v DANH MỤC BẢNG 1 Thành phần các chất trong huyết tương và trong nước tiểu đầu 7 2 So sánh các thành phần của huyết tương và nước tiểu đầu 11 3 Tỷ lệ các biểu hiện lâm sàng trên chó b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TÔ THỊ THANH HÀ
KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÍ - SINH HÓA NƯỚC TIỂU VÀ NHỮNG THAY ĐỔI CẶN NƯỚC TIỂU TRÊN CHÓ RỐI LOẠN HỆ TIẾT NIỆU TẠI
Trang 2Luận văn tốt nghiệp Ngành: THÚ Y
Tên đề tài:
KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÍ - SINH HÓA NƯỚC TIỂU VÀ NHỮNG THAY ĐỔI CẶN NƯỚC TIỂU TRÊN CHÓ RỐI LOẠN HỆ TIẾT NIỆU TẠI
BỆNH XÁ THÚ Y, ĐẠI HỌC CẦN THƠ
MSSV: 3042787
Lớp: THÚ Y K30
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, 2009
Trang 3Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2009 Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2009
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trải qua những năm tháng học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại Học Cần Thơ Thầy cô là người đã dành bao tâm huyết cho sự nghiệp trồng người, đã trang bị những hành trang quí báu cho chúng tôi vững bước vào đời Nhờ sự nhiệt tình chỉ bảo của thầy cô cùng với sự phấn đấu của bản thân, hôm nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến với cha mẹ, người nuôi nấng, dạy dỗ và luôn đặt niềm tin, hy vọng vào tôi
Xin trân trọng cảm ơn
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Cần Thơ
Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng
Quý thầy cô Bộ môn Thú Y đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
Xin chân thành cảm ơn
Cô Trần Thị Minh Châu đã nhiệt tình hướng dẫn tôi làm luận văn tốt nghiệp này Thầy Phạm Hoàng Dũng đã giúp đỡ tôi trong thời gian làm luận văn
Cùng các Anh, Chị tại Bệnh Xá Thú Y Trường Đại Học Cần Thơ đã hết lòng
giúp đỡ, chỉ bảo, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành được luận văn tốt nghiệp
Trang 5iii
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA i
TRANG DUYỆT i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
TÓM LƯỢC vii
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 CẤU TẠO VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ TIẾT NIỆU TRÊN CHÓ 2
2.1.1 Cấu tạo và chức năng của thận 2
2.1.2 Ống dẫn nước tiểu 5
2.1.3 Bàng quang 5
2.1.4 Niệu đạo (ống thoát tiểu) 6
2.2 SỰ THÀNH LẬP NƯỚC TIỂU 7
2.2.1 Giai đoạn lọc ở cầu thận 7
2.2.2 Giai đoạn tái hấp thu và bài tiết các chất ở ống thận 7
2.3 TÍNH CHẤT CHUNG CỦA NƯỚC TIỂU 10
2.3.1 Số lượng 10
2.3.2 Màu sắc 10
2.3.3 Độ trong 10
2.3.4 Mùi 11
2.3.5 Thành phần của nước tiểu 11
2.4 NHỮNG DẤU HIỆU LÂM SÀNG CỦA RỐI LOẠN HỆ NIỆU 12
2.4.1 Đa niệu 12
2.4.2 Thiểu niệu 12
2.4.3 Vô niệu 12
2.4.4 Bí tiểu 12
2.4.5 Tiểu đau 13
2.4.6 Tiểu không kiểm soát 13
2.4.7 Tiểu có mủ 13
2.4.8 Tiểu máu 13
2.5 MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ SINH HÓA NƯỚC TIỂU 14
2.5.1 Tỷ trọng 14
2.5.2 pH 14
2.5.3 Protein niệu 15
2.5.4 Máu 15
2.5.5 Bạch cầu 16
2.6 MỘT SỐ CHỈ TIÊU TRONG CẶN NƯỚC TIỂU 16
2.6.1 Tế bào từ hệ tiết niệu - sinh dục 16
2.6.2 Tế bào từ máu 17
2.6.3 Các trụ hình 17
2.6.4 Các tinh thể 19
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
Trang 63.1 NỘI DUNG 22
3.2 PHƯƠNG TIỆN 22
3.2.1 Thời gian thực hiện 22
3.2.2 Địa điểm 22
3.2.3 Đối tượng nghiên cứu 22
3.2.4 Vật liệu 22
3.3 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 22
3.4 XỬ LÝ SỐ LIỆU 25
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 TÌNH HÌNH CHÓ RỐI LOẠN HỆ NIỆU (RLHN) ĐƯỢC KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y, ĐẠI HỌC CẦN THƠ 26
4.1.1 Tỷ lệ các biểu hiện lâm sàng trên chó bị rối loạn hệ niệu 26
4.1.2 Mối quan hệ giữa chó có biểu hiện rối loạn hệ niệu (RLHN) và độ tuổi….27
4.1.3 Mối quan hệ giữa chó biểu hiện rối loạn hệ niệu và giới tính 29
4.1.4 Mối quan hệ giữa chó có biểu hiện rối loạn hệ tiết niệu và giống 29
4.2 MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ - SINH HÓA NƯỚC TIỂU NẰM NGOÀI MỨC SINH LÝ TRÊN BỊ RỐI LOẠN HỆ NIỆU (RLHN) 30
4.3 XÁC ĐỊNH NHỮNG HÌNH ẢNH BẤT THƯỜNG TRONG CẶN NƯỚC TIỂU TRÊN CHÓ RỐI LOẠN HỆ NIỆU TẠI BỆNH XÁ THÚ Y, ĐẠI HỌC CẦN THƠ… 31 4.3.1 Các loại tế bào trong cặn nước tiểu nằm ngoài mức sinh lý trên chó bị rối loạn hệ tiết niệu 31
4.3.2 Các loại trụ hình trong cặn nước tiểu nằm ngoài mức sinh lý trên chó bị rối loạn hệ tiết niệu 34
4.3.3 Các loại tinh thể nằm ngoài mức sinh lý trên chó bị rối loạn hệ tiết niệu (n = 25)…… ……… 36
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 KẾT LUẬN 39
5.2 ĐỀ NGHỊ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 7v
DANH MỤC BẢNG
1 Thành phần các chất trong huyết tương và trong nước tiểu đầu 7
2 So sánh các thành phần của huyết tương và nước tiểu đầu 11
3 Tỷ lệ các biểu hiện lâm sàng trên chó bị rối loạn hệ tiết niệu 26
4 Tỷ lệ chó có biểu hiện rối loạn hệ tiết niệu theo độ tuổi 27
5 Tỷ lệ chó có biểu hiện rối loạn hệ tiết niệu theo giới tính 28
6 Tỷ lệ chó có biểu hiện rối loạn hệ tiết niệu theo giống 28
7 Tỷ lệ một số chỉ tiêu sinh lý - sinh hóa nước tiểu nằm ngoài mức
sinh lý trên chó có biểu hiện rối loạn hệ tiết niệu
29
8 Tỷ lệ các loại tế bào trong cặn nước tiểu nằm ngoài mức sinh lý trên
chó bị rối loạn hệ tiết niệu
31
9 Tỷ lệ các loại trụ hình trong cặn nước tiểu nằm ngoài mức sinh lý
trên chó bị rối loạn hệ tiết niệu
34
10 Tỷ lệ các loại tinh thể trong cặn nước tiểu nằm ngoài mức sinh lý
trên chó bị rối loạn hệ tiết niệu
36
Trang 8DANH MỤC HÌNH
4 Tế bào hồng cầu (số 1), tế bào bạch cầu (số 2) trong cặn nước tiểu
(40X)
33
5 Tế bào hình vẩy cá (biểu mô bàng quang) trong cặn nước tiểu (40X) 33
6 Biểu mô bể thận - ống dẫn (1) và biểu mô thận (2) trong cặn nước
tiểu (40X)
33
11 Tinh thể monohydrate trong cặn nước tiểu (40X) 37
12 Tinh thể canxi oxalat trong cặn nước tiểu (40X) 37
13 Tinh thể bilirubin trong cặn nước tiểu (40X) 37
Trang 9vii
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát một số chỉ tiêu sinh lí - sinh hóa nước tiểu và những thay đổi cặn nước
tiểu trên chó rối loạn hệ tiết niệu tại Bệnh Xá Thú Y, Đại Học Cần Thơ” được thực hiện từ tháng 2 năm 2009 đến tháng 4 năm 2009 tại Bệnh Xá Thú Y, Đại Học Cần Thơ
Trong tổng số 382 chó đến khám và điều trị tại Bệnh Xá, có 32 chó biểu hiện rối loạn ở hệ tiết niệu, thu được 25 mẫu nước tiểu để tiến hành xét nghiệm các chỉ tiêu sinh lí - sinh hóa
và quan sát cặn nước tiểu
Chó có bệnh lý trên hệ tiết niệu chiếm tỷ lệ 8,38% Bệnh lý ở hệ tiết niệu khác nhau rất có ý nghĩa thống kê về độ tuổi, giống và không phụ thuộc nhiều vào giới tính Các biểu hiện lâm sàng: biểu hiện lâm sàng khác (37,50%), tiểu máu (18,74%), tiểu nhiều và bí tiểu (15,63%), thấp nhất là tiểu mủ (12,50%)
Chó bị rối loạn hệ niệu dẫn đến thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý - sinh hóa của nước tiểu như sau: tỷ trọng cao (40,00%); tỷ trọng thấp (12,00%); pH tăng chiếm 24,00%; bạch cầu (76,00%); protein xuất hiện với tỷ lệ rất cao (88,00%)
Rối loạn hệ niệu dẫn đến xuất hiện một số thành phần bất thường trong cặn nước tiểu như: bạch cầu (76,00%), biểu mô hình tròn (56,00%), biểu mô vẩy cá (40,63%), hồng cầu (40,00%), biểu mô quả lê (24,00%), biểu mô đa giác (8,00%); trụ hạt (44,00%), trụ sáp và trụ mỡ tương đương nhau (12,00%); tinh thể amonium magie phosphat (26,00%), canxi oxalat (24,00%), bilirubin (16,00%)
Trang 10Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh ở hệ tiết niệu trên chó khó phát hiện hơn ở người, vì gia súc không biết nói nên những triệu chứng lâm sàng như đau vùng thận, bàng quang, rối loạn động thái
đi tiểu,…thường bị bỏ qua Để chẩn đoán được chó bị rối loạn hệ tiết niệu thì khám lâm sàng là khâu quan trọng Nhưng xét nghiệm nước tiểu là một khâu có tính chất quyết định, vì những bệnh lý của đường tiết niệu bao giờ cũng phản ánh trong nước tiểu Thông qua kết quả xét nghiệm nước tiểu không những giúp ta biết được tình trạng của hệ tiết niệu mà còn giúp cho việc đánh giá trạng thái chung của cơ thể, cũng như giúp cho chẩn đoán một cách tương đối chính xác các bệnh về thận, gan,
về tuyến nội tiết, về thai nghén và nhiễm khuẩn,… (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001) Đặc biệt là triệu chứng của các bệnh ở hệ tiết niệu trên chó thường không đặc thù, nhưng với việc phân tích kỹ các dữ kiện lấy từ bệnh sử, khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm cần thiết sẽ giúp ta có sự chẩn đoán chính xác Được sự đồng ý của Bộ Môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng,
Trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi tiến hành đề tài “KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÍ - SINH HÓA NƯỚC TIỂU VÀ NHỮNG THAY ĐỔI CẶN NƯỚC TIỂU TRÊN CHÓ RỐI LOẠN HỆ TIẾT NIỆU TẠI BỆNH XÁ THÚ
Y, ĐẠI HỌC CẦN THƠ”
Mục tiêu đề tài
- Xác định tình hình chó bị rối loạn hệ tiết niệu được đem đến khám và điều trị tại Bệnh Xá Thú Y, Trường Đại Học Cần Thơ
- Theo dõi sự thay đổi của các chỉ tiêu sinh lí - sinh hóa nước tiểu trên chó rối loạn
hệ tiết niệu như đo pH, tỷ trọng, protein, hồng cầu, bạch cầu
- Xác định những hình ảnh bất thường trong cặn nước tiểu của chó bị rối loạn hệ tiết niệu
Trang 11Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 CẤU TẠO VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ TIẾT NIỆU TRÊN CHÓ
Hệ bài tiết nước tiểu của chó gồm có: hai quả thận có chức năng sinh lý chủ yếu là sản sinh nước tiểu, hai niệu quản để dẫn nước tiểu xuống bàng quang (bóng đái) và cuối cùng là niệu đạo (ống thoát tiểu) Ngoài ra còn có các động mạch, các tĩnh mạch và các dây thần kinh để chi phối hoạt động của hệ bài tiết (Nguyễn Quang Mai, 2004)
2.1.1 Cấu tạo và chức năng của thận
Thận chó tương đối lớn, trung bình 50 - 60 g Hình hạt đậu, mặt ngoài trơn nhẵn, dầy theo chiều trên dưới (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007) Hai quả thận nằm ở phía sau màng bụng và trước cột sống lưng, phía sau của thận là cơ hoành, phía trước của thận là phúc mạc (Đỗ Đình Hồ, 2008) Thận phải có vị trí không thay đổi nhiều, thường nằm dưới 3 đốt sống hông đầu tiên hay có thể xa về phía trước đến đốt sống ngực cuối cùng Một nửa trước của thận phải nằm trên vết lõm thận của thùy bên của gan Thận trái vị trí thay đổi nhiều vì thận dính rời rạc bằng màng bụng và bị ảnh hưởng bởi độ căng của dạ dày Khi dạ dày rỗng, thận trái tương ứng với thân các đốt sống hông 2, 3, 4 Khi dạ dày đầy, thận trái thường cách xa về phía sau chừng một đốt sống, nên cực trước của nó có thể đối diện với cực sau của thận phải Cạnh ngoài của thận trái thường tiếp xúc với hông và từ đó ta có thể sờ biết rõ ràng
ở thú sống khoảng giữa đường nối từ sườn cuối và góc hông xương cánh chậu Nhưng một ít trường hợp lá lách nằm che dọc giữa thận và hông (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
2.1.1.1 Cấu trúc đại thể
Nếu bổ dọc quả thận ta sẽ thấy các phần sau đây: ngoài cùng là màng bao thận có
mỡ bám; kế đến là miền vỏ màu đỏ sẫm do có nhiều mạch máu, lấm tấm những hạt,
đó là các cầu thận; phần trong là miền tủy có màu nhạt hơn, có dạng tia, là những tháp thận hay tháp Malpighi, đỉnh tháp quay vào phía trong bể thận Mỗi thận có từ
6 - 12 tháp thận, đó là hệ thống các ống thận (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007) Phần ở chính giữa là một xoang rỗng gọi là bể thận gồm có các mô mỡ, các mạch máu và các dây thần kinh để chi phối hoạt động của thận (Nguyễn Quang Mai, 2004)
Trang 122.1.1.2 Cấu trúc vi thể
Thận được cấu tạo bởi nhiều đơn vị thận gọi là nephron Mỗi thận có khoảng 1 triệu nephron Mỗi nephron đều có khả năng thành lập nước tiểu Do đó, để hiểu rõ hoạt động thành lập nước tiểu của thận, chỉ cần khảo sát hoạt động của một nephron
Hình 2 Cấu tạo vi thể của thận
Nguồn: http://www.bbc.co.uk/scotland/education/bitesize/standard/img/biology
Quai Henle
Nang Bowman Cầu thận
Tĩnh mạch thận Động mạch thận
Trang 13Nephron được cấu tạo chủ yếu gồm hai phần: cầu thận là nơi lọc máu, ống thận là nơi dịch lọc được biến đổi thành nước tiểu (Phạm Hoàng Phiệt, 2004)
Cầu thận: nằm ở lớp vỏ của thận gồm có quản cầu Malpighi và nang Bowman
Quản cầu Malpighi gồm có rất nhiều mao mạch (khoảng 50 mao mạch) xếp song song thành một khối hình cầu và nằm gọn trong nang Bowman, nang này thông với ống lượn gần Ngăn cách giữa nang này và các mao mạch là một màng lọc rất mỏng
để lọc các chất từ các mao mạch sang nang Bowman Thành của nang Bowman là một lớp tế bào biểu mô có các lỗ rất nhỏ, (Nguyễn Quang Mai, 2004) Cấu trúc của cầu thận rất thích hợp cho nhiệm vụ lọc: cuộn mao mạch có diện tích tiếp xúc lớn, chịu được áp lực cao, lỗ lọc có đường kính 30 - 40 Ao, giữ lại được tế bào và các phân tử lớn của máu Hầu hết máu vào thận qua mao mạch cầu thận và sau đó qua ống thận bằng lưới mao mạch thứ hai Tế bào cầu thận nghèo ty lạp thể nên quá trình chuyển hóa và tạo năng lượng ở đây không lớn Do vậy khả năng tái sinh rất kém nhưng có thể phì đại để bù đắp chức năng Khi tổn thương trong phạm vi rộng
dễ đưa đến suy thận mãn tính (Nguyễn Ngọc Lanh, 2002)
Ống thận: cấu trúc này gồm có ống lượn gần, quai Hénle, ống lượn xa và ống góp
- Ống lượn gần: nối tiếp cầu thận và nằm ở vỏ thận, thành ống cấu tạo bởi một lớp
tế bào biểu mô xếp liên tiếp nhau, bờ hướng về lòng ống có cấu tạo giống như bàn chải gồm nhiều nhung mao, trong tế bào gồm nhiều ty lạp thể, phần uốn cong của ống lượn gần đổ vào phần thẳng và tạo nên phần đầu của quai Hénle (Đỗ Đình Hồ, 2008)
- Quai Hénle: cấu tạo hình chữ U (đi sâu vào vùng tủy và uốn cung trở lại vùng vỏ thận) (Đỗ Đình Hồ, 2008) nên dịch chảy trong hai nhánh lên và xuống ngược chiều với nhau (Nguyễn Quang Mai, 2004), gồm có 2 phần: phần dày của quai Hénle và phần mỏng của quai Hénle Đoạn xuống và đoạn lên của phần mỏng của quai Hénle,
tế bào biểu mô thấp, không có bờ bàn chải chứa rất ít ty lạp thể (Đỗ Đình Hồ, 2008)
- Ống lượn xa: nằm ở vùng vỏ thận, có hình uốn khúc, tế bào biểu mô thấp, có ít vi nhung mao, chứa nhiều ty lạp thể
- Ống góp: qua vỏ thận đâm sâu vào vùng tủy, rồi đến tháp thận, sau đó đổ nước tiểu vào bể thận, các tế bào biểu mô của ống góp có dạng khối, bờ bằng phẳng và chứa ít
ty lạp thể (Đỗ Đình Hồ, 2008)
Tế bào ống thận có nhiều ty lạp thể là nơi tiêu thụ rất nhiều oxy và chất dinh dưỡng
để sản xuất mạnh mẽ năng lượng hóa học (ATP) Do vậy thiếu oxy là nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến tổn thương và hoại tử tế bào ống thận Tuy nhiên, khác tế
Trang 14bào cầu thận, sức tái sinh bù của tế bào ống thận rất lớn, rất phù hợp với đời sống ngắn của loại tế bào này (Nguyễn Ngọc Lanh, 2002)
2.1.1.3 Mạch máu và thần kinh
Động mạch thận đi vào rốn thận sau đó chia thành động mạch gian thùy Tĩnh mạch
đi ra khỏi thận là tĩnh mạch thận Thần kinh đến thận là thần kinh phế vị (X) có nhánh giao cảm đi kèm Ở rốn thận nó tạo thành đám rối thần kinh, sau đó theo động mạch vào thận (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
2.1.1.4 Chức năng của thận
Thận là cơ quan rất quan trọng của cơ thể, là một trong các cơ quan được ưu tiên tưới máu Thận nhận 25% máu của cung lượng tim, máu này được cung cấp từ động mạch thận đi từ động mạch chủ Chỉ có khoảng 10% lượng máu tới thận được dùng
để nuôi thận, khoảng 90% lượng máu còn lại dùng cho việc tạo thành nước tiểu (Đỗ Đình Hồ, 2008) Thận giữ vai trò thiết yếu và sống còn của cơ thể Trong đó có 3 vai trò chính: thận cô đặc nước tiểu để thải ra một lượng lớn các chất cặn bã của cơ thể; duy trì sự hằng định nội môi: điều hòa lượng nước và nồng độ các chất điện giải trong huyết tương; chức năng nội tiết: tiết Renin có vai trò duy trì ổn định huyết áp, tiết Erythropoietin (Phạm Hoàng Phiệt, 2004) là hormone do nhu mô thận sản xuất,
có tác dụng làm tăng sản sinh hồng cầu, nếu thận bị thiếu máu sẽ sản sinh nhiều Erythropoietin (V Fattorusso, O Ritter, 2004)
2.1.2 Ống dẫn nước tiểu
Ống dẫn nước tiểu (niệu quản) xuất phát từ bể thận chạy dọc 2 bên cột sống xuống bàng quang, dài khoảng 25 cm Đường kính của ống thay đổi tùy theo từng đoạn của niệu quản (trên thì rộng, dưới thì hẹp) Cấu tạo của niệu quản gồm có 3 lớp như sau: lớp vỏ gồm có rất nhiều mạch máu và một số tế bào hạch để chi phối sự hoạt động
tự động của niệu quản; Lớp cơ trơn gồm có 3 lớp (2 lớp ở dọc cơ ngoài và ở trong là lớp cơ vòng xoắn); Lớp niêm mạc ở trong cùng
Động mạch đến rất phong phú và có nhiều nhánh xuất phát từ các động mạch như: động mạch thận, động mạch chậu và động mạch treo tràng dưới
Thần kinh để chi phối: ngoài các tế bào hạch ở lớp vỏ, niệu quản còn chịu sự chi phối của các nhánh thần kinh đi từ thận và bàng quang (Nguyễn Quang Mai, 2004)
2.1.3 Bàng quang
Bàng quang là một túi để chứa đựng nước tiểu có dung tích khoảng 250 - 300 ml Nằm trước cửa xoang chậu, về phía dưới âm đạo, đầu trước có hình manh nang, đầu
Trang 15sau thon lại thành cổ bóng đái và tiếp tục là ống thoát tiểu Ở tại cổ bóng có cơ vòng
co thắt Bóng đái được cố định bởi 3 dây chằng: dây giữa nối bóng đái vào sàn xoang bụng và xoang chậu, 2 dây bên nối bóng đái với thành xoang chậu (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
Bàng quang được cấu tạo bởi lớp biểu mô chuyển tiếp, có 3 lớp như sau: lớp ngoài cùng là lớp mô liên kết; lớp giữa là lớp cơ gồm có (cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở giữa
và cơ chéo là ở trong); lớp trong cùng là lớp niêm mạc
Động mạch cung cấp máu là các động mạch rốn và động mạch của bàng quang Thần kinh chi phối là các nhánh của thần kinh đã tách ra từ đám rối của hạ vị và các nhánh giao cảm và phó giao cảm Trung tâm chi phối hoạt động của bàng quang nằm ở hành tủy (Nguyễn Quang Mai, 2004)
2.1.4 Niệu đạo (ống thoát tiểu)
Ở con cái, ống thoát tiểu bắt đầu từ cổ bóng đái và đổ vào phía sau âm đạo ở lỗ thoát tiểu (nằm ở chỗ tiếp nối giữa âm đạo và tiền đình)
Ở con đực, đường thoát tiểu gồm hai phần: phần nằm trong xoang chậu thì nằm trên xương háng và xương ngồi, phía dưới trực tràng, đoạn này bắt đầu từ cổ bàng quang đến vòng cung ngồi, phần nằm ngoài xương chậu chính là dương vật (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007) Cấu tạo của niệu đạo từ ngoài vào trong gồm có các lớp sau đây: lớp
cơ (cơ dọc ở trong và cơ vòng ở ngoài), lớp niêm mạc gồm có nhiều hốc, nhiều lỗ tuyến tiết ra dịch nhờn và lớp nếp dọc
Động mạch để cung cấp máu cho niệu đạo đi từ các động mạch của bàng quang, động mạch của trực tràng và động mạch của tiền liệt (ở con đực), động mạch âm đạo (ở con cái) (Nguyễn Quang Mai, 2004)
Hình 3 Đường niệu dưới và cơ quan sinh dục chó đực
Niệu quản Bàng quang
Bao quy đầu
Khớp hàn háng Ống dẫn tinh
Trang 162.2 SỰ THÀNH LẬP NƯỚC TIỂU
Quá trình thành lập nước tiểu có thể chia làm hai giai đoạn là giai đoạn lọc tại cầu thận và giai đoạn tái hấp thu và bài tiết ở ống thận (Phạm Hoàng Phiệt, 2004)
2.2.1 Giai đoạn lọc ở cầu thận
Thận nhận 25% lưu lượng máu từ tim và thể tích dịch lọc trung bình trong 24 giờ là
từ 160 - 180 lít Huyết tương được lọc khoảng 60 lần trong một ngày Khả năng lọc này cho phép đào thải một lượng lớn chất cặn bã nhưng đòi hỏi phải có tái hấp thu ở phía dưới do các ống thận đảm nhiệm Việc kết hợp khả năng lọc rất lớn của cầu thận với quá trình tái hấp thu có hiệu quả ở ống thận khiến cho cơ thể đảm bảo được một cách chính xác sự hằng định nội môi (V Fattorusso và O Ritter, 2004)
Thành phần của dịch lọc: dịch lọc còn gọi là nước tiểu đầu (nước tiểu loại 1) Phần lớn các chất có trong huyết tương và trong nước tiểu đầu có hàm lượng gần như tương đương với nhau (trừ protein là không có ở trong nước tiểu đầu) Điều này chứng tỏ protein không được lọc qua vì kích thước phân tử của chúng quá lớn
Bảng 1 Thành phần các chất trong huyết tương và trong nước tiểu đầu
(Nguyễn Quang Mai, 2004)
2.2.2 Giai đoạn tái hấp thu và bài tiết các chất ở ống thận
Ống thận có chức năng tái hấp thu và bài tiết các chất Sự tái hấp thu và bài tiết các chất tùy theo nhu cầu của cơ thể Thông thường các chất trong quá trình chuyển hóa
STT Thành phần Huyết tương (‰) Nước tiểu đầu (‰)
Trang 17sinh ra được năng lượng cho cơ thể (glucid, lipid, protid) thì được cơ thể tái hấp thu
vô điều kiện, tái hấp thu hoàn toàn Các loại muối khoáng, nước, vitamin được tái hấp thu tùy theo nhu cầu của cơ thể Một lượng dư thừa của các chất này sẽ được bài tiết, nếu quá trình bài tiết không được thực hiện sẽ gây ra bệnh lý Sau khi được tái hấp thu ở ống thận, các chất glucid, lipid, protid sẽ được chuyển hóa bên trong tế bào, trong quá trình chuyển hóa, các sản phẩm độc được sinh ra (thí dụ: H+, NH3 sẽ đào thải ra ngoài bằng đường tiểu) (Đỗ Đình Hồ, 2008)
2.2.2.1 Quá trình tái hấp thu
(1) Sự tái hấp thu các chất ở ống lượn gần
- Sự tái hấp thu ion Na+: khoảng 90% ion Na+ đã được tái hấp thu ở ống lượn gần (Nguyễn Quang Mai, 2004) Sự tái hấp thu Na+ xảy ra qua hai bước: Na+ khuếch tán thụ động từ lòng ống thận vào tế bào ống thận theo khuynh độ điện hóa (vì [Na+] trong tế bào thấp và điện thế âm hơn so với trong lòng ống) Sau đó Na+ được vận chuyển chủ động từ trong tế bào ống thận ra dịch quanh ống thận rồi khuếch tán vào máu Sự tái hấp thu Na+ sẽ kéo theo nước do hiện tượng thẩm thấu Như vậy sự tái hấp thu dịch ở ống lượn gần là đẳng trương (Phạm Hoàng Phiệt, 2004)
- Tái hấp thu K+: K+ được lọc tự do qua cầu thận, sau đó khoảng 65% được tái hấp thu ở ống lượn gần (Phạm Hoàng Phiệt, 2004)
- Sự tái hấp thu HCO3-: được tái hấp thu một cách gián tiếp thông qua khí CO2 theo phản ứng
HCO-3 + H+ H2CO3 CO2 + H2O
Ở lòng của ống lượn gần, phản ứng xảy ra theo chiều thuận, khí CO2 được tạo thành
sẽ thấm qua màng vào dịch nội bào (bào tương) Ở các tế bào thành ống phản ứng sẽ được xảy ra theo chiều nghịch, HCO-3 được tạo thành sẽ được thấm ra dịch ngoại bào
- Sự tái hấp thu đường glucozo: đường glucozo đã được tái hấp thu gần như hoàn
toàn ở ống lượn gần thông qua cơ chế vận tải tích cực
- Sự tái hấp thu protein: protein đã được tái hấp thu ngay ở đoạn đầu của ống lượn
gần
- Sự tái hấp thu acid amin: mỗi loại acid amin đã được gắn với các chất mang đặc
hiệu trên màng Sau khi đã tách ra khỏi các chất mang, thì sẽ được khuếch tán vào dịch ngoại bào
- Sự tái hấp thu các chất khác: vitamin, aceto - acetate cũng sẽ được tái hấp thu hoàn
toàn ở ống lượn gần
Trang 18- Sự tái hấp thu nước: khoảng 90% nước được tái hấp thu hoàn toàn ở ống lượn gần
do ba yếu tố sau: vì dịch thể và các chất có kích thước nhỏ đã được thấm vào dịch lọc, còn các phân tử protein thì lại được giữ lại trong máu, nên đã làm tăng nồng độ của protein, tức đã làm tăng áp suất thẩm thấu thể keo, nên có xu hướng kéo nước quay trở lại; vì sự tái hấp thu ion Na+; vì các tế bào biểu mô của ống lượn gần có tính thấm nước cao hơn các đoạn khác (Nguyễn Quang Mai, 2004)
(2) Sự tái hấp thu các chất tại quai Henle
Tại đoạn xuống của quai Hénle có tính thấm cao đối với nước nên nước được tái hấp thu thụ động, còn ion Na+ thì hoàn toàn bị giữ lại trong dịch của lòng ống Tại đoạn lên Cl- hấp thu thụ động kéo theo Na+ một cách thụ động nhưng nước không được tái hấp thu (Phạm Hoàng Phiệt, 2004) Sự tái hấp thu của hai nhánh lên và xuống hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng lại có sự hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau Nước được tăng tái hấp thu ở nhánh xuống sẽ có tác dụng thúc đẩy sự tăng tái hấp thu ion
Na+ ở nhánh lên và ngược lại Đó là quy luật tăng nồng độ ngược dòng (Nguyễn Quang Mai, 2004)
(3) Sự tái hấp thu các chất ở ống lượn xa
Phần đầu của ống lượn xa quá trình tái hấp thu các chất cơ bản giống với quá trình tái hấp thu ở nhánh lên của quai Henle Khác với ống lượn gần là ion Cl- được ra theo ion Na+ do quá trình vận tải tích cực Vì vậy đã kéo theo các ion khác như ion
K+, Ca++ và Mg++…Các ion được tái hấp thu nhiều nên làm cho dịch lọc loãng ra (Nguyễn Quang Mai, 2004) Phần sau của ống lượn xa nước và Na+ được tái hấp thu theo yêu cầu của cơ thể qua cơ chế tăng nồng độ ngược dòng của quai Henle và dưới tác dụng của hormon ADH của thùy sau tuyến yên làm tăng tái hấp thu nước, hormon Aldosterone được tiết ra từ lớp vỏ của tuyến trên thận làm tăng tái hấp thu chủ động Na+ (Phạm Hoàng Phiệt, 2004)
(4) Sự tái hấp thu các chất tại ống góp
Chủ yếu là sự tái hấp thu nước và ure Sự tái hấp thu nước có sự tham gia tích cực của hormone vasopressin Nhờ có sự hấp thu nước mà nồng độ của ure trong dịch đã được tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho ure thấm qua thành dịch vào dịch ngoại bào Ống góp cũng có sự tái hấp thu thêm các ion Na+, K+ và Ca++ Tại đây nước tiểu chính thức được hình thành và đổ vào bể thận, rồi theo ống dẫn nước tiểu xuống bàng quang và đạt đến một thể tích nhất định thì sẽ được thải ra ngoài một cách phản xạ (đi tiểu) (Nguyễn Quang Mai, 2004)
Trang 192.2.2.2 Quá trình bài tiết
Tại ống lượn gần và ống lượn xa H+ được tế bào thận bài tiết, nếu pH giảm đến 4,5 thì nó sẽ ức chế quá trình vận chuyển H+, nhờ có cơ chế đệm trong lòng ống nên pH dịch lọc không giảm nhiều như vậy Ở ống lượn gần có hệ đệm bicarbonate và NH3,
ở ống lượn xa có hệ đệm Na2PO4 và NH3, ở ống góp H+ được bài tiết chủ động nhờ bơm H+ ATPase Ở ống lượn xa cùng với H+ là K+ và NH3 được tiết vào dịch lọc
NH3 ở dạng Glutamin trong máu, khi vào tế bào biểu mô ống thận nhờ men Glutamiase phân ly thành và acid Glutamic Acid Glutamic được tái hấp thu còn NH3 khuếch tán vào lòng ống lượn xa (Phạm Hoàng Phiệt, 2004) NH3 kết hợp với
H+ để tạo thành NH4 rồi được thải ra ngoài qua nước tiểu (Nguyễn Quang Mai, 2004)
2.3 TÍNH CHẤT CHUNG CỦA NƯỚC TIỂU
Nước tiểu chó trong một ngày đêm 0,25 - 1 lít, vàng tươi, để lâu lắng cặn nhưng ít (Hồ Văn Nam, 1982)
2.3.1 Số lượng
Lượng nước tiểu của gia súc khỏe thay đổi tùy theo chế độ ăn uống và loại thức ăn (uống nhiều nước thì đái nhiều), tùy theo điều kiện khí hậu (mùa đông đái nhiều, mùa hè ra mồ hôi nhiều thì đái ít), chế độ làm việc, kích thước và trọng lượng cơ thể (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001) Thể tích nước tiểu có mối liên quan ngược với tỷ trọng, thể tích nước tiểu cao thì tỷ trọng thấp, thể tích nước tiểu thấp thì tỷ trọng cao (Maxine M Benjamin, 1978)
2.3.2 Màu sắc
Đựng nước tiểu vào cốc thủy tinh, đằng sau che một tờ giấy trắng để quan sát (Hồ Văn Nam, 1982) Màu là tùy thuộc vào hàm lượng các sắc tố đã có ở trong nước tiểu Sắc tố có trong các loại thức ăn đã ảnh hưởng đến các sắc tố trong nước tiểu Màu vàng của nước tiểu do sắc tố urobilinogen khi được thải ra ngoài đã gặp khí oxy bị oxy hóa thành urobilin làm cho nước tiểu sẫm màu (Nguyễn Quang Mai, 2004)
Nước tiểu trong vắt khi uống nhiều nước, tiểu nhiều; vàng sẫm khi uống ít nước, tiểu ít, ra mồ hôi nhiều; nồng độ nước tiểu càng cao thì màu càng sẫm (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
2.3.3 Độ trong
Cho nước tiểu vào bình thủy tinh trong suốt, sạch sẽ để quan sát Chú ý, xem nước tiểu đục ngay từ khi chảy trong niệu đạo ra hay do để lâu Nước tiểu của chó trong
Trang 20suốt, không có kết tủa, nếu nước tiểu đục có kết tủa là do có bệnh Nước tiểu đục là
do có nhiều niêm dịch, bạch cầu, hồng cầu, các tế bào thượng bì hay các mảnh tổ chức bàng quang (Hồ Văn Nam, 1982)
2.3.4 Mùi
Bình thường nước tiểu có mùi khai nhẹ Nếu bị viêm bàng quang, liệt bàng quang, tắc niệu đạo nước tiểu lên men, mùi nồng amoniac Viêm hoại thư bàng quang, ung thư bàng quang tổ chức bị phá hoại, phân giải nước tiểu có mùi thối (Hồ Văn Nam, 1982)
2.3.5 Thành phần của nước tiểu
Nước tiểu gồm các thành phần chủ yếu là: nước chiếm khoảng 93 - 95%; vật chất khô khoảng 5% trong đó các sản phẩm có chứa N do quá trình phân giải protein đã tạo nên như ure là 80%, acid uric, ammoniac, creatinin,…các acid hữu cơ như acid lactic, acid béo, các enzyme, các vitamin, các hormone (FSH, LH, Tertosteron, estrogen, HCG,…) và các loại sắc tố, các chất vô cơ như các loại muối NaCl,
NaHCO3 và các muối sunfat (Nguyễn Quang Mai, 2004)
Bảng 2 So sánh các thành phần của huyết tương và nước tiểu đầu
(Nguyễn Quang Mai, 2004)
STT Thành phần Hàm lượng trong huyết
tương (%)
Hàm lượng trong nước tiểu (%)
Số lần hơn
Trang 21là triệu chứng điển hình của bệnh tiểu đường không được điều trị hay điều trị chưa tốt, có đường huyết cao và đường niệu cao), đái tháo nhạt (do thiếu hormone chống bài niệu - ADH Cũng gặp trong bệnh đái tháo nhạt do thận, các tế bào ống thận không đáp ứng với hormone chống bài niệu, thể này có bẩm sinh hoặc mắc phải) (V Fattorusso, O Ritter, 2004) Gia súc bị đa niệu, nước tiểu màu nhạt, tỷ trọng thấp và trong (trừ bệnh đái đường) (Hồ Văn Nam, 1982)
2.4.3 Vô niệu
Vô niệu là mức độ nặng nhất của thiểu niệu Là khi hoàn toàn không có nước tiểu tiết xuống bàng quang (Triệu Vũ An, 2002) Do thận không bài tiết được nước tiểu cho nên không có nước tiểu ở bàng quang: do tổn thương cơ quan bài tiết nước tiểu như viêm ống thận cấp tính, viêm cầu thận cấp tính, viêm thận kẽ cấp tính, suy thận cấp tính; do tắc từ đài bể thận trở xuống như sỏi bể thận, sỏi niệu quản, tắc do dị vật hoặc do các khối u vùng tiểu khung chèn ép vào niệu quản (Nguyễn Bửu Triều, 1998) Có thể vô niệu do bàng quang bị vỡ thì nước tiểu tích đầy trong xoang bụng, gia súc rất đau đớn (Hồ Văn Nam, 1982)
2.4.4 Bí tiểu
Là hiện tượng có nước tiểu ở bàng quang nhưng gia súc không thể nào đái ra được Không đái được sau nhiều giờ mặc dầu đã gắng sức, cảm giác đau tức dữ dội vùng bụng, con vật không thể chịu được, vật vã, rên rĩ Hình cầu bàng quang co cứng nổi hằn lên rõ rệt trên thành bụng Do các bệnh về thần kinh, bí đái sau chấn thương có
vỡ xương chậu, bí đái sau mỗ, các bệnh ở bàng quang như sỏi bàng quang, các khối
u, xơ cứng cổ bàng quang hoặc viêm nhiễm lâu ngày, sỏi niệu đạo, viêm tuyến tiền
Trang 22liệt, chấn thương niệu đạo, ở con cái do khối u vùng tiểu khung chèn ép bàng quang như u tử cung, u buồng trứng, do có thai (Nguyễn Bửu Triều, 1998)
