1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KẾT QUẢ CHẨN đoán và HIỆU QUẢ điều TRỊ một số TÌNH TRẠNG BỆNH lý của GAN TRÊN CHÓ tại BỆNH xá THÚ y TRƯỜNG đại học cần THƠ

43 274 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 3,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y NGUYỄN DIỄM PHI KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ CỦA GAN TRÊN CHÓ TẠI BỆNH XÁ T

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

NGUYỄN DIỄM PHI

KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ CỦA GAN TRÊN CHÓ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y

Cần Thơ 5/2009

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

NGUYỄN DIỄM PHI

KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ CỦA GAN TRÊN CHÓ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giáo Viên Hướng Dẫn

Th.S NGUYỄN DƯƠNG BẢO

Cần Thơ 05/2009

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

Đề tài: Kết quả chẩn đoán và hiệu quả điều trị một số tình trạng

bệnh lý của gan trên chó tại bệnh xá thú y trường Đại Học Cần Thơ; do

sinh viên: Nguyễn Diễm Phi thực hiện tại bệnh xá thú y trường Đại Học Cần Thơ từ ngày 11/01/2009 đến ngày 30/03/2009

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009

Duyệt khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến cha mẹ, người đã sinh thành dưỡng dục, suốt đời

hy sinh cho tương lai chúng con

Chân thành cảm ơn ban giám hiệu Trường Đại Học Cần Thơ, Bộ môn Thú Y Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, cùng các quí thầy cô đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Dương Bảo đã hết lòng hướng dẫn, truyền đạt nhiều kiến thức và kinh nghiệm quí báo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành biết ơn thầy Nguyễn Văn Biện, cùng tất cả các anh chị đang công tác tại Bệnh Xá Thú Y Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình đóng gớp nhiều ý kiến quí báo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cảm ơn tất cả các bạn cùng lớp Thú Y 30 đã chia sẽ cùng tôi những buồn vui trong quá trình học tập cũng như hết lòng hổ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

TÓM LƯỢC viii

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 CƠ THỂ HỌC 2

2.2 CẤU TẠO MÔ HỌC CỦA GAN 2

2.3 CÁC CHỨC NĂNG SINH HỌC CỦA GAN 3

2.3.1 Chức năng chuyển hóa carbohydrat 3

2.3.2 Chức năng chuyển hóa lipid 3

2.3.3 Chức năng chuyển hóa protein 3

2.3.4 Chức năng tạo máu 4

2.3.5 Chức năng dự trữ máu 4

2.3.6 Chức năng lọc máu 4

2.3.7 Chức năng đông máu 4

2.3.8 Chức năng đệm của gan 5

2.3.9 Chức năng dự trữ 5

2.3.10 Chức năng giải độc 5

2.3.11 Chức năng miễn dịch 6

2.3.12 Chức năng bài tiết mật của gan 6

2.4 MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH LÝ CỦA GAN 8

2.5 MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH LÝ GAN 9

2.6 CHẨN ĐOÁN CÁC TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ CỦA GAN 9

Trang 6

2.6.1 Bilirubin huyết thanh 10

2.6.2 ALT (Alanine aminotransferase huyết thanh) 10

2.6.3 AST (Aspartate aminotransferase huyết thanh) 10

2.7 GIỚI THIỆU MỘT SỐ BỆNH LÝ Ở GAN 11

2.7.1 Vàng da 11

2.7.2 Viêm gan thực thể cấp tính 12

2.7.3 Viêm gan mãn tính 13

2.7.4 Xơ gan 13

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 15

3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 15

3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 15

3.1.2 Đối tượng thí nghiệm 15

3.1.3 Trang thiết bị, dụng cụ, hóa chất 15

3.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 15

3.2.1 Xác định những chó nghi ngờ bệnh về gan 15

3.2.2 xét nghiệm các chỉ tiêu sinh hóa máu 17

3.2.3 Điều trị 18

3.2.4 Đánh giá hiệu quả điều trị 18

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 XÁC ĐỊNH TỶ LỆ CHÓ NGHI BỆNH GAN QUA KHÁM LÂM SÀNG 19

4.2 XÁC ĐỊNH TẦN SUẤT CÁC TRIỆU CHỨNG QUAN TRỌNG Ở CHÓ NGHI BỊ BỆNH GAN 19

4.3 XÁC ĐỊNH CÁC TRẠNG THÁI BỆNH LÝ CỦA GAN QUA KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM MÁU 21 4.3.1 Kết quả xét nghiệm các chỉ tiêu sinh hóa máu của 8 ca rối loạn chức năng

Trang 7

gan mật 21 4.3.2 Kết quả xét nghiệm các chỉ tiêu sinh hóa của 22 ca tổn thương thực thể

tế bào gan 23 4.4 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH GAN MẬT Ở CHÓ TẠI BỆNH XÁ THÚ

Y

ĐẠI HỌC CẦN THƠ 25 Chương 5: KẾT LUẬN 27 TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

Trang 8

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

ALT: alanine aminotransferase

AST: aspartate aminotransferase

GOT: glutamate oxaloacetate transferase

GPT: glutamate pyruvate aminotransferase

T-Bil: Bilirubin toàn phần

D-Bil: Bilirubin trực tiếp

I-Bil: Bilirubin gián tiếp

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu về sinh hóa máu bình thường trên chó

Bảng 4.1: Tỉ lệ chó nghi ngờ bị bệnh gan qua chẩn đoán lâm sàng

Bảng 4.2: Tần xuất của các triệu chứng lâm sàng quan trọng ở chó nghi bị bệnh gan

Bảng 4.3: Tỷ lệ các loại bệnh lý gan qua kết quả xét nghiệm một số chỉ tiêu sinh hóa máu

Bảng 4.3.1: Những thay đổi một số chỉ tiêu sinh hóa máu của 8 ca rối loạn chức năng gan

Bảng 4.3.2: Những thay đổi một số chỉ tiêu sinh hóa máu của 22 ca tế bào gan bị tổn thương

Bảng 4.4: Tỷ lệ và thời gian khởi trung bình trong điều trị các ca bệnh gan mật

Trang 10

TÓM LƯỢC

Từ ngày 11/01/2009 đến ngày 30/03/2009 tại Bệnh Xá Thú Y trường Đại

Học Cần Thơ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Kết Quả Chẩn Đoán Và Hiệu

Quả Điều Trị Một Số Tình Trạng Bệnh Lý Của Gan Trên Chó Tại Bệnh Xá Thú Y Trường Đại Học Cần Thơ”, với mục đích ghi nhận kết quả chẩn đoán một

số tình trạng bệnh lý của gan trên chó và xác nhận hiệu quả phác đồ điều trị các bệnh lý ở gan chó tại bệnh xá thú y trường Đại Học Cần Thơ

Trong thời gian thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành hỏi bệnh và khám lâm sàng cho 677 ca bệnh và kết quả chúng tôi nghi ngờ có chỉ là 41/677 ca bị bệnh gan, chiếm tỷ lệ 6,06%

Từ kết quả thu thập các triệu chứng lâm sàng ở 41 ca nghi bệnh gan, chúng tôi đã xác định được 6 nhóm triệu chứng quan trọng: vàng da - vàng niêm mạc, nước tiểu vàng, phân bạc màu, biếng ăn kéo dài, ói kéo dài, mụn mủ trên da

Qua kết quả xét nghiệm máu chúng tôi xác định có 73,17% số ca nghi bệnh gan được xác định là thực sự có bệnh gan mật bao gồm hai loại bệnh lý của gan là gan bị tổn thương thực thể (hoại tử tế bào gan) chiếm tỷ lệ 73,33%, rối loạn chức năng chiếm tỉ lệ 26,67%

Qua kết quả điều trị cho thấy tỷ lệ điều trị khỏi bệnh đạt 63,33%

Trang 11

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Gan là tuyến tiêu hóa lớn nhất của cơ thể, nó chiếm khoảng 3% trọng lượng

cơ thể Chức năng của gan khá đa dạng và phức tạp, gan không những là trung tâm của các quá trình trao đổi cơ bản mà nó còn là cơ quan đảm nhiệm chức năng chống độc, chức năng đường mật Chính vì gan đảm nhiệm nhiều chức năng như vậy nên khi gan bị bệnh nó sẽ ảnh hưởng đến các quá trình trên đồng thời ảnh hưởng đến toàn thân

Tuy nhiên, tình trạng bệnh lý của gan xảy ra do rất nhiều nguyên nhân, biểu hiện triệu chứng lâm sàng cũng vô cùng phức tạp Do vậy, để chẩn đoán được các tình trạng bệnh lý của gan đòi hỏi phải kết hợp chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán xét nghiệm Trong thực tế việc chẩn đoán tình trạng bệnh lý của gan không dễ dàng

và việc quan trọng hơn là làm sao để điều trị có hiệu quả các bệnh lý về gan

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Kết Quả

Chẩn Đoán Và Hiệu Quả Điều Trị Một Số Tình Trạng Bệnh Lý Của Gan Trên Chó Tại Bệnh Xá Thú Y Trường Đại Học Cần Thơ”

Đề tài thực hiện với mục đích:

Ghi nhận kết quả chẩn đoán một số tình trạng bệnh lý của gan chó

Xác nhận hiệu quả của phác đồ điều trị các bệnh lý ở gan chó tại bệnh xá thú

y trường Đại Học Cần Thơ

Trang 12

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 CƠ THỂ HỌC CỦA GAN

Gan là tuyến tiêu hóa lớn nhất cơ thể, nằm trong xoang bụng, sát cơ hoành

và nằm choàng qua bên trái mặt phẳng giữa Gan được giữ trong xoang bụng nhờ 2 dây chằng: dây chằng liềm nối dính gan vào cơ hoành và bao lấy tỉnh mạch chủ sau; dây chằng gan đi từ rãnh của gan đến đường cong nhỏ dạ dày và tá tràng của ruột non Gan chó tương đối lớn khoảng 3% trọng lượng cơ thể, có 6 thùy gồm 4 thùy chính và 2 thùy phụ: thùy bên trái, thùy trung trái, thùy trung phải, thùy bên phải, thùy đuôi và thùy vuông Thùy vuông hẹp, nằm giữa thùy trung phải và thùy trung trái Túi mật nằm trong hố túi mật ở thùy trung phải, từ túi mật có ống chính dẫn mật đổ vào tá tràng cách hạ vị từ 5-8 cm (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)

Gan là cơ quan đa thùy thuộc hệ tiêu hóa và là nội quan lớn nhất, chiếm 1/40 trọng lượng cơ thể Gan có màu hơi đỏ nâu, rắn và đàn hồi, nằm ở phần trên phía bên phải của xoang bụng, tiếp xúc với mặt sau của cơ hoành, dạ dày, thận (Đỗ Vạn Thử và Phan Quang Bá