TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG Luận văn tốt nghiệp Ngành: THÚ Y Tên đề tài: KHẢO SÁT HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CÂY CỎ SỮA NHỎ LÁ Euphorbia thymifolia
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ CẨM GIANG
KHẢO SÁT HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CÂY
CỎ SỮA NHỎ LÁ (Euphorbia thymifolia Burn), CHÓ
ĐẺ THÂN XANH ( Phyllanthus niruri Linn) VÀ
CÂY TÍA TÔ (Perilla frutescens L Britton)
Luận văn tốt nghiệp Ngành: THÚ Y
Cần Thơ, 2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: THÚ Y
Tên đề tài:
KHẢO SÁT HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CÂY
CỎ SỮA NHỎ LÁ (Euphorbia thymifolia Burn), CHÓ
ĐẺ THÂN XANH ( Phyllanthus niruri Linn) VÀ
CÂY TÍA TÔ (Perilla frutescens L Britton)
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS Huỳnh Kim Diệu Nguyễn Thị Cẩm Giang
MSSV: 3042871
Lớp: TY K30
Cần Thơ, 2009
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: “Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của cây cỏ sữa nhỏ lá
(Euphorbia thymifolia Burn), cây chó đẻ thân xanh (Phyllanthus niruri Linn) và cây tía tô (Perilla frutescens L Britton)”.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Cẩm Giang thực hiện tại phòng thí nghiệm Dược
lý Thú Y và phòng thí nghiệm Vi sinh Thú Y bộ môn Thú Y, Trường Đại Học Cần Thơ, từ 01/2009 - 04/2009
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2009 Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2009
Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn
Huỳnh Kim Diệu
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2009
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4LỜI CAM ĐOAN - -
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Cẩm Giang
Trang 5LỜI CẢM TẠ - -
Tôi xin được gửi đến:
Ban giám hiệu trường Đại Học Cần Thơ
Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, giáo viên Khoa Nông Nghiệp & SHƯD – Trường Đại Học Cần Thơ lời cảm ơn chân thành, đặc biệt là quý thầy cô của hai
bộ môn Thú Y và chăn nuôi Thú Y
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô Huỳnh Kim Diệu, người đã chỉ ra hướng nghiên cứu, hướng dẫn tận tình, luôn quan tâm động viên, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Phòng Sinh hóa, bộ môn Sinh hóa trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình cô quay thu cao dược
Phòng Dinh dưỡng gia súc, bộ môn chăn nuôi Thú Y trường Đại Học Cần Thơ
Phòng Vi sinh bộ môn Thú Y Trường Đại Học Cần Thơ
Xin gửi lời cảm ơn đến chị Nguyễn Thu Tâm đã nhiệt tình chỉ dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài tại phòng thí nghiệm
Thân ái gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn lớp Thú Y khóa 30 đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Trang 6MỤC LỤC
- -
TRANG BÌA TRANG DUYỆT i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM TẠ iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
TÓM LƯỢC x
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 CÂY DƯỢC THẢO LÀM THÍ NGHIỆM 3
2.1.1 Cây chó đẻ thân xanh 3
2.1.1.1 Mô tả cây 3
2.1.1.2 Vùng phân bố 3
2.1.1.3 Thành phần hóa học 4
2.1.1.4 Tác dụng dược lý 4
2.1.1.5 Sử dụng trong y học dân gian 5
2.1.1.6 Một số bài thuốc dân gian từ cây chó đẻ thân xanh 6
2.1.2 Tía tô 7
2.1.2.1 Mô tả cây 7
2.1.2.2 Vùng phân bố 7
2.1.2.3 Thành phần hóa học 8
2.1.2.4 Tác dụng dược lý 9
2.1.2.5 Sử dụng trong y học dân gian 9
2.1.2.6 Một số bài thuốc dân gian từ cây tía tô 10
2.1.3 Cỏ sữa nhỏ lá 11
2.1.3.1 Mô tả cây 11
2.1.3.2 Vùng phân bố và thu hái 11
2.1.3.3 Thành phần hóa học 11
2.1.3.4 Tác dụng dược lý 11
2.1.3.5 Sử dụng trong y học dân gian 12
2.1.3.6 Một số bài thuốc dân gian từ cây cỏ sữa nhỏ lá 12
2.2 VI KHUẨN 13
2.2.1 Nhóm vi khuẩn gram dương (Gr+) 13
2.2.1.1 Staphylococcus aureus (tụ cầu khuẩn) 13
Trang 72.2.1.2 Streptococcus faecalis 15
2.2.2 Nhóm vi khuẩn gram âm (Gr-) 16
2.2.2.1 Pseudomonas aeruginosa 16
2.2.2.2 Salmonella spp 18
2.2.2.3 Escherichia coli 21
2.2.2.4 Vi khuẩn Aeromonas hydrophila 22
2.2.2.5 Nhóm vi khuẩn Edwardsiella 24
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 NỘI DUNG 28
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.2.1 Phương tiện nghiên cứu 28
3.2.1.1 Thời gian thí nghiệm .28
3.2.1.2 Địa điểm 28
3.2.1.3 Nguyên liệu 28
3.2.1.4 Dụng cụ và hóa chất cần thiết 30
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
3.2.2.1 Điều chế cao 30
3.2.2.2 Chuẩn độ đục vi khuẩn 32
3.2.2.3 Chuẩn độ vi khuẩn 32
3.2.2.4 Thử tính kháng khuẩn 33
3.2.2.5 Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) 34
3.2.2.6 Chỉ tiêu theo dõi 34
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 KẾT QUẢ ĐIỀU CHẾ CAO 36
4.2 KẾT QUẢ THỬ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CÁC LOẠI CAO TRÊN CÁC VI KHUẨN THÍ NGHIỆM 36
4.3 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH NỒNG ĐỘ ỨC CHẾ TỐI THIỂU (MIC) 38
4.3 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH NỒNG ĐỘ ỨC CHẾ TỐI THIỂU (MIC) 39
4.3.1 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao chó đẻ thân xanh 39
4.3.2 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao tía tô 41
4.3.3 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cao cỏ sữa nhỏ lá 43
4.3.4 So sánh khả năng ức chế của các mẫu cao thô trên các vi khuẩn thí nghiệm 45
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 KẾT LUẬN 47
5.2 ĐỀ NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- -
MIC Minimum inhibitory concentration
(nồng độ ức chế tối thiểu)
E ictaluri Edwardsiella ictaluri
A hydrophila Aeromonas hydrophila
S faecalis Streptococcus faecalis
S aureus Staphylococcus aureus Sal spp Salmonella spp
P aeruginosa Pseudomonas aeruginosa
Trang 9DANH MỤC BẢNG - -
Bảng 4.3 Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao
Trang 10DANH MỤC HÌNH - -
Hình 3.1 Cây cỏ sữa nhỏ lá tại sân văn phòng đoàn – Khu II - ĐHCT 28
Hình 3.2 Cây tía tô tại ấp Vĩnh Trinh – Vĩnh Thạnh – Thốt Nốt
Hình 4.2 Vòng vô khuẩn của 3 mẫu cao trên vi khuẩn Gr
gây bệnh
Hình 4.3 Vòng vô khuẩn của 3 mẫu cao gây bệnh trên cá 38 Hình 4 4 Đía đối chứng trên 8 vi khuẩn thí nghiệm 40 Hình 4.5 Nồng độ ức chế tối thiểu CĐTX trên E tarda 40 Hình 4.6 Nồng độ ức chế tối thiểu của cao CĐTX trên E ictaluri 40 Hình 4.7 Nồng độ ức chế tối thiểu của cao CĐTX trên A hydrophila 40 Hình 4.8 Nồng độ ức chế tối thiểu của cao CĐTX trên S aureus 40
Hình 4.9 Nồng độ ức chế tối thiểu của cao CĐTX trên Salmonella
Trang 11Hình 4.10 Cao CĐTX ở nồng độ 4096 µg/ml 41
Hình 4.11 Nồng độ ức chế tối thiểu của cao TT trên A hydrophila 42
Hình 4.14 Nồng độ ức chế tối thiểu cao TT trên E ictaluri và E tarda 42
Hình 4.15 Nồng độ ức chế tối thiểu của cao CSNL trên E tarda 43
Hình 4.16 Nồng độ ức chế tối thiểu của cao TT trên E ictaluri 43
Hình 4.17 Nồng độ ức chế tối thiểu của cao CSNL trên A hydrophila 44
Hình 4.18 Nồng độ ức chế tối thiểu của cao CSNL trên P aeruginosa 44
Hình 4.19 Nồng độ ức chế tối thiểu của cao CSNL trên Salmonella
Trang 12TÓM LƯỢC
- -
Để xác định hoạt tính kháng khuẩn của cây cỏ sữa nhỏ lá (Euphorbia thymifolia Burn), chó đẻ thân xanh (Phyllanthus niruri Linn) và cây tía tô (Perilla frutescens L Britton) cao thô được chiết xuất bằng methanol của 3 loại cây này được dùng thử hoạt tính trên 5 chủng vi khuẩn gây bệnh điển hình cho gia súc gia cầm gồm: Staphylococcus aureus, streptococcus faecalis, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella spp., E coli và 3 chủng gây bệnh phổ biến trên cá da trơn
đó là: Aeromonas hydrophila, Edwardsiella tarda và Edwardsiella ictaluri
Bằng phương pháp khuếch tán trên thạch và phương pháp pha loãng liên tiếp trong thạch 3 cao cỏ sữa nhỏ lá, chó đẻ thân xanh và tía tô được thử hoạt tính kháng khuẩn và xác định nồng độ ức chế tối thiểu Kết quả đạt được:
Cây cỏ sữa nhỏ lá và chó đẻ thân xanh là 2 trong 3 cây làm thí nghiệm có phổ kháng khuẩn mạnh, cả 2 cây đều:
Có tác động mạnh trên vi khuẩn E tarda nhưng cây cỏ sữa nhỏ lá (MIC = 64 µg/ml) tác động mạnh hơn cây chó đẻ thân xanh (MIC = 128 µg/ml)
Ức chế sự phát triển của vi khuẩn A hydrophila ở nồng độ 512 µg/ml và vi khuẩn E ictaluri ở nồng độ 1024 µg/ml
Có tác động yếu nhất trên S faecalis (2048 µg/ml < MIC < 4096 µg/ml) Cây có hoạt tính kháng khuẩn yếu nhất là tía tô, nó có tác động tốt trên các vi khuẩn gây bệnh trên thủy sản (E tarda, E ictaluri, A hydrophila) ở nồng độ 2048 µg/ml Tác động này mạnh hơn trên các vi khuẩn còn lại (2048 µg/ml < MIC <
4096 µg/ml)
Cả 3 cây đều có tính kháng khuẩn trên 8 chủng vi khuẩn thí nghiệm và đều có tác dụng tốt trên vi khuẩn gây bệnh trên thủy sản
Trang 13CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, nước ta đã và đang trong quá trình mở cửa hội nhập với nền kinh
tế khu vực và thế giới Cho nên ngành chăn nuôi trong nước ngày càng phát triển, đặc biệt là chăn nuôi theo phương thức tập trung công nghiệp Song song với điều
đó các loại thuốc thú y, thủy sản được sản xuất bởi các doanh nghiệp Nhà nước, tư nhân và liên doanh với nước ngoài cũng như nhập khẩu ngày càng nhiều hơn về số lượng và đa dạng hơn về chủng loại Tuy nhiên việc theo dõi về hiệu quả và sử dụng thuốc trong lâm sàng diễn biến ngày càng phức tạp vì ngoài tác dụng trị bệnh
nó còn có những tác dụng phụ không mong muốn làm ảnh hưởng đến sức khỏe động vật nuôi Hơn nữa khuynh hướng hiện nay của người tiêu dùng là muốn sử dụng sản phẩm sạch, sản phẩm không sử dụng thuốc và hóa chất, nhất là những chất
có khả năng tích lũy trong cơ thể gây hại cho sức khỏe vật nuôi và con người
Trong thiên nhiên, cây cỏ có rất nhiều chủng loại mà hiện tại người ta vẫn chưa nghiên cứu hết Tuy nhiên, trong những loài cây đã được nghiên cứu, một số loài có khả năng điều trị một số bệnh trong dân gian như: cảm sốt, nhức đầu, kiết lỵ, viêm họng…, chúng đã và đang được dùng làm thuốc chữa bệnh cho người dưới
dạng thuốc đông y Một trong số đó có cây cỏ sữa lá nhỏ (Euphorbia thymifolia Burn), cây chó đẻ thân xanh (Phyllanthus niruri Linn) và cây tía tô (Perilla frutescens (L.) Britton) Các nghiên cứu bước đầu ở Việt Nam cho thấy các cây này
có khả năng trị hết nhiều bệnh như: cây tía tô trị đau bụng, lỵ, tiêu chảy, trúng độc
do ăn cua cá, … cây cỏ sữa giúp cầm máu, chữa mụn nhọt, kiết lỵ…, cây chó đẻ thân xanh giúp bảo vệ gan, trị đau dạ dày, mụn nhọt, lở loét…
Thời gian gần đây ngành thủy sản nước ta đang phải đối mặt với những thách thức lớn đó là dư lượng kháng sinh Nghiêm trọng hơn cả là sự tồn dư của các loại hóa chất và thuốc kháng sinh cấm không được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản
Cụ thể là Chloramphenicol và Nitrofurans đã bị cấm sử dụng theo quyết định số 01/2002/QĐ – BTS của Bộ Thủy Sản và cũng là hai trong những loại thuốc và hóa chất không được phép sử dụng trong danh mục thuốc và hóa chất của khối EU và FDA
Nhằm góp phần khắc phục những khó khăn trên đồng thời được sự phân
công của bộ môn thú y chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát hoạt tính kháng
khuẩn của cây cỏ sữa nhỏ lá (Euphorbia thymifolia Burn), cây chó đẻ thân xanh (Phyllanthus niruri Linn) và cây tía tô (Perilla frutescens (L.) Britton)”
Trang 14Với mục đích:
Xác định tính kháng khuẩn của từng cây cỏ sữa nhỏ lá, tía tô và chó đẻ thân xanh trên các chủng vi khuẩn tiêu biểu gây bệnh cho gia súc gia cầm và cá da trơn
Tìm cây thuốc có khả năng kháng khuẩn cao nhất trong 3 cây làm thí nghiệm
Làm cơ sở cho việc nghiên cứu, sử dụng các cây cỏ sữa nhỏ lá, chó đẻ thân xanh và tía tô trong việc thay thế một số loại kháng sinh trên gia súc – gia cầm và thủy sản
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 CÂY DƯỢC THẢO LÀM THÍ NGHIỆM
2.1.1 Cây chó đẻ thân xanh
Tên khoa học: Phyllanthus niruri Linn (Phyllanthus amarus Schum & Thonn)
Họ: Thầu dầu (Euphorbiaceae)
Tên khác: Cây chó đẻ, cỏ chó đẻ, diệp hạ châu đắng
2.1.1.1 Mô tả cây
Chó đẻ thân xanh thuộc loại cây cỏ lá rộng, sống nhất niên hay đa niên Cây cao 20 cm - 30 cm, có khi tới 60-70 cm Toàn thân có màu xanh tươi, không có lông, gốc hóa gỗ, cành ngắn, rất ít phân nhánh Lá dạng màng, màu lục sẫm ở trên, màu xanh mốc ở dưới, mọc so le, xếp 2 dãy đều trên cành trông như một lá kép lông chim, gốc tù, đầu tròn hơi nhọn Phát hoa nhỏ, đính trên trục lá ở phía dưới thân Hoa đơn tính, mọc ở kẻ lá, không có cánh hoa, màu lục nhạt Hoa đực có cuống ngắn, xếp ở dưới hoa cái Hoa cái có cuống dài hơn Quả nang hình cầu, nhẵn, hơi dẹt, chia 3 mảnh vỏ, mỗi mảnh có hai van chứa hai hạt Hạt hình tam giác, đường kính 1 mm có cạnh dọc và lằn ngang (Dương Văn Chính, 2005)
2.1.1.2 Vùng phân bố
Chó đẻ thân xanh (CĐTX) là loài cây liên nhiệt đới, có nguồn gốc xa xưa ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ và hiện nay phân bố rải rác khắp các vùng nhiệt đới cổ Ở Châu Á, vùng phân bố của CĐTX gồm các nước Ấn Độ, Malaisia, Phillippin, Indonesia, Campuchia, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Nam Trung Quốc và cả ở vùng đảo Salawesi (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Hình 2.2 Cây chó đẻ thân xanh
Hình 2.1 Cây chó đẻ thân xanh
Nguồn:
http://forum.ctu.edu.vn/viewtopic.php?t=815
Trang 16Ở nước ta, cây mọc hoang dại trên các đất hoang, ruộng vườn, khá phổ biến
ở nhiều nơi (http://www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy)
2.1.1.3 Thành phần hóa học
Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2004), lá CĐTX chứa chất đắng không có quinin hay alkaloid Lá khô chứa các chất đắng hypophyllanthin (0,05%), phyllanthin (0,35%) Các chất này có độc với cá, ếch Trong cây có niranthin, nirtetralin và phyltetralin Gần đây người ta còn phát hiện trong cây có các flavonoid, alkaloid như: astragalin, quercetin, quercitrin, isoquercitrin, nirutinetin, nirurinetin, kaempferol – 4 - 0- a – L - rhamnoside, eriodictyol – 7 – a - L- rhamnoside, phyllantus, physetinglucoside, phyllochrysine, isoquercetin, rutin, nirurin, FG1, FG2, physetin-41-0-b-D-glucoside
Ngoài ra cây CĐTX còn chứa saponin, tannins, vitamin C, methyl-salicylate, lipids (ricinoleic acid, linoleic acid, dotriacontanoic acid), steroids (beta-sitosterol, estradiol, 24-isopropil-cholesterol)
(http://www.hersil.com.pe/English/Cont3/pdf/chancapiedra_ing.pdf)
Các tác giả Trung Quốc còn phân lập được 1, 6 digalloy glucopyranosid, corilagin và geraniin, chất khoáng và một số kim loại nặng từ cây CĐTX (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
2.1.1.4 Tác dụng dược lý
Tác dụng bảo vệ gan: Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2004), cao CĐTX có tác
dụng bảo vệ gan trên chuột cống trắng được cấy nhiễm độc gan bằng carbon tetraclorid Trong mô hình gây xơ gan thực nghiệm trên chuột cống trắng, thuốc có tác dụng làm giảm hàm lượng collagen trong máu và làm giảm mức độ xơ gan ở động vật điều trị so với đối chứng Thuốc có tác dụng lợi tiểu, chống oxy hóa và tỏ
ra có độ an toàn cao trong thử nghiệm về độc tính Các lignan phyllanthin và hypophyllanthin trong CĐTX có tác dụng bảo vệ tế bào gan chuột cống trắng chống lại các tác dụng độc hại tế bào gây ra bởi carbon tetraclorid và galactosamin
Tác dụng hạ đường máu: cao nước CĐTX có tác dụng hạ đường máu ở thỏ
bình thường và thỏ gây đái tháo đường với alloxan Cao làm hạ đường máu ngay cả khi cho thỏ uống 1 giờ sau khi cho uống glucose và hoạt tính hạ đường máu của chó
đẻ thân xanh cao hơn tolbutamid Hai flavonoid, kí hiệu FG1 và FG2 thu được từ phân đoạn tan trong nước của cao cồn có tác dụng làm hạ đường máu khi cho chuột cống trắng gây đái tháo đường bằng uống alloxan Toàn cây CĐTX có tác dụng gây
hạ đường máu, hạ áp và lợi tiểu ở người (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Tác dụng trên đường tiêu hóa: câyCĐTX có khả năng kích thích ăn ngon, làm giảm hoạt động của đường tiêu hoá, làm chậm sự tống thức ăn khỏi dạ dày chuột cống trắng và gây dãn đáy dạ dày và hồi tràng Cây cũng có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Trang 17Tác dụng giảm đau: Cây CĐTX có tác dụng giảm đau và tác dụng này đã
được các nhà khoa học Brazil cho là do acid gallic, ester ethyl và hỗn hợp steroid như beta sitosterol và stigmasterol
(http://www.ykhoanet.com/yhoccotruyen/29_282.htm)
Tác dụng trên hệ thống miễn dịch: Năm 1992, các nhà khoa học Nhật Bản
cũng đã khám phá tác dụng ức chế sự phát triển HIV-1 của Phyllanthus niruri thông
qua sự kìm hãm quá trình nhân lên của virus HIV với cao lỏng của cây thuốc Trong một nghiên cứu khoa học được tiến hành vào năm 1996, Viện nghiên cứu Dược học Bristol Myezs Squibb cũng đã chiết xuất được ít nhất một hoạt chất có tác dụng này
và người ta đã đặt tên nó là "Nuruside"
2.1.1.5 Sử dụng trong y học dân gian
Theo y học cổ truyền, CĐTX vị hơi đắng, có tác dụng tiêu độc sát trùng, tán
ứ, thông huyết, thường dùng làm thuốc thông tiểu, thông sữa, chữa bệnh ngoài da, rắn rết cắn Từ lâu nhân dân ta vẫn dùng làm thuốc điều kinh, thông kinh, trục ứ Dùng ngoài đắp mụn nhọt, lở ngứa ngoài da (Võ Văn Chi, 2005)
CĐTX làm tăng mãnh liệt sự bài tiết nước tiểu cũng như kinh nguyệt nhưng không gây hại gì Ở nhiều nước Viễn Đông cũng đã sử dụng những tính chất này của cây Tác dụng lợi tiểu của cây là do có một tỷ lệ cao chất bồ tạt
(http://www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy)
Trong bài thuốc y học cổ truyền Thái Lan CĐTX dùng để trị vàng da, ở Ấn
Độ CĐTX là thuốc làm săn, khai thông, sát khuẩn, lợi tiểu và được dùng trị vàng
da, khó tiêu, lỵ, phù, các bệnh của hệ niệu – sinh dục, bệnh lậu và đái tháo đường Nước sắc chồi non trị lỵ, rễ tươi trị vàng da, lá là thuốc lợi tiêu hoá Người ta còn dùng lá và rễ khô tán nhỏ làm thành bột nhão đắp các vết thương sưng tấy và loét Ở Peru, nhân dân uống nước sắc phần trên mặt đất làm thuốc lợi tiểu, trị sỏi mật và sỏi thận Ở một số nước Nam Mỹ, CĐTX được dùng trị sốt rét, sỏi thận, sỏi bàng quang, các rối loạn về tiết niệu (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Trang 182.1.1.6 Một số bài thuốc dân gian từ cây chó đẻ thân xanh
Bài thuốc 1: Chữa suy gan
(do nghiện rượu, sốt rét, lỵ amip,
+ 3 lần sau 2 bát lấy nữa bát
- Trộn chung 100g đường, đun sôi cho tan đường
- Chia 6 lần uống/ngày
- Điều trị khoảng 30 – 40 ngày
(Trần Xuân Thuyết, 2003)
Bài thuốc 6: Chữa ăn không ngon,
đau bụng sốt, nước tiểu sẫm màu
- Xuyên tâm liên 1g Tất cả phơi khô trong bóng râm, tán bột, sắc uống 3 ngày/lần
Trang 192.1.2 Tía tô
Tên khoa học: Perilla frutescens (L.) Britton
Họ: Hoa môi (Lamiaceae)
Tên khác: Tử tô, tử tô tử, tô ngạnh, hom tô, hom đeng (Thái), phằn cưa (Tày), cần phân (Dao)
Cụm hoa mọc ở kẽ lá và đầu cành, dài 6- 20 cm, lá bắc hình mác, dài hơn hoa Hoa nhỏ màu trắng hay tím, mọc thành xim co ở đầu cành Quả bế, hình cầu (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
2.1.2.2 Vùng phân bố
Chi Perilla L có một loài ở châu Á Nguồn gốc có thể từ vùng núi Ấn Độ và
Trung Quốc, sau được nhân trồng khắp nơi ở châu lục Cây cũng được trồng ở vùng
có khí hậu ôn hòa của châu Âu Ở Mỹ và Ukrain còn thấy cây mọc trong trạng thái hoang dại (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Ở Việt Nam tía tô được trồng ở khắp nơi để lấy lá ăn, làm gia vị và làm thuốc (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Hình 2.4 Cây tía tô Hình 2.3 Cây tía tô
Nguồn:
http://www.itmonline.org/arts/mentha.htm
Trang 202.1.2.3 Thành phần hóa học
Tía tô chứa 0,3 – 0,5% tinh dầu (theo trọng lượng khô) có các chỉ số sau:
d20 – 0,990; n20d - 1,4865; [a]20d - 74; chỉ số acid 2,64; chỉ số xà phòng 78,01; chỉ số este 75,32 Hàm lượng citral 20% (The Wealth of India vol VII, 1966 trích dẫn bởi
Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Theo Võ Văn Chi (1999), thành phần tinh dầu tía tô chủ yếu là: perilladehyde (C10H14O) 55%, L perilla alcohol; limonen 20 – 30 %; α pinen, dihydrocumin (C10H14O), còn có elsholtziaceton
Chấtperillaldehyde có mùi thơm đặc biệt của tía tô, chất perillaldehyde anti – oxim ngọt gấp 2.000 lần đường, khó tan trong nước, đun nóng sẽ phân giải, có độc cho nên không dùng làm chất điều vị được Tuy nhiên cũng có người dùng tía
tô làm ngọt thuốc lá (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Chất màu trong lá tí tô là do este của chất xyanin clorit C27H31O16Cl Ngoài các chất trên trong tía tô còn chứa adenin C5H5N5 và acginin C6H14N4O2 (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Shao shuping, Zhu Shasyi đã phân tích thành phần tinh dầu trong một số loại (type) tía tô như sau:
Loại hoa trắng, thân xanh có thành phần chủ yếu là: perillaceton (perillaceton type)
Loại hoa đỏ và cây đỏ có thành phần chủ yếu là perilladehyd (perilladehyd type)
Loại hoa đỏ lá hồng, lá mặt trước màu xanh, mặt sau màu đỏ, xanh lá xanh hoặc cành đỏ xanh, có thành phần chủ yếu là dillapiol hoặc mycristicin (phenilpropanoid type)
(Đỗ Huy Bích và ctv, 2004) Kang et al (1992), phân tích dịch cất keo hơi nước từ tía tô thấy có perilladehyde, limonen, β - cargophylen, bergamoten và linalool perilladehyd (chủ yếu là thành phần) đã ức chế phần lớn các vi khuẩn và nấm Fujita, Tomoyuki, Nakayama (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Mitsuru đã tách được monoterpen glucosid và tổng hợp được perillosid B (I: R=Q, R1 = H), Perillosid C (I : R = Q1, R1 = H) (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Các tác giả còn tách được từ lá tía tô một glucosid nhân thơm là 1,2 methylen dioxy – 4 methoxy – 5 allyl – 3 – phenyl - β - D – glucopyranosid Chất này có tác dụng chống nấm (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004 ) Một chất monoterpen β - glucosid cũng được tách từ lá là perillyl β - D – glucopyranosid
Ba chất monoterpin glucosid perillosid β – D cũng được tách từ lá tía tô tươi (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004 )
Ba thành phần glucosid mới được tách từ dịch chiết methanol của tía tô,
Trang 21oxy jasmonoid acid và 3β - D – glucopyranosyl – 3 – epi – 2 – isocucurbic acid Chất thứ ba là một glucosid mới lần đầu tiên phát hiện trong tự nhiên đó là 3 β - D – glucopyranosyl – oxy – 5 – phenyl valeric (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004 )
Trong hạt tía tô có chứa 45 – 50% chất dầu lỏng, màu vàng, mùi và vị của dầu lanh (huilede lin), thuộc loại dầu khô, có chỉ số iod vào loại cao nhất (206), chỉ
số xà phòng 189,6, tỷ trọng 0,93 Trước đây, Nhật Bản và Triều Tiên hằng năm sản xuất tới 60.000 tấn dầu này để quét lên dù hoặc quét lên các loại giấy làm cho dù và giấy không thấm nước (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2004), hạt tía tô chứa nước 6,3%, protein 23, 12%, dầu béo 45,07%, N 10,28%, sợi 10,28%, tro 4,64, acid nicotinic 3,98 mg/100g Ngoài ra còn có các chất có hoạt tính chống oxy hóa (antioxydant)
Thành phần protein trong hạt tía tô gồm: 16g arginin 14,8; histidin 2,5; leucin 0,3; isoleusin 4,3; lysin 4,4; methionin 1,4; phenylalanin 5,1; threonin 3,0 và valin 6,0
Thành phần của dầu béo gồm acid béo chưa no 3,5 – 7,6%; oleic 3,9 – 13,8%; linoleic 33,6 – 59,4%; acid linoleic 23,3 – 49% trong một số mẫu dầu còn chứa trên 70% acid linoleic
Phần bã của hạt sau khi ép dầu (khô dầu) là nguồn thức ăn tốt gồm 38,4% protein, 4,4% chất béo, đạm 16%, 20,9%, protein tiêu hóa 34,2%, đồng thời cũng được dùng làm phân bón ở Nhật Bản vì chứa canxi 0,56%, phospho 0,47% và tritogen 6,14% (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
và ctv, 2004)
2.1.2.5 Sử dụng trong y học dân gian
Tía tô vị cay, mùi thơm, tính ấm có tác dụng phát tán phong hàn, hóa đờm,
an thai, giải độc cua cá (Đỗ Tất lợi, 2003)
