
Chương 5: Kết luận và đề nghị 27
5.1 Kết luận 27
5.2 Đề nghị 27
Phụ chương 28
Tài liệu tham khảo 30
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Mặt cắt dọc của quả thận 3
Hình 2: Cấu tạo vi thể của thận 4
Hình 3: Hình hồng cầu chó 12
Hình 4: Các dạng bạch cầu 14
DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Tỉ lệ biểu hiện lâm sàng liên quan đến bệnh lý trên hệ niệu 22
Bảng 2: Những thay đổi về chỉ tiêu sinh lý sinh hóa máu ở chó có biểu hiện tiểu đau 23
Bảng 3: Những thay đổi về chỉ tiêu sinh lý sinh hóa máu ở chó có biểu hiện tiểu máu 24
Bảng 4: Những thay đổi về chỉ tiêu sinh lý sinh hóa máu ở chó có biểu hiện bí tiểu 25
Bảng 5: Những thay đổi về chỉ tiêu sinh hóa máu ở chó có biểu hiện tiểu nhiều 26
Trang 8TÓM LƯỢC
Bệnh ở hệ niệu là bệnh phức tạp, việc phát hiện bệnh sớm có vai trò quan trọng trong việc điều trị Vì thế bên cạnh chẩn đoán lâm sàng cần có những xét nghiệm cận lâm sàng để xác định bệnh, trong đó xét nghiệm các chỉ tiêu sinh lý sinh hóa là cần thiết
Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành lấy máu chó rối loạn hệ niệu, thêm vào chất kháng đông và xác định chỉ tiêu sinh lý máu bằng buồng đếm Neubauer, thực hiện tại bệnh xá thú y, các chỉ tiêu sinh hóa máu được gởi sang Khoa xét nghiệm bệnh viện 121 để phân tích bằng máy 902
Chúng tôi ghi nhận được có 30 chó bệnh rối loạn hệ niệu chiếm 7,85% tổng
số 382 chó đến khám lần đầu tại bệnh xá, với các biểu hiện lâm sàng chính: tiểu đau (16,67%), tiểu máu (30%), tiểu có mủ (6,67%), bí tiểu (20%), vô niệu (3,3%), tiểu nhiều (23,3%) Qua xét nghiệm 30 chó rối loạn hệ niệu có sự thay đổi về chỉ tiêu sinh lý: hồng cầu giảm: 9 ca (30%), bạch cầu tăng: 10 ca (33,33%); Về chỉ tiêu sinh hóa: urê giảm 4 ca (13,33%), urê tăng 13 ca (43,33%), creatinin tăng 9 ca (30%)
Trang 10Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển kinh tế hiện nay của nước ta, nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân ngày càng tăng cao, nuôi chó cảnh cũng phần nào đáp ứng nhu cầu về mặt tinh thần của con người Con người nuôi chó với nhiều mục đích khác nhau như giữ nhà, làm cảnh, chó nghiệp vụ, Số lượng chó nuôi ngày càng tăng kéo theo nhu cầu khám chữa bệnh cũng gia tăng Trong các bệnh trên chó như bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, ký sinh trùng, những biến đổi bệnh lý ở bệnh rối loạn hệ niệu thường khó chẩn đoán, nhất là ở những chó chưa có biểu hiện bệnh rõ ràng Vì vậy, bên cạnh chẩn đoán lâm sàng cần có sự hổ trợ của chẩn đoán cận lâm sàng để việc chẩn đoán bệnh nhanh chóng và chính xác, trong đó việc thăm dò chức năng thận bằng xét nghiệm các chỉ tiêu sinh lý và sinh hóa máu là cần thiết
Xuất phát từ lý do trên cũng như được sự đồng ý của Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng trường Đại học Cần Thơ, chúng tôi tiến hành
đề tài: “Khảo sát những thay đổi sinh lý và sinh hóa máu chó rối loạn hệ niệu tại bệnh xá thú y – Đại học Cần Thơ”
Mục tiêu: Tìm hiểu những thay đổi về chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên chó rối
loạn hệ niệu tại Bệnh Xá Thú Y – Đại học Cần Thơ, nhằm hỗ trợ cho việc chẩn đoán bệnh và nâng cao hiệu quả điều trị bệnh trên chó rối loạn hệ niệu tại Bệnh Xá
Thú Y
Trang 11Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Cấu tạo hệ niệu
Hệ niệu được chia làm hai phần: Hệ niệu trên gồm thận và ống dẫn tiểu nối thận với bàng quang, hệ niệu dưới gồm bàng quang và ống thoát tiểu
2.1.1 Cấu tạo và chức năng thận
Vị trí, kích thước: Thận chó tương đối lớn, trung bình 50 – 60g, hình hạt đậu,
mặt ngoài trơn nhẵn, dày theo chiều trên – dưới Thận phải nằm dưới 3 đốt sống hông đầu tiên hay có thể xa về phía trước đến đốt sống ngực cuối cùng Thận trái,
vị trí thay đổi nhiều vì thận dính rời rạc bằng màng bụng và bị ảnh hưởng bởi độ căng của dạ dày Khi dạ dày rỗng, thận trái tương ứng với thân các đốt sống hông 2,3,4 Khi dạ dày đầy, thận trái thường cách xa về phía sau chừng một đốt sống, nên cực dưới của nó có thể đối diện với cực sau của thận phải (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)
Cấu tạo chung của thận
Bên trong quả thận có hai phần chính:
Phần chính giữa là một xoang rỗng gọi là bể thận gồm có các mô mỡ, các mạch máu và các dây thần kinh để chi phối hoạt động của thận
Phần xung quanh đặc có hai lớp:
Lớp vỏ (cortex renis): màu đỏ sẫm do có nhiều mạch máu và các cấu trúc dạng hạt là các cầu thận
Lớp tủy (medulla renis): ở trong có màu nhạt hơn, được gọi là lớp hình tháp của thận Đáy của tháp xuất phát từ lớp vỏ, còn đỉnh thì hướng vào xoang thận, đó
là hệ thống các ống thận (Nguyễn Quang Mai, 2004)
Trang 12Hình 1 Mặt cắt dọc của quả thận Nguồn: http://www.jonbarron.org/images/nephrons.jpg
Cấu tạo đơn vị thận
Thận được cấu tạo bởi các đơn vị thận (nephron), các đơn vị thận có cấu trúc
và chức năng giống nhau Đơn vị thận là cấu trúc thực hiện chức năng lọc máu, tạo nước tiểu để thải ra ngoài Mỗi đơn vị thận gồm có: cầu thận và ống thận
Cầu thận: cầu thận nằm ở lớp vỏ của thận, bao gồm: nang Bowman và quản
cầu Malpighi
Nang Bowman: là một túi bao bọc quản cầu Malpighi Thành nang là một lớp
tế bào biểu mô, có các lỗ nhỏ
Quản cầu Malpighi: gồm các mao mạch xếp song song thành một khối cầu nằm trong nang Bowman
Ngăn cách giữa nang và mao mạch là một màng lọc mỏng để lọc các chất từ mao mạch sang nang
Ống thận: ống thận gồm ống lượn gần, quai Henle và ống lượn xa
Từ nang Bowman dịch lọc chảy qua một ống uốn khúc sát nang gọi là ống lượn gần Tiếp đoạn này là ống hình chữ U gọi là quai Henle Ở đầu lên của quai Henle lại tiếp với một đoạn uốn khúc khác gọi là ống lượn xa Từ ống lượn xa dịch lọc đổ vào ống góp và từ ống góp đổ vào bể thận Các ống thận có một phần nằm ở lớp vỏ và một phần nằm ở lớp tủy (Trịnh Hữu Hằng, Đỗ Công Huỳnh, 2001)
Bể thận
Niệu quản
Miền tủy
Miền vỏ Tĩnh mạch thận
Động mạch thận
Trang 13Hệ mạch của thận
Động mạch thận tách ra từ động mạch chủ bụng tới rốn thận Vào trong thận, động mạch này phân nhỏ nhiều lần đến mỗi đơn vị thận, gọi là động mạch đến (hay động mạch hướng tâm) Trong cầu thận, động mạch đến lại phân nhỏ thành mao mạch tạo ra quản cầu Manpighi Từ các mao mạch của quản cầu tạo thành động mạch đi (hay động mạch li tâm) Động mạch lớn có thiết diện lớn hơn động mạch
đi Động mạch đi về sau lại phân nhỏ thành mạng lưới mao mạch quanh ống lượn gần, quai Henle và ống lượn xa Cuối cùng mao mạch từ ống lượn xa tập trung đổ vào tĩnh mạch thận, tĩnh mạch thận đổ vào tĩnh mạch chủ dưới
Do cấu tạo của động mạch thận đến lớn hơn động mạch thận đi nên huyết áp trong mao mạch quản cầu rất lớn, mặt khác tính thấm của thành mao mạch trong quản cầu lớn hơn tính thẩm thấu thành mao mạch cơ xương Do đó sự lọc và trao đổi chất qua mao mạch quản cầu xảy ra thuận lợi, nhanh
Chức năng lọc máu và tạo nước tiểu của thận
Sự lọc máu của thận
Lượng máu chảy qua thận nhiều hơn 20 lần so với các cơ quan khác Cứ mỗi phút có khoảng 1000 ml máu chảy qua thận, tức là chiếm 20% cung lượng tim Trong số máu được cung cấp, thận phân bổ khoảng 90% cho vùng vỏ và vùng tủy ngoài, chỉ có khoảng 10% cho vùng tủy trong và 1 – 2% cho vùng đài thận
Do cường độ hoạt động mạnh, thận đòi hỏi cung cấp một lượng oxy lớn Nếu trọng lượng hai quả thận chỉ chiếm khoảng 0,5% trọng lượng cơ thể, thì chúng nhận được 9% tổng lượng oxy cung cấp cho cơ thể
Sự lọc của thận phụ thuộc vào hai yếu tố: màng lọc và áp suất lọc (Trịnh Hữu
Trang 14Sự tái hấp thu của các ống thận
Dịch lọc sau khi hình thành ở nang Bowman sẽ được trao đổi thành phần trong suốt chiều dài ống thận Quá trình trao đổi có thể là hấp thu trở lại (tái hấp thu) hoặc bài tiết các chất tại tế bào ống thận Mức tái hấp thu hoặc bài tiết các chất tùy thuộc vào nhu cầu cơ thể và tùy thuộc vào chức năng của các đoạn ống thận khác nhau
Tái hấp thu tại ống lượn gần: Tái hấp thu các ion vô cơ (Na+, Cl-, HCO-3,
K+), tái hấp thu các chất hữu cơ: glucose, protein và các acid amin, tái hấp thu nước (Nguyễn Đình Giậu, 2000)
Tái hấp thu ở quai Henle: Tính thẩm thấu của tế bào biểu mô ở nhánh lên và
nhánh xuống của quai Henle khác nhau, đưa đến quá trính tái hấp thu nước và các chất hòa tan khác nhau, nhưng hai quá trình hổ trợ cho nhau Tại nhánh xuống chỉ
có nước được hấp thu, Na+ bị giữ lại trong dịch lọc Tại nhánh lên chỉ có Na+ được thấm qua dich ngoại bào, nước bị giữ lại hoàn toàn Tuy hai quá trình tái hấp thu ở nhánh xuống và nhánh lên của quai Henle trái ngược nhau, song lại hỗ trợ và thúc đẩy tái hấp thu ở mỗi nhánh Sự tăng tái hấp thu nước ở nhánh xuống thúc đẩy sự tăng tái hấp thu Na+ ở nhánh lên và ngược lại Người ta gọi đó là quy luật tăng nồng độ ngược dòng Sự sắp xếp về mặt cấu trúc cũng giúp cho quá trình tái hấp thu
ở quai Henle Quai Henle cùng với mạch thẳng và ống góp nằm song song với nhau, một phần nằm ở lớp vỏ, một phần nằm ở lớp tủy Dịch ngoại bào của vùng này có áp suất thẩm thấu cao và tăng dần từ lớp vỏ vào lớp tủy, đến lớp tủy áp suất này tăng gấp 4 lần so với lớp vỏ Ngoài ra cơ chế vận tải tích cực thông qua các
“bơm Na+” ở nhánh lên của quai Henle cũng có ý nghĩa quan trọng cho cơ chế này
Sự tái hấp thu nước và Na+ khác nhau ở hai nhánh của quai Henle làm cho áp suất thẩm thấu cao ở dịch ngoại bào vùng nay luôn duy trì ở giá trị cao Chính áp suất thẩm thấu cao lại thúc đẩy quá trình tái hấp thu Dịch lọc đi qua quai Henle sang ống lượn xa trở nên nhược trương hơn
Tại ống lượn xa
Ở phần đầu của ống lượng xa quá trình tái hấp thu các chất giống như ở nhánh lên của quai Henle Khác với ở ống lượn gần Cl- được ra theo Na+ do quá trình vận tải tích cực, ở đây Cl- lại được bơm ra dịch ngoại bào và do đó kéo theo các ion khác như Na+, K+, Ca++, Mg++…Các ion được tái hấp thu nhiều làm cho dịch lọc loãng hơn Do vậy người ta gọi phần đầu của ống lượn xa là đoạn pha loãng Sự pha loãng này tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái hấp thu nước ở phần sau
Ở phần sau ống lượn xa, quá trình tái hấp thu nước và các chất xảy ra rất mạnh:
Tái hấp thu nước: dịch lọc chảy đến phần này đã loãng đi nhiều làm cho sự chênh lệch áp suất thẩm thấu với dịch ngoại bào tăng lên Kết quả là nước được đẩy
ra dịch ngoại bào
Trang 15Cũng ở giai đoạn này hormone chống bài niệu (ADH hay vasopressin) được giải phóng từ thùy sau của tuyến yên có tác dụng thúc đẩy sự tái hấp thu nước Cơ chế tác dụng của ADH còn đang nghiên cứu tiếp tục Người ta cho rằng ADH có tác dụng hoạt hóa enzyme adenylcylase để enzyme này kích thích sự biến đổi ATP thành AMP vòng Đến lượt mình AMP vòng kích thích protein-kinase và protein kinase có tác dụng làm tăng tính thấm đối với nước của tế bào
Tái hấp thu Na+ và Cl-: Na+ được tái hấp thu qua cơ chế tích cực có sự tham gia tác động của hormone aldosteron tiết ra từ phần vỏ tuyến trên thận Cơ chế của quá trình này là: aldosteron xuyên qua màng vào bào tương rồi tới màng nhân gắn vào một protein thụ cảm trên màng tạo phức aldosteron protein Phức hợp này vào nhân tế bào kích thích AND tăng tổng hợp ARN thông tin ARN thông tin làm tăng tổng hợp protein mang để vận chuyển Na+ trong khi “bơm Na+” hoạt động Cl-giống như ở ống lượn gần được tái hấp thu theo Na+
Từ tế bào biểu mô thành ống lượn xa, một số chất như K+, NH3, H+ lại được bài tiết vào dịch lọc NH3 từ huyết tương tới tế bào biểu mô để bài tiết Vào dịch lọc chúng kết hợp với H+ tạo thành NH4 để thải qua nước tiểu Phản ứng tạo NH4
và sự bài tiết H+ có tác dụng điều chỉnh độ pH của dịch lọc Thành phần dịch lọc trước khi chuyển sang ống góp đã gần giống với thành phần nước tiểu (Nguyễn Quang Mai, 2004)
Lớp cơ trơn: có ba lớp (hai lớp cơ dọc ở ngoài và ở trong là lớp cơ vòng xoắn)
Lớp niêm mạc: ở trong cùng (Nguyễn Quanh Mai, 2004)
Trang 162.1.3 Bàng quang
Bàng quang là một túi để chứa đựng nước tiểu Thành của bàng quang có ba lớp:
Lớp ngoài cùng: là lớp mô liên kết
Lớp giữa: là lớp cơ gồm có (cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở giữa và cơ chéo ở trong)
Lớp trong cùng là lớp niêm mạc (Nguyễn Quang Mai, 2004)
2.1.4 Ống thoát tiểu
Ống thoát tiểu có cấu trúc giống như cấu trúc bàng quang nhưng chức năng hoàn toàn khác Ống thoát tiểu không chứa nước tiểu mà cũng không thể giãn ra như bàng quang, chỉ giúp đưa nước tiểu thoát ra ngoài (Nguyễn Kỳ, 2003)
