Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y VÕ VIỆT MỸ KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG OXYTETRACYCLINE TRON
Trang 1Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
VÕ VIỆT MỸ
KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG OXYTETRACYCLINE TRONG SỮA BÒ TƯƠI TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ TẠI MỘT SỐ HỘ CHĂN NUÔI BÒ SỮA TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ, Tháng 6/2008
Trang 2Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
VÕ VIỆT MỸ
KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG OXYTETRACYCLINE TRONG SỮA BÒ TƯƠI TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ TẠI MỘT SỐ HỘ CHĂN NUÔI BÒ SỮA TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Giáo Viên Hướng Dẫn Ở Cơ Sở Giáo Viên Hướng Dẫn Ở Trường
Cần Thơ, Tháng 6/2008
Trang 3Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: Khảo sát hàm lượng Oxytetracycline trong sữa bò tươi trước và sau điều trị tại một số hộ chăn nuôi bò sữa trên địa bàn TP Hồ Chí Mimh do sinh viên: Võ Việt
Mỹ thực hiện tại : Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc Chi Cục Thú Y
TP Hồ Chí Minh (151 Lý Thường Kiệt, P7, Q11) Từ ngày 10 tháng 03 năm 2008 đến ngày 16 tháng 05 năm 2008
Cần Thơ, ngày tháng năm 2008 Cần Thơ, ngày tháng…năm 2008
Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn
Lưu Hữu Mãnh Lý Thị Liên Khai Nguyễn Lê Kiều Thư
Cần Thơ, ngày tháng năm 2008
Duyệt Khoa Nông nghiệp & SHƯD
Trang 4Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Đã hết lòng dạy bảo, giúp đỡ và hướng dẫn chúng tôi hòan thành đề tài.
ThS Nguyễn Lê Kiều Thư
BSTY Hùynh Hữu Thọ
BSTY Đặng Thị Hoàng Thẩm
Đã tận tình giúp đỡ và chỉ dẫn chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp và hòan thành luận văn này.
Chân thành cảm ơn
Ban giám hiệu trường Đại Học Cần Thơ
Quý thầy cô và ban chủ nhiệm Bộ Môn Thú Y
Đã tận tình truyền đạt kiến thức quý báu, kinh nghiệm thực tiễn cho chúng tôi trong suốt quãng đời sinh viên để làm hành trang vào đời.
Ban lãnh đạo Chi Cục Thú Y TP HCM
Các anh chị Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị
Đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng, em xin nói lời cảm ơn đến Hội Đồng Giám Khảo đã dành thời gian đọc và xem xét đề tài tốt nghiệp này
VÕ VIỆT MỸ
Trang 5Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
TRANG TỰA i
TRANG DUYỆT ii
LỜI CẢM TẠ iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG vi
LỜI CẢM TẠ iii
TÓM LƯỢC viii
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 GIỚI THIỆU KHÁNG SINH 3
2.1.1 Định nghĩa kháng sinh 3
2.1.2 Phân loại kháng sinh 3
2.1.3 Dược động - lực học của các chất kháng sinh 4
2.1.4 Cơ chế tác dụng của kháng sinh 9
2.1.5 Khả năng gây dị ứng và độc tính kháng sinh 9
2.1.6 Mục đích của việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi 10
2.1.7 Bệnh thường xảy ra trên bò sữa và sử dụng kháng sinh để điều trị 13
2.2 CHẤT TỒN DƯ 14
2.2.1 Khái niệm 14
2.2.2 Nguy hiểm của việc sử dụng kháng sinh không đúng quy định của nhà sản xuất 14
2.2.3 Tình hình sản xuất, nhập khẩu và phân phối kháng sinh ở Việt Nam 16
2.2.4 Ảnh hưởng của việc tồn dư kháng sinh với sức khỏe cộng đồng 16
2.2.5 Các nguyên nhân tồn dư kháng sinh trong thực phẩm 18
2.2.6 Thời gian ngưng sử dụng kháng sinh trước khi khai thác sữa 19
Trang 6Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.2.7 Giới hạn tồn dư kháng sinh trong sữa 20
2.2.8 Một số phương pháp phân tích dư lượng kháng sinh trong thịt và sản phẩm động vật .21
2.2.9 Lượt duyệt một số công trình nghiên cứu về tồn dư kháng sinh trong sản phẩm gia súc gia cầm .23
CHƯƠNG III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 24
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 24
3.2 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 24
3.3.1 Vật liệu thí nghiệm 24
3.3.2 Thiết bị 25
3.3.3 Dụng cụ 25
3.3.4 Nguyên vật liệu 25
3.3.5 Cách bố trí mẫu 25
3.3 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 26
3.3.1 Phương pháp xác định hàm lượng tồn dư oxytetracycline trong sữa tươi bằng sắc ký lỏng cao áp (10 TCN 833 – 2006) (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn) .26
3.3.2 Xác đinh hàm lượng oxytetracycline trong mẫu thức ăn dùng cho bò trong trại đang khảo sát 30
3.4 XỬ LÝ SỐ LIỆU 30
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 32
4.1 Kết quả khảo sát sự hiện diện oxytetracycline trong sữa và thức ăn 32
4.2 Hàm lượng trung bình của oxytetracycline tồn dư trong sữa 33
4.3 Kết quả khảo sát sự biến động hàm lượng oxytetracycline trong sữa 35
4.4 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhóm tuổi lên hàm lượng trung bình của oxytetracycline trong sữa 36
4.5 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của sản lượng sữa lên hàm lượng trung bình của oxytetracycline trong sữa 37
Trang 7Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 KẾT LUẬN 38
5.2 ĐỀ NGHỊ 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
DANH MỤC BẢNG Bảng 1 Kháng sinh thường được sử dụng trong việc phòng và trị các bệnh sau 14
Bảng 2 Thời gian ngưng sử dụng kháng sinh trước khi khai thác sữa trở lại 20
Bảng 3 Tiêu chuẩn Việt Nam về dư lượng tối đa thuốc thú y trong sữa tươi nguyên liệu 20
Bảng 4 Dư lượng kháng sinh tối đa trong sữa .21
Bảng 5 Bảng bố trí thí nghiêm lấy mẫu sữa ở 10 bò khảo sát 26
Bảng 6 Gradient pha động 29
Bảng 7 Kết quả khảo sát hàm lượng oxytetracycline hiện diện trong sữa và thức ăn 32 Bảng 8 Hàm lượng trung bình oxytetracycline tồn dư trong sữa ở 10 bò khảo sát và tỷ lệ mẫu đạt chuẩn ở 7 ngày khảo sát sau khi ngưng điều trị 33
Bảng 9 Kết quả khảo sát sự biến động hàm lượng oxytetracycline trong sữa ở 7 ngày kể từ ngày điều trị cuối cùng 35
Bảng 10 Kết quả khảo sát sự biến đổi hàm lượng trung bình của oxytetracycline trong sữa theo tuổi ở 7 ngày sau khi ngưng điều trị 36
Bảng 11 Kết quả khảo sát biến đổi hàm lượng trung bình của oxytetracycline trong sữa theo sản lượng sữa 7 ngày sau khi ngưng điều trị 37
Bảng 12 Kết quả phân tích hàm lượng oxytetracycline trong sữa qua 8 ngày khảo sát và một số thông tin có liên quan 42
Trang 8Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TÓM LƯỢC
Kháng sinh tồn dư trong sữa làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng và làm cản trở quá trình chế biến các sản phẩm lên men như sữa chua và pho mát Qua quá trình khảo sát và kiểm tra sự tồn dư của kháng sinh ở 10 bò sữa tại địa bàn TP Hồ Chí Minh bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp Kết quả là không thấy oxytetracycline trong thức ăn hỗn hợp dùng cho bò sữa Ở 10 mẫu sữa trước ngày điều trị, kiểm tra không phát hiện oxytetracycline tồn dư Đối với 70 mẫu sữa khảo sát sau
7 ngày ngưng điều trị, có 63 mẫu tồn dư kháng sinh chiếm tỷ lệ 90% Đàn bò sữa khảo sát đều có hàm lượng oxytetracycline tồn dư trong sữa đạt TCVN 7405 – 2004 (<100ppb) vào ngày thứ 7 sau khi ngưng điều trị (100%) Hàm lượng tồn dư oxyteracycline sau khi ngưng điều trị phụ thuộc vào sản lượng sữa và không phụ thuộc vào tuổi đã khảo sát
Trang 10Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, ngành chăn nuôi không ngừng phát triển, bên cạnh đó dịch bệnh thường xuyên xảy ra Để bảo vệ sức khoẻ vật nuôi người chăn nuôi thường hay sử dụng các chế phẩm sinh học, nhất là các loại dược phẩm để phòng trị bệnh và kích thích tăng trưởng cho gia súc, trong đó có các loại thuốc kháng sinh
Các loại kháng sinh ngày nay khá quen thuộc đối với người chăn nuôi nhưng không phải người chăn nuôi nào cũng nắm được quy tắc chung của việc dùng kháng sinh Phần lớn họ chỉ dựa vào kinh nghiệm và chú trọng đến lợi ích kinh tế nên sử dụng kháng sinh một cách bừa bãi mà không quan tâm đến thời gian ngừng thuốc cần thiết Do đó dẫn đến tồn dư kháng sinh làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm động vật trong đó có sữa Người tiêu dùng uống phải sữa có tồn dư kháng sinh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ như gây tình trạng ngộ độc kháng sinh (sốc phản vệ) có thể gây chết, gây ra tình trạng vi sinh vật kháng thuốc làm cho việc điều trị bệnh sau này không
có hiệu quả (trên cả thú nuôi và con người) Ngoài ra nó còn làm ảnh hưởng đến quá trình chế biến các sản phẩm lên men như sữa chua, pho mát,… Vấn đề tồn dư kháng sinh trong sản phẩm động vật là vấn đề rất được quan tâm của người tiêu dùng và Nhà Nước
Hiện nay vấn đề an toàn thực phẩm không phải là mối quan tâm của riêng một quốc gia nào mà là vấn đề chung của toàn thế giới
Xuất phát từ thực tế trên, để có nguồn sữa an toàn chất lượng cho người tiêu dùng và cung cấp nguồn sữa đạt yêu cầu cho các cơ sở chế biến các thực phẩm từ sữa, nên việc xác định sự tồn dư của kháng sinh trong sữa là rất cần thiết, được sự đồng ý của Bộ Môn Thú Y Trường Đại Học Cần Thơ, cùng với sự giúp đỡ của Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm Và Điều Trị-Chi Cục Thú Y Thành Phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến
hành đề tài: “Khảo sát hàm lượng Oxytetracycline trong sữa bò tươi trước và sau điều trị tại một số hộ chăn nuôi bò sữa trên địa bàn TP Hồ Chí Mimh”.
Trang 11Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Mục đích yêu cầu:
Xác định hàm lượng oxytetracycline trong sữa trước và sau điều trị
Khảo sát sự hiện diện của oxytetracycline trong thức ăn hỗn hợp dành cho bò đang điều trị
Xác định thời gian thải trừ của oxytetracycline sau khi ngưng điều trị đối với bò đang cho sữa, để biết được hàm lượng tồn dư của oxytetracycline trong sữa nhỏ hơn tiêu chuẩn về chất tồn dư kháng sinh
Trang 12
Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN2.1 GIỚI THIỆU KHÁNG SINH
Năm 1929, ông Fleming là một người Anh đã phát minh ra penicillin sau đó Florey và Chain (1941) mới triết xuất được penicillin tinh khiết và chính thức đưa vào sản xuất từ năm giữa lúc cuộc đại chiến thế giới lần 2 đang diễn ra ác liệt
Từ đó, các kháng sinh mới lần lượt xuất hiện như streptomycin (1944), chloramphenicol (1947), oreomyxin (1948), neomyxin (1949), oxytetracycline (1950), erythromyxin (1952)… (Nguyễn Ngọc Doãn và cộng sự, 1968)
Việc phát minh ra kháng sinh và các đặc tính của chúng đã tạo ra một cuộc cách mạng trong y học và đã cứu loài người thoát khỏi nhiều thảm dịch do vi trùng gây ra
2.1.1 Định nghĩa kháng sinh
Kháng sinh (antibiotics) là những chất được tạo ra bởi các sinh vật sống nhưnấm men, nấm mốc, vi khuẩn và một số loài thực vật, có đặc tính diệt khuẩn hoặc kìm hãm sự phát triển của chúng (Ensminger, 1990) (www.dailoibinhduong.com.vn)
Theo quan niệm ngày nay, thuốc kháng sinh không kể nguồn gốc là vi sinh vật,bán tổng hợp hay tổng hợp là tất cả những chất hóa học có khả năng kìm hãm sự phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn bằng cách tác động chuyên biệt trên một giai đoạn chuyển hóa cần thiết của vi sinh vật (Nguyễn Như Pho và Võ Thị Trà An, 2001) Với định nghĩa này, nhiều thuốc trước đây xếp vào loại chất kháng khuẩn tổng hợp như sulfamid, quinolone bây giờ cũng được xếp vào loại kháng sinh (Nguyễn Duy Cương
và Nguyễn Hữu Quỳnh, 1999)
2.1.2 Phân loại kháng sinh
Dựa vào cấu trúc hóa học kháng sinh được phân loại thành các nhóm như sauNhóm beta – lactam: penicillin, ampicillin, amoxcillin, cephalosporin…
Nhóm aminoglycosid: streptomycin, gentamycin, kanamycin, neomycin…
Nhóm polypeptid: colistin, bacitracin, polymyxin…
Nhóm phenicol: chloramphenicol, thiamphenicol…
Nhóm tetracycline: tetracycline, oxytetracycline, chlotetracycline, doxycycline…
Trang 13Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nhóm macrolide: erythromycin, spiramycin, tylosin…
Nhóm kháng sinh gần gũi với macrolid: lincomycin, virginiamycin…
Nhóm sulfamide: sulfaguanidine, sulfacetamide, sulfamethoxazole…
Nhóm diaminopyrimidin: trimethoprim, diaveridin, pyrimethamin
Nhóm quinolone: acid nalidixic, flumequin, norfloxacin, enrofloxacin…
Nhóm nitrofuran: nitrofurazol, furazolidon, furaltadon…
Các nhóm khác: glycopeptid (vancomycin), pleuromutilin (tiamulin), polyether ionophore (monensin, salinomycin…) Puyt (1996) dẫn liệu của Võ Thị Trà An, 2001
Giới thiệu về oxytetracycline
Oxytetracycline có công thức hóa học: C22H24N2O9HCl là một kháng sinh quan trọng trong thú y Năm 1950 được chiết suất từ loài nấm Actinomyces rimosus bởi A.C Finley và cộng sự Oxytetracycline được phân lập ở khắp nơi trên trái đất, có cấu trúc hóa học :
Tính chất:
Oxytetracycline là một kháng sinh ở dạng muối Clohydrat Đó là một loại bột màu vàng ánh, rất bền vững ở trạng thái khô (3 năm), hòa tan trong nước và các dung môi hữu cơ Các dung dịch của muối này bảo quản được 48 giờ ở nhiệt độ bình thường Kháng sinh này hoạt động tốt ở pH 6 – 6,5 nhưng không bền ở pH>7
2.1.3 Dược động - lực học của các chất kháng sinh
Dược động học nghiên cứu quá trình chuyển vận của kháng sinh từ lúc hấp thu vào cơ thể cho đến khi bị thải trừ hoàn toàn Theo Đào Văn Phan (2003) thì quá trình dược động học của chất kháng sinh gồm có các giai đoạn: hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ
Trang 14Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Sự hấp thu
Hấp thu là sự vận chuyển kháng sinh từ nơi dùng kháng sinh vào máu để rồi đi khắp cơ thể tới nơi tác dụng Như vậy sự hấp thu phụ thuộc vào độ hòa tan của kháng sinh, độ pH tại chổ hấp thu, nồng độ của kháng sinh, tuần hoàn tại vùng hấp thu, diện tích vùng hấp thu
Oxytetracycline dễ dàng hấp thu nhanh khi cung cấp cho thú bằng đường uống Giá trị sinh học xấp xỉ 60 – 80% Sự có mặt thức ăn hoặc sữa có thể làm giảm đi 50% hay nhiều hơn Sau khi tiêm bắp oxytetracycline nồng độ cao nhất trong 30 phút đến 1 giờ, tuỳ thuộc vào thể tích và vị trí tiêm (Nguyễn Như Pho, 2006)
Sự phân bố kháng sinh
– Tùy theo từng loại kháng sinh mà có sự phân bố khác nhau ở các cơ quan Như
nhóm β- lactamin phân tán vào xương và phổi lần lượt là 10% và 25%; trong khi dó nhóm macrolides phân bố trong phổi và bộ máy sinh dục tới 50%; sulfamide thì phân
bố khá rộng trong hầu hết các mô nhưng ít trong não và bộ máy sinh dục…(Robert Wilson, 2002)
– Hai loại yếu tố có ảnh hưởng đến sự phân bố kháng sinh trong cơ thể:
o Về phía cơ thể: tính chất màng tế bào, màng mao mạch…
o Về phía kháng sinh: trọng lượng phân tử, tỷ lệ tan trong nước và trong lipid, tính acid hay base, độ ion hóa, ái lực của kháng sinh với thụ thể (receptor) (Nguễn Phước Tương và Trần Diễm Uyên, 2000)
– Tất cả các dạng của tetracycline sau khi hấp thu được chuyển tới gan theo mật độ
xuống ruột non Lượng thuốc trong gan, mật bao giờ cũng cao hơn trong máu từ 5 –
10 lần Thuốc có chu kỳ máu → gan → mật → ruột → máu, tồn tại trong máu là thời gian tác dụng lâu dài
– Sau khi hấp thu sẽ thấm nhiều vào dịch tế bào, tổ chức (gan, mật, phổi, dịch màng
phổi, tụy, thận, tinh trùng, tuyến tiền liệt, nước tiểu, thuốc dễ dàng qua dịch não tủy, vào não, đờm, xương…) Nồng độ thuốc cao nhất ở mật Qua được nhau thai, nồng độ chlortetracycline trong máu bào thai bằng 1/14; còn đối với oxytetracycline khoảng ¼
so với máu mẹ Thuốc qua sữa mẹ, nồng độ thuốc có trong sữa mẹ bằng ½ so với huyết tương Thuốc dự trữ trong tế bào lưới nội mô của gan, lách, xương sườn gắn chặt vào xương và men răng Thuốc có ái lực mạnh với những mô đang trưởng thành,
Trang 15Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
chuyển hóa nhanh Tan mạnh trong lipid (nhất là doxycyline, minocyclin), nên dễ thấm vào cơ tử cung, tiền liệt, thận Dùng chữa bệnh cho các khí quan trong xoang chậu (Bùi Thị Tho – Nghiêm Thị Anh Đào, 2006)
– Theo Bùi Thị Tho (2003) thì sự phân bố của thuốc còn phụ thuộc vào dạng bào
chế của thuốc Cùng nồng độ nhưng oxytetracycline được bào chế dưới 2 dạng:
o Dung dịch thông thường
o Dạng nhủ tương: LA 200 Với dạng dung dịch thông thường, sau khi tiêm thuốc được hấp thu rất nhanh và nhanh đạt được nồng độ cao trong huyết tương (tới trên 5,5g/ml), cao hơn nhiều dạng bào chế đặc biệt (nhũ tương LA - 200) chỉ đạt được nồng độ cao tối đa trong huyết tương khoảng 3,5 g/ml Thuốc ở dạng bào chế LA – 200 tồn tại trong cơ thể tới 120 giờ trong khi đó dạng bào chế thông thường chỉ tồn tại 62 giờ
Sự chuyển hóa kháng sinh
– Mục đích của sự chuyển hóa kháng sinh là để thải trừ chất lạ (kháng sinh) ra khỏi
cơ thể Kháng sinh là những phân tử tan được trong chất béo (lipid), khi bị ion hóa dễ thẩm thấu qua màng tế bào, gắn vào protein huyết tương và được giữ lại trong cơ thể Muốn thải trừ, cơ thể phải chuyển hóa những kháng sinh này sao cho chúng trở thành những phân tử có cực, dễ bị ion hóa do đó ít tan trong mỡ, khó gắn vào protein, khó thấm vào tế bào, vì thế tan nhiều hơn ở trong nước và dễ bị thải trừ
Nơi chuyển hóa và các enzyme chính xúc tác cho chuyển hóa:
– Niêm mạc ruột: protease, lipase, decarboxylase.
– Huyết thanh: esterase.
– Phổi: oxydase.
– Vi khuẩn ruột: reductase, decarboxylase.
– Hệ thần kinh trung ương: monoamine oxydase, decarboxylase.
– Gan là nơi chuyển hóa chính, chứa hầu hết các enzyme tham gia chuyển hóa chất
kháng sinh (Nguyễn Thị Kim Duyên, 2004)
Trang 16Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Sự thải trừ thuốc
Thải trừ qua thận
Sự thải trừ thuốc qua thận phụ thuộc vào 3 quá trình: siêu lọc ở cầu thận, tái hấp thu và bài tiết nước tiểu Ba quá trình này lại phụ thuộc vào áp lực thủy tỉnh của máu ở cầu thận và tính thẩm thấu của màng thận đối với thuốc
– Chất có kích thước phân tử nhỏ, tan trong nước đều dễ thải qua thận Vì thuốc là
chất lạ, nên không chỉ thải qua ở cầu thận mà còn được thải ra ngay trên ống thận và đều không được tái hấp thu: penicillin, các amynoglucozid, amidazofen…
– Oxytetracycline đựơc bài tiết qua tiểu cầu thận Chu kỳ bán rả của
oxytetracycline vào khoảng 4 – 6 giờ trên chó và mèo, 4,3 – 9,7 giờ trên gia súc, 10,5 giờ trên ngựa, 6,7 giờ trên heo và 3,6 giờ trên cừu (Nguyễn Như Pho, 2006)
– Khi bị ngộc độc các thuốc có tính acid: phenobarbital, sulphamid, tetracycline…
nên bổ sung thêm natri bicarbonat và các chất kiềm để tăng pH nước tiểu giúp thuốc dễ ion hóa, thải trừ nhanh
– Còn với động vật ăn cỏ, nước tiểu luôn có tính kiềm, sự thải lọc thuốc ngược lại
với các động vật kể trên
– Thiểu năng thận ngăn cản thải trừ, làm tăng độc tính của thuốc.
Thải trừ thuốc qua đường tiêu hóa
– Các thuốc khó hay không được hấp thu ở ống tiêu hóa nếu cho uống sẽ thải trừ
chủ yếu qua phân như: sulphaguanidin, các amynoglucozid, furazolidol…
– Một số thuốc có chu kỳ “gan – ruột” Chu kỳ này được diễn đi diễn lại nhiều lần
sẽ làm tăng thời gian t1/2 của thuốc trong huyết tương Đây là cơ chế bảo tồn và tái sử dụng thuốc Nhiều thuốc khi ở gan đã ở dạng liên hợp, đến ruột dạng liên hợp này lại
bị “bẻ gẫy” bởi hydroxylase trở lại thành chất mẹ tan trong lipid rồi lại tái hấp thu từ ruột vào gan: tetracycline, sulphamid chậm, chloramphenicol, lincomycin, gentamycin, muối mật…
Thải trừ qua tuyến sữa
Với động vật đang nuôi con, thuốc qua sữa cũng có thể phòng trị bệnh cho con, đồng thời cũng gây độc cho con
Trang 17Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
– Gần như hầu hết các thuốc kháng sinh: benzylpenicilin, ampicilin, cephalosporin,
chloramphenicol, tetracycline, streptomycin, gentamycin, kanamycin… các hóa liệu: isoniazid, pyrimithamin, các sulphamid, metronidazol, dẫn xuất của aminoquinoleinđiều thải trừ qua sữa Nồng độ của oxytetracycline có trong sữa bằng ½ nồng độ trong huyết tương
Thải trừ qua các đường khác
Một số thuốc thải qua nước bọt: sulphamid, penicillin, tetracycline trong lâm sàng, lợi dụng đặc điểm này để chữa một số bệnh nhiễm khuẩn đường miệng – hầu
Qua niêm mạc mũi và tuyến nước mắt: Iodid, sulphamid, rifampicin…( Bùi Thị Tho và Nghiêm Thị Anh Đào, 2006)
Dược lực học của oxytetracycline
Thuốc có phổ lực rộng với:
Các vi khuẩn gram-dương, gram-âm: tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, Anthracoides,
tụ huyết trùng, trực khuẩn lưu sản, đóng dấu, Corynebacterium, trực khuẩn phó thương hàn, E coli.
Một số Rickettsia, Mycolasma và virut cở lớn, động vật nguyên sinh
Các Pseudomonas Klebsiella, Proteus nhưng không bằng các kháng sinh khác.
Oxytetracycline thường có tác dụng kiềm khuẩn và chỉ có tác dụng diệt khuẩn ở
đậm độ cao bằng cách phong bế sự tổng hợp protein của vi khuẩn do ngăn cản sự cố định phức hợp ARN – vận chuyển – axit amin trên ribosom của tế bào vi khuẩn
Chỉ định:
Trong thú y, oxytetracycline được dùng trong các bệnh do E coli và Salmonella
ở trâu, bò, bê, nghé, lợn, gia cầm, các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột, bệnh sổ mũi ngựa, bệnh viêm xoang mũi ở gà tây, bệnh hô hấp mãn tính, viêm mũi truyền nhiễm ở
gà, bệnh đường hô hấp và đường tiết niệu gia súc, bệnh viêm vú ở trâu bò, ngựa, chó, mèo, bệnh đóng dấu lợn, tụ huyết trùng, nhiệt thán và xoắn trùng các loại gia súc, bệnh
biên trùng trâu, bò, ngựa, bệnh nấm do Actinobacillus và Actinomyces, các bệnh ngoài
da có mủ, vết thương bỏng, nhiễm khuẩn, viêm tai ngoài của chó, viêm giác mạc mắt, bệnh phòng nắp ở tôm (Nguyễn Phước Tương và Trần Diễm Uyên, 2000)
Trang 18Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1.4 Cơ chế tác dụng của kháng sinh
Xét về mặt cơ chế tác dụng, các kháng sinh đều có tính đặc hiệu cao, có đích tác dụng cụ thể trên từng loại vi khuẩn gây bệnh:
– Kháng sinh tác dụng lên tế bào.
– Kháng sinh tác dụng lên quá trình tạo vách tế bào như các thuốc thuộc nhóm β –
lactamin, vancomycin, …
– Kháng sinh tác động lên màng nguyên sinh chất làm mất phương hướng hoạt
động của màng như colistin, kháng sinh đa peptid…
– Kháng sinh tác dụng lên hệ phi bào.
– Kháng sinh tác động lên sự tổng hợp acid nucleic và protein.
2.1.5 Khả năng gây dị ứng và độc tính kháng sinh
Khả năng gây dị ứng
– Đa số các thuốc kháng sinh có thể gây nôn, tiêu chảy hay nổi mẩn, cũng như các
tác dụng phụ riêng của từng loại
– Hầu hết những phản ứng dị ứng là do tồn dư thuộc nhóm β – lactam trong thịt và
sữa Phản ứng dị ứng có thể xảy ra ở người tiếp xúc với tồn dư kháng sinh trong thực phẩm So với sự tồn dư kháng sinh trên súc sản thì tồn dư kháng sinh trong sữa sẽ ảnh hưởng lớn hơn do các sản phẩm từ thịt được xử lý nhiệt để đun nấu sẽ làm giảm khả năng gây dị ứng hơn sự tồn dư kháng sinh trong sữa
– Các thuốc kháng sinh có thể gây mất cân bằng của một vài loại vi khuẩn và nấm
trong cơ thể, đưa đến sự tăng sản nấm gây ra nhiễm nấm candida tai, ruột, và âm đạo Một số người bị dị ứng nặng với thuốc kháng sinh, gây ra phù mặt, ngứa và khó thở
– Bốn báo cáo (2 báo cáo từ Mỹ và 2 báo cáo từ Anh) về phản ứng dị ứng ở người
trước đây đã nhạy cảm với penicillin được phát hiện từ năm 1958 – 1969, thời gian mà penicillin trong sữa cao Vickers và ctv (1958), Zimmerman (1958), Borrie và Barrett (1961), Wicheu và ctv (1969) ghi nhận những bệnh nhân bị chứng viêm da, urticaria (nổi mề đay) và eczema (chàm) bán cấp sau khi uống sữa có tồn dư penicillin (Nation Research Council, 1999)
Trang 19Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
– Oxytetracycline sử dụng cho thú non có thể là nguyên nhân làm thay đổi màu của
xương, vàng răng hoặc xám màu Liều cao hay uống kéo dài có thể làm xương chậm phát triển (Nguyễn Như Pho, 2006)
Độc tính kháng sinh
Tiêu chảy, nôn mữa
Tổn thương chức năng gan có thể dẫn đến suy gan nặng (tetracycline, rifampin, novobiocin, sulfnamid)
Tổn thương chức năng thận với các biểu hiện protein niệu, huyết niệu, suy thận cấp (cephalosporin, aminoglycosid, polymyxin, sulfonamide)
Rối loạn thần kinh: chóng mặt, rối loạn cảm giác da (aminoglycosid), viêm đa thần kinh (isoniazid)
Tác hại đến bào thai: tetracycline, sulfonamides, chloramphenicol, quinolones.Rối loạn máu: mất bạch cầu hạt, rối loạn các tế bào máu (chloramphenicol, sulfonamide) ( Trần Thị Thu Hằng, 2007)
Khi tiêm bắp oxytetracycline cho ngựa, cừu hay gặp viêm tại chỗ Còn làm tăng lượng trombocyte, leucocyte trong máu gây ảnh hưởng đến quá trình đông máu Trên
bò nếu tiêm bắp quá liều (cá biệt ở liều điều trị) gây ngộ độc cấp sẽ mất thăng bằng, suy sụp, khó thở, bị liệt trung khu hô hấp, vận mạch gây tổn thương gan, rối loạn quá trình tạo xương của động vật Oxytetracycline gắn vào xương tham gia chelat hoá với ion Ca++ giảm sự tạo xương, kém phát triển khung xương gây còi xương (Lê Ngọc Diệp, Bùi Thị Tho, 2006)
2.1.6 Mục đích của việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi.
– Trong chăn nuôi, kháng sinh được sử dụng với 3 mục đích: điều trị bệnh, phòng
bệnh, dùng như chất kích thích sinh trưởng
– Tuỳ theo mục đích sử dụng mà liều lượng và phương thức sử dụng kháng sinh có
khác nhau Có nhiều ý kiến khác nhau về lợi ích của việc sử dụng kháng sinh bổ sung trong thức ăn như chất kích thích sinh trưởng, nói tóm lại có những lợi ích chính như sau:
Tăng năng suất sinh trưởng và sinh sản ở gia súc, gia cầm
Trang 20Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, làm cho vật nuôi thích ứng nhanh chóng với sự thay đổi bất thường về cơ cấu và chủng loại nguyên liệu trong khẩu phần ăn
Nâng cao chất lượng sản phẩm (giảm tỉ lệ thịt mỡ, tăng tỉ lệ thịt nạc, làm cho thịt trở nên mềm hơn và không nhiễm mầm bệnh)
Phòng các bệnh mãn tính và ngăn chặn xảy ra những dịch bệnh do vi trùng
Tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Sử dụng kháng sinh với mục đích dinh dưỡng
Cơ chế tác động của kháng sinh như chất kích thích sinh trưởng
Kiểm soát bệnh tật
Kháng sinh có tác dụng ngăn chặn hoặc kìm hãm sự hoạt động của các vi sinh vật gây nên những bệnh dưới lâm sàng ở gia súc và chính tác động kìm hãm này làm tăng tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn ở gia súc
Tiết kiệm chất dinh dưỡng
Khi gia súc được ăn thức ăn có kháng sinh, quần thể vi sinh vật trong đường tiêu hoá của gia súc thay đổi theo chiều hướng giảm các loài vi sinh vật cạnh tranh chất dinh dưỡng (chủ yếu các vitamin và axit amin) với vật chủ và tăng số lượng loài vi sinh vật có khả năng tạo ra một số chất dinh dưỡng mà vật chủ cần
Ảnh hưởng đến trao đổi chất
Bổ sung kháng sinh liều thấp tăng cường quá trình trao đổi chất và một số chức năng của cơ thể Tuy nhiên một số loại kháng sinh hoặc dược phẩm không được hấp thu trong đường tiêu hoá nên những ảnh hưởng này không đáng kể
Ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn và nước uống
Một số loại kháng sinh và dược phẩm khi bổ sung vào thức ăn có tác dụng làm tăng khả năng thu nhận thức ăn và tăng lượng nước uống vào hàng ngày ở vật nuôi
Tăng khả năng tiêu hoá, hấp thu các chất dinh dưỡng
Thành ruột non của những gia súc, gia cầm ăn thức ăn có kháng sinh trở nên mỏng hơn và do đó làm tăng khả năng tiêu hoá, hấp thu một số chất dinh dưỡng
Do mỗi loại kháng sinh có những đặc tính riêng nên kiểu tác động của chúng cũng rất đặc thù Nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn
Trang 21Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
chỉ có tác dụng rõ rệt khi gia súc được nuôi trong điều kiện vệ sinh kém, ô nhiễm (chất độc hại và mầm bệnh) và bị nhiều stress (www.dailoibinhduong.com.vn)
Kháng sinh trong phòng bệnh
Vi sinh vật là một phần của hệ sinh thái trên trái đất Một số là vi sinh vật có lợi, một số là có hại và sự hiện diện của chúng được giữ ở trạng thái cân bằng nhờ hệ thống miễn dịch của cơ thể, nhờ các peptid kháng khuẩn được sản xuất ở da, biểu mô
và do quần thể vi sinh vật trong môi trường ổn định của cơ thể cũng luôn cạnh tranh với các vi sinh vật ngoại nhập Tuy nhiên, sự cân bằng này rất mỏng manh, chỉ cần một vài loại stress từ môi trường, từ công tác chăm sóc quản lý, dinh dưỡng cũng có khả năng ảnh hưởng lên đàn gia súc, gia cầm làm cho hàm lượng kích thích tố tuyến thượng thận giảm, trì trệ trong tiêu hóa,… Sự mất cân bằng trên là yếu tố khơi mào cho
vi sinh vật tăng trưởng và gây bệnh, giải phóng độc tố gây hại cho sức khỏe vật nuôi
Hiện nay có 3 phương pháp sử dụng kháng sinh để phòng bệnh như:
– Chỉ dùng một loại kháng sinh nhằm duy trì hệ vi sinh vật có lợi ở đường ruột,
đồng thời ngăn chặn sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh
– Dùng luân phiên nhiều loại kháng sinh ở liều phòng để ngăn chặn hệ vi sinh vật
cơ hội có sẵn trong cơ thể hay những vi khuẩn có thể lây truyền từ cá thể này sang cá thể khác Phương pháp này thường được sử dụng khi vận chuyển thú từ nơi này đến nơi khác do môi trường sống khác nhau hay đối với những con thú được chọn làm giống sản xuất lâu dài
– Để hạn chế sự đề kháng của vi khuẩn đối với kháng sinh khi áp dụng các phương
pháp trên, người ta đã đưa ra hướng giải quyết khác như liều kháng sinh được sử dụng tăng dần liên tục để hiệu quả kháng khuẩn luôn ở mức cao hơn liều mà vi sinh vật có thể đề kháng được, ít nhất là về mặt lý thuyết Phương pháp này khá hiệu quả đối với
vi sinh vật gây bệnh và cả sự đề kháng thuốc (Trương Đức Dũng, 2006)
Kháng sinh trong điều trị
Tác dụng của thuốc kháng sinh là dùng để điều trị hoặc điều trị bao vây các bệnh truyền nhiễm Nếu thú bệnh không được điều trị đúng qui trình trị liệu thì vi sinh vật có thể lan tràn, lây nhiễm sang các cá thể trong đàn và ngay cả con người
Nguyên tắc về kháng sinh trị liệu (Mare Helfre, 2002), (dẫn liệu của Nguyễn Thị Kim Duyên, 2004):
Trang 22Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
– Đánh nhanh: sử dụng sớm (ngay sau khi được chẩn đoán) các liều kháng sinh
ngay từ lúc bắt đầu điều trị là điều cần thiết
– Đánh mạnh: để đạt được nồng độ ức chế tối thiểu ở trong máu và các mô khi các
mầm bệnh còn đang nhân lên và để tránh sức đề kháng của vi khuẩn do dùng nồng độ kháng sinh thấp
– Duy trì điều trị đủ thời gian: thường người ta bắt đầu bằng một liều tấn công sau
đó giảm dần (liều duy trì) vì con vật hồi phục lại nhanh thì một số mầm bệnh vẫn còn tồn tại trong cơ thể
– Nhìn từ góc độ tích cực thì việc dùng kháng sinh phòng và trị bệnh ở gia súc, gia
cầm tuy có gây ra sự đề kháng thuốc nhưng đó là điều không tránh khỏi Việc điều trị một thú bệnh cũng có nghĩa là trực tiếp bảo vệ sức khỏe của thú khác và sức khỏe con người Nguy hại của vấn đề chính là ở chỗ sử dụng kháng sinh có đúng cách không, thời gian ngưng thuốc có đảm bảo an toàn cho người sử dụng các sản phẩm từ vật nuôi hay không
Bảo quản thực phẩm
Kháng sinh còn có thể cho thêm vào thức ăn với mục đích bảo quản Hoặc có thể cho gia súc uống trước khi hạ thịt có mục đích kéo dài thời gian hư hỏng của thịt tươi Trên gà đẻ, nếu cho uống thêm kháng sinh thì trứng đẻ ra có chứa một lượng kháng sinh tuy nhỏ nhưng đủ kéo dài thời gian bảo quản (Dương Thanh Liêm, 1998)
2.1.7 Bệnh thường xảy ra trên bò sữa và sử dụng kháng sinh để điều trị
Fraser C M và cộng sự (1991), chúng tôi tổng hợp một số loại kháng sinh thường được sử dụng trong phòng trị bệnh được trình bày ở bảng 1
Trang 23Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bảng 1 Kháng sinh thường được sử dụng trong việc phòng và trị các bệnh sau
Bệnh do leptospira oxytetracycline, penicillin, streptomycin
Viêm vú Amoxicillin, cephalexin, oxytetracycline, ampicillin,
trimethoprin + sulfamid, spiramycin, nofloxacinViêm tử cung Amoxicillin, cephalexin, oxytetracycline, enrofloxacin,
clavulanic + AmoxicillinViêm phổi Amoxicillin, ampicillin, oxytetracycline, enrofloxacin,
norfloxacin, gentamycin, penicillin + streptomycin, trimethoprin+ sulfamid
Bệnh do Salmonella Amoxicillin, ampicillin, neomycin, flumequin, trimethoprin +
sulfamid, oxytetracycline,Uốn ván Penicillin, ampicillin, oxytetracycline
2.2 CHẤT TỒN DƯ
2.2.1 Khái niệm
Chất tồn dư được định nghĩa trong chỉ thị 86/469 của thị trường chung Châu Âu như sau: “chất tồn dư là chất có hoạt tính dược động học và các chất chuyển hóa trung gian của chúng cũng như những chất khác được đưa vào thịt, tất cả chúng được xem như là những chất nguy hiểm đến sức khỏe người tiêu dùng” (Nguyễn Ngọc Tuân, 2002)
2.2.2 Nguy hiểm của việc sử dụng kháng sinh không đúng quy định của nhà sản xuất
Tạo ra sự kháng kháng sinh ở vi khuẩn
Việc sử dụng kháng sinh liều thấp trong chăn nuôi như sử dụng không đúng cách trong điều trị, phòng bệnh và dùng trong thức ăn chăn nuôi như chất kích thích sinh trưởng, đã dẫn đến một hậu quả rất nghiêm trọng là làm gia tăng hiện tượng kháng
Trang 24Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
kháng sinh của các loài vi khuẩn gây bệnh trên người và vật nuôi Có ý kiến cho rằng, việc sử dụng kháng sinh liều thấp trong chăn nuôi đã biến vật nuôi thành nơi để một số loài vi khuẩn học cách vô hiệu hoá tác dụng của các loại kháng sinh
– Một số kết quả nghiên cứu ở Mỹ năm 1992 cho thấy, một số loại kháng sinh dùng
trong thức ăn chăn nuôi hiện rất ít tác dụng trong điều trị một số bệnh nhiễm trùng ở vật nuôi Trong nhân y, hiện tượng vi khuẩn kháng kháng sinh đang ngày càng phổ biến (Robyn, 2002)
– Trước năm 1995, ở Đan Mạch và một số nước Châu Âu, Avoparcin được sử
dụng rất rộng đã dẫn đến hiện tượng kháng vancomycin ở vi khuẩn Khi phát hiện ra hiện tượng này, năm 1996 Đức và năm 1997 tất cả các nước EU đã cấm sử dụng Avoparcin như chất kích thích sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi
– Hậu quả của sự kháng kháng sinh ở vi khuẩn về kinh tế rất lớn Theo dẫn liệu
của Robyn (2002), chi phí điều trị một bệnh nhân mắc bệnh lao ở Mỹ tăng từ 12.000 USD (như thông thường trước đây) lên 180.000 USD cho những bệnh nhân nhiễm vi khuẩn lao kháng thuốc Tuy nhiên, những thiệt hại về kinh tế không phải là chính yếu
mà vấn đề đáng lo ngại là không chỉ vật nuôi mà ngay cả loài người đang đứng trước nguy cơ xảy ra các thảm dịch do những loài vi khuẩn kháng thuốc gây ra mà không thể kiểm soát được (www.dailoibinhduong.com.vn)
Sự đề kháng của vi khuẩn đối với kháng sinh
Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn là khả năng đề kháng với một hay nhiều loại kháng sinh mà trước đó vốn nó rất mẫn cảm
Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn được chia làm 2 loại:
– Kháng thuốc tự nhiên tức bản thân vi khuẩn đã có sẵn khả năng đề kháng với
thuốc nên không chịu tác dụng của kháng sinh Ví dụ như một vi khuẩn gram âm trong đường tiêu hóa có enzyme penicilinase hay enzyme β – lactaminase
– Kháng thuốc thu được tức bản thân vi khuẩn có được yếu tố kháng thuốc do sinh
đột biến ngẫu nhiên hay do tiếp xúc với kháng sinh trong quá trình sống Kháng thuốc thu được của vi khuẩn sẽ được di truyền theo hàng dọc (truyền từ mẹ sang con) hay theo hàng ngang giữa các loài vi khuẩn hay từ loài này sang loài khác (kháng lây truyền) cùng thế hệ Kiểu kháng sau rất nguy hiểm do sẽ gây nhiều khó khăn trong điều trị, thậm chí còn gây thành dịch lớn do không tìm hay không thuốc điều trị
Trang 25Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Vi khuẩn đơn kháng: chỉ kháng một loại kháng sinh
Vi khuẩn đa kháng: cùng một lúc vi khuẩn kháng với nhiều loại thuốc, kiểu kháng này rất nguy hiểm
2.2.3 Tình hình sản xuất, nhập khẩu và phân phối kháng sinh ở Việt Nam
Theo điều tra sơ bộ của Nguyễn Văn Hoàng (1998), tại TP Hồ Chí Minh đã có hơn 20 đơn vị trong nước sản xuất thuốc thú y trong đó sản xuất kháng sinh là chủ yếu
Đó là chưa kể hàng chục công ty nước ngoài có nhà máy sản xuất hoặc có văn phòng đại diện cung cấp thuốc thú y cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận Kháng sinh chiếm 70 – 75% số lượng các sản phẩm thuốc thú y (Cục Thú y, 1999) Các loại thuốckháng sinh đa dạng về mẫu mã và chủng loại Có hơn 500 sản phẩm có kháng sinh trên thị trường thuốc thú y tại TP Hồ Chí Minh Các kháng sinh có mặt nhiều nhất trong các sản phẩm là oxytetracycline, norfloxacin, chloramphenicol, enrofloxacin
2.2.4 Ảnh hưởng của việc tồn dư kháng sinh với sức khỏe cộng đồng
Việc sử dụng kháng sinh rộng rãi để phòng, trị bệnh và làm phụ gia thức ăn, không thể tránh sự tồn dư kháng sinh ở thực phẩm có nguồn gốc từ động vật Người
sử dụng thực phẩm có tồn dư kháng sinh thường xuyên có khả năng xảy ra những nguy hiểm như:
– Làm thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột và sự tổng hợp vitamin ở ruột Các kháng
sinh ảnh hưởng lên hệ vi sinh vật đường ruột theo 2 cách sau:
o Biến đổi hệ vi sinh vật đường ruột theo cách ức chế có chọn lọc các vi khuẩn
đã xác định
o Tạo điều kiện cho vi khuẩn kháng thuốc hoạt động sinh sôi nẩy nở trong đường ruột
Nguy cơ về độc tố
– Hầu hết các kháng sinh dùng cho vật nuôi đều được dùng cho con người, ảnh
hưởng của tồn dư kháng sinh trong thực phẩm con người nói chung phụ thuộc liều lượng và thời gian tiếp xúc với chất tồn dư
– Độc tố có thể ở dạng cấp tính do bản thân của chất kháng sinh hay các chất
chuyển hóa của chúng như: chloramphenicol là một nhân tố gây thiếu máu do suy tủy dẫn đến tử vong (Cone và Albelson, 1952)