2.4.5 Tiểu đau
Là tình trạng nước tiểu ra chậm, tia nước tiểu yếu (V Fattorusso, O Ritter, 2004), gia súc đau đớn, rên rĩ, đầu quay nhìn bụng, đuôi cong, chân cào đất,…Do viêm bàng quang, viêm niệu đạo, viêm tiền liệt tuyến hay tắc niệu đạo (Hồ Văn Nam, 1982)
2.4.6 Tiểu không kiểm soát
Đi tiểu không cầm được là lúc gia súc đi tiểu thiếu động tác chuẩn bị, không chủ động được, nước tiểu tự chảy dò liên tục (Hồ Văn Nam, 1982) Do bệnh ở thần kinh, tủy sống (như bị liệt hai chi dưới), do tràn ngập nước tiểu quá nhiều, bàng quang giãn quá căng, sỏi bàng quang quá to, cơ vòng bàng quang bị liệt (Nguyễn Bửu Triều, 1998) Đi tiểu không cầm được còn thấy lúc gia súc hôn mê hoặc nằm lâu ngày (Hồ Văn Nam, 1982)
2.4.7 Tiểu có mủ
Là triệu chứng thường gặp và có giá trị giúp cho việc chẩn đoán các bệnh về tiết niệu - sinh dục Đái ra mủ thường dễ nhận thấy nếu như có kèm theo các triệu chứng viêm bàng quang, đái rắt hoặc các cơn đau Phải quan sát nước tiểu qua những bình đựng trong suốt để đánh giá chính xac màu sắc của nước tiểu Cần phân biệt mức độ
- Nước tiểu trong nhưng có lẫn một vài sợi vẩn
- Nước tiểu đục vừa: màu vẫn trong nhưng mất đi độ sáng
- Nước tiểu đục
- Nước tiểu hòa lẫn mủ đặc sánh
- Nước tiểu có mủ thối
Trên vi thể đái ra mủ được xác định bằng sự hiện diện của tế bào bạch cầu trong nước tiểu Tất cả các vị trí của bộ máy tiết niệu - sinh dục đều có thể bị tổn thương
và gây đái ra mủ như viêm niệu đạo, viêm bàng quang, viêm mủ thận hoặc ứ mủ thận (Nguyễn Bửu Triều, 1998)
2.4.8 Tiểu máu
Cần phân biệt với những hiện tượng chảy máu ở các đường lân cận khác lẫn vào nước tiểu như máu trong giai đoạn lên giống ở chó cái (Nguyễn Bửu Triều, 1998) Trong nước tiểu có máu, nước tiểu có màu hồng cho đến đỏ sẫm Máu trong nước
Trang 23tiểu có thể từ bất kỳ nơi nào trong bộ máy tiết niệu, từ cầu thận cho tới niệu đạo Đái
ra máu có prtotein niệu và trụ hồng cầu cho thấy có bệnh ở thận nhất là viêm cầu thận Đái ra máu không có protein niệu và trụ hồng cầu cho thấy máu từ các ống dẫn nước tiểu từ trong tiểu khung tới niệu đạo (sỏi thận, lao, khối u, chấn thương, viêm tuyến tiền liệt, viêm bàng quang) Đái ra máu lúc bắt đầu tiểu là máu từ tuyến tiền liệt, đái ra máu lúc tiểu gần xong là máu từ bàng quang, một màu máu đồng nhất là đái ra máu nặng, nhất là khi bị khối u bàng quang, u thận, sỏi và lao (V Fattorusso,
O Ritter, 2004)
2.5 MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ SINH HÓA NƯỚC TIỂU
2.5.1 Tỷ trọng
Tỷ trọng nước tiểu của chó dao động trong khoảng 1,013 - 1,025 (Osborne 1999)
Tỷ trọng phụ thuộc vào lượng chất rắn hòa tan (Nguyễn Ngọc Lanh, 2002) Tỷ trọng phản ánh áp lực thẩm thấu của nước tiểu (Trương Văn Việt, Phạm Thị Chải, Trần Thị Bích Hương, 2002), phản ánh khả năng cô đặc hay pha loãng của thận (Maxine
M Benjamin, 1978)
Thay đổi sinh lý: tỷ trọng tăng khi gia súc uống ít nước, làm việc nặng, ra mồ hôi nhiều Tỷ trọng giảm khi gia súc uống nhiều nước, ăn thức ăn chứa nhiều nước, uống thuốc lợi niệu (Hồ Văn Nam, 1982)
Thay đổi bệnh lý: tăng cao trong các bệnh sốt cao, tiêu chảy nặng, nôn mửa, tiểu đường, viêm thận cấp tính, suy tim, viêm thận thẩm xuất Giảm nhiều trong bệnh đái tháo nhạt, suy thận (Đỗ Đình Hồ, 2008)
2.5.2 pH
Nước tiểu của chó bình thường là toan (pH 5,5 - 7,5) (Osborne 1999) Nước tiểu mới đái ra phản ứng toan Để một thời gian ở ngoài trời, chuyển thành kiềm do lên men amoniac (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
Nước tiểu gia súc kiềm hay toan do tính chất thức ăn, mức độ làm việc và trạng thái
cơ thể quyết định Nước tiểu loài ăn thịt thường toan tính vì trong thức ăn nhiều protid có S, P, N qua trao đổi chất của cơ thể hình thành H2SO4, H3PO4 và các muối của chúng mang tính chất toan tính Nếu nước tiểu kiềm tính chủ yếu là do nước tiểu lên men sinh ra nhiều amoniac trong các bệnh viêm bàng quang, tắc niệu đạo Trong nước tiểu có lẫn mủ (nhiễm khuẩn đường tiết niệu), có mảnh tế bào thượng bì phân giải thì nước tiểu cũng kiềm tính (Hồ Văn Nam, 1982), do vi khuẩn sinh ra enzyme ureaz phân hủy ure thành amoniac Nước tiểu toan nhiều trong các bệnh có
Trang 24sốt, đái tháo đường nặng, gút, nhiễm toan chuyển hóa (Nguyễn Thế Khánh, Phạm
Tử Dương, 2001)
2.5.3 Protein niệu
Màng lọc cầu thận ngăn chặn phần lớn protein huyết tương, chỉ để lọt qua một lượng nhỏ protein vào nước tiểu ban đầu, nhưng sau đó phần lớn protein này (95%) lại được hấp thu ở ống thận theo cơ chế ẩm bào Vì vậy, nước tiểu chỉ chứa một lượng nhỏ protein rất nhỏ, trong đó protein có nguồn gốc huyết tương chiếm 25% Mức độ protein được lọc qua màng lọc cầu thận tùy thuộc vào kích thước phân tử và nồng độ của protein đó trong máu Ngoài ra tỷ lệ của các protein bài tiết ra nước tiểu còn phụ thuộc vào khả năng tái hấp thu của ống thận Với kỹ thuật thông thường, nước tiểu bình thường chỉ chứa vết protein Vì vậy, coi như nước tiểu bình thường không có protein, nghĩa là protein niệu (-) (Đỗ Đình Hồ, 2008)
Trong trường hợp bệnh lý, có protein trong nước tiểu chủ yếu là albumin và globulin từ huyết tương ra Nếu do chức năng siêu lọc của thận rối loạn gọi là albumin niệu thật hay albumin niệu do thận Nếu do bệnh ở bể thận, ống dẫn, bàng quang và niệu đạo thì gọi là albumin niệu giả hay albumin niệu ngoài thận Nếu albumin niệu có nguồn gốc trong thận và cả ngoài thận gọi là albumin niệu hỗn hợp (Hồ Văn Nam, 1982)
2.5.4 Máu
Trong nước tiểu gia súc khỏe không có hồng cầu và nếu có hồng cầu là trạng thái bệnh Nếu trong nước tiểu có hồng cầu gọi là huyết niệu (Hematuria), có huyết sắc
tố gọi là huyết sắc tố niệu (Hemoglobinuria) (Hồ Văn Nam, 1982)
Hồng cầu xuất hiện trong nước tiểu (huyết niệu) có thể do ở thận hoặc do bể thận, ống dẫn, bàng quang và niệu đạo tổn thương Các bệnh ở thận như lao thận, ung thư thận, sỏi thận, viêm bể thận, viêm bàng quang, sỏi bàng quang, vỡ niệu đạo, loét niệu đạo, viêm niệu đạo đều có thể gây chảy máu dẫn đến huyết niệu Huyết niệu do thận nước tiểu sẫm, cặn có nhiều cục máu, tế bào thượng bì vỡ Nhiều bệnh truyền nhiễm cũng gây xuất huyết ở thận như nhiệt thán, dịch tả heo, dịch tả trâu bò, phó thương hàn bê, nghé… Để phân biệt chảy máu ở bộ phận nào, ngoài hóa nghiệm máu trong nước tiểu cần phải kiểm tra cặn nước tiểu, có thể tìm thấy tế bào thượng
bì của khí quan chảy máu (Hồ Văn Nam, 1982) Tùy theo mức độ bị hủy hoại của hồng cầu có thể chẩn đoán được bộ phận tổn thương, nếu không bị hủy hoại là thương tổn ở bàng quang, nếu bị hủy hoại là thương tổn ở thận (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
Trang 25Huyết sắc tố niệu là do hồng cầu vỡ, huyết sắc tố hòa trong huyết tương và qua thận
ra ngoài theo nước tiểu Hiện tượng này thường thấy trong các bệnh ký sinh trùng đường máu như lê dạng trùng, tiêm mao trùng, trong các chứng ngộ độc, một số bệnh truyền nhiễm cấp tính (Hồ Văn Nam, 1982), sốt rét, truyền nhầm nhóm máu (Đỗ Đình Hồ, 2008)
2.5.5 Bạch cầu
Khi thấy nhiều bạch cầu đang bị hủy hoại, nên nghĩ đến nước tiểu có mủ Tiểu bạch cầu gặp trong nhiễm trùng tiểu, lao hệ niệu, viêm ống thận mô kẽ, viêm đài bể thận, phản ứng thải ghép thận Tiểu bạch cầu thường kết hợp với tiểu đạm hay tiểu máu nhẹ Dấu hiệu trụ bạch cầu gợi ý phản ứng viêm xảy ra ở thận (Trương Văn Việt, Phạm Thị Chải, Trần Thị Bích Hương, 2002)
2.6 MỘT SỐ CHỈ TIÊU TRONG CẶN NƯỚC TIỂU
2.6.1 Tế bào từ hệ tiết niệu - sinh dục
Tế bào biểu mô là những tế bào già cỗi bong ra Không có giá trị chẩn đoán nếu số
lượng ít; nếu có nhiều quá, có thể do viêm âm hộ, niệu đạo, bàng quang hoặc đường dẫn niệu Có thể phân biệt tỉ mỉ được từng loại tế bào của từng bộ phận đó Những
tế bào biểu mô có những chất vùi mỡ óng ánh là đặc hiệu của hội chứng thận hư (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
- Tế bào biểu mô thận: nhỏ, hơi lớn hơn bạch cầu (Maxine M Benjamin, 1978),
hình tròn hay hơi vuông trong có nhiều hạt, có một nhân tròn Đây là loại tế bào nhỏ nhất so với các tế bào biểu mô của cơ quan tiết niệu khác Tế bào biểu mô thân tróc
ra từ thận tiểu quản và có nhiều trong nước tiểu khi bị viêm thận cấp tính (Hồ Văn Nam, 1982)
- Tế bào biểu mô ở bể thận và ống dẫn: to hơn tế bào biểu mô thận, gấp 3 - 4 lần bạch cầu Tế bào hình quả lê hay hình bầu dục, hai đầu tế bào nhọn, trong có nhân tròn hay bầu dục Thấy trong bệnh viêm bể thận (Hồ Văn Nam, 1982)
- Tế bào biểu mô bàng quang: tế bào lớn, có nhiều hình dạng khác nhau hình tròn, hình oval, hình giống như vẩy cá, có kích thước trung gian giữa tế bào âm đạo và các tế bào biểu mô thận, thường có hạt trong kết cấu và chứa một nhân tròn nhỏ (Maxine M Benjamin, 1978) Loại tróc ra từ tầng sâu thì nhỏ hơn Có nhiều tế bào biểu mô bàng quang khi viêm bàng quang (Hồ Văn Nam, 1982)
Trang 26- Tế bào niệu đạo: lớn nhất trong những tế bào xuất hiện ở cặn nước tiểu, có nguồn
gốc ở bề mặt của đường niệu đạo của gia súc cái (Maxine M Benjamin, 1978), hình
đa giác, thường có 1 - 2 nhân tròn (Hồ Văn Nam, 1982)
Một đôi khi có thể thấy tinh trùng trong nước tiểu
2.6.2 Tế bào từ máu
- Hồng cầu: ngay cả khi nước tiểu có màu đỏ hoặc khi xét nghiệm que thử nước tiểu dương tính cũng cần quan sát cặn nước tiểu để xác định sự có mặt của hồng cầu Có trường hợp phát hiện hồng cầu trong nước tiểu mặc dù xét nghiệm que thử âm tính (Trương Văn Việt, Phạm Thị Chải, Trần Thị Bích Hương, 2002) Bình thường trong nước tiểu có rất ít hồng cầu (không hơn 3 hồng cầu trên vi trường) (Đỗ Đình Hồ, 2008) Hồng cầu trong nước tiểu có hình đĩa, màu vàng nhạt, riêng rẽ từng cái hay tập trung từng đám Chú ý rằng trong nước tiểu loãng, kiềm tính hồng cầu phình to
ra và trong nước tiểu đặc, toan tính thì hồng cầu co rúm, nhăn nheo (Hồ Văn Nam, 1982) Hồng cầu nhỏ hơn bạch cầu và không có cấu trúc bên trong nên thường nhầm lẫn với những giọt mỡ và những muối urat vô định hình Nếu xuất huyết ở thận thì trong nước tiểu có thể tìm thấy những cục máu nhỏ, trụ huyết cầu, những tế bào thượng bì thận,…Nếu xuất huyết ở bể thận, bàng quang, niệu đạo thì những cặn bệnh lý trên thường không có (Hồ Văn Nam, 1982) Hồng cầu hình đĩa lõm hai mặt, kích thước đều nhau có khả năng hồng cầu xuất phát từ đài bể thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo; hồng cầu biến dạng, vỡ vụn có nguồn gốc từ thận (Trương Văn Việt, Phạm Thị Chải, Trần Thị Bích Hương, 2002)
- Bạch cầu: giá trị bình thường < 5 bạch cầu trên vi trường (Trương Văn Việt, Phạm
Thị Chải, Trần Thị Bích Hương, 2002) Lớn hơn hồng cầu nhưng nhỏ hơn những tế bào biểu mô Trong nước tiểu bạch cầu thường thay đổi hình dạng Trong nước tiểu toan tính bạch cầu co tròn lại, to hơn hồng cầu nhiều; trong nước tiểu kiềm tính, bạch cầu phình to, vỡ ra, hạt trong nguyên sinh chất mất, hạch không rõ, kết cấu tế bào mơ hồ Trong nước tiểu có nhiều tế bào bạch cầu là do viêm thận, viêm niệu đạo Nếu viêm thận thì có tế bào biểu mô thận (Hồ Văn Nam, 1982)
2.6.3 Các trụ hình
Trụ là các thành phần trong lòng ống thận, bị kết tụ bởi một mucoprotein (V Fattorusso, O Ritter, 2004) Gồm có protein, các tế bào máu và một số tế bào bị thương tổn khi qua các ống thận cô đặc lại và tạo thành Vì hình thù giống hình trụ, nên người ta đặt tên như vậy Sự xuất hiện của protein và các trụ hình chứng tỏ thận
bị thương tổn nghiêm trọng nhưng cũng có trường hợp chứng tỏ tiên lượng bệnh đã khá hơn vì các trụ hình khi trước bịt kín các ống thận nay đã thoát ra làm nước tiểu được thông suốt (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001) Trụ hình trong cặn
Trang 27- Trụ hình trong suốt: không đặc thù, hiện diện trong nước tiểu bình thường nhưng
số lượng tăng lên khi luồng nước tiểu thấp (Robert Berkow, Andrew J Fletcher, 1999) Dưới kính hiển vi, loại này có hình phẳng hay quăn queo, dài ngắn không đều, hình thù không rõ rang, có các đầu tròn Trụ trong do niêm dịch và protein đọng lại trong những ống dẫn tạo thành Thấy trong bệnh viêm thận cấp và mãn tính (Hồ Văn Nam, 1982) Chỉ có giá trị bệnh lý khi xuất hiện nhiều và kết hợp với các trụ hình khác (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