Ở thú đực: ống thoát tiểu vừa là ống để dẫn nước tiểu, vừa là ống xuất tinh, đi
từ cổ bàng quang, qua tuyến tiền liệt và thông ra ngoài bằng lỗ tiểu tiện (Nguyễn Quang Mai, 2004)
Ở thú cái: ống thoát tiểu ở gia súc cái giống như gia súc đực nhưng không có tuyến tiền liệt (Nguyễn Quang Mai, 2004)
2.2 Những dấu hiệu lâm sàng của rối loạn hệ niệu
2.2.1 Tiểu đau
Tiểu đau là sự cố gắng lúc chó đi tiểu, nước tiểu nhỏ giọt, chó có biểu hiện đau đớn, rên rỉ, khi tiểu cong đuôi lên, đầu quay nhìn bụng, chân cào đất, thời gian tiểu dài và dòng nước tiểu không có tia
Nguyên nhân: Viêm bàng quang, sỏi lọt ra niệu đạo, tắt niệu đạo, viêm niệu
đạo, hoặc viêm tuyến tiền liệt, viêm niệu đạo – tiền liệt (Hồ Văn Nam, 1982)
2.2.2 Tiểu có mủ
Là hiện tượng nhiều tế bào mủ hay bạch cầu đa nhân trung tính trong nước tiểu đến mức mắt thường cũng cảm thấy được Nước tiểu có mủ sánh, để lâu có lắng cặn mủ dính vào ống nghiệm, nếu tế bào mủ ít, nước tiểu có màu đục trắng, dây mủ lỡn vỡn, hạt mủ lấm tấm, ít hơn nữa thì chỉ thấy màu đục, cần soi kính hiển vi để xác định
Nguyên nhân: Viêm niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt, viêm bàng quang, thận ứ
mủ (Hồ Văn Nam, 1982)
Trang 172.2.3 Tiểu quá nhiều
Nước tiểu trong một ngày nhiều hơn bình thường Nước tiểu có màu nhạt (tỷ trọng thấp và trong)
Nguyên nhân: Do uống nước quá nhiều, uống thuốc lợi tiểu, do viêm thận mãn tính và chức năng tái hấp thu nước của thận bị giảm (Hồ Văn Nam, 1982)
Nguyên nhân: chủ yếu là do tắc niệu đạo, tắc ở cổ bàng quang, ở niệu đạo do hòn sỏi to khi tiểu đẩy ra không lọt, bị kẹt lại Tắc cũng có thể do khối u bàng quang phát triển chèn ép lỗ bàng quang, niệu đạo hoặc do u tuyến tiền liệt chèn ép (Đặng Văn Chung,1975)
2.2.6 Tiểu ra máu
Là sự xuất hiện của hồng cầu trong nước tiểu và được gọi là hồng cầu niệu Tiểu máu đại thể: là khi hồng cầu niệu nhiều, nước tiểu có màu đỏ tươi hoặc
đỏ sẫm, để lâu có lắng cặn hồng cầu hoặc trong nước tiểu có máu cục
Tiểu máu vi thể: khi số lượng hồng cầu có đáng kể, nhưng chưa đủ để làm thay đổi màu sắc của nước tiểu, phải ly tâm nước tiểu 10 – 15 phút mới thấy được lắng cặn hồng cầu hoặc phải soi qua kính hiển vi mới thấy được và đếm được hồng cầu (Hồ Văn Nam,1997)
Nguyên nhân: máu xuất hiện lúc thú bắt đầu tiểu là rối loạn trong ống dẫn tiểu, dương vật, tuyến tiền liệt, tử cung hay âm đạo Máu xuất hiện khi thú tiểu xong có thể do xuất huyết bàng quang hay tuyến tiền liệt Một màu máu đồng nhất trong nước tiểu từ đầu đến cuối là biểu hiện rối loạn của thận, ống dẫn tiểu và bàng quang Máu xuất hiện nhưng thú không có biểu hiện tiểu đau là dấu hiệu của bệnh
Trang 18Triệu chứng: giai đoạn đầu của STC thường không đặc trưng như chán ăn, nôn mửa, tiêu chảy, mất nước gây thiểu niệu hay vô niệu Giai đoạn sau, rối loạn về đông máu, chó uống nhiều nước, tiểu nhiều, loét miệng, viêm mũi, viêm phổi, tiêu chảy có máu (Huỳnh Thị Thanh Ngọc, 2004)
2.3.2 Suy thận mãn tính (STM)
Suy thận mãn được xác định khi có sự tiến triển về hư hại tiểu cầu thận và là dạng bệnh phổ biến trên chó già, tác động gây hại dần dần và chó bệnh có biểu hiện đặc trưng là uống nước nhiều và tiểu nhiều
Triệu chứng: Chó bệnh STM bị mất khả năng bù của quả thận hư, với các dấu hiệu điển hình như tiểu nhiều và uống nhiều, giảm cân, ủ rũ, buồn nôn, táo bón, giảm tính thèm ăn, có thể loét vùng miệng Nôn rất phổ biến trong bệnh STM do độc tính được tạo ra từ urê cao trong máu hoặc do lóet dạ dày Nôn làm mất nước dẫn đến giảm tốc độ máu qua thận và làm tăng nitrogen trong máu cao (Huỳnh Thị
2.3.3 Viêm nhiễm trùng bàng quang (VNTBQ)
Bình thường bàng quang có đề kháng với cảm nhiễm vi khuẩn, viêm nhiễm trùng bàng quang xãy ra trong các trường hợp bị thương tích như ống dò chọc lấy nước tiểu hoặc nhiễm trùng từ thận xuống
Triệu chứng: Chó sốt, kém ăn, niêm mạc nhợt nhạt, có biểu hiện đau đớn khi tiểu, chó tiểu nhiều lần không kiểm soát hoặc vô niệu Nước tiểu đục, hôi và có thể
có máu (Nguyễn Văn Khanh, 2005)
Trang 192.3.4 Sỏi niệu
Sỏi là ngoại vật đối với cơ thể sẽ thúc đẩy phản ứng viêm trong cơ quan, sỏi
niệu có thể thành lập trong ống sinh niệu, ở chậu thận và trong bàng quang Những sỏi nhỏ có thể theo nước tiểu vào trong ống dẫn tiểu và ống thoát tiểu (Nguyễn Văn Khanh, 2005)
Triệu chứng: tùy thuộc vào vị trí của sỏi mà chó có triệu chứng khác nhau Chó bị sỏi thận hay sỏi niệu quản thường đau vùng bụng, tiểu máu, tiểu nhắt, nếu sỏi ở niệu đạo làm tắc nghẽn ống thoát tiểu chó sẽ bị bí tiểu (Nguyễn Văn Khanh, 2005)
2.4 Máu
Máu là một thể dịch lưu thông trong huyết quản, đóng vai trò môi giới giữa các cơ quan trong cơ thể
Thành phần của máu rất phức tạp nhưng có thể chia làm hai thành phần chính
là huyết tương và huyết cầu (hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu)
Huyết tương: màu vàng nhạt, thành phần hóa học chính gồm có: nước 92%), chất khô (8-10%) Trong chất khô có protein, đường, mỡ, các sản phẩm phân giải protein, enzyme, hormone, vitamin, sắc tố, các miễn dịch và các muối khoáng Huyết cầu gồm 3 loại: hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu
(90-2.4.1 Chức năng của máu
Theo Trần Liên Minh, 1996 máu có chức năng sau:
Hô hấp: máu vận chuyển O2 từ phổi đến mô bào và CO2 từ mô bào về phổi để thảy ra ngoài theo đường hô hấp Chức năng này được thực hiện bởi hồng cầu
Dinh dưỡng: máu vận chuyển các chất dinh dưỡng hấp thu được từ ống tiêu
hóa đến các mô bào để nuôi dưỡng Tế bào không được máu nuôi dưỡng sẽ chết trong thời gian ngắn
Bài tiết: CO2 và những sản phẩm cặn bã hữu cơ sản sinh trong quà trình dị hóa được máu vận chuyển đến các cơ quan bài tiết như thận, da, phổi, ống tiêu hóa để thải ra ngoài
Điều hòa thân nhiệt: máu là một thể dịch lớn có tác dụng giữ nhiệt độ cơ thể
luôn ổn định Nhiệt sản sinh ra do sự oxi hóa các chất dinh dưỡng ở cơ bào chỉ một phần ít biến thành cơ năng và điện năng, phần còn lại giữ ở trạng thái nhiệt
Bảo vệ: bạch cầu và các yếu tố kháng thể có trong máu là một lực lượng bảo