Theo y học cổ truyền Trung Quốc, lá tía tô có tác dụng làm toát mồ hôi và trừ hàn, điều hòa chức năng dạ dày, chữa cảm hàn với ho và nôn, nôn do thai nghén, tiêu chảy, ngộ độc cua cá Cành có tác dụng chữa ho trừ đờm, hen suyễn, tê thấp Thân điều hòa lưu thông khí, làm giảm rối loạn chức năng dạ dày, giảm đau, ngừa
Trang 22sẩy thai Chủ trị: tức thở ở ngực và đau vùng thượng vị với cảm giác nóng nôn, đe dọa sẩy thai (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Ở Ấn Độ, tía tô được coi như có tác dụng an thần, chống co thắt, làm toát mồ hôi, chữa nhức đầu và rối loạn hoạt động tử cung Ở Nhật Bản, tía tô cũng được dùng làm thuốc ra mồ hôi, giải biểu, hành khí, giải độc tôm cá (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
2.1.2.6 Một số bài thuốc dân gian từ cây tía tô
Bài thuốc 1: Chữa cảm mạo, nhức
đầu, làm ra mồ hôi:
- Lá tía tô tươi (một nắm) 5g
- Hành tươi (3-4 củ) 5g
- Thái nhỏ ăn với cháo nóng, rồi
đắp chăn cho mồ hôi ra
Bài thuốc 2: Chữa đau bụng, lỵ,
Bài thuốc 3: Chữa trúng độc do ăn
cua cá, trướng đầy
- Lá tía tô 10g sắc uống nóng
- Hoặc lá tía tô tươi giã vắt lấy
Bài thuốc 5: Chữa táo bón người
già suy nhược
Hạt tía tô và hạt me lượng hai thứ
bằng nhau cho nước lã vào lắng
lọc lấy nước nấu chín mà uống
Hoặc:
Giã nhuyễn cho nước vào nấu cháo
(phương này có thể sử dụng cho cả
trường hợp táo bón do ung thư
(Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Trang 232.1.3 Cỏ sữa nhỏ lá
Tên khoa học: Euphorbia thymifolia Burn
Họ: Thầu dầu (Euphorbiaceae)
Tên khác: Vú sữa đất, thiên căn thảo, nhả nậm mòn, nhả mực nọi (Thái)
2.1.3.1 Mô tả cây
Cỏ sữa là một loại cỏ nhỏ, gầy, sống hàng năm Cây mọc lan trên mặt đất, thân và cành có màu tím đỏ, hơi có lông Lá nhỏ, mọc đối, hình bầu dục hoặc thon dài, dài nhất khoảng 7 mm, rộng chừng 4 mm, lá hơi khía tai bèo Cụm hoa mọc ở
kẽ lá thành xim, ít hoa Quả nang đường kính 1,5 mm có lông Hạt nhẵn dài 0,7
mm, có 4 góc Khi bấm toàn thân chảy một chất nhựa mủ trắng (Đỗ Tất Lợi, 2003)
2.1.3.2 Vùng phân bố và thu hái
Cỏ sữa là loài liên nhiệt đới, mọc hoang ở nhiều nơi trên khắp các địa phương Cây thường mọc ở bãi cỏ, sân vườn, ven đường, ở những nơi đất có sỏi đá, mép sân gạch, sân xi măng…
Thu hái cây quanh năm, dùng tươi hay rửa sạch sao vàng hay phơi khô (http://www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy/show_target.plx?url=/thuocdongy)
Lá và thân chứa flavonoid cosmosiin (5,7,4-trihydroxyflavon-7-glucosid) Rễ chứa taraxerol, tirucallol (C30H50O) và myrixyl alcohol (Đỗ Tất Lợi, 2003)
2.1.3.4 Tác dụng dược lý
Tác dụng kháng khuẩn:
+ Dung dịch cỏ sữa 1/20 đến 1/40 có tác dụng ức chế sự sinh sản của các loại
vi trùng lỵ Sonner, Flexne và Shiga (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Hình 2.6 Cỏ sữa nhỏ lá Hình 2.5 Cỏ sữa nhỏ lá
Nguồn:
http://forum.ctu.edu.vn/viewtopic.php?t=746
Trang 24+ Cao chiết với nước 2/1 cỏ sữa lá nhỏ có tác dụng kháng khuẩn ở mức trung
bình trong ống nghiệm đối với các chủng vi khuẩn tụ cầu vàng, Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella pneumoniae, E coli, proteus vulgaris, Salmonella typhi, Bacillus anthracis, Streptococcus faecalis, S Pneumoniae (Đỗ Huy Bích và ctv,
2004)
Tác dụng gây ngưng kết hồng cầu:
Tác dụng hạ đường huyết: cao chiết bột cỏ sữa với methanol cho thỏ
uống đã có tác dụng hạ đường huyết Tác dụng này chỉ thể hiện ở thỏ có đường huyết bình thường Ở thỏ đã gây tăng đường huyết với alloxan thì không có tác dụng hạ đường huyết (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004)
Theo Coopacdiuxki trích dẫn bởi Võ Văn Chi (2005), chất nhựa mủ của cỏ sữa có tính gây xót đối với niêm mạc dạ dày và độc đối với cá và chuột
2.1.3.5 Sử dụng trong y học dân gian
Theo y học cổ truyền, cây có vị ngọt đắng nhạt, hơi chua, tính lạnh, có tác dụng thông huyết, cầm máu, giảm đau, tiêu viêm, tiêu độc, lợi tiểu, kháng khuẩn, thông sữa, băng huyết, trẻ em ỉa phân xanh (Võ Văn Chi, 2005)
Ở Ấn Ðộ, cỏ sữa nhỏ lá được dùng làm thơm, săn da, kích thích và nhuận tràng, thườngdùng cho trẻ em bị bệnh đường ruột Dịch lá dùng trị nấm tóc, rắn cắn
và các bệnh ngoài da Rễ được sử dụng cho người mất kinh (Võ Văn Chi, 2005)
Ở nước ta cây cỏ sữa nhỏ lá được dùng chữa lỵ, ở các nước khác dùng làm thuốc diệt sâu bọ và duốc cá (Ấn Độ), giã đắp chữa bệnh ngoài da như viêm da dị ứng, ngứa da, viêm vú, zona, hắc lào, mụn cóc và chữa vết thương (Malaixia, Ả Rập) ( Đỗ Tất Lợi, 2003)
2.1.3.6 Một số bài thuốc dân gian từ cây cỏ sữa nhỏ lá
Bài thuốc 1: Chữa lỵ, trực trùng
Sắc với 300 ml nước, lấy 150 ml,
chia 3 lần uống trong ngày
Bài thuốc 4: Chữa viêm loét mụn
Trang 252.2 VI KHUẨN
2.2.1 Nhóm vi khuẩn gram dương (Gr + )
2.2.1.1 Staphylococcus aureus (tụ cầu khuẩn)
a Phân loại
Vi khuẩn Staphylococcus aureus thuộc giống Staphylococcus họ Micrococcaceae
Staphylococcus aureus do Robert Koch (1843-1910) phát hiện năm 1878
phân lập từ mủ ung nhọt và đến năm 1884 được Rosenbach nghiên cứu tỉ mỉ
Staphylococcus aureus phân bố khắp nơi nhưng chủ yếu được phân lập từ da, màng nhày của người và động vật máu nóng Staphylococcus aureus có thể nhiễm
vào trong thực phẩm qua con đường tiếp xúc với người thao tác trong quá trình chế biến thực phẩm (Trần Linh Thước, 2006)
b Đặc điểm
S aureus hình cầu, tụ lại thành đám giống hình chùm nho, đường kính
khoảng từ 0,7 – 1µm (có thể tăng trong canh trùng để ở nhiệt độ cao), bắt màu Gr+, không có lông, không di động, không sinh nha bào và thường không có giáp mô, tuy nhiên cũng có một số chủng có giáp mô (Nguyễn Vĩnh Phước, 1997)
Tụ cầu sống hiếu khí hoặc hiếu khí tùy tiện,nhiệt độ thích hợp 32 - 37oC, pH thích hợp 7,2 – 7,6 Dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường như: môi trường nước thịt, môi trường thạch thường, thạch máu…,khuẩn lạc tương đối to dạng S mặt khuẩn lạc hơi ướt, bờ đều nhẵn Khuẩn lạc có đường kính 2 – 4 mm, có màu vàng thẫm (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Staphylococcus aureus dung huyết trên môi trường thạch máu và làm tan
chảy gelatin (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997) Tụ cầu khuẩn sinh catalase, đây là điểm để phân biệt với liên cầu khuẩn Tụ cầu khuẩn chịu được điều kiện khô, nóng (nhiệt độ 50oC trong 30 phút vẫn sống) (Trần Thị Phận, 2004)
c Sức đề kháng
Vi khuẩn không có nha bào nên đối với tác nhân lý hóa đề kháng kém Tuy
nhiên khả năng đề kháng của Staphylococcus aureus vẫn cao hơn các vi khuẩn
không có nha bào khác
Ở 80 oC vi khuẩn bị diệt trong 1 giờ Đun sôi 100 oC, S aureus chết sau 1 – 2 phút S aureus dễ bị tiêu diệt bởi các loại thuốc sát trùng thông thường nhưng đề
Bài thuốc 5: Làm thuốc lợi sữa
Hai thứ sắc ký lấy nước, nấu với
gạo thành cháo để ăn
(Bùi Quang Tề, 2006)
Trang 26kháng với sự khô và sự đóng băng Ở nơi khô ráo, vi khuẩn sống từ 4 – 5 tháng, tụ cầu khuẩn trong mủ có khả năng đề kháng cao hơn, có thể sống trong mủ nhiều tuần (Trần Thị Phận, 2004)
d Tính sinh độc tố
Staphylococcus aureus có thể sản sinh ra các loại độc tố sau: Độc tố dung
huyết, độc tố diệt bạch cầu, độc tố gây hoại tử da, độc tố gây chết, độc tố đường
ruột, các yếu tố độc lực ngoại bào Ngoài ra S aureus còn hình thành những nhân tố
gây bệnh sau: chất làm tan tơ huyết, men làm đông huyết tương, nhân tố khuếch tán (Trần Thị Phận, 2004)
e Tính kháng kháng sinh
Staphylococcus aureus là vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện rất phổ biến
Và người ta đã nghiên cứu được nó có khả năng đề kháng với một số kháng sinh Tuy nhiên loại kháng sinh và mức độ kháng tùy thuộc vào điều kiện địa lý, bệnh viện khảo sát:
Bệnh viện Thống Nhất S aureus kháng penicillin 94%, oxacillin (81%
năm 2003, 67% năm 2004 và 73% năm 2005), nhạy cảm với vancomycin là tuyệt đối (100%), trong khi ở bệnh viện Bạch Mai năm 2003 tỷ lệ kháng với vancomycin
là 2,2% (Hoàng Kim Tuyến và ctv, 2005)
Trong 7 bệnh viện ở Đà Nẵng, Cần Thơ, TPHCM tỷ lệ S aureus đề kháng
với nhiều kháng sinh khá cao: 42% đối với gentamicin, 63% đối với erythromycin, 68% đối với azithromycin, 39% đối với ciprofloxacin, 38% đối với cefuroxime, 30% đối với amoxicillin-clavulanic acid, 34% đối với cefepime, 28% đối với ticarcillin clavulanic acid, 38% đối với chloramphenicol, 25% đối với cotrimoxazol, 17% đối với levofloxacin Vi khuẩn kháng thấp với rifampicin: 8% (Phạm Hùng Vân và Phạm Thái Bình , 2005)
f Tính gây bệnh
Trong tự nhiên:
Nhiễm khuẩn ngoài da: Staphylococcus aureus làm nung mủ các vết
thương, nơi xây xát trên da, làm các tổ chức bị sưng, tạo thành ổ mủ (abscess) (Trần Thị Phận, 2004)
Nhiễm khuẩn huyết: từ các ổ nhiễm trùng ngoài da, S aureus xâm
nhập vào máu gây chứng huyết nhiễm mủ và theo máu đi tới các cơ
quan gây nên các ổ abscess S aureus là nguyên nhân gây viêm
xoang, viêm amygdale, viêm vú cho người (Trần Thị Phận, 2004)
Ngoài ra, ở người còn thấy độc tố ruột do tụ cầu tiết ra gây nhiễm độc thức ăn và viêm ruột cấp tính
Trang 27 Trong các loài vật, ngựa dễ cảm nhiễm nhất rồi đến chó, bò, lợn, cừu
Gà vịt có sức đề kháng rất cao đối với Staphylococcus aureus
(Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Trong phòng thí nghiệm:
Theo Trần Thị Phận (2004), thỏ cảm nhiễm nhất Nếu tiêm canh trùng
Staphylococcus aureus vào tĩnh mạch thỏ thì thỏ sẽ chết trong vòng 1 – 2 ngày vì
chứng huyết nhiễm mủ Mổ khám thấy có nhiều ổ abscess ở tim, thận, xương, bắp
thịt… Nếu tiêm canh trùng Staphylococcus aureus vào dưới da cho thỏ sẽ gây
abscess dưới da
2.2.1.2 Streptococcus faecalis
a Tổng quát về giống
Các vi khuẩn thuộc giống Streptococcus có ở khắp nơi trong tự nhiên: trong
đất, nước, không khí,…trong cơ thể động vật và người Trên cơ thể người, động vật một số liên cầu thường ký sinh trên da, niêm mạc đường tiêu hóa, hô hấp và không gây bệnh, một số lại có khả năng gây bệnh (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
b Streptococcus faecalis
Streptococcus faecalis thuộc nhóm D của giống Streptococci nhưng nhiều thời gian trước nhóm D này đã được phân loại lại và xếp vào giống Enterococcus Giống Enterococcus gồm các loài S faecalis, S faecium, S durans, và S avium Hiện nay loài Streptococcus faecalis chính là Enterococcus faecalis (Ruoff K L,
Streptococcus faecalis đứng ở vị trí từ 1 – 3 nguyên nhân đầu gây nhiễm
trùng bệnh viện ở người Hầu hết các nhiễm trùng này xảy ra sau phẫu thuật Nó cũng là một trong những nguyên nhân gây nhiễm trùng ống dẫn tiểu, viêm màng trong tim, viêm màng não Ngoài ra nó cũng được tìm thấy trong nhiễm trùng vết
thương cùng với các loại vi khuẩn khác (Glick W., 2005)
c Đặc điểm
Enterococcus faecalis là vi khuẩn Gr+, hình cầu, không di động, thường đứng riêng lẻ hay tụ tập thành từng đôi hay từng chuỗi ngắn Là vi khuẩn kỵ khí tùy nghi, lên men glucose không sinh hơi, không có men catalase, khi thử nghiệm oxidase cho kết quả âm tính (Trần Linh Thước, 2006)
Nhiệt độ phát triển của Enterococcus faecalis là 10 – 45oC, trong đó nhiệt độ tốt nhất là 35 - 37oC (tất cả các môi trường) (Rollins D.M et al, 2000), pH thích
hợp 9,6 E faecalis có thể thủy phân esculin (Ruoff K L., 1990)
Trang 28Enterococcus faecalis có thể phát triển trên môi trường nhược trương, ưu
trương, acid hay môi trường kiềm Nó cũng có thể phát triển được trong môi trường chứa 6,5% muối NaCl, nồng độ muối mật 40% và không bị phân hủy khi phơi nhiễm với mật (http://microbewiki.kenyon.edu/index.php/Enterococcus)
E faecalis rất bền, có thể sống hàng tuần ở môi trường bên ngoài, trong bánh
phó mát sống 180 ngày, trong dầu 77 ngày, trong đất có thể sống đến 90 ngày, kém bền với nhiệt độ, ở 60 oC vi khuẩn bị diệt sau 30 phút Có thể trữ ở - 70 oC trong vài năm.(http://www.ebi.ac.uk/2can/genomes/bacteria/Enterococcus_faecalis.html)
d Tính kháng kháng sinh
Enterococcus faecalis đề kháng cao với aminoglycosides Tỷ lệ kháng
aminoglycosides dao động trong khoảng 30 – 60 %, tùy thuộc vào từng cơ sở (Lê Văn Phủng, 2003)
