Tên bảng Nôi dung Trang Phân bố số mẫu khảo sát tình hình nhiễm ve Varroa và Nosema trên đàn ong mật ở Tây Nguyên Kết quả khảo sát tình hình nhiễm Nosema trên ong tại thành phố Kết quả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
HUỲNH TUẤN ANH
KHẢO SÁT BỆNH KÝ SINH TRÊN
Luận văn tốt nghiệp Ngành: BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: BÁC SĨ THÚ Y
Tên đề tài
KHẢO SÁT BỆNH BỆNH KÝ SINH TRÊN
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.s Đỗ Trung Giã Huỳnh Tuấn Anh Th.s Võ Minh Châu Mssv: 3064500
Lớp Thú Y K32
Cần Thơ, 2010
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề Tài: Khảo sát bệnh ký sinh trên đàn ong mật (Apis mellifera); do sinh viên
Huỳnh Tuấn Anh thực hiện tại Trung Tâm Thú Y Vùng VI (địa chỉ 124 Phạm Thế Hiển, phường 2, quận 8, Tp HCM), từ ngày 08/09/2010 đến ngày 08/11/2010
Cần thơ, ngày tháng năm 2010 Cần thơ, ngày tháng năm 2010
Duyệt Bộ Môn Duyệt Giáo Viên Hướng Dẫn
Cần thơ, ngày tháng năm 2010 Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Huỳnh Tuấn Anh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình vì đã nuôi dưỡng
và động viên con trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến thầy Đỗ Trung Giã, cô Nguyễn Thị Tuyết Nhung, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cám ơn các thầy cô Bộ môn Thú y và Bộ môn Chăn nuôi thú y đã hướng dẫn
và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập
Cám ơn lãnh đạo Cơ Quan Thú y Vùng VI đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và thực hiện đề tài tại cơ quan Cám ơn Th.s Võ Minh Châu và các anh chị tại
cơ quan đã chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong khoảng thời gian thực hiện đề tại tại cơ quan
Chân thành cảm ơn các bạn trong và ngoài lớp Thú y K32 đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Trang 62.1 Giới thiệu một số bệnh trên đàn ong mật
2.2 Bệnh tiêu chảy ở ong – Nosemosis of honey bees
2.2.1 Tác nhân gây bệnh 2.2.2 Nhiễm bệnh tự nhiên 2.2.3 Triệu chứng
2.2.4 Điều trị
2.3 Bệnh ký sinh do ve Varroa – Varoatosis:
2.3.1 Hình dạng 2.3.2 Vòng đời 2.3.3 Nguồn gốc xuất xứ và cách lây lan 2.3.4 Mức độ tác hại của ve
i
ii iii
iv
vi vii viii
Trang 7Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Thời gian và địa điểm
3.2 Vật liệu, hóa chất, trang thiết bị và dụng cụ thí nghiệm
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.4 Cách lấy mẫu và xét nghiệm
3.5 Tiến hành xét nghiệm
3.5.1 Phương pháp khảo sát bệnh tiêu chảy ở ong
3.5.2 Phương pháp khảo sát bệnh ký sinh do ve Varroa
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình nhiễm Nosema ở ong
4.2 Tình hình nhiễm ve Varroa ở ong
Trang 8Tên bảng Nôi dung Trang
Phân bố số mẫu khảo sát tình hình nhiễm ve Varroa và Nosema
trên đàn ong mật ở Tây Nguyên
Kết quả khảo sát tình hình nhiễm Nosema trên ong tại thành phố
Kết quả khảo sát tình hình nhiễm Nosema trên ong tại Gia Lai
Kết quả khảo sát tình hình nhiễm Nosema trên ong tại thành phố
Pleiku
Kết quả khảo sát tình hình nhiễm Nosema trên đàn ong mật tại
Tây Nguyên
Kết quả khảo sát ve Varroa tại Buôn Đôn được phát hiện bằng
phương pháp kiểm tra trên ong
Kết quả khảo sát ve Varroa tại Đắc Nông được phát hiện bằng
phương pháp kiểm tra trên ong
Kết quả khảo sát ve Varroa tại Gia Lai được phát hiện bằng
phương pháp kiểm tra trên ong
Bảng kết quả khảo sát nhiễm ve Varroa được phát hiện bằng
phương pháp kiểm tra mẫu tạp chất tại Buôn Đôn
Bảng kết quả khảo sát nhiễm ve Varroa được phát hiện bằng
phương pháp kiểm tra mẫu tạp chất tại Đắc Nông
Bảng kết quả khảo sát nhiễm ve Varroa được phát hiện bằng
phương pháp kiễm tra mẫu tạp chất tại Gia Lai
Tỷ lệ nhiễm ve Varroa trên đàn ong mật Tây Nguyên (kết quả
Trang 9Phương pháp điều trị ve Varroa hiện nay Bayvarol được sử dụng trong điều trị ve Varroa
Thu nhặt 60 con ong cho vào lọ nhựa
Bào tử Nosema
Mẫu tạp chất dưới đáy thùng ong
Phân biệt ve Varroa và rệp ong
Biểu đồ kết quả khảo sát tình hình nhiễm Nosema tại Buôn
Ma Thuộc
Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Nosema trên đàn ong mật Tây Nguyên
Biểu đồ kết quả khảo sát tình hình nhiễm ve Varroa tại Buôn
Đôn được xác định bằng phương pháp kiểm tra ve trên ong
Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ve Varroa tại Tây Nguyên
Trang 10TÓM LƯỢC
Hiện nay, một số bệnh xảy ra trên đàn ong mật đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về mặt kinh tế, số lượng ong giảm gây thiệt hại đến ngành nông lâm nghiệp, sản lượng các sản phẩm từ ong giảm gây ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng
và xuất khẩu
Đề tài: “Khảo sát bệnh ký sinh trên đàn ong mật (Apis Mellifera)” được thực
hiện tại trung tâm thú y vùng VI từ ngày 14/10/2010 đến 17/10/2010 Mẫu được lấy
về từ các tỉnh Tây nguyên một cách ngẫu nhiên Tại 27 trại được khảo sát mẫu được lấy ngẫu nhiên và bảo quản cẩn thận
Sau khi tiến hành khảo sát ta thu được các kết quả như sau: Tỷ lệ nhiễm
Nosema là 70,4 % - một tỷ lệ rất cao Tỷ lệ nhiễm ký sinh ve Varroa trên đàn ong
mật ở Tây Nguyên rất thấp trung bình chỉ chiếm 11,1 % ở các trại ong
Trang 11Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một quốc gia có điều kiện tự nhiên thuận lợi, hệ động thực vật phong phú và đa dạng, thuận lợi cho việc phát triển nghề chăn nuôi ong
Ong mật cho chúng ta nhiều sản phẩm quý giá như: mật ong, sữa ong chúa, phấn hoa, sáp ong… Đó là những sản phẩm bổ dưỡng có lợi cho sức khỏe con người Các sản phẩm trên còn có trong các bài thuốc y học cổ tryền có giá trị chữa bệnh cao và còn là các nguyên liệu để chế biến mỹ phẩm cao cấp và nhiều sản phẩm của các nghành công nghiệp khác Ngày nay con người thích sử dụng các sản phẩm
có nguồn gốc tự nhiên, nên nhu cầu của con người về các sản phẩm ong cũng được tăng lên đáng kể
Ngoài việc cung cấp cho con người các sản phẩm quý giá kể trên ong còn có vai trò hết sức quan trọng là thụ phấn chéo cho các cây trồng và cây tự nhiên khi bay đến các bông hoa để lấy mật và phấn Nhờ thụ phấn chéo mà năng suất và phẩm chất các cây nông lâm nghiệp tăng lên rõ rệt Ong còn là thiên địch của một
số côn trùng gây hại cho cây trồng nông nghiệp
Nuôi ong còn là một ngành có giá trị kinh tế và xã hội vì nó không bóc lột nguồn tài nguyên của thiên nhiên, không tốn đất đai như các ngành kinh tế khác Nuôi ong mang lại hiệu quả kinh tế cao vì các sản phẩm có giá trị hàng hóa cao, làm tăng thu nhập cho nhiều gia đình
Trước đây nghề nuôi ong chỉ hạn chế ở các vùng trung du và vùng rừng núi miền Bắc và miền Trung Vào đầu những năm 1960, ở miền Bắc ong nội địa được chuyển sang nuôi trong thùng cải tiến, có khung cầu, lấy mật bằng thùng quay li
tâm Ở miền Nam khi ong ngoại (Apis mellifera) được du nhập từ Hồng Kông vào
nước ta thì nghề nuôi ong mới được phát triển mạnh mẽ Đặc biệt vào những năm đầu của thế kỷ XXI, nghề nuôi ong nước ta đã có bước phát triển đột phá
Theo số liệu của U.S Customs Service (2006) thì sản lượng mật ong nhập khẩu vào Hoa Kỳ liên tục tăng từ năm 1995 đến 2005 và đến năm 2005 thì chiếm khoảng 12,85% tổng lượng mật ong nhập khẩu vào Hoa Kỳ Theo báo cáo của trung tâm thú y vùng TP Hồ Chí Minh (2005, 2006), số liệu xuất khẩu mật ong
Trang 12năm 2004 là 10.000 tấn, năm 2005 là 12.449 tấn và sáu tháng đầu năm 2006 là 12.500 tấn Điều này cho thấy khối lượng mật ong xuất khẩu tăng đều qua các năm
Hiểu được những lợi ích nghề chăn nuôi ong mang lại Được sự đồng ý trường Đại Học Cần Thơ, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, tôi đã tiến
hành thực hiện đề tài “Khảo sát bệnh ký sinh trên đàn ong mật apis mellifera”
Luận văn được hướng dẫn bởi Th.s Đỗ Trung Giả và Th.s Võ Minh Châu
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN 2.1 Giới thiệu một số bệnh trên đàn ong mật
Giống như các loài vật nuôi khác, ong mật cũng dễ dàng mắc một số bệnh Các bệnh do vi khuẩn như: thối ấu trùng Châu Âu, thối ấu trùng Châu Mỹ Bệnh do virus như: bệnh thối tuổi lớn hoặc nấm gây ra những thiệt hại cho người nuôi ong mật Đặc biệt là do nuôi ong phải di chuyển đường dài bệnh càng lây lan nhanh
Tuy nhiên có 2 loại bệnh quan trọng gây tổn thất nặng nề cho đàn ong mật đó
là 2 bệnh: nội ký sinh do Nosema và ngoại ký sinh là ve Varroa Vì vậy đề tài này
nghiên cứu tập trung vào 2 bệnh này để xem mức độ nhiễm bệnh ở trên đàn ong mật
Apis mellifera như thế nào
Theo báo khoa học và đời sống ngày 27 tháng 8 năm 2010, từ nhiều năm nay giới nuôi ong cũng như những người quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường trên thế giới đều lo lắng trước hiện tượng ong mật chết quá nhiều
Theo khảo sát vào năm 2008, tỷ lệ ong mật chết lên đến 30% ở Mỹ vào cuối mùa đông, Canada tổn thất một phần ba số ong Ở Trung Đông tỷ lệ ong chết lên đến 20% tại Libya và Jordan, thậm chí đến 80% ở một số vùng được nghiên cứu thuộc Syria và Iraq
Các nhà nuôi ong Châu Âu xác định loại ký sinh trùng ve Varroa chính là sát
thủ đã tiêu diệt ong Nhà nghiên cứu Tây Ban Nha Mariano Higes (2010) cho rằng
ký sinh trùng Nosema cũng là nguyên nhân của các tai họa xảy đến cho loài ong
Những thiệt hại do ký sinh trùng gây ra ảnh hưởng lớn đến tất các đàn ong mật trên toàn thế giới Việt Nam cũng không ngoại lệ
2.2 Bệnh tiêu chảy ở ong – Nosemosis of honey bees
Bệnh Nosemosis là một bệnh của ong trưởng thành Bệnh phổ biến ở nhiều nước Theo Zender (1912) tác nhân gây bệnh là Nosema apis tấn công chủ yếu ở
thành ruột giữa và ở khí quản trên cơ thể ong Bệnh có thể tiến triển một cách tiềm
ẩn (mãn tính) hay biểu hiện dưới thể cấp tính làm suy yếu hay chết đàn, gây những
tổn thất kinh tế quan trọng Bệnh tiêu chảy do Nosema gây ra thường xuất hiện vào
vụ đông xuân sau những ngày mưa kéo dài ong không bay ra ngoài được
Trang 142.2.1 Tác nhân gây bệnh
Về mặt phân loại Nosema apis thuộc ngành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ
Cnidosporidae, giống Nosema Để phát tán chúng phải tăng trưởng ở một giai đoạn
nhất định của chu kỳ sinh học để hình thành nhiều nha bào Ở bộ Cnidosporidae
những nha bào còn có 1 sợi cố định nha bào vào thành ruột ong và nhờ sợi ấy mà mầm bệnh xâm nhập vào các mô Sợi cực này cuộn xoáy ốc trong nha bào
Chu trình phát triển của của Nosema apis đã được mô tả chi tiết lần đầu tiên
bởi Trappmann năm 1920 và 1921 Những nghiên cứu của Kramer, Weiser, Vavra, Huger và các tác giả khác chứng minh mầm phôi thai chủ động di chuyển trong sợi cực đến đầu sợi thì nó xuất hiện như một giọt nhỏ rất dễ quan sát được Tác giả Bailey cho là mầm phôi thai di chuyển dọc theo sợi cực Chống lại sợi cực có một
số trở ngại chủ yếu là màng dinh dưỡng ngoài của tế bào; tuy nhiên chính mầm phôi thai đã tiết những chất men tác động trên màng tế bào, giúp cho sợi cực
Theo Trappmann, sợi cực chỉ hình thành một khi nha bào ra ngoài thiên nhiên và điều đó cho nó khả năng xâm nhiễm vào ong
Ngoài thân thể ong, Nesoma chỉ có thể tồn tại dưới dạng nha bào Với tác
động của ngoại cảnh sức chống đỡ của nha bào rất mạnh Ở nhiệt độ bình thường nha bào có thể tồn tại trong cơ thể ong chết trên đất sau 30 – 44 ngày Tồn tại trong mật đến 117 – 251 ngày Khi đem đun mật ở 58oC nha bào tồn tại được 10 phút
2.2.2 Nhiễm bệnh tự nhiên:
Nhiễm bệnh tự nhiên do nha bào Nesoma gây ra Những nha bào này từ
phân của ong thợ rơi trên mình những ong làm việc trong tổ hay ong thợ lây bệnh cho nhau do liếm lẫn nhau hoặc do tiếp xúc trực tiếp
Gontarski và Wagner đã đếm được trong ruột giữa của một con ong hơn 250
triệu nha bào Nosema và trong trực tràng thì gấp đôi Phân cũng rơi trên các ngăn
dự trữ mật, cửa thùng ong… Những ong khỏe sẵn sàng liếm khi phân còn tươi và gặm khi phân khô Chúng cũng liếm hậu môn lẫn nhau sau khi thải phân Ong chúa và ong đực cũng có thể nhiễm bằng cách đó và phân tán nha bào trong tổ cùng với phân
Theo Steche, mật của những đàn ong bị bệnh nặng chứa 1 lượng nha bào tương ứng với cường độ của bệnh, có thể chứa 10 triệu nha bào trong 1g mật Mật
là nguồn truyền bệnh nguy hiểm
Trang 15Năm 1961, Dreher đã lưu ý đến thói quen thải phân của ong khi chúng thu hoạch thức ăn, nước uống hay phấn hoa; điều này không quan trọng lắm khi ong thăm hoa, nhưng quan trọng với những chỗ cho ăn, cho uống nhân tạo Ở những chổ này những con ong chen chúc nhau Không nên dùng các dụng cụ cho ăn phẳng
2.2.3 Triệu chứng:
Những triệu chứng phát tương đối muộn, không có gì đặc trưng và cũng không giống nhau trong mọi trường hợp vì có nhiều nhân tố can thiệp vào nguyên nhân bệnh Một triệu chứng rõ là trạng thái của ruột giữa: bình thường và khi bệnh bắt đầu, thành ruột trong, rồi thành nâu đỏ hay vàng nhạt
Càng về sau thì lượng nha bào trong thành ruột tăng thì thành màu xám bẩn hay màu trắng đục
Khi bệnh bắt đầu, cũng không thấy các ong thợ hoạt động kém đi Thường bụng bị căng do tích lại quá nhiều thức ăn; trong trường hợp bệnh đã kéo dài thấy ong không bay được do các túi hơi ở bụng bị ép Quan sát gần tổ thấy có những con ong bò lết trên mặt đất, leo lên các ngọn cỏ, cố gắng bay lên mà không được, có những dấu hiệu yếu ớt, cánh xòe ra, tê liệt hay đi tả
Khi mở nắp thùng thì thấy phân vung vãi ngay trên cầu ong, phân lỏng màu vàng nâu Các ong thợ không bay được, tụ tập thành từng đám nhỏ Tỷ lệ chết thay đổi tùy vào sự tiến triển của bệnh
Nhưng những triệu chứng đó không đặc trưng cho bệnh vì giống nhiều bệnh khác Thường ong chết rất nhanh và do có nhiều con chết ngoài trời nên người nuôi
Hình 2.1: Những con ong yếu ớt, bò lết trên mặt đất
(Nguồn http://www.melinet.gr)
Trang 16ong không thấy Do đó nhiều đàn ong nhiễm bệnh Nosemosis bị diệt trong thời
gian ngắn, mà người nuôi ong không biết rõ nguyên nhân, trừ hiện tượng ong kéo lê trước lỗ bay và rơi xuống đất
Ở một con ong bệnh, sự tiêu hóa không thể thực hiện một cách bình thường,
do các tế bào ở ruột giữa và sự bài tiết của nó đã bị phá hoại; ong tiêu thụ thức ăn nhiều hơn bình thường, khó phát hiện việc ăn quá mức này trên một con ong riêng
lẻ, nhưng dễ thấy trên toàn đàn
Chuẩn đoán lâm sàng:
Theo tác giả Alfred Borchert thường khó phát hiện bệnh Nosemosis kịp thời
vì không thấy được các triệu chứng đặc trưng và những triệu chứng trước khi chết của ong bệnh thường bị bỏ qua
Vào mùa đông các đàn bị bệnh thường bị kích động, bay không nhanh nhẹn, tiêu thụ thức ăn quá nhiều, khát nhiều, vãi phân khắp tổ, phân thành giọt nhỏ hay tia lỏng màu nâu vàng, dính vào thành các ngăn tổ Đàn phát triển chậm, ấu trùng phân tán và không được nuôi dưỡng đầy đủ, đàn bị yếu đi
Nếu không khắc phục sự thiếu hụt đó thì đàn bị chết hoặc năng suất vào mùa
hè giảm Có khi chỉ còn một dúm ong bao quanh ong chúa Trong thời kỳ nuôi ấu trùng bao giờ cũng phải nghi ngờ khi một đàn khỏe mạnh bị suy sụp vào lúc qua đông
Chuẩn đoán dưới kính hiển vi:
Có thể chuẩn đoán bệnh một cách chắc chắn bằng cách xác minh dưới kính
hiển vi các nha bào của Nosema apis trong ruột của những con ong nghi ngờ; để
phát hiện nên kiểm tra những xác ong thu nhặt sau khi thấy chết hàng loạt (vào những đợt bay dọn tổ)
Việc phát hiện các nha bào sau khi xét nghiệm chứng tỏ đàn ong đã nhiễm
bệnh Nosemosis và đòi hỏi cần điều trị Đối với những trường hợp bệnh tiềm ẩn
(mãn tính) phải theo dõi chăm sóc đàn thật tốt, để phòng bệnh chuyển sang cấp tính nếu điều kiện thời tiết không thuận lợi
Để xác định ký sinh trùng có tồn tại trong đàn hay không, ta dùng phương pháp sau: nghiền nát ruột hay bụng của khoảng 10 – 30 con ong làm tiêu bản soi kính Nếu muốn xác định cường độ nhiễm bệnh thì phải kiểm tra cá thể: đếm các nha bào trong 30 thị trường ở kính hiển vi cho mỗi tiêu bản, rồi tính con số bình
Trang 17hiệu lực của 1 phương pháp điều trị hoặc sự tiến triển của bệnh trong 1 mùa nuôi ong
Quan sát có thể nhận thấy được những nha bào bên cạnh những vi khuẩn, tế bào thành ruột, hạt phấn hoa v.v… Nha bào rất to hình bầu dục, không màu, bóng
có vẻ như là rỗng Nếu muốn nhìn rõ bên trong thì nhuộm bằng một dung dịch loãng Fucsin hay xanh Metylen, Giemsa, những thuốc này làm nổi cái mầm dạng Amip của ký sinh trùng, cấu tạo của nhân các tế bào riêng của thành ruột cũng nhìn được rõ hơn
2.2.4 Điều trị:
Cần xác định được những nhân tố bên ngoài có hại đã làm bệnh nổ ra, cố gắng loại trừ những nhân tố đó Ngăn cản sự phân tán của ký sinh trùng bằng các phương pháp vệ sinh thích hợp, đặc biệt là loại trừ những ong già mang trùng và các nguồn lây nhiễm khác (khu vực dự trữ phấn hoa, các khu vực khác của tổ)
Lập lại thăng bằng giữa ong và ký sinh trùng nếu không có khả năng loại trừ
ký sinh trùng hoặc thay chúa mới
Sử dụng thuốc điều trị: Theo tác giả Phùng Hữu Chính (1999), có thể điều
trị Nosema bằng cách cho đàn ong ăn thuốc Fumagilin hòa tan trong nước đường
với liều lượng 25 mg thuốc / 1 lít sirô đường cho 40 cầu ong ăn liên tục trong 10 ngày Cần dừng cho ăn trước vụ mật 3 tuần Cần kết hợp thay thùng, rũ hết cầu bệnh, ủ ấm cho đàn ong Nếu không có Fumagilin có thể thay bằng thuốc Penicilin
1 triệu đơn vị / lít nước đường Một số người nuôi ong giã nhỏ 10g gừng tươi hòa trong 1 lít siro cho 10 cầu ong ăn cũng thấy có tác dụng
2.3 Bệnh ký sinh do ve Varroa – Varoatosis:
Ve Varroa ký sinh ở ong trưởng thành và ấu trùng của ong Ve xâm nhập
vào phần da giữa các đốt cơ thể giữa các mảnh giáp cứng của bụng ong trưởng thành để hút bạch huyết Ve đôi khi có thể được tìm thấy ở khớp nối giữa đầu và ngực Thời gian sống của ve tùy thuộc vào nhiệt độ và ẩm độ, nhưng trên thực tế,
ve có thể sống từ vài ngày đến vài tháng
Nhận diện tác nhân gây bệnh: Các dấu hiệu lâm sàng của bệnh Varrosis chỉ
nhận thấy vào giai đoạn cuối của bệnh, do đó các chẩn đoán dựa vào kiểm tra các tạp chất dưới đáy thùng ong Tạp chất sinh ra vào mùa hè đặc biệt có ích cho chẩn đoán Chẩn đoán sớm và chính xác nhất chỉ có thể thực hiện được sau khi áp dụng chế độ dùng thuốc làm cho ve rơi ra hay tiêu diệt ve trực tiếp Số lượng lớn mẫu
Trang 18tạp chất có thể được kiểm tra bằng phương pháp phù nổi Ong được rửa trong dầu khoáng, alcohol hay dung dịch chất tẩy rửa
2.3.1 Hình dạng:
Ve Varroa chỉ ký sinh trên ong trưởng thành và ấu trùng ong Bốn loài ve đã được ghi nhận: Varroa jacobsoni, Varroa destructor, Varroa underwoodi và Varroa
rinderi Cho đến gần đây, ve Varroa đang gây nhiễm cho ong Apis mellifera trên
thế giới là Varroa destructor
Là loài ve 8 chân, con đực có kích thước 1,1 mm – 1,2 mm, màu trắng xám, con cái có kích thước 1,5 mm – 1,8 mm màu nâu sáng, màu cà phê, chân có nhiều giác bám và bám rất chắc
Hình 2.2: Ve cái (bên trái) và ve đực (bên phải)
Ảnh chụp ở độ phóng đại ×10
kính phóng đại
Trang 19ong thợ Sau khi ô chứa ấu trùng được đậy nắp, ve cái bắt đầu đẻ trứng vào 2-3 ngày sau (thường là trứng cho ve đực) Các trứng đẻ tiếp theo cách khoảng bảy ngày (thường là trứng nở ra ve cái) và sau đó cách nhau 1-2 ngày Trứng nở thành các ấu trùng, nhưng chỉ hai đến ba ấu trùng đạt đến giai đoạn trưởng thành
Số lượng ve thường gia tăng chậm chạp và bắt đầu vào mùa ong mật Các dấu hiệu lâm sàng có thể thấy ở mọi thời điểm trong mùa hoạt động lấy mật, mặc dù
số lượng tối đa đạt được vào cuối mùa, khi đó các dấu hiệu lâm sàng đầu tiên về tổn hại mới có thể ghi nhận được Thời gian sống của ve trong ấu trùng hay ong trưởng thành tùy thuộc vào nhiệt độ và ẩm độ
Hình 2.3: Sự phát triển của Varroa: E = Trứng, L = Ấu trùng, P = Tiền nhộng, D = nhộng,
A = Trưởng thành (Giới tính của trứng, ấu trùng và tiền ấu trùng chỉ có thể phân biệt được
bằng kiểm tra nhiễm sắc thể) Nguồn: Anderson & Trueman (2000)
Trang 202.3.3 Nguồn gốc xuất xứ và cách lây lan:
Nguồn gốc:
Nguồn gốc xuất xứ từ ong nội địa phương đông, nằm ở rặng núi Uran, Afghanistan, mặc dù 2 khu vực này xa nhau nhưng do phương thức giao du tìm nguồn thức ăn của ong rừng và việc mua bán ong giống mà mầm bệnh được lan
truyền từ con ong Apiscerana Indica ở các rừng núi trung đông sang con ong nuôi
Apis Mellifera ở phương Tây
Cách lây lan và truyền bệnh:
Do sự giao du của các đàn ong: Ong di chuyển vùng ở, ong bốc bay, ong tìm nguồn thức ăn, ong di cướp mật và ong đi về nhầm tổ
Do sự mua bán ong chúa và các đàn ong giống của các trại ong, các vùng, các địa phương không qua công tác kiểm dịch
Do thao tác chăm sóc nuôi dưỡng của những người nuôi ong, không cách ly điều trị các đàn ong bị ve, nhân ghép đàn tùy tiện
Do công tác vệ sinh các dụng cụ nuôi ong không tốt, sử dụng khung cầu quá cũ
Sự tồn tại của ong rừng Apis cerana vừa là ký chủ trung gian và là ký
chủ mầm bệnh
2.3.4 Mức độ tác hại của ve:
Đối với loại ong trưởng thành:
Gây cản trở đi lại vệ sinh và làm việc trong tổ, hạn chế ong chúa tiết sữa nuôi ấu trùng
Làm ong thợ suy yếu giảm sức chống đỡ với các loài sâu bệnh khác, ảnh hưởng tốc độ đi thu mật phấn hoa
Ve bám vào cơ thể ong thợ hút dinh dưỡng và tạo ra các vết thương để cho các loại vi khuẩn khác xâm nhập gây rối loạn chức năng hoạt động của ong thợ
Đối với ong non mới nở:
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ngày càng tăng, thân hình con ong bị nhỏ bé lại, chân cẳng què quặt, chân cụt cánh xoắn hoặc không có cánh
Trang 21Đối với ấu trùng và nhộng:
Khi ấu trùng gần vít nắp, ve lẻn vào sinh sống bằng chất huyết tương của ấu trùng và nhộng đặc biệt là ấu trùng ong đực, nếu nặng thì ấu trùng và nhộng sẽ chết
Hình 2.5: Ve bám vào ấu trùng và nhộng
Hình 2.4: Tác động của ve Varroa lên hình thái của ong
Trái: hình dạng ong bình thường Phải: ong bị ve tấn công nặng nề
Ong mới lột xác này có cánh dị hình và thể tích bụng giảm đi
Nguồn: Anderson & Trueman (2000)
Trang 222.3.5 Các biện pháp phòng và trị ve:
Biện pháp phòng ngừa:
Thùng cũ phải được khử trùng bằng cách phơi nắng hoặc để nơi khô ráo trong vòng 15 - 30 ngày là ve sẽ chết
Trong trại ong khi phát hiện đàn ong có ve thì phải triệt để xử lý
Không đặt các trại ong gần những cánh rừng, ong nhà sẽ giao du với ong rừng truyền lây ve
Địa điểm đặt trại ong đảm bảo thoáng mát có nhiệt độ từ 200
Tách cầu nhộng và cầu ấu trùng tuổi lớn rồi đánh thuốc
Đối với bầy ong trong thời gian khai thác thì không cần đánh thuốc vì không có ấu trùng sẽ không có nơi sinh sản của ve cái
Sau khi ấu trùng và nhộng nở hết cũng là hết thời gian khai thác thì ta dùng thuốc đánh liên tục 2 – 3 đêm
Đối với ong trưởng thành:
Dùng bột lưu huỳnh rắc lên than đã ngún lửa đỏ chỉ còn khói thổi nhẹ lên người của ong thợ ở cửa tổ
Dùng acit formic 85% xông khoảng 5ml vào thùng ong vào buổi chiều, 3 ngày liên tiếp
Dùng thuốc xông khói đặc trị Phenontiazin
Khi xông thuốc ve sẽ rơi xuống, dưới đáy thùng lót bìa dính, 5 phút sau lấy bìa dính ra khỏi thùng, đóng dần nắp thùng ong lại