- Trụ hình mỡ: do các hạt mỡ từ máu thoát ra hoặc từ tế bào thoái hóa tạo, cô đặc lại
chứa trong một khuôn protein Gặp trong viêm thận, nhất là thận hư (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001) Dưới kính hiển vi có hình trụ, hơi trong suốt, chứa các hạt mỡ nhỏ (V Fattorusso, O Ritter, 2004)
- Trụ sáp: trụ hơi đặc, kích thước rất lớn, có màu trắng, không ánh, trong suốt, hình
ống cong queo, được hình thành ở các phần xa nhất của nephron còn lại Trong nước tiểu có trụ sáp là triệu chứng viêm thận cấp và mãn tính nặng, tiên lượng không tốt (Hồ Văn Nam, 1982)
- Trụ hình sợi huyết: do sợi huyết trong máu qua ống thận tạo nên, nhìn trụ hình này
thấy nhiều sợi huyết chằng chịt như mắt lưới (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
mỡ và mang tên là trụ hình hạt - mỡ (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
- Trụ hình biểu mô: do tế bào biểu mô ở các ống thu niệu trong thận bị viêm, bong
ra rồi bám vào trụ hình Gặp trong bệnh viêm thận (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
Trang 28- Trụ hình hồng cầu: trụ hồng cầu màu đỏ gạch, chủ yếu do hồng cầu fibrin dính
lại với nhau, hoặc huyết cầu lắng vào trụ trong mà thành Dưới kính hiển vi có khi thấy hình ảnh của những huyết cầu khá rõ (Hồ Văn Nam, 1982) Biểu hiện tình trạng chảy máu trong thận, thận bị thương tổn ở cầu thận (viêm cầu thận) hay ống thận Trụ niệu hồng cầu gần như là đặc trưng của bệnh viêm thận - tiểu cầu tăng sinh (Robert Berkow, Andrew J Fletcher,1999) Còn gặp trong viêm thận cấp tính hoặc đợt tiến triển của viêm thận mạn tính (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương,
2001)
- Trụ hình bạch cầu: chứa các bạch cầu thường bị ngưng kết với các tế bào biểu mô
(V Fattorusso, O Ritter, 2004), thường thấy bạch cầu đang bị hủy hoại ít nhiều, biểu hiện tình trạng viêm nhiễm khuẩn gặp trong viêm bể thận (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
Ngoài ra còn có trụ giả là do niêm dịch, CaCO3, muối urat kết lại thành những ống dài, kết cấu không rõ Loại trụ này do viêm cata ống dẫn nước tiểu
2.6.4 Các tinh thể
Một số chất hữu cơ, vô cơ có thể lắng cặn khi nước tiểu được để lâu hoặc quay ly tâm cùng với các tế bào Tinh thể cho biết liệu có sỏi, có dị tật di truyền hay chuyển hóa không (V Fattorusso, O Ritter, 2004) Tùy theo thay đổi về sinh lý hoặc bệnh
lý, trong nước tiểu có các tinh thể
2.6.4.1 Nước tiểu toan
- Acid uric (C5H4N4O3): tinh thể vàng nhạt, kết tinh thành hình đá mài, hình lá, hình hoa hồng, hình thùng (V Fattorusso, O Ritter, 2004) Lượng acid uric tăng nhiều trong nước tiểu lúc đói, bệnh gây sốt cao (Hồ Văn Nam,1982) Cặn acid uric thường thấy trong các bệnh nặng của thận do phản ứng quá toan của nước tiểu, thận không tạo được nước tiểu trung tính Trong trường hợp nước tiểu mới lấy, cặn lắng càng sớm bao nhiêu thì càng phải nghĩ đến bệnh lý (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
- Canxi oxalat (CaC2O4.3H2O): có trong nước tiểu toan, trung tính hoặc kiềm (Maxine M Benjamin, 1978) Tinh thể không màu, kết tinh hình tám cạnh, hình đồng hồ cát, hình phong bì (những hình vuông nhỏ được cắt ngang bởi 2 đường chéo) (V Fattorusso, O Ritter, 2004) Nước tiểu hơi đục cặn lắng màu trắng (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001) Nếu trong nước tiểu quá nhiều Canxi oxalat là do rối loạn trao đổi chất và thấy trong bệnh viêm thận mãn tính, một số bệnh thần kinh (Hồ Văn Nam, 1982), sạn, sỏi thận, đái tháo đường, xơ gan (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
Trang 29- Muối urat: chủ yếu là Kali và Natri urat, kết tinh thành hạt nhỏ, màu vàng nâu Lượng muối urat trong nước tiểu nhiều lúc có quá trình phân giải protid mạnh (Hồ Văn Nam, 1982) Chỉ có tính chất bệnh lý khi xuất hiện nhiều ngay sau khi đái ra, gặp trong trường hợp sốt cao, suy tim hoặc khi có sỏi urat (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
2.6.4.2 Nước tiểu kiềm
- Amoni magie phosphat (NH4MgPO4H2O): có trong nước tiểu kiềm, trung tính hoặc hơi toan, không màu (Maxine M Benjamin, 1978) Kết tinh thành hình trụ, hình nắp quan tài, hình kéo, hình lá dương xỉ (V Fattorusso, O Ritter, 2004); thấy lúc bể thận và bàng quang bị viêm (Hồ Văn Nam, 1982)
- Canxi carbonat (CaCO3): không màu, thường kết tinh có hình tròn nhỏ, tỏa ra chung quanh hay hình đá mài Nếu trong nước tiểu mới lấy ở loài ăn thịt có Canxi carbonat là triệu chứng bệnh Cho acid acetic thì kết tinh CaCO3 mất và sủi bọt CO2(Hồ Văn Nam, 1982)
2.6.4.3 Không phụ thuộc vào pH nước tiểu
Những cặn vô cơ sau đây chỉ có trong nước tiểu gia súc có bệnh: cystin, tyrosin, leucin, hematin, cholesterol, bilirubin, indigo
Tinh thể cystin, tyrosin, leucin, gặp trong trường hợp suy dinh dưỡng, bệnh gan cấp tính, nôn nhiều vì thai nghén, bệnh scarlatin (Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương, 2001)
- Cystin: kết tinh thành hình lục giác, hình phiến, chiết quang, không màu (V
Fattorusso, O Ritter, 2004); thấy lúc rối loạn trao đổi chất hay chức năng gan rối loạn nghiêm trọng (Hồ Văn Nam, 1982)
- Tyrosin: hình kim mảnh, không màu (V Fattorusso, O Ritter, 2004), kết tinh thành bó hay thành tua; thấy trong một số trường hợp trúng độc hay viêm gan nặng (Hồ Văn Nam, 1982)
- Leucin: kết tinh tròn nhỏ, màu vàng, có các vòng đồng tâm; thấy trong bệnh gan
cấp tính hoặc một số trường hợp trúng độc
- Hematin: kết tinh hình kim, màu nâu, xuất hiện trong trường hợp huyết niệu
- Cholesterol: kết tinh thành hình phiến dài; thấy lúc thận biến tính hay viêm bể thận
- Bilirubin: kết tinh hình kim, màu vàng nâu, do bilirubin ra theo nước tiểu nhiều tụ
lại
Trang 30- Indigo: kết tình kim, màu xanh do indican tạo thành Thấy lúc viêm gan, viêm bàng quang (Hồ Văn Nam, 1982)