Bên cạnh đó, Enterococcus faecalis còn kháng các loại kháng sinh:
vancomycin, penicillin, ampicillin, teicoplanin với mức độ thấp, riêng gentamicin
thì tỷ lệ kháng cao Trên 80 % các chủng E faecalis kháng penicillin và hơn 50 %
kháng gentamicin ở mức độ cao (Lê Văn Phủng, 2003)
Ngoài ra E faecalis còn gây viêm phổi, chứng nung mủ ở bệnh nhân bệnh
gan, viêm phúc mạc…(http://www.medscape.com/viewarticle/444916_sidebar1)
2.2.2 Nhóm vi khuẩn gram âm (Gr- )
2.2.2.1 Pseudomonas aeruginosa
a Tổng quát về giống Pseudomonas
Các vi khuẩn thuộc giống Pseudomonas rất phổ biến trong tự nhiên Nó được
tìm thấy trong đất, nước, thực vật, trên các loài động vật khỏe mạnh và hầu hết trong các môi trường nhân tạo trên toàn thế giới
Giống Pseudomonas có nhiều loài có tính gây bệnh trên động vật nhưng
Trang 29lực thấp, gây bệnh có tính cơ hội, thường tìm thấy trong quá trình mưng mủ ở bò,
heo và trong các vết thương nhiễm trùng ở người Pseudomonas aeruginosa gây
bệnh trên các bộ phận của cơ thể người và động vật như: mắt, tai, phổi, đường tiết niệu…Vi khuẩn phân bố ở khắp nơi nhưng chỉ gây bệnh trong một số trường hợp (Nguyễn Vĩnh Phước, 1997)
c Đặc điểm
Pseudomonas aeruginosa là một trực khuẩn hình gậy, kích thước 1,5 – 3 µm,
thỉnh thoảng có hình sợi hay hình dấu phẩy, di động, có 1 – 3 lông ở đầu Đứng riêng từng đơn vị hay từng đôi, từng chuỗi ngắn Không hình thành nha bào, giáp
mô, khi nhuộm bằng phương pháp nhuộm gram vi khuẩn bắt màu gram âm
Pseudomonas aeruginosa thuộc vi khuẩn hiếu khí, tuy nhiên trong điều kiện
kỵ khí chúng có thể sử dụng NO3- như một chất nhận điện tử trong chuỗi phản ứng
hô hấp (William, 1989) Nhiệt độ phát triển của Pseudomonas aeruginosa là 5 –
42oC, trong đó nhiệt độ thích hợp nhất là 30 – 37oC, pH thích hợp là 6,6 – 7,0
Loài này có khả năng tăng trưởng trên môi trường nghèo dinh dưỡng với khoáng và nguồn carbon như: acetate, pyruvate, succinate, glucose,…(Trần Linh Thước, 2006)
Pseudomonas aeruginosa cho kết quả kiểm tra O – F là dương/âm, phản ứng
oxidase dương tính, có khả năng năng oxi hóa các nguồn carbonhydrate, làm tan chảy gelatine, khử nitrate thành các hợp chất khác nhau như nitrate, amonia Không lên men đường glucose, sử dụng citrate, catalase dương tính, không sinh indol, phản ứng VP âm tính, không hoàn nguyên methyl red, không có lysindecarboxylase, ADH dương tính, kiềm hóa sữa
d Sự đề kháng của Pseudomonas aeruginosa
Trong môi trường nuôi cấy và tự nhiên vi khuẩn sống rất lâu Vi khuẩn bị diệt sau 1 giờ ở nhiệt độ 55oC (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Khả năng đề kháng với hệ miễn dịch của cơ thể động vật:
Pseudomonas aeruginosa ở một số chủng có có khả năng tiết ra Alginate bao
bọc bên ngoài tế bào của vi khuẩn giúp vi khuẩn chống lại sự thực bào, tác dụng của các bạch cầu trung tính, kháng thể và các yếu tố ngưng kết bổ thể
Các protease được Pseudomonas aeruginosa tiết ra có khả năng tách rời các
thành phần của IgG, bất hoạt bổ thể (Ryan and Ray, 2004)
Trang 30e Tính kháng kháng sinh:
Theo Hoàng Kim Tuyến và ctv (2005), Pseudomonas aeruginosa kháng
mạnh cefoperazone và nhóm aminoglycoside (65 – 70%) Kháng sinh thông dụng như ceftazidime cũng chỉ còn nhạy cảm khoảng 50%
Pseudomonas aeruginosa có được tính kháng thuốc cao là do cấu tạo của
màng tế bào có LPS làm giảm khả năng thấm của kháng sinh vào bên trong tế bào
vi khuẩn, một yếu tố khác là Pseudomonas aeruginosa có mang plasmid – R có khả
năng truyền gen kháng thuốc qua trung gian plasmid
f Tính gây bệnh
- Trong phòng thí nghiệm: vi khuẩn không có độc lực cao với động vật thí nghiệm Thỏ và chuột bạch có thể chết do bại huyết, chuột lang có thể hoại tử hoặc hoại thư sau khi tiêm vi khuẩn dưới da
- Trong tự nhiên: Vi khuẩn gây bệnh trên nhiều loài vật như bệnh viêm teo mũi, viêm tử cung ở bò (một trong những nguyên nhân gây sẩy thai trên bò và ngựa), chứng chảy nước tai chó, mèo, nhiễm trùng máu ở gà (Carter,1978)
Ngoài ra P aeruginosa còn gây bệnh viêm loét dạ dày trên rắn, viêm phổi và
viêm dạ dày 2 loài trăn Nam Mỹ và 1 loài trăn Ấn Độ
- Trên người:
Trên người P aeruginosa gây bệnh viêm phế quản, viêm màng não, viêm
đường tiết niệu, viêm tai giữa, viêm loét trên da, viêm mắt Ngoài ra nó còn gây nhiễm trùng máu, giảm bạch cầu trung tính, tiểu đường….(Trần Linh Thước, 2006)
P aeruginosa gây bệnh viêm mắt hóa sừng do vi khuẩn có thể định vị trên mắt và trong điều kiện sức đề kháng của cơ thể yếu thì P aeruginosa sẽ tiết độc tố
hủy hoại giác mạc gây mù
2.2.2.2 Salmonella spp
a Tổng quát về giống Salmonella spp
Vi khuẩn Salmonella thuộc họ Enterobacteriaceae Năm 1885, Salmon và
Smith đã phát hiện và phân lập được chủng Salmonella đầu tiên với tên gọi Samonella cholerae. Năm 1934, theo đề nghị của hội sinh vật học quốc tế để kỷ niệm người đầu tiên tìm ra vi khuẩn, tên chính thức của vi khuẩn này được đặt là
Samonella (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Đa số vi khuẩn sống hoại sinh ở trong đường tiêu hóa, một số sống ngoài tự nhiên, có một số loài gây bệnh cho người và động vật (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Trang 31lông (7 đến 12 lông xung quanh thân) (trừ Salmonella gallinarum, Salmonella pullorum)
Salmonella là vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí tùy nghi, dễ nuôi cấy, nhiệt độ
thích hợp là 37oC nhưng vẫn có thể phát triển được ở nhiệt độ 6 - 42oC, pH thích hợp 7,2 – 7,6 (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977) Khuẩn lạc tròn, trong sáng hoặc xám,
nhẵn bóng hơi lồi lên ở giữa, nhỏ và trắng hơn khuẩn lạc của E coli (đường kính 1-
1,5 mm) (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Salmonella gây bệnh ở gia súc sinh trưởng tốt trong điều kiện hiếu khí kém
hơn ở điều kiện kỵ khí (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Theo Trần Linh Thước (2006), phần lớn các loài Salmonella có đặc điểm:
Lên men sinh hơi glucose và mannitol nhưng không lên men đường lactose và saccarose Không sinh indol, không phân giải ure, không có khả năng tách nhóm amine từ tryptophan, sinh H2S, khử nitrate thành nitrite (NO3 thành NO2)
c Sức đề kháng
Salmonella khó sinh sản trong nước thường nhưng có thể tồn tại một tuần,
trong nước đá có thể sống 2- 3 tháng Trong xác động vật chết chôn ở bùn hoặc cát khô có thể sống từ 2 – 3 tháng (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Salmonella đề kháng yếu với nhiệt độ, ở nhiệt độ 60oC bị diệt trong 1 giờ,
70oC trong 20 phút, 75oC trong 5 phút Có thể sinh trưởng trong môi trường thạch ở nhiệt độ 10oC trong 115 ngày Ánh sáng mặt trời chiếu thẳng có thể diệt vi khuẩn trong nước trong 5 giờ, nước đục 9 giờ (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Salmonella đề kháng yếu với các chất sát trùng thông thường như: 1/500
formon 1%, phenol 5%, HgCl 1/500 diệt vi khuẩn trong 15 – 20 phút.Tuy nhiên đối với các hóa chất Cristal violet, lục sáng (vert brillant), dixitrat, muối mật, NaHSO3 lạikhông ảnh hưởng đến sự phát triển của Salmonella ở liều gây độc cho E coli
(Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Salmonella có thể sống trong thịt ướp muối với tỷ lệ muối là 29%, ở nhiệt độ
6 – 12oC được 4 – 8 tháng (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
- Ngoại độc tố: chỉ phát hiện được khi lấy vi khuẩn có độc tính cao cho vào túi colodion rồi đặt vào ổ bụng chuột lang nuôi, sau 4 ngày lấy ra, rồi lại cấy truyền như vậy từ 5 đến 10 lần, sau cùng đem lọc, nước lọc có khả năng gây bệnh cho
Trang 32động vật thí nghiệm Ngoại độc tố chỉ hình thành trong điều kiện invivo và trong nuôi cấy kỵ khí
e Sự đề kháng đối với kháng sinh
Theo Đinh Thị Bích Thủy và ctv (1995) trích dẫn từ Bùi Thị Tho (2003),
Salmonella có khả năng đề kháng với các kháng sinh sau: Chloramphenicol (37,4 –
68,1%), tetracycline (33,4 – 59,6%), Streptomycin (74,6 – 89,24%) Những kháng sinh dùng nhiều và rộng rãi thì tỷ lệ kháng thuốc cao như Streptomycin, sulfonamide, Chlortetracycline…
Năm 2001, tại ĐBSCL Trần Thị Phận và ctv đã nghiên cứu về sự nhạy cảm
đối với kháng sinh của ba mươi chủng Salmonella phổ biến và phát hiện được các
chủng kháng kháng sinh với tỉ lệ: Ampicillin (54,5%), Chloramphenicol (36 %), Tetracycline (36%) và Cephalexin (9%)
Theo Nguyễn Hùng Cường và ctv (2001), Salmonella đề kháng với
ampicillin, chloramphenicol đồng thời nhạy cảm với các kháng sinh nhóm quinolone và nhóm cephalosporin thế hệ III
Theo Natsue ogasawara et al (2001), cho biết: giá trị MIC50 và MIC90 của các
chủng Salmonella spp được phân lập tại ĐBSCL đối với oxytetracyclin (MIC50 = 2µg/ml và MIC90 = 128µg/ml), Streptomycin (MIC50 và MIC90 = 8 µg/ml), Kanamycin (MIC50 và MIC90 = 2µg/ml), Ampicillin (MIC50 = 1µg/ml và MIC90 = 2µg/ml), Cefazoline (MIC50 và MIC90 = 1µg/ml)
1997) Trâu bò đang cho sữa bị nhiễm Salmonella thì lượng sữa sẽ giảm hoặc mất
Ngoài ra Salmonella còn gây bệnh nhiễm trùng huyết ở bò cái đẻ và gây còi
cọc bò trưởng thành đang cho sữa (Salmonella dublin) (Sojka et al, 1974)
Trên người
Theo Loidar et al (1991), phần lớn các loại Salmonella gây bệnh cho gia súc
đều có thể gây cho người chứng ngộ độc thực phẩm như Salmonella typhimurium, Salmonella enteridis, Salmonella thompson, Salmonella bareilly, Salmonella anatum, Salmonella cholerae suis
Mỗi năm trên thế giới có đến 3 triệu người chết do ngộ độc thức ăn mà
nguyên nhân chính là do Salmonella typhimurium gây ra
(www.ifr.ac.uk/safety/gencom)
Trang 33
2.2.2.3 Escherichia coli
a Tổng quát về giống
Vi khuẩn Escherichia coli được phát hiện đầu tiên vào những năm 1885 với tên gọi Bacterium coli commune từ các chủng vi khuẩn đường ruột 4 năm sau vi khuẩn này được đổi tên thành Escherich nhằm tri ân người có công khám phá
(Theodor Escherich) Sau nhiều kiểu gọi, đến năm 1991 vi khuẩn được thống nhất
với tên gọi là Escherichia coli (viết tắt là E coli)
Escherichia coli thuộc họ Enterobacteriaceae, loài Escherichia (Đào Trọng
Đạt và ctv, 1999)
Hầu hết các dòng E.coli không gây hại và đóng vai trò quan trọng trong việc
ổn định sinh lý đường ruột Tuy nhiên có 4 dòng có thể gây bệnh cho người và một
số loài động vật là Enteropathogenic E coli (EPEC), Enterotoxigenic E coli (ETEC), Enterotoinvasive E coli (EIEC) và Enterohaemorrhagic E coli (EHEC)
(Trần Linh Thước, 2006)
b Đặc điểm
Theo Nguyễn Như Thanh và ctv (1997), Escherichia coli là một trực khuẩn
hình gậy, ngắn, kích thước 2-3µ x 6µ Trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Có khi trong môi trường nuôi cấy thấy những trực khuẩn khuẩn dài 4 - 8µ, những loại này thường gặp trong canh khuẩn già
Phần lớn E coli di động do có lông ở xung quanh thân, nhưng một số không
thấy di động, không sinh nha bào, có thể có giáp mô
Theo Nguyễn Như Thanh và ctv (1997), E coli phát triển dễ dàng trên các
môi trường nuôi cấy thông thường, một số chủng có thể phát triển được ở môi trường tổng hợp đơn giản
E coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể sinh trưởng ở nhiệt
độ từ 5 – 40 oC và pH từ 5,5 – 8 Trong đó, nhiệt độ thích hợp nhất là 37 oC, pH
thích hợp là 7,2 – 7,4 E coli lên men có sinh hơi các loại đường: fructose, glucose,
levulo, galactose, xyloze, maniton, mannit, lactose (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)
Ngoài ra E coli còn có những đặc tính sau: đông đặc sữa ở 37 oC sau 24 – 37 giờ Thường sinh indol, không sản sinh H2S, phản ứng M.R dương tính, phản ứng V.P âm tính, khử nitrate thành nitrite Có men decacboxylaz với lyzin, denitin, acginin và glutamie
c Sức đề kháng
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), E coli bị diệt ở nhiệt độ 55oC trong 1 giờ
Ở 60oC bị diệt trong vòng 15 – 30 phút, chết ngay ở 100oC Các chất sát trùng acid
phenic, clorua thủy ngân (II), formon… có thể diệt E coli trong 5 phút E.coli đề
kháng với sự sấy khô