1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KẾT QUẢ CHẨN đoán và HIỆU QUẢ một số THUỐC điều TRỊ BỆNH GAN ở CHÓ tại BỆNH xá THÚ y TRƯỜNG đại học cần THƠ

55 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 4,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phần cấu tạo của tiểu thùy gan gồm có những mao mạch trong tiểu thùy mao mạch nan hoa chuyển máu của động mạch gan và tĩnh mạch cửa vào tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy.. Trong trường

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

MAI NGỌC HIẾU

KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH GAN

Ở CHÓ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Luận văn tốt nghiệp Ngành: BÁC SĨ THÚ Y

Cần Thơ 12/2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: BÁC SĨ THÚ Y

Tên đề tài:

KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH GAN

Ở CHÓ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

MSSV: 3064514 Lớp: Thú Y K32

Cần Thơ 12/2010

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

Đề tài: Kết quả chẩn đoán và hiệu quả một số thuốc điều trị bệnh gan ở chó tại Bệnh Xá Thú Y trường Đại Học Cần Thơ; do sinh viên: Mai Ngọc Hiếu thực hiện tại Bệnh Xá Thú Y, trường Đại học Cần Thơ từ 05/08/2010 đến 16/10/2010

Cần Thơ, ngày tháng năm 2010 Cần Thơ, ngày tháng năm 2010 Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn

Trang 4

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Dương Bảo đã hết lòng hướng dẫn, truyền đạt nhiều kiến thức và kinh nghiệm quí báu cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành biết ơn tất cả các anh chị đang công tác tại Bệnh Xá Thú Y Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình đóng góp nhiều ý kiến quí báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cảm ơn tất cả các bạn lớp Thú Y K32 đã chia sẻ cùng em những buồn vui trong quá trình học tập cũng như hết lòng hỗ trợ, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Cuối lời xin chúc quý thầy cô và các anh chị sức khỏe và thành công để dìu dắt từng lớp sinh viên

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

2.2 Cấu tạo mô học của gan 3

2.3 Chức năng sinh học của gan 5

2.4.1 Một số nguyên nhân gây bệnh lý của gan 13

Trang 6

2.4.4 Triệu chứng lâm sàng 16 2.4.5 Triệu chứng cận lâm sàng 17

Chương 3: Phương Tiện và Phương Pháp Thí Nghiệm 24

3.1 Phương tiện thí nghiệm 24 3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 24 3.1.2 Đối tượng thí nghiệm 24 3.1.3 Trang thiết bị, dụng cụ, hóa chất 24 3.2 Nội dung và phương pháp thí nghiệm 24 3.2.1 Chẩn đoán và xác định chó bị bệnh gan 25 3.2.2 Thí nghiệm điều trị 27 Chương 4: Kết Quả và Thảo Luận 28

4.1 Xác định tỷ lệ chó nghi bệnh gan qua khám lâm sàng 28 4.2 Xác định các ca bệnh gan qua kết quả xét nghiệm máu 29 4.3 Xác định tần suất triệu chứng vàng da ở những chó bị bệnh gan

29 4.4 Kết quả phân loại bệnh gan 30

Trang 7

4.5 Kết quả xét nghiệm một số chỉ tiêu sinh hóa máu của chó bị

Trang 8

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

ALT: alanine aminotransferase

AST: aspartate aminotransferase

GOT: glutamate oxaloacetate transferase

GPT: glutamate pyruvate aminotransferase

T-Bil: Total Bilirubin (Bilirubin toàn phần)

D-Bil: Direct Bilirubin hoặc conjugated bilirubin (Bilirubin trực tiếp) I-Bil: Indirect Bilirubin hoặc unconjugated bilirubin (Bilirubin gián tiếp)

mol/L: micromol / litre

U/L: Units / litre

SGPT : Serum glutamic pyruvic transaminase

SGOT : Serum glutamic oxaloacetic transaminase

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Dấu hiệu lâm sàng phổ biến ở chó bị bệnh gan 16 Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu về sinh hóa máu bình thường trên chó 18 Bảng 3.1 Phác đồ 1 – Điều trị bệnh gan với thuốc hạ men gan Fortec 27 Bảng 3.2 Phác đồ 2 – Điều trị bệnh gan với thuốc hạ men gan Marianus 27 Bảng 4.2 Tỷ lệ các loại bệnh lý gan qua kết quả xét nghiệm một số chỉ tiêu sinh hóa

Bảng 4.3 Tần suất triệu chứng vàng da ở những chó bệnh gan (n=34) 29 Bảng 4.4 Kết quả phân loại bệnh lý ở gan (n=34) 30 Bảng 4.5.1 Hàm lượng bilirubin và men gan của 11 ca bệnh gan có vàng da 31 Bảng 4.5.2 Hàm lượng bilirubin và men gan của 23 ca bệnh gan không vàng da

Bảng 4.6 Tỷ lệ và thời gian khỏi bệnh của hai phác đồ điều trị bệnh gan ở chó tại

Trang 10

Sơ đồ 1 Sơ đồ chuyển hóa protein 7

Sơ đồ.3 Sơ đồ chuyển hóa sắc tố mật 12

Biểu đồ Biểu đồ tỷ lệ chó nghi bệnh gan 28

Trang 11

TÓM LƯỢC

Từ ngày 05/08/2010 đến ngày 16/10/2010 tại Bệnh Xá Thú Y trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Kết quả chẩn đoán và hiệu quả một số thuốc điều trị bệnh gan ở chó tại Bệnh Xá Thú Y trường Đại Học Cần Thơ” với các mục đích: xác định những ca chó bị bệnh gan; xác nhận và so sánh hiệu quả các phác đồ điều trị bệnh lý ở gan của chó tại bệnh xá thú y trường Đại Học Cần Thơ

Qua hỏi bệnh và khám lâm sàng cho 637 ca chó bệnh, chúng tôi chỉ nghi

ngờ có 41/637 ca bị bệnh gan, chiếm tỷ lệ 6,44% và có các triệu chứng lâm sàng ở

41 ca nghi bệnh gan như: vàng da, vàng niêm mạc mắt, nước tiểu vàng, biếng ăn kéo dài, ói kéo dài, mụn mủ trên da…

Qua kết quả xét nghiệm, chúng tôi đã xác định có 34/41mẫu có hàm lượng các men gan tăng cao, chiếm tỷ lệ 82,93% Đây là các ca thực sự bị bệnh gan do hoại tử tế bào gan

Kết quả xét nghiệm máu cũng cho thấy hàm lượng bilirubin toàn phần của 11 mẫu máu từ 11ca vàng da đều tăng là do tăng cả bilirubin trực tiếp và gián tiếp

Tỷ lệ khỏi bệnh của phác đồ có thuốc hạ men gan Fortec là 41,18% cao hơn

so với phác đồ có thuốc hạ men gan Marianus là 23,53%

Trang 12

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Chó là loài vật thông minh, nhanh nhẹn, gần gũi, thân thiện và trung thành nên được nhân dân ta thuần hóa, nuôi dưỡng từ rất lâu Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống của người dân được nâng cao thì chó không chỉ là vật nuôi

để giữ nhà, làm kiểng,… mà chó còn được người nuôi yêu quí và xem chúng như một người bạn trong gia đình Chính vì thế, chó không những được quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng mà người chủ nuôi còn chú ý đến việc đem chó đến các phòng mạch thú y để được khám và điều trị khi chúng có những biểu hiện khác thường Ngoài các bệnh xảy ra phổ biến trên các hệ cơ quan như da, tiêu hóa, hô hấp,…đã được nghiên cứu nhiều thì bệnh xảy ra ở các cơ quan kín như tim, gan, thận cũng đặc biệt chú ý Trong đó bệnh lý về gan đã và đang được chẩn đoán, phát hiện ngày càng nhiều

Nhằm góp phần vào việc chẩn đoán, điều trị bệnh gan ở chó với sự hướng dẫn giúp đỡ của quí thầy cô bộ môn Thú y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng

Dụng, trường Đại Học Cần Thơ chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Kết quả chẩn

đoán và hiệu quả một số thuốc điều trị bệnh gan ở chó tại Bệnh Xá Thú Y, trường Đại Học Cần Thơ”

Đề tài thực hiện với mục đích:

Ghi nhận kết quả chẩn đoán một số tình trạng bệnh lý ở gan chó

Xác định hiệu quả của một số thuốc điều trị các bệnh lý ở gan chó tại bệnh

xá thú y trường Đại Học Cần Thơ

Trang 13

Gan được giữ trong xoang bụng nhờ 2 dây chằng: dây chằng liềm nối dính gan vào cơ hoành và bao lấy tĩnh mạch chủ sau; dây chằng gan đi từ rãnh của gan đến đường cong nhỏ dạ dày và tá tràng của ruột non (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)

Hình 1 Vị trí gan trong xoang bụng của chó

(Nguồn:http://www.vetmed.wsu.edu/clientED/anatomy/images/liver2.jpg)

Trang 14

2.1.2 Hình thái

Gan có 2 mặt và 2 cạnh: mặt trước lồi tròn Mặt sau có một rãnh cửa: đó là

nơi thần kinh và mạch máu từ ngoài đi vào gan, cũng là nơi các ống gan từ trong đi

ra Trong số các mạch đi vào gan có tĩnh mạch cửa dẫn máu giàu chất dinh dưỡng hấp thu từ ruột non về và động mạch gan dẫn máu giàu oxi hấp thu từ phổi

Cạnh trên dày có một đường rãnh rộng và đôi khi biến thành ống, làm lối đi

cho tĩnh mạch chủ sau Trong rãnh ấy có hai, ba lỗ thông, đó là lối đi ra của các

tĩnh mạch trên gan Cạnh dưới mỏng bị cắt bởi nhiều rãnh sâu chia gan ra nhiều

thùy (Phạm Thị Xuân Vân, 1982)

Gan chó tương đối lớn khoảng 3% trọng lượng cơ thể, có 6 thùy gồm 4 thùy chính và 2 thùy phụ: thuỳ bên trái, thùy trung trái, thùy trung phải, thùy bên phải, thùy đuôi và thùy vuông Túi mật nằm trong hố túi mật ở thùy trung phải, từ túi mật có ống chính dẫn mật đổ vào tá tràng cách hạ vị 5 – 8 cm (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)

2.2 Cấu tạo mô học của gan

Gan chỉ có một loại tế bào biểu mô gọi là tế bào gan Tế bào gan hình đa diện, đường kính 25 – 30 µm, mỗi tế bào có 1 – 2 nhân có kích thước 9 – 12 µm, thấy rõ hạt nhân Nhân thường nằm giữa tế bào, bào tương chứa nhiều glycogen, lipid, bộ Golgi, và hệ ty thể, có lưới nội bào, lysosome, các sắc tố và nhiều loại enzyme

Hình 2 Gan và các thùy (Nguồn: http://www.vetmed.wsu.edu/clientED/anatomy/images/liver2.jpg)

Trang 15

Gan được bao bọc bởi một màng liên kết, màng này phân nhánh vào gan chia gan thành thùy và tiểu thùy Mỗi tiểu thùy được xem là một đơn vị cấu tạo và chức năng của gan, là một hình khối đa diện có đường kính 1-2 µm (Lâm Thị Thu Hương, 2005)

Thành phần cấu tạo của tiểu thùy gan gồm có những mao mạch trong tiểu thùy (mao mạch nan hoa) chuyển máu của động mạch gan và tĩnh mạch cửa vào tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy Bên cạnh các mao mạch nan hoa là những bè tế bào gan (bè Remark) (Trương Đình Kiệt và Phan Chiến Thắng, 1991)

Ngoài các tế bào nội mạc, thành mao mạch có những tế bào lớn có nhánh bào tương nằm giữa các tế bào nội mạc hoặc nằm sâu vào lòng mao mạch Đó là những đại thực bào hình sao (tế bào Kupffer) Chúng có khả năng vận động và thực bào, đặc biệt vi khuẩn từ ruột, do đó bào tương của tế bào Kupffer có cấu tạo rất giống đại thực bào điển hình (Trương Đình Kiệt và Phan Chiến Thắng, 1991)

Bè tế bào gan (bè Remark) thường được cấu tạo từ hai lớp tế bào gan xếp

hướng vào tâm tiểu thùy Do đó trên lát cắt ngang mỗi bè tế bào gan có hai hàng tế bào Giữa hai hàng tế bào có một ống nhỏ gọi là tiểu quản mật (Trương Đình Kiệt

và Phan Chiến Thắng, 1991)

Tiểu quản mật là ống nhỏ không có thành riêng do hai ba tế bào gan kế cận

tạo nên Phức hợp liên kết giữa các tế bào gan ngăn cản không cho bilirubin lọt vào mao mạch máu Trong trường hợp nhiều tế bào gan bị thoái hóa, bilirubin tiểu quản mật ra khỏi tiểu thùy gan bằng một đoạn nhỏ trung gian (ống Hering) có thành được tạo từ một số tế bào dẹt Ống trung gian sẽ đổ bilirubin vào ống mật ở khoảng cửa (Trương Đình Kiệt và Phan Chiến Thắng, 1991)

Mao mạch nan hoa: có vách rất mỏng, không có màng đáy, đường kính

không đều có chỗ chỉ 4 µm nhưng có chỗ đến 40 µm Đây là dạng mao mạch kiểu xoang, vách có nhiều lỗ thủng (Lâm Thị Thu Hương, 2005)

Những tiểu thùy ngăn cách nhau bởi vách liên kết mỏng gọi là khoảng Kiernan, là khoảng liên kết rộng ở góc tiểu thùy Trong đó có các cấu trúc sau:

Những nhánh tĩnh mạch cửa: là những nhánh nhỏ xuất phát từ tĩnh mạch tràng hệ mô, lòng rộng không đều, thành mỏng chỉ gồm một lớp nội mô với một lớp liên kết đàn hồi ở ngoài

Những nhánh của động mạch gan: lòng ống tròn đều, thành có một lớp cơ vòng khá dày, cách nội mô bởi một lớp đàn hồi trong

Trang 16

Những ống dẫn mật: biểu mô ống thuộc loại khối đơn nhỏ bao quanh có một màng đáy Ở những ống lớn, biểu mô thuộc loại trụ đơn có lông rung được bao bọc bởi một áo liên kết chứa sợi cơ trơn chạy vòng (Lâm Thị Thu Hương, 2005)

Máu đến gan bởi hai nguồn động mạch gan và tĩnh mạch gan cửa:

Động mạch gan lòng hẹp thành cơ khá dày, có kích thước nhỏ hơn tĩnh mạch cửa, nó bắt nguồn từ động mạch thân tạng đi vào rãnh cửa ở mặt sau gan cùng với tĩnh mạch cửa và các ống dẫn mật, trước khi chui vào rãnh cửa phát ra động mạch túi mật và động mạch tá tràng (Phạm Thị Xuân Vân, 1982) Máu từ tim qua động mạch chủ và vào động mạch gan Động mạch gan cung cấp một lượng lớn oxy và dưỡng chất cho tế bào gan sử dụng trong quá trình trao đổi chất, nó cung cấp khoảng 1/3 lượng máu đến gan

Tĩnh mạch cửa là tĩnh mạch cơ năng đi vào rãnh cửa ở mặt sau gan, thu máu

từ những tĩnh mạch trong màng treo ruột, lách, dạ dày vào rãnh cửa, rồi chia thành nhiều nhánh đến các tiểu thùy, hình thành các tĩnh mạch gian thùy, tĩnh mạch này cung cấp 2/3 lượng máu đến gan (Phạm Thị Xuân Vân,1982)

2.3 Chức năng sinh học của gan

Gan là cơ quan trung gian giữa tiêu hóa và các nhu cầu trao đổi chất của cơ thể, là cơ quan vừa có chức năng ngoại tiết (bài tiết mật), vừa nội tiết (bài tiết nhiều chất protid, glucid, lipid…vào máu), là kho dự trữ của nhiều chất, là trung tâm chuyển hóa quan trọng của cơ thể Cắt bỏ gan làm động vật thí nghiệm bị chết và các bệnh của gan thường là bệnh hiểm nghèo (Nguyễn Đình Giậu, Nguyễn Chi Mai

và Trần Thị Việt Hồng, 2000)

2.3.1 Chức năng giải độc

Gan là cơ quan khử độc chính của cơ thể Nguyên tắc giải độc chung của gan là chuyển hóa các chất độc nội sinh (các chất được sản xuất ra trong quá trình chuyển hóa của cơ thể Ví dụ: chuyển NH3 thành urê, bilirubin tự do thành bilirubin liên hợp… hoặc gan khử các chất độc ngoại sinh (các chất đưa từ ngoài vào cơ thể

Ví dụ: một số các muối kim loại, các chất màu…) (Đỗ Đình Hồ, 2005)

Trong tình trạng chó bị bệnh gan, ammonia tự do (NH3) không biến hết thành dạng ion ammonium (NH4) và tích tụ lại trong máu, tăng pH máu, rối loạn cân bằng acid base máu gây tình trạng trúng độc kiềm (alkalosis) độc hại cho các cơ quan khác đặc biệt là hệ thống thần kinh, có thể dẫn đến tình trạng bệnh não do gan – hôn mê gan (Đỗ Thanh Thủy, 2008)

Trang 17

2.3.2 Chức năng chuyển hóa của gan

Gan đảm nhận nhiều chức năng quan trọng và phức tạp trong cơ thể, là trung tâm chuyển hóa nhiều chất dinh dưỡng

Chuyển hóa carbohydrate

Đỗ Đình Hồ (2005) cho rằng: gan đóng vai trò trung tâm trong điều hòa đường huyết: tổng hợp glucogen dự trữ cho toàn cơ thể và phân ly glycogen thành glucose Các loại đường đơn ở ống tiêu hóa như glucose, fructose, galactose…sẽ được hấp thu vào máu, rồi chuyển đến gan và đều được chuyển thành đường glucose Một phần glucose được chuyển thành glycogen và dự trữ ở gan, phần còn lại sẽ được chuyển đến các tế bào mô, nhất là cơ tim, cơ vân để tổng hợp thành glycogen dự trữ với chất xúc tác là insulin Khi hàm lượng glucose trong máu giảm thấp thì glycogen dự trữ bị phân giải trở lại thành glucose nhờ chất xúc tác là glucagon (quá trình phân giải glycogen)

Ngoài ra, khi glucose trong máu tăng cao, mà lượng glycogen trong gan đã đạt mức tối đa và nhu cầu năng lượng cơ thể đã đầy đủ thì glucose sẽ được chuyển hóa thành lipid dự trữ Quá trình chuyển hóa glucose thành lipid có thể diễn ra ở nhiều mô khác nhau nhưng chủ yếu là ở gan (4/5 tổng số) (Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công Huỳnh, 2001)

Chuyển hóa protein

Sự tổng hợp protein: sản phẩm cuối cùng của quá trình tiêu hóa protein là các acid amin, nó được hấp thu vào máu và theo tĩnh mạch cửa để vào gan Tại gan một phần acid amin được giữ lại và tổng hợp thành các protein của huyết tương: albumin, globulin và fibrinogen Phần lớn các acid amin sẽ được chuyển đến các tế bào, mô để tổng hợp nên các protein đặc trưng của tế bào và mô như: hemoglobin của mô máu, các hormone của tuyến nội tiết, protein của mô cơ và kháng thể của các tế bào dạng lưới…

Sự phân giải protein: sự phân giải protein cũng được tiến hành ở mô gan và các mô khác thành acid amin

Trong đó phần lớn các acid amin tự do sẽ được tái sử dụng cho các mục đích tổng hợp khác nhau Phần acid amin còn lại sẽ được chuyển về gan để cùng với các acid amin đã có ở gan tiếp tục được phân giải bằng phản ứng khử amin, nhóm NH2

được tách ra để tạo thành NH3 đi vào chu trình ornitin tạo thành ure, acid uric và creatin Gan có khả năng tạo thành ure từ NH3 rất mạnh, nên khi gan bị suy nặng

Trang 18

Theo Nguyễn Quang Mai (2004): khác với sự khử amin, chuyển amin không

có sự giải phóng NH3 mà chỉ có sự chuyển gốc amin của một acid amin nào đó sang cho một acid cetonic Các enzyme xúc tác cho quá trình chuyển acid amin (men chuyển amin – transaminase) có trong các tế bào và nhiều nhất là tế bào gan, thận,

cơ vân Trong các men chuyển amin thì phổ biến và hoạt động mạnh nhất là các men glutamate – axaloacetat – transaminase (GOT) và glutamate – pyruvat – transaminase (GPT)

Quá trình chuyển amin xảy ra mạnh ở gan nên khi tế bào gan bị vỡ (hoại tử) thì GPT, GOT tăng trong máu (Đỗ Đình Hồ, 2005)

Sơ đồ 1 Sơ đồ chuyển hóa protein (Nguyễn Quang Mai, 2004).

Chuyển hóa lipid

Gan là cơ quan hoạt động mạnh nhất trong chuyển hóa lipid, là nơi chủ yếu

để phân giải và tổng hợp các acid béo, photpholipid và cholesterol Bình thường lượng lipid trong gan là 5% nhưng trong trường hợp bệnh lý lượng lipid trong gan

có thể lên đến 30 – 40% trọng lượng của gan (Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công Hùynh, 2001) Lipid trong cơ thể có nhiều loại như: lipid trung tính (triglycerit) là loại lipid

dự trữ chính trong cơ thể, chúng dễ dàng thủy phân để cho glycerin và acid béo Lipid phức tạp chủ yếu là photpholipid

Tổ chức

Gan Đường tiêu hóa

Thận

Trang 19

Trong ống tiêu hóa lipid phân giải thành glycerin và acid béo vào đến biểu

mô màng nhầy của ruột lại hợp thành lipid trung tính Ở gan lipid sẽ được phân giải thành glycerin và acid béo Một phần glycerin được oxy hóa để cho khí CO2, H2O

và năng lượng Một phần khác thì chuyển thành glycogen dữ trữ Khi cơ thể hoạt động nặng nhọc, khẩn trương thì một phần lipid tại các mô cũng được huy động và phân giải thành glycerin và acid béo, rồi đưa về gan để oxy hóa (Nguyễn Quang Mai, 2004)

Sơ đồ 2 Sơ đồ chuyển hóa lipid (Nguyễn Quang Mai, 2004)

Chuyển hóa cholesterol

Cholesterol là một lipid rất cần thiết cho cơ thể để tổng hợp các hormone steroid và acid mật, muối mật (những chất này có vai trò nhũ hóa lipid trong quá trình tiêu hóa dầu, mỡ của thức ăn) Cholesterol được hấp thu nhanh ở ruột và được chuyển vào hệ bạch huyết Nếu chức năng gan giảm thì xuất hiện triệu chứng tiêu chảy do cơ chế kém tiêu hóa Cholesterol được tổng hợp trong nhiều cơ quan

nhưng chủ yếu là ở gan (Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công Huỳnh, 2001)

Gan

Trang 20

2.3.3 Chức năng vận chuyển nước

Gan là cơ quan tiếp nhận hằng ngày một lượng lớn máu, do đó đóng vai trò quan trọng trong vận chuyển nước Trong các bệnh về gan có sự rối loạn về chuyển hóa đó (Đỗ Đình Hồ, 2005) Gan sản xuất phần lớn protein huyết tương để duy trì

áp suất thẩm thấu thể keo, giữ nước trong lòng mạch Khi gan bị bệnh, protein huyết tương giảm dẫn tới giảm áp suất thẩm thấu thể keo của máu, nước sẽ thoát ra ngoài mạch máu gây ra tình trạng phù thũng Trường hợp xơ gan có tăng áp lực tĩnh mạch cửa, làm áp lực thủy tĩnh tăng, nước bị đẩy ra ngoài lòng mạch gây cổ trướng Gan là cơ quan duy nhất phá hủy ADH (hormone chống lợi niệu của tuyến yên), vì vậy khi gan bị suy ADH bị tích lại trong suy gan, muối bị giữ lại trong cơ thể, nước cũng bị giữ theo Mặc dù gan đóng vai trò thứ yếu trong chuyển hóa muối nước nhưng nhiều khi suy gan nặng cùng với sự hình thành báng nước còn thấy khát nước, thiểu niệu,…(Phạm Thị Thu Anh, 2002)

2.3.4 Chức năng dự trữ của gan

Ngoài việc dự trữ glucid là chủ yếu, một phần protein, gan còn là kho dự trữ của nhiều chất dinh dưỡng khác

Dự trữ các vitamin tan trong dầu

Gan vừa có tác dụng làm tăng hấp thu các vitamin tan trong dầu nhờ chức năng bài tiết mật, vừa là kho dự trữ của :

+ Vitamin A: 80 % được dự trữ ở gan dưới dạng este của retinol với các palmitic Khi hàm lượng vitamin A trong máu giảm, hợp chất bị phân giải, vitamin

A được đưa vào máu

+ Vitamin D: dự trữ ở gan từ ergocalciferol, hấp thu ở ống tiêu hóa hoặc từ cholecalciferol tổng hợp ở da

+ Vitamin E: được dự trữ chủ yếu trong các ty thể của tế bào gan

+ Vitamin K: lượng dự trữ vitamin này trong gan không đáng kể

Dự trữ vitamin B12: hàm lượng vitamin B12 trong gan rất cao Từ gan vitamin B12 được vận chuyển tới các tủy xương, thúc đẩy quá trình tạo hồng cầu

Dự trữ sắt: dự trữ ở gan dưới dạng liên kết là apoferritin, một loại protein của gan Từ gan sắt được vận chuyển tới tủy xương tham gia quá trình tạo hồng cầu Lượng apoferritin trong gan khá nhiều, coi như gan dự trữ toàn bộ sắt của cơ thể

Trang 21

Dự trữ máu: gan là cơ quan nhận được nhiều máu nhất trong cơ thể: máu từ tĩnh mạch cửa và động mạch gan của hai mạch này hòa vào nhau trong các xoang mạch của các tiểu thùy gan, rồi tập trung vào tĩnh mạch trung tâm của các tiểu thùy Các tĩnh mạch này lại tập trung máu vào tĩnh mạch trên gan, rồi đổ vào tĩnh mạch chủ dưới

Xoang mạch của các tiểu thùy gan dễ giãn và to hơn, chứa được nhiều máu hơn các mạch khác trong cơ thể Khi áp suất máu trong xoang mạch tăng lên, tốc

độ máu chảy trong xoang mạch giảm xuống, máu ứ đọng trong xoang, gan nở to ra Khi áp suất máu trong xoang giảm xuống, máu từ gan lại đi vào vòng tuần hoàn Vì vậy gan hoạt động như một kho dự trữ máu của cơ thể (Nguyễn Đình Giậu, Nguyễn Chi Mai và Trần Thị Việt Hồng, 2000)

2.3.5 Chức năng đông máu

Gan tổng hợp 6 yếu tố đông máu: fibrinogen (yếu tố I), prothrombin (yếu tố II), proacxelerin (yếu tố V), yếu tố chống chảy máu A (yếu tố VII), yếu tố Hagenman (yếu tố IX), tiền thromboplastin (yếu tố X) Ngoại trừ yếu tố V, sự tổng hợp các yếu tố trên đều phụ thuộc vào vitamin K Sự hấp thụ vitamin K, một trong các vitamin hòa tan trong mỡ này đòi hỏi chế độ ăn đầy đủ, chức năng niêm mạc ruột và sự bài tiết mật bình thường của gan Do vậy khả năng đông máu bị giảm thường gặp trong bệnh lý gan nặng (Harrison, 1999)

2.3.6 Chức năng tạo máu

Gan có vai trò quan trọng trong việc tạo hồng cầu nhờ chức năng dự trữ vitamin B12 và dự trữ sắt (Nguyễn Đình Giậu, Nguyễn Chi Mai và Trần Thị Việt Hồng, 2000) Một chức năng quan trọng khác của gan là lấy đi hồng cầu già bị hư hỏng ra khỏi vòng tuần hoàn, phân giải hemoglobin và dự trữ sắt Vì thế, bệnh gan mãn tính có thể gây ra bệnh thiếu máu trên động vật (Đỗ Thanh Thủy, 2008)

2.3.7 Chức năng bài tiết mật

Mật là sản phẩm bài tiết của gan, mật được bài tiết vào các tiểu quản mật, rồi chảy vào các ống mật lớn Các ống này càng lớn và cuối cùng đổ vào ống mật chủ Mật từ ống mật chủ đi vào tá tràng hay đi vào túi mật Mật trong gan có màu vàng tươi khi đọng lại trong túi mật nước bị hấp thu kèm thêm niêm dịch tiết ra cùng với nhiều muối calci của sắc tố mật làm cho mật có màu xanh sẫm (Đặng Văn Chung, 1965)

Thành phần quan trọng nhất của mật là muối mật, còn các thành phần khác

Trang 22

tác dụng tạo nhũ tương bền do đó giúp cho quá trình tiêu hóa, hấp thu lipid và những vitamin tan trong lipid trong đó có các vitamin tan trong dầu (A, D, E, K) Sau khi tác động đến các hạt mỡ giúp cho tác dụng của lipase đối với lipid, phần lớn muối mật được tái hấp thu qua niêm mạc ruột theo máu trở về gan rồi tham gia cấu tạo mật (vòng tuần hoàn gan – ruột – gan của muối mật), phần nhỏ còn lại thải qua phân Khi chức năng bài tiết mật giảm đi do xơ gan, viêm gan,… việc tiêu hóa lipid giảm đi, hàm lượng lipid trong phân tăng lên và khi bệnh kéo dài có thể xuất hiện triệu chứng thiếu các vitamin tan trong dầu, đặc biệt vitamin K (Nguyễn Đình Giậu, Nguyễn Chi Mai và Trần Thị Việt Hồng, 2000) Muối mật hoạt động giống như là những chất tẩy rửa trong việc hấp thu và tiêu hóa chất béo nên khi gan bị tổn thương hay các ống mật bị tắc nghẽn sẽ dẫn đến tình trạng ứ mật (cholestasis), thú

bị tiêu chảy do các chất béo không được hấp thu (Đỗ Thanh Thủy, 2008)

Sắc tố mật (Bilirubin) được sản xuất với nguyên liệu là hemoglobin của hồng cầu đã bị thoái biến trong hệ võng mạc nội mô của gan, lách, tủy xương và ở những nơi khác như mô dưới da bị chấn thương Hồng cầu vỡ giải phóng hemoglobin, hemoglobin chuyển hóa thành verdohemoglobin sau đó tách globin và Fe 2+ tạo thành bidiverdin Biliverdin khử H2 thành bilirubin gián tiếp (bilirubin tự do) di chuyển trong máu dưới dạng kết hợp với albumin Bilirubin tự do không tan trong nước chỉ tan trong dung môi hữu cơ, lipid Nó rất độc đối với cơ thể, đặc biệt là hệ thần kinh Bilirubin tự do đến gan, chúng được tách khỏi albumin và kết hợp với một hoặc hai phân tử acid glucoronic nhờ enzym glucoronyl transferase tạo thành bilirubin kết hợp không độc, tan trong nước và thải qua mật xuống ruột Ở ruột non, bilirubin kết hợp tách khỏi acid glucuronic, bilirubin bị khử bởi các vi khuẩn ở ruột chuyển thành urobilinogen (Đỗ Đình Hồ, 2005)

Một phần nhỏ urobilinogen chuyển thành stercobilinogen bị oxi hóa thành stercobilin sắc tố chính tạo màu vàng của phân Một phần lớn urobilinogen tái hấp thu theo tĩnh mạch cửa về gan (chu kỳ gan – ruột), ở đó một phần được biến đổi trở lại thành bilirubin, một phần qua máu tới thận đào thải qua nước tiểu dưới dạng urobilinogen Khi nước tiểu ra ngoài không khí, urobilinogen bị oxi hóa thành urobilin, làm nước tiểu có màu vàng lợt (Nguyễn Khánh Trạch và Phạm Thị Thu

Hồ, 2004 )

Từ sự chuyển biến của sắc tố mật nói trên cho thấy rằng: bình thường trong máu chỉ có bilirubin tự do, không có bilirubin kết hợp; trong nước tiểu không có bilirubin, muối mật, urobilinogen, chỉ có urobilin; trong phân bao giờ cũng có stercobilin (Đặng Văn Chung và Nguyễn Xuân Huyên, 1971)

Trang 23

Nâu vàng

Tái hấp thu

Tĩnh mạch cửa

Glucoronyl transferase

Trang 24

2.4 Bệnh lý ở gan

2.4.1 Một số nguyên nhân gây bệnh lý của gan

Clarence M Fraser (1986) và Nguyễn Dương Bảo (2005) cho rằng: rất khó để

có một bản liệt kê đầy đủ về các nguyên nhân của bệnh gan Tuy vậy, chúng ta có thể phân loại các nguyên nhân phổ biến gây bệnh gan như sau:

Vi khuẩn: Clostridium, Escherichia, Leptospira, Haemophylus, Actinobacillus, Bacillus, Campylobacter

Virus: Canine Herpesvirus, Canine Parvovirus Type 1, bệnh do Canine

Adenovirus Type1

Do ký sinh trùng: sán lá gan, ký sinh trùng đường máu (giun tim), giun đũa,

Rối loạn trao đổi chất, nhiễm độc huyết lúc mang thai; thiếu khoáng,

vitamin: Coban (bệnh gan trắng), Selenium, Vitamin E, đồng (Cu), phosphor (P)

Do tự nhiễm độc: bởi rối loạn chuyển hóa hoặc các sản phẩm viêm ở các cơ quan khác (viêm dạ dày-ruột, viêm màng bụng ,…)

Tắc ống mật: có thể do viêm, sạn mật hoặc khối u

Nhiễm nấm: Aspergillus, Blastomyces, Penicillium, Phomobsis

Ngộ độc: chó ăn phải các chất tẩy rửa, chất hóa học, thuốc trừ sâu, thức ăn

hư hỏng; tiêm hay hít phải một số tác nhân dược lý học hoặc hóa học: arsenic, tetrachloruacruabon, hexachloroethan, quá liều vitamin D,…

+ Rối loạn chuyển hóa lipid: gan bệnh thì việc sản xuất và tiết acid mật lipase giảm nên giảm tiêu hóa, hấp thu mỡ dẫn đến tích mỡ ở gan do nhiễm độc; lượng mỡ trong cơ thể sụt rất nhanh do thiếu cung cấp và giảm tổng hợp, theo đó giảm hấp thu các vitamin tan trong mỡ như A, D, E, K; giảm dự trữ các vitamin

Trang 25

prothrombin, gan tích mỡ vì thiếu B12 không giúp cho quá trình đẩy mỡ khỏi gan

và gan tái sinh kém (Phan Thị Thu Anh, 2002)

+ Rối loạn chuyển hóa protid: gan bệnh làm giảm khả năng tổng hợp protein làm thay đổi protein của huyết tương như albumin giảm, globulin tăng, các yếu tố đông máu giảm dễ gây xuất huyết dưới da và chảy máu Đồng thời khả năng phân hủy protein cũng giảm làm cho một số protein từ ống tiêu hóa vào thẳng trong máu

mà không bị cản lại, gây độc cho cơ thể như polypeptide, các loại diamin, indol, scatol (Phan Thị Thu Anh, 2002) Giảm sự tổng hợp các men thrombokinase, thrombin làm rối loạn cơ chế đông máu vì thế máu chậm đông (Nguyễn Dương Bảo, 2004)

+ Rối loạn chuyển hóa sắc tố mật: là tình trạng bệnh lý xảy ra khi sắc tố mật trong máu cao hơn bình thường, ngấm vào da và niêm mạc gây nên hiện tượng vàng

da (Nguyễn Thị Thu Anh, 2002)

Vàng da do nguyên nhân trước gan hay vàng da do dung huyết: khi gia súc bị các bệnh như ký sinh trùng đường máu, trúng độc hóa chất mạnh, do độc tố của vi trùng, tiếp máu không cùng loại,…làm hồng cầu trong máu bị phá vỡ nhiều nên hemoglobin được chuyển thành bilirubin gián tiếp trong máu tăng, đồng thời do lượng urobilinogen trở lại gan quá nhiều, không chuyển hóa hết thành bilirubin trực tiếp, tiếp tục vào máu làm cho lượng sắc tố mật trong máu tăng cao, thấm nhiều vào các tổ chức gây vàng da; trong phân stercobilin tăng; lượng urobilin trong nước tiểu tăng (Phạm Ngọc Thạch, Hồ Văn Nam và Chu Đức Thắng 2006)

Vàng da do bệnh gan: khi gan bị bệnh quá trình tạo bilirubin trực tiếp từ bilirubin gián tiếp của gan bị trở ngại nên lượng bilirubin gián tiếp trong máu tăng, đồng thời do tế bào gan bị tổn thương nên bilirubin trực tiếp ở trong gan cũng trở lại máu Do đó bilirubin tổng số trong máu tăng (cả bilirubin trực tiếp và bilirubin gián tiếp) (Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên và Phạm Ngọc Thạch, 1997)

Vàng da do tắc mật: ống dẫn mật bị tắc do sỏi mật, giun chui vào ống mật, viêm ống mật, bilirubin trực tiếp ứ lại ở gan, đi vào máu làm cho niêm mạc da, tổ chức liên kết dưới da có màu vàng Trong phân lượng stercobilin giảm hoặc mất, trong nước tiểu urobilin ít, xuất hiện bilirubin trong nước tiểu Nếu ống mật bị tắc hoàn toàn thì sự hấp thụ mỡ giảm rõ rệt, nhưng mỡ chưa được hấp thụ và các acid béo theo phân ra ngoài, đồng thời hệ thống cảm thụ của ruột bị kích thích sẽ gây ỉa chảy (Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên và Phạm Ngọc Thạch, 1997)

Trang 26

+ Rối loạn chức năng giải độc của gan: khi gan bị bệnh, tế bào gan bị hủy hoại, chức năng giải độc của gan kém, con vật dễ rơi vào trạng thái trúng độc, nhất

là trúng độc NH3 Khi đó gia súc thường có triệu chứng thần kinh, thậm chí rơi vào trạng thái hôn mê (Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên và Phạm Ngọc Thạch, 1997)

+ Tăng áp suất tĩnh mạch cửa: khi áp suất tĩnh mạch gan tăng cao, dịch trong tĩnh mạch sẽ thấm vào mạch bạch huyết, làm tăng lưu lượng bạch huyết và thấm vào trong ổ bụng, gây tình trạng cổ chướng ( Phạm Đình Lựu, 2005) Trường hợp bệnh ở gan, huyết áp ở tĩnh mạch cửa và ở gan tăng, làm trở ngại tuần hoàn ở các mao quản của gan sinh ứ huyết ở các nhánh phụ của tĩnh mạch gây tích nước xoang bụng, sưng lá lách (Phạm Ngọc Thạch, Hồ Văn Nam và Chu Đức Thắng, 2006)

Theo Nguyễn Dương Bảo (2005), để chẩn đoán bệnh gan chúng ta có thể dựa vào các dấu hiệu lâm sàng như sốt, vàng da, tiêu chảy, gan đau sưng hoặc teo Tuy nhiên để có chẩn đoán quyết định chủ yếu dựa vào kết quả các xét nghiệm máu (các men chuyển SGPT, SGOT; NH3; Bilirubin,…), nước tiểu (định lượng urobilin, albumin…) và phân (định lượng stekobilin)

Khi gan bị tổn thương không phải tất cả các chức năng gan đều bị rối loạn,

có chức năng bị rối loạn nhưng có chức năng vẫn bình thường Hơn nữa gan có khả năng dự trữ rất lớn để thích ứng bù trong giai đoạn đầu của tổn thương (trong thực nghiệm trên súc vật gan chỉ còn lại 20% vẫn có khả năng hoạt động bù chức năng) khả năng tái sinh của gan rất lớn Nếu tổn thương chỉ gây giảm chức năng nhẹ thì không biểu hiện ra lâm sàng Vì vậy cần phải thăm dò nhiều chức năng cùng một lúc mới định rõ được toàn diện chức năng gan (Đặng Văn Chung, 1965)

Trang 27

- Nước tiểu màu vàng cam do hàm lượng bilirubin trong nước tiểu cao

- Vàng da (chứng hoàng đản) do sự tích lũy bilirubin trong các mô của

cơ thể Tình trạng hoàng đản được nhận thấy rõ trong phần tròng trắng mắt và nướu răng

- Các vấn đề liên quan đến việc đông máu, tuy nhiên dấu hiệu này hiếm gặp

- Các triệu chứng thần kinh như thay đổi thói quen, đi đứng không có chủ đích hay đi theo hình vòng tròn,…

- Đau vùng bụng

- Sụt cân

- Uống nước và đi tiểu nhiều

Bảng 2.1 Dấu hiệu lâm sàng phổ biến ở chó bị bệnh gan

Ói Tiêu chảy Sụt cân Đa niệu Tích nước xoang

bụng Viêm gan

cấp tính 61 21 12 11 0

Viêm gan

mãn tính 43 33 39 49 55

Stephen et al (2000)

Ngày đăng: 12/04/2018, 17:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Tho, 2003. Thuốc kháng sinh và nguyên tắc sử dụng trong thú y, NXB Hà Nội. pp. 54 – 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc kháng sinh và nguyên tắc sử dụng trong thú y
Nhà XB: NXB Hà Nội. pp. 54 – 66
2. Đặng Văn Chung, 1965. Triệu chứng học nội khoa tập 2. NXB Y Học. pp.289 – 315 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triệu chứng học nội khoa tập 2
Nhà XB: NXB Y Học. pp.289 – 315
3. Đặng Văn Chung và Nguyễn Xuân Huyên, 1971. Triệu chứng học nội khoa. NXB Y Học. pp. 192 – 194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triệu chứng học nội khoa
Nhà XB: NXB Y Học. pp. 192 – 194
4. Đỗ Đình Hồ, 2005. Hóa sinh lâm sàng. NXB Y Học. pp. 162 – 187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa sinh lâm sàng
Nhà XB: NXB Y Học. pp. 162 – 187
6. Harrison, 1999. Các nguyên lý Y học nội khoa tập 3. NXB Y Học. pp. 886 – 942 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên lý Y học nội khoa tập 3
Nhà XB: NXB Y Học. pp. 886 – 942
7. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên và Phạm Ngọc Thạch, 1997. Bệnh nội khoa gia súc. NXB Nông Nghiệp Hà Nội. pp. 227 – 236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh nội khoa gia súc
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội. pp. 227 – 236
8. Hồ Văn Nam, Phạm Ngọc Thạch và Chu Đức Thắng, 2006. Bệnh nội khoa gia súc. NXB Hà Nội. pp. 174 – 179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh nội khoa gia súc
Nhà XB: NXB Hà Nội. pp. 174 – 179
9. Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006. Xác định một số hằng số sinh hóa – sinh lý máu và nước tiểu của chó. Luận văn Tiến sỹ Nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh. pp 5 – 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định một số hằng số sinh hóa – sinh lý máu và nước tiểu của chó
10. Lăng Ngọc Huỳnh, 2007. Giáo trình cơ thể học gia súc A. Khoa Nông nghiệp trường Đại học Cần Thơ. pp. 120 – 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cơ thể học gia súc A
11. Lâm Thị Thu Hương, 2005. Mô phôi gia súc. NXB Đại học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh. pp. 152 – 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô phôi gia súc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh. pp. 152 – 155
12. Nguyễn Dương Bảo, 2000. Bài giảng bệnh nội khoa gia súc. Khoa Nông nghiệp trường Đại học Cần Thơ. pp. 24 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng bệnh nội khoa gia súc
13. Nguyễn Đình Giậu, Nguyễn Chi Mai và Trần Thị Việt Hồng, 2000. Sinh lý người và động vật. NXB Đại học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh. pp. 214 – 242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý người và động vật
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh. pp. 214 – 242
14. Nguyễn Khánh Trạch và Phạm Thị Thu Hồ, 2004. Bệnh học nội khoa tập 2. NXB Y Học Hà Nội. pp. 124 – 162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học nội khoa tập 2
Nhà XB: NXB Y Học Hà Nội. pp. 124 – 162
15. Nguyễn Quang Mai, 2004. Sinh lý học người và động vật. NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội. pp. 193 – 207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học người và động vật
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội. pp. 193 – 207
16. Nguyễn Thế Khánh và Phạm Tử Dương, 2005. Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng. NXB Y Học Hà Nội. pp. 650 – 691 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng
Nhà XB: NXB Y Học Hà Nội. pp. 650 – 691
17. Nguyễn Văn Kiệm, Nguyễn Văn Kình và Nguyễn Văn Mùi, 2005. Hóa sinh động vật (Animal Biochemistry). NXB Hà Nội. pp. 251, 260 – 262 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa sinh động vật (Animal Biochemistry)
Nhà XB: NXB Hà Nội. pp. 251
18. Phạm Ngọc Thạch, Hồ Văn Nam và Chu Đức Thắng, 2006. Bệnh nội khoa gia súc. NXB Nông nghiệp Hà Nội. pp. 177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh nội khoa gia súc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội. pp. 177
19. Phạm Thị Xuân Vân, 1982. Giáo trình giải phẫu gia súc. NXB Nông nghiệp Hà Nội. pp. 127 – 129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giải phẫu gia súc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội. pp. 127 – 129
20. Phan Thị Thu Anh, 2002. Sinh lý bệnh chức năng gan. NXB Y Học. pp. 148 - 159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý bệnh chức năng gan
Nhà XB: NXB Y Học. pp. 148 - 159
21. Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công Huỳnh, 2001. Sinh lý học người và động vật. NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội. pp. 142 – 146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học người và động vật
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội. pp. 142 – 146

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm