1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát BỆNH VIÊM TAI và HIỆU QUẢ điều TRỊ BỆNH VIÊM TAI TRÊN CHÓ tại BỆNH xá THÚ y đại học cần THƠ

51 335 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 674,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƯỢC Nhằm đạt được hiệu quả cao trong việc điều trị bệnh viêm tai ở chó, chẩn đoán đúng bệnh dựa vào các dấu hiệu lâm sàng và xác định phương pháp điều trị hiệu quả nhất, chúng tôi t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Lớp: Thú Y 33A

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

Đề tài “Khảo sát bệnh viêm tai và hiệu quả điều trị bệnh viêm tai trên chó tại

Bệnh xá thú y Đại học Cần Thơ” do sinh viên Phạm Thị Bích Liễu thực hiện tại

Bệnh Xá Thú Y, Trường Đại học Cần Thơ, từ ngày 1/8/2011 đến 2/11/2011

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 20…

Duyệt Của Giáo Viên Hướng Dẫn

Nguyễn Thị Bé Mười

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 20…

Duyệt Của Bộ Môn

Cần Thơ, ngày … tháng năm 20…

Duyệt của khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 5

và những kinh nghiệm sống quý báu, đó là hành trang mà chúng em sẽ mang theo

để tự tin bước vào đời

Em xin chân thành cảm ơn:

Quý thầy cô trong Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho chúng em những kiến thức vô cùng quý báu

Các anh, chị làm việc ở Bệnh Xá Thú Y Đại học Cần Thơ đã nhiệt tình hướng dẫn, tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn, những người anh em Thú Y K33 đã cùng tôi sẽ chia buồn vui, đã gắn bó và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy cô cùng các anh chị được dồi dào sức khỏe và thành công trong công việc Chúc những người bạn của tôi nhiều sức khỏe và thành đạt

Cần Thơ, ngày 23 tháng 12 năm 2011

Phạm Thị Bích Liễu

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Trang duyệt ii

Lời cảm tạ ii i Mục lục iv

Danh mục bảng v i Danh mục hình vii

TÓM LƯỢC viii

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 Cấu tạo và chức năng tai chó 2

2.1.1 Tai ngoài 2

2.1.2 Tai giữa 4

2.1.3 Tai trong 6

2.2 Sinh lý quá trình viêm 6

2.2.1 Khái Niệm 6

2.2.2 Nguyên nhân gây viêm 7

2.2.3 Phân loại viêm 7

2.2.4 Những biến đổi chủ yếu trong viêm 8

2.2.5 Ảnh hưởng của phản ứng viêm đến cơ thể 10

2.3 Một số dạng viêm tai 10

2.3.1 Viêm tai ngoài 10

2.3.2 Viêm tai giữa 14

2.3.3 Viêm tai trong 16

2.4 Chẩn đoán viêm tai 17

2.4.1 Chẩn đoán lâm sàng 17

2.4.2 Chẩn đoán cận lâm sàng 19

2.5 Tính chất dược lý một sô thuốc dùng trong thí nghiệm 19

2.5.1 Dexa VMD 19

Trang 7

2.5.2 Polydexa 20

2.5.3 Dexoryl 21

2.5.4 Gentamicin 23

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 24

3.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng, phương tiện thí nghiệm 24

3.1.1 Thời gian – Địa diểm 24

3.1.2 Đối tượng 24

3.1.3 Phương tiện thí nghiệm 24

3.2Nội dung và phương pháp thí nghiệm 25

3.2.1 Nội dung thí nghiệm 25

3.2.2 Phương pháp thí nghiệm 26

Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 29

4.1 Tỷ lệ viêm tai so với các bệnh khác 29

4.2 Tỷ lệ bệnh viêm tai dựa vào triệu chứng lâm sàng 30

4.3 Tỷ lệ viêm tai theo hình thái tai chó 31

4.4 Tỷ lệ viêm tai theo số lần tắm/tuần 33

4.5 Tỷ lệ viêm tai theo nhóm tuổi 34

4.6 Tỷ lệ viêm tai theo giống chó 35

4.7 Kết quả điều trị 36

Chượng 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38

5.1 Kết luận 38

5.2 Đề nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

PHỤ CHƯƠNG 40

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Bố trí các phác đồ điều trị viêm tai 26

Bảng 4.1 Tỷ lệ bệnh viêm tai so với các bệnh khác trên chó 29

Bảng 4.2 Tỷ lệ bệnh và dấu hiệu lâm sàng của chó bị viêm tai 30

Bảng 4.3 Tỷ lệ viêm tai theo hình thái tai chó 32

Bảng 4.4 Tỷ lệ chó viêm tai theo số lần tắm/tuần 33

Bảng 4.5 Tỷ lệ chó viêm tai theo nhóm tuổi 34

Bảng 4.6 Tỷ lệ viêm tai theo giống chó 35

Bảng 4.7 Tỷ lệ khỏi bệnh ở các phác đồ điều trị 36

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Cấu trúc tai chó 2

Hình 2.2 Cấu tạo tai ngoài 4

Hình 2.3 Cấu tạo tai giữa và tai trong 5

Hình 2.4 Dung dịch tiêm Dexa VMD 20

Hình 2.5 Thuốc nhỏ tai Polydexa 21

Hình 2.6 Thuốc nhỏ tai Dexoryl 22

Hình 2.7 Gentamicin 23

Hình 3.1 Dụng cụ vệ sinh tai 24

Hình 3.2 Vệ sinh vành tai 27

Hình 3.3 Vệ sinh ống tai 27

Hình 4.1 Dịch viêm trong ống tai 31

Hình 4.2 Loa tai ửng đỏ 31

Hình 4.3 Tai chó kém thông thoáng, kém vệ sinh 32

Hình 4.4 Nấm ký sinh trên vành tai 32

Trang 10

TÓM LƯỢC

Nhằm đạt được hiệu quả cao trong việc điều trị bệnh viêm tai ở chó, chẩn đoán đúng bệnh dựa vào các dấu hiệu lâm sàng và xác định phương pháp điều trị hiệu

quả nhất, chúng tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Khảo sát bệnh viêm

tai và hiệu quả điều trị bệnh viêm tai trên chó tại Bệnh xá thú y Đại học Cần Thơ”

Kết quả thu được:

Trong tổng số 684 ca bệnh được điều trị tại Bệnh xá, bệnh viêm tai ở chó chiếm tỷ

lệ 3,22%

Dựa vào triệu chứng lâm sàng của chó bệnh viêm tai: 100% tai chó có mùi hôi, dịch viêm trong ống tai; 72,73% loa tai ửng đỏ, sưng trong kênh tai; 68,18% cào-gãi tai, lắc đầu

Dựa vào hình thái tai: bệnh viêm tai ở nhóm chó tai xụ chiếm tỷ lệ 4,6% trong khi nhóm chó tai đứng là 1,79%

Dựa vào số lần tắm/tuần của chó bệnh viêm tai: chó có số lần tắm >= 2 lần/tuần có

tỷ lệ viêm tai là 59,09% trong khi chó có số lần tắm < 2 lần/tuần là 40,91%

Dựa vào độ tuổi của chó: tỷ lệ bệnh viêm tai cao nhất ở chó >= 24 tháng tuổi (6,45%) và thấp nhất là chó dưới 2 – 6 tháng tuổi (1,03%)

Dựa theo giống thì tỷ lệ bệnh viêm tai ở giống chó ngoại là 4,02%, giống chó nội là 1,69%

Kết quả điều trị: với thời gian 4 ngày thì tỷ lệ khỏi bệnh ở nghiệm thức 2 là 100%, nghiệm thức 3 là 66,67% và thấp nhất là nghiệm thức 1 là 60%

Trang 11

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, phong trào nuôi chó kiểng ở nước ta ngày càng phát triển Ở thành thị, chó được nuôi với mục đích giữ nhà và làm cảnh Vùng nông thôn, chó được nuôi chủ yếu với mục đích giữ nhà Trong an ninh, chó được huấn luyện làm công tác điều tra phá án, bảo vệ trật tự an toàn xã hội Sở dĩ chó được tin nuôi như vậy vì đây không những là loài vật dễ thương, thông minh, trung thành, biết nghe lời,… mà chó còn là loài có sự nhạy bén cao về khứu giác, thị giác và cả thính giác

Tuy nhiên, cơ quan thính giác của chó rất dễ bị tổn thương do điều kiện chăm sóc hoặc do một số bệnh Khi mắc các bệnh về tai, đặc biệt là bệnh viêm tai do dịch viêm ứ đọng trong tai, sưng tai, thính giác của chó sẽ bị yếu đi Bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thu nhận âm thanh, sự thăng bằng của cơ thể và chức năng xử lý thông tin của não bộ chó Bên cạnh đó, tai chó bị viêm thường rất hôi, con vật cảm thấy khó chịu, dễ nỗi cáu nếu bị chạm đến tai Điều này ảnh hưởng đến quan hệ giữa chủ và vật nuôi Bệnh viêm tai ngoài nếu không được phát hiện sớm thường diễn biến nặng, dẫn đến viêm tai giữa hoặc viêm tai trong rất nguy hiểm Do đánh giá sai lầm của chủ nuôi về bệnh viêm tai nên chó thường không được điều trị sớm, ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả điều trị

Chính vì vậy, để phát hiện sớm nhằm nâng cao hiệu quả và rút ngắn thời gian điều

trị, chúng tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Khảo sát bệnh viêm tai và

hiệu quả điều trị bệnh viêm tai trên chó tại Bệnh xá thú y Đại học Cần Thơ”

với sự hướng dẫn của quý thầy cô bộ môn Thú y, Khoa Nông nghiệp & Sinh học ứng dụng Trường Đại học Cần Thơ

Mục tiêu đề tài:

- Khảo sát triệu chứng lâm sàng các ca chó bệnh viêm tai

- Xác định tỷ lệ viêm tai xảy ra trên chó

- Xác định hiệu quả điều trị của một số loại thuốc

Trang 12

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Cấu tạo và chức năng tai chó

Theo Phạm Thị Xuân Vân (1982): cơ quan thính giác và thăng bằng nằm trong hốc xương thái dương có chức năng phức tạp Bộ phận chính của nó gọi là mê lộ (labirinthus) đảm nhiệm hai chức năng: tiếp nhận dao động sóng âm và hướng cho

cơ thể giữ vị trí thăng bằng trong không gian Mê lộ nằm ở hốc tai trong, khoét sâu trong xương thái dương

Theo Malcolm E Miller (1964): tai được chia thành ba phần: tai ngoài, tai giữa và tai trong có chức năng khác nhau

2.1.1 Tai ngoài

Theo Earl J Cacott (1968): hình thái cấu tạo tai ngoài có sự khác nhau tuỳ theo giống chó Sự khác nhau này thể hiện qua kích cỡ, hình dáng lớp lông bám trên vành tai Các loại hình thái tai cơ bản như: loại tai đứng (Chihuahua, Bergie, …), loại tai đứng phân nửa (Collie, Wire Haired Terrier,…), loại tai xụ (Dachshund, Spanishs,…) Một khác biệt quan trọng khác là chiều dài của lớp lông bám trên vành tai và trong ống tai, lông ngắn ở chó Chihuahua, Boston Terrier và chó có lông

Hình 2.1 Cấu trúc tai chó

(http://commons.wikimedia.org/wiki/File:Anatomy_and_physiology_of_animals_The_ear.jpg)

Màng nhĩ Vành tai

Ống tai

Ốc tai

Tai ngoài Tai giữa Tai trong

Các xương thính giác

Bộ phận bán khuyên

Dây thần kinh thính giác Ống nhĩ hầu

Trang 13

tai dài như: Poodles, Spaniels,… Thông thường bệnh viêm tai hay xảy ra ở các loại chó lông tai dài ở vành tai và ống tai

Theo Malcolm E Miller (1964): Tai ngoài bao gồm vành tai hay loa tai và ống tai Theo Phạm Thị Xuân Vân (1982): tại miền giới hạn tai ngoài và tai giữa là màng nhĩ

Cấu tạo:

Vành tai (auricula): cấu tạo như một cái phễu với đĩa sụn có lớp da bao phủ bên ngoài Có chức năng nhận xung động và truyền tín hiệu qua màng nhĩ vào tai giữa Vành tai có nhiều yếu tố cấu tạo như: cánh tai (scapha spars scaphoidea), gốc tai (pars conchalis schoncha) Bên trong tai có lông tai làm chức năng bảo vệ Ở gốc tai

có một lớp mỡ xen lẫn tổ chức liên kết làm cho tai có thể hoạt động trong phạm vi

180 độ

Ống tai ngoài (meatus acusticus externus): dài khoảng 2cm Ống xương thông với phần sụn gọi là lỗ tai ngoài (porus acusticus externus) Ống tai ngoài của chó được chia thành hai phần: phần thẳng đứng và phần nằm ngang Phần ống tai thẳng đứng dài gấp hai lần phần nằm ngang(Earl J Catcott (1968))

Theo Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công Huỳnh (2001): da của phần sụn có nhiều tuyến nhờn và một loại tuyến đặc biệt tiết chất thải màu vàng tạo thành ráy tai có tác dụng giữ bụi Phần này có lông mọc để ngăn cản vật lạ lọt vào trong tai

Màng nhĩ (membrana typany): giới hạn giữa tai ngoài và tai giữa Màng nhĩ không phẳng mà hơi lõm, đáy lõm hướng ra ngoài gọi là rốn nhĩ (unbomembrance typany) Màng nhĩ cấu tạo bởi mô sợi, xung quanh là các bó sợi vòng, giữa là các bó sợi hình

tia

Chức năng:

Vành tai có tác dụng đón nhận âm thanh, ống tai thì hướng sóng âm thanh vào màng nhĩ Màng nhĩ sẽ rung khi tiếng động tác động vào Do cấu tạo không đồng nhất, độ căng của các sợi không đồng đều, màng nhĩ sẽ rung theo tần số phù hợp với tần số sóng âm tác động vào Những sóng âm có tần số phù hợp với tần số rung của màng nhĩ (chiều dài bước sóng) sẽ được nghe rõ nhất

Trang 14

2.1.2 Tai giữa (Auris media)

Theo Phạm Thị Xuân Vân (1982): tai giữa gồm: xoang nhĩ, ống nhĩ hầu và các nang chũm

Xoang nhĩ (Cavum typany):

Đục vào trong mảnh nhĩ của xương thái dương gồm hai thành và một đường vòng Thành ngoài ăn thông với tai ngoài và cách bởi một màng nhĩ

Thành trong của nó liên quan với tai trong, có hai lỗ:

Cửa sổ bầu dục: cửa tiền đình

Cửa sổ tròn: cửa ốc tai

Đường vòng: nhiều hang hốc ở xung quanh tai giữa làm thành nhiều ô ở nhiều loại gia súc Các ô đó phình to ra gọi là bóng nhĩ Bóng nhĩ có tác dụng cộng hưởng Dọc đường vòng có một dãy xương thính giác: xương búa, xương đe, xương bàn đạp liên hệ với nhau

Theo Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công Huỳnh (2001): các xương này có nhiệm vụ khuếch đại và truyền dao động sóng âm từ màng nhĩ vào tai trong

Xoang nhĩ gồm có hai cơ là cơ căng màng nhĩ, khi co làm màng nhĩ căng ra và làm giảm bớt dao động của màng khi âm thanh có cường độ mạnh Cơ thứ hai là cơ cố định xương bàn đạp, nhằm hạn chế sự di động của xương này, làm giảm bớt khuếch đại sóng âm từ màng nhĩ đến cửa bầu dục

Hình 2.2 Cấu tạo tai ngoài

(http://www.allergicpet.com/articles/dog_ear_infections.html)

Màng nhĩ Ống tai

Vành tai

Trang 15

Ống nhĩ hầu (tuba auditiva eustachii): nối thông xoang nhĩ với phần mũi-hầu ở

thành bên khoang miệng Ống gồm một phần là xương phía xoang nhĩ, một phần là sụn phía hầu Bình thường đoạn phía hầu xẹp xuống đóng kín, khi nuốt nó được mở

ra làm không khí lọt vào xoang nhĩ Điều đó đảm bảo cho áp lực xoang nhĩ cân bằng với áp lực khí quyển, có tác dụng làm thuận lợi cho sự truyền dao động sóng

âm từ màng nhĩ vào tai trong và bảo vệ màng nhĩ khi có tiếng động mạnh

Nang chũm (cellulae mastoideae): là những xoang nhỏ nằm sâu trong phần chũm

của xương thái dương Các xương thông với nhau thành một hệ thống và thông với xoang nhĩ

Trang 16

2.1.3 Tai trong (auris interna)

Theo Phạm Thị Xuân Vân (1982): tai trong là bộ phận cấu tạo phức tạp nhất cũng là phần giữ chức năng quan trọng của cơ quan thính giác Toàn bộ tai trong nằm trong mảnh đá xương thái dương làm thành một kết cấu gọi là mê lộ (labyrinthus) Gồm

có mê lộ xương (labyrinthus osseus) và mê lộ màng (labyrinthus membranceus)

Mê lộ xương: gồm ba phần chính:

Phía trước là ốc tai có hình xoắn ốc làm nhiệm vụ tiếp nhận âm thanh

Giữa là tiền đình, là cơ quan nhận âm thanh và thăng bằng cảm giác

Phía sau là vòng bán khuyên gồm ba ống hướng theo ba chiều không gian (trước, sau, bên)

Cả ba phần có liên hệ với nhau và chứa đầy ngoại dịch (perilympha)

Mê lộ màng:

Phần mê lộ màng ở khoang tiền đình gồm hai túi: túi cầu thông với phần màng ốc tai, túi bầu thông với phần vòng bán khuyên Phần mê lộ màng ở phía các vòng bán khuyên in hình theo mê lộ xương bán khuyên Phần mê lộ màng ốc tai gồm hai màng chạy dọc ống xương ốc tai: màng phía trên mỏng gọi là màng tiền đình (màng Ressner), màng dưới dày hơn là màng nền Màng này phân ống ốc tai thành ba ống nhỏ:

Ống trên thông với tiền đình gọi là thang tiền đình

Ống dưới thông ra đến cửa sổ tròn gọi là thang màng nhĩ

Ống giữa thông ra túi cầu ở khoang tiền đình gọi là ống màng (ở gần đỉnh gốc tai, hai màng tiền đình và màng nền dính lại thành ống màng) Ống màng chứa dịch nội bào, thang tiền đình và thang màng nhĩ chứa dịch ngoại bào

2.2 Sinh lý quá trình viêm

2.2.1 Khái niệm

Theo Vũ Triệu An và Nguyễn Hữu Mô (2002): viêm là một phản ứng bảo vệ của cơ thể mà nền tản của nó là phản ứng tế bào, phản ứng này được hình thành và phát triển phức tạp dần trong quá trình tiến hoá của sinh vật

Trang 17

Theo Nguyễn Ngọc Lanh và ctv (2002): viêm là một phản ứng bảo vệ cơ thể chống lại yếu tố gây bệnh, vừa là phản ứng bệnh lý vì quá trình viêm gây ra tổn thương, hoại tử, rối loạn chức năng cơ quan,… có thể ở mức độ nặng nề, nguy hiểm Viêm

có bốn tính chất: sưng, nóng, đỏ, đau

2.2.2 Nguyên nhân gây viêm

Theo Nguyễn Ngọc Lanh và ctv (2002):

Mọi nguyên nhân dẫn đến tổn thương và làm chết một lượng tối thiểu tế bào tại chỗ đều có thể gây viêm ở chỗ đó Có thể xếp thành hai nhóm lớn:

Nguyên nhân bên ngoài:

Cơ học: từ sây sát nhẹ tới chấn thương nặng… gây phá huỷ tế bào và mô, làm phóng thích ra những chất gây viêm nội sinh

Vật lý: nhiệt độ quá cao hay quá thấp làm thoái hoá protid tế bào gây tổn thương enzyme; tia phóng xạ (UV, tia X) do tạo ra các gốc oxy tự do gây phá huỷ một số ezyme oxy hoá, gây tổn thương AND

Hoá học: các axit, kiềm mạnh, các chất hoá học khác (thuốc trừ sâu, các độc tố,…) gây huỷ hoại tế bào

Sinh học: là nguyên nhân phổ biến nhất gồm: virus, vi khuẩn, ký sinh trùng đơn bào, đa bào hay nấm

Nguyên nhân bên trong:

Có thể gặp như thiếu oxy tại chỗ, hoại tử mô, xuất huyết, rối loạn thần kinh dinh dưỡng (tắt mạch) Ngoài ra, viêm có thể gây ra do phản ứng kết hợp kháng nguyên-kháng thể như viêm cầu thận

2.2.3 Phân loại viêm

Theo Nguyễn Ngọc Lanh và ctv (2002): viêm được phân loại theo:

Nguyên nhân: viêm nhiễm khuẩn và viêm vô khuẩn

Tính chất: viêm đặc hiệu và không đặc hiệu

Vị trí: viêm nông và viêm sâu (viêm bên ngoài và viêm bên trong)

Diễn biến: viêm cấp và viêm mạn tính

Trang 18

Dịch rỉ viêm: viêm thanh dịch, viêm tơ huyết, viêm mủ, … tuỳ theo dịch viêm giống huyết thanh, huyết tương hay chứa nhiều bạch cầu thoái hoá

Theo Nguyễn Vượng và ctv (2000): viêm mủ do bạch cầu đa nhân bị huỷ hoại (tế bào mủ) và các mô bị hoại tử tạo ra Thường do các vi khuẩn sinh mủ (liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn) nhưng đồng thời cũng có tổn thương mủ vô khuẩn với cơ chế phức tạp hơn nhiều, có thể do: bạch cầu đa nhân bị huỷ hoại do chất độc không phải của vi khuẩn, hoặc hiện tượng tự huỷ, chính các enzyme trong lysosome của chúng gây ra (hiện tượng “tái xuất trong khi ăn” hoặc “hút nội bào đảo ngược”)

Viêm hoại thư: đây là một tổn thương hoại thư do thiếu máu, dịch rỉ viêm rất nhiều nhưng ít bạch cầu xuyên mạch, dễ hình thành huyết khối ở các tiểu động mạch

thường do các vi khuẩn yếm khí, đặc biệt là Clostridium perfingenrs có độc tính rất

mạnh gây hoại tử viêm tấy và sinh hơi

Theo Đỗ Trung Giã (2006): viêm hoại thư là do gia súc bị viêm cơ giới, sau đó vi khuẩn xâm nhập vào tổ chức gây viêm hoại thư Nếu trong vùng tổ chức bị hoại tử

có những mạch máu bị tổn thương mà không được thay thế thì vùng tổ chức bị hoại

tử ấy sẽ thành hoại thư

2.2.4 Những biến đổi chủ yếu trong viêm

Theo Nguyễn Ngọc Lanh và ctv (2002): tại ổ viêm có bộ ba biến đổi sau đây: rối loạn tuần hoàn, rối loạn chuyển hoá, tổn thương mô và tăng sinh tế bào Sự phân chia như vậy có tính chất nhân tạo cho dễ hiểu; trên thực tế chúng đan xen và liên kết chặt chẽ với nhau

Rối loạn tuần hoàn tại ổ viêm

Thường sớm, dễ thấy nhất; xảy ra ngay khi các yếu tố gây viêm tác động lên cơ thể

Có 4 hiện tượng sau đây của rối loạn tuần hoàn:

Rối loạn vận mạch: ngay khi các yếu tố gây viêm tác động, tại chỗ có các hiện tượng: co mạch, sung huyết động mạch, sung huyết tĩnh mạch, ứ máu

Hình thành dịch rỉ viêm: dịch rỉ viêm là các sản phẩm xuất huyết tại ổ viêm xuất hiện ngay từ khi sung huyết động mạch bao gồm nước, các thành phần hữu hình và thành phần hoà tan Trong đó đáng chú ý nhất là các chất có hoạt tính sinh lý

Trang 19

Bạch cầu xuyên mạch: khi tính thấm thành mạch tăng, có sự thoát mạch, máu chảy chậm, lúc đó bạch cầu rời khỏi dòng trục, tiến về phía ngoại vi tới bề mặt nội mô thành mạch Tại đây chúng trườn theo vách mạch (hiện tượng lăn), bám dính và xuyên mạch Để quá trình này xảy ra cần có sự tham gia của các thụ thể trên bề mặt bạch cầu, các chất hoá ứng động và các phần tử dính trên bạch cầu và trên tế bào

Bạch cầu thực bào: thực bào là hiện tượng bạch cầu giữ (ăn) và tiêu hoá đối tượng Như trên đã nói, bạch cầu tập trung đến ổ viêm, tại đó chúng tiếp tục di chuyển để tiếp cận với đối tượng thực bào Những chân giả của bạch cầu vươn tới quanh đối tượng thực bào, bọc kín chúng, hình thành bào thực bào (phagosome) Sau đó lysosome tiến tới hoà màng để tạo ra phagolysosome, giải phóng vào đó các chất trong lysosome để tiêu huỷ đối tượng

Rối loạn chuyển hoá

Tại ổ viêm quá trình oxy hoá tăng lên làm tăng nhu cầu oxy, nhưng sự sung huyết động mạch chưa đáp ứng kịp Do vậy, pH sẽ tiến tới giảm và giảm thực sự khi bắt đầu chuyển sang sung huyết tĩnh mạch, từ đó kéo theo hàng loạt những rối loạn chuyển hoá của glucid, lipid và protid

Tổn thương mô

Tại ổ viêm thường có hai loại tổn thương: tổn thương tiên phát do nguyên nhân gây viêm tạo ra, phải có tổn thương tiên phát tại chỗ thì mới phát triển thành ổ viêm; tổn thương thứ phát do những rối loạn tại ổ viêm gây nên

Tăng sinh tế bào và quá trình lành vết thương

Viêm bắt đầu gây ra tổn thương tế bào và kết thúc bằng quá trình phát triển tái tạo Ngay trong giai đoạn đầu đã có tăng sinh tế bào (bạch cầu đa nhân trung tính, rồi đơn nhân và lympho bào) Về cuối, sự tăng sinh vượt mức hoại tử khiến ổ viêm được sửa chữa Các tế bào nhu mô của cơ quan viêm có thể được tái sinh đầy đủ khiến cấu trúc và chức năng cơ quan vẫn được phục hồi; nếu không được như vậy thì một phần nhu mô bị thay bằng mô xơ (sẹo)

Trang 20

2.2.5 Ảnh hưởng của phản ứng viêm đến cơ thể

Theo Huỳnh Văn Kháng (2001): phản ứng viêm gây nhiều ảnh hưởng xấu đến cơ thể:

Tại chỗ: gây đau, gây hang hóc như viêm lao, gây tắt thở như bạch hầu,…

Toàn thân: sớm nhất là các rối loạn thần kinh như mệt mỏi, rồi đến các rối loạn tiêu hoá, tiết niệu, điều hoà thân nhiệt, tuần hoàn Những thay đổi về máu, quan trọng nhất là thay đổi số lượng và thành phần bạch cầu, nồng độ protein huyết tương, tốc

độ lắng máu, rối loạn chuyển hoá các chất, … Từ các rối loạn này lại làm tăng phản ứng viêm, xuất hiện vòng xoắn bệnh lý

2.3 Một số dạng viêm tai

Theo August (1986): giống quyết định hình dáng loa tai của chó, được xem là nguyên nhân mở đường của viêm tai ngoài Một số giống chó có kênh tai đặc thù,

dễ nhạy cảm với tình trạng viêm hơn các giống chó khác

2.3.1 Viêm tai ngoài

Theo Earl J Catcott (1968): viêm tai ngoài được báo cáo xuất hiện từ 3-16% trong tất cả các chó đến khám bệnh

Theo Nguyễn Văn Khanh & ctv (2009), trong 6815 chó bệnh được khảo sát thì có

125 chó bệnh viêm tai, chiếm tỷ lệ 1,83%

Phân loại

Viêm tai ngoài được phân làm hai thể:

Viêm tai ngoài cấp tính có thể là viêm tai nổi ban đỏ, chảy nhiều ráy tai, đóng vảy, loét hoặc làm mủ

Trang 21

Viêm tai ngoài mạn tính có thể là chứng phì đại hoặc hoá cứng (Earl J Catcott (1968))

Nguyên nhân

Theo Clarence M Fraser et al (1986): viêm tai ngoài do ba nguyên nhân cấu thành: nguyên nhân nguyên phát, nguyên nhân dẫn đường và nguyên nhân tiếp diễn

Nguyên nhân nguyên phát: là những yếu tố gây viêm bao gồm:

Dị ứng: đây là nguyên nhân phổ biến của viêm tai ngoài ở chó Chó có thể dị ứng với thức ăn, bọ chét, thuốc điều trị hoặc dị ứng do tiếp xúc như phấn hoa

Vật lạ trong tai: sự hiện diện của bất kì khối u hay ngoại vật lạ (sỏi, cỏ, lá cây…), hoặc những chất viêm (ráy tai, dịch tiết) bên trong tai làm cản trở sự lưu thông không khí, tạo điều kiện phát sinh viêm tai Ở một số trường hợp, ngoại vật có thể tổn hại đến màng nhĩ thì tổn thương sẽ nghiêm trọng hơn

Ký sinh trùng: ghẻ Otodectes cynotis, mò bao lông Demodex canis và ghẻ

Trombicula autumnalis là những ký sinh trùng điển hình trong tai chó

Rối loạn sừng hoá, rối loạn tuyến tai: đây là bệnh trên lớp nhầy dẫn đến kết quả là

sự hình thành vảy hay dư thừa chất nhờn của da hay ống tai Sự tăng tiết bả nhờn

là tình trạng phổ biến ở giống American Cocker Spaniels, Iris Setters và những giống chó Spaniel khác Bệnh này dẫn đến hoá vảy, nhiễm khuẩn da, tích tụ nhiều

ráy tai và gây ngứa nghiêm trọng Viêm hạch nhờn có thể thấy ở một số giống chó

như Akitas, Poodle và các giống khác, bệnh này dẫn đến rụng lông, hình thành

vảy trong tai và phần còn lại của cơ thể

Ngoài ra viêm tai còn có thể xuất phát từ bệnh ngoài da

Nguyên nhân dẫn đường: là những tình trạng hay cách chăm sóc dẫn đến vấn đề về

tai nhưng bản thân chúng không gây viêm tai Các nguyên nhân dẫn đường bao gồm:

Ngoại hình của tai:

Vành tai: viêm tai ngoài xảy ra trên chó ở tất cả các lứa tuổi nhưng thường là các con vật lớn tuổi Bệnh thường xuất hiện ở chó có vành tai xụ và lông tai dài, do ráy tai bị giữ lại trong ống tai, kém lưu thông khí tạo môi trường nóng

Trang 22

ẩm thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng tác động gây viêm nhiễm

Hình dạng và chiều dài của ống tai: điều quan trọng nhất của bệnh có thể là do

sự xuất hiện lớp lông dày ở ống tai ngoài, ống thính giác hẹp, quanh co, nhiều nếp nhăn

Cách chăm sóc tai: ống tai rất nhạy cảm và rất dễ bị tổn thương Khi chăm sóc nếu không cẩn thận vô tình sẽ tạo nên những vết thương trên tai chó tạo điều kiện cho quá trình nhiễm trùng

Các yếu tố khác:

Những chó có xu hướng thích tắm thường xuyên dễ gặp tình trạng tích nước trong tai Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn và nấm Yếu tố môi trường: khí hậu nóng ẩm, sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn và nấm

Phương pháp điều trị không hợp lý:

Dùng kháng sinh quá liều và không đúng có thể tiêu diệt những vi khuẩn có lợi

và tạo điều kiện cho các vi khuẩn có hại sinh sôi

Sử dụng những chất sát khuẩn gây kích ứng để rửa tai cũng là một yếu tố ở đường cho viêm tai Chó đã từng bị viêm tai ngoài nhưng do điều trị không đầy

đủ nên bị tái lại

Theo August (1986): sự ẩm ướt là một nguyên nhân mở đường quan trọng của viêm tai ngoài Bề mặt da của kênh tai phải có một độ ẩm ướt tối ưu để duy trì chức năng

“rào cản” vi sinh vật một cách hiệu quả Ngược lại nếu quá khô hay quá ẩm sẽ tạo điều kiện cho các vi sinh vật phát triển và hậu quả là gây viêm Vì thế bơi hay tắm thường xuyên là những nguyên nhân mở đường quan trọng cho viêm tai ngoài, vì nước dễ dàng lọt vào tai chó qua những hoạt động này

Nguyên nhân tiếp diễn: là những nguyên nhân gây sự viêm hay kích thích ngay cả

khi nguyên nhân nguyên phát đã được kiểm soát Nguyên nhân tiếp diễn bao gồm vi khuẩn và nấm

Vi khuẩn phổ biến trong viêm tai là: Streptococcus, Pseudomonas spp,

Staphylococcus, Proteus spp, Beta-haemolytic Streptococcus, Escherichia coli,

Trang 23

Klebsiella spp,… Viêm tai ngoài do vi khuẩn thường xuất hiện triệu chứng như:

hôi, xuất dịch mủ và loét

Nấm: Malassezia canis, Candida albicans, Aspergillus spp,… cũng là một trong

những nguyên nhân phổ biến trong viêm tai ngoài Triệu chứng của viêm tai do nấm bao gồm: tăng sinh tuyến ráy tạo chất bã màu đen hay kem, ngứa nổi mẫn đỏ, chó hay lắc đầu

Khảo sát 277 chó viêm tai và 35 chó có biểu hiện tai bình thường: nấm men

Pityrosporum được tìm thấy ở 44% tai chó bị bệnh, 36% tai chó khoẻ Nấm

Con vật thường cào-gãi tai và đầu

Con vật thường nghiêng-lắc đầu

Khi sờ vào vùng xung quanh tai con vật có phản ứng đau

Con vật có thể bỏ ăn, buồn bã hoặc có khi cáu gắt

Điều trị

Theo Earl J Catcott (1968): cần phải làm sạch và khô tai ngoài trước khi tiến hành điều trị Việc làm này nhằm mục đích loại bỏ môi trường thuận lợi cho vi khuẩn và nấm phát triển Đây là một thao tác rất quan trọng trong việc điều trị viêm tai ngoài

Đối với viêm tai ngoài cấp tính:

Nếu được điều trị sớm thì hiệu quả điều trị sẽ cao

Dịch tiết của viêm tai ngoài có thể trị được bằng cách nhỏ kháng sinh vào sâu trong tai Corticosteroid và ezyme phân huỷ protein có thể được dùng để kiềm chế sự thay đổi của viêm và làm lỏng dịch viêm

Trang 24

Trong điều trị viêm tai đòi hỏi phải kết hợp sử dụng kháng sinh điều trị cục bộ và toàn thân Tetracyline và Neomycine được chỉ định trong các trường hợp phát hiện sớm Trong khi Chloramphenicol, Polymycine và Colymycine thường có hiệu quả trong các trường hợp bệnh kéo dài quá lâu

Theo P J Quinn et al (1997): viêm tai ngoài do Pseudomonas rất khó điều trị, đặc biệt là Pseudomonas aeruginosa Pseudomonas aeruginosa thường kháng

Neomycine và Chloramphenicol, những thuốc nhỏ tai chứa kháng sinh được chỉ định trong việc điều trị cục bộ Những chế phẩm chứa Gentamycine nên được dùng

điều trị viêm tai ngoài bởi Pseudomonas aeruginosa và Proteus đã kháng lại những

kháng sinh khác

Khi Pseudomonas aeruginosa kháng Gentamycine, thì Gentamycine và

Tris-ethylenediamine tetra-acetate (Tris-EDTA) nên được sử dụng Vì Tris-EDTA nâng cao hiệu quả của kháng sinh này

Enrofloxacine (2.5 - 5.0mg/kg thể trọng, ngày hai lần) được đề nghị sử dụng điều trị

toàn thân đối với bệnh do Pseudomonas aeruginosa Điều trị nên thực hiện mỗi

ngày hai hoặc ba lần tuỳ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của viêm và tiếp tục cho đến khi tai con vật trở lại bình thường

Đối với viêm tai ngoài mạn tính:

Điều trị viêm tai ngoài mạn tính cũng dựa vào những nguyên tắc tương tự Thuốc sử dụng cũng giống như trong trường hợp viêm tai ngoài cấp tính

Trong một số trường hợp điều trị ngoại khoa là cần thiết như: viêm gây tăng sinh ở ống tai ngoài

Việc chữa trị viêm tai ngoài mạn tính sẽ có hiệu quả cao hơn khi phối hợp cả hai phương pháp phẫu thuật và dùng thuốc

Chủ chó nên được hướng dẫn cách dùng thuốc điều trị

2.3.2 Viêm tai giữa

Theo Earl J Catcott (1968): viêm tai giữa ở chó cũng xuất hiện thường xuyên Một

số tác giả cho rằng nó cũng phổ biến như viêm tai ngoài Trong một cuộc nghiên cứu chi tiết 164 trường hợp viêm tai trong đó có: 60 trường hợp chỉ viêm tai ngoài,

58 trường hợp chỉ viêm tai giữa, 46 trường hợp vừa viêm tai ngoài vừa viêm tai

Trang 25

giữa Trong các trường hợp trên, viêm tai ngoài một bên tai chiếm 23 trường hợp, còn viêm tai giữa một bên tai là 64 trường hợp Một số tác giả cho rằng bệnh viêm tai giữa xảy ra chủ yếu trên chó nhỏ Nó thường xảy ra ở một bên tai và chủ chó thường không quan tâm

Nguyên nhân thứ phát: viêm tai giữa thường do sự lây lan của viêm từ ống tai

ngoài, hoặc do tác nhân cơ giới như ngoại vật làm thủng màng nhĩ,…

Triệu chứng

Triệu chứng của viêm tai giữa cũng giống như viêm tai ngoài nhưng thêm vào một

số triệu chứng như: mệt mỏi, sốt nhẹ, sung huyết ở hầu, sưng hạch amydan, nghiêng đầu về một bên, nhức nhối ở gốc tai

Điều trị

Đối với viêm tai giữa nguyên phát: điều trị bằng cách sử dụng kháng sinh toàn thân

Penicillin thường có hiệu quả vì vi khuẩn gây bệnh Staphylococcus hoặc

Streptococcus từ hầu

Nếu con vật bị sốt và nhiễm trùng huyết thì dùng Chloramphenicol

Có thể sử dụng thêm thuốc giảm đau và kháng viêm toàn thân

Trong trường hợp mạn tính, thường ở thể thứ phát cần thiết giải phẫu rạch màng nhĩ

và thủ thuật đục xương trong xoang nhĩ Sau khi làm thủng màng nhĩ nên sử dụng kháng sinh tại chỗ là toàn thân Nếu ống tai ngoài bình thường, bệnh thường nhanh

Ngày đăng: 12/04/2018, 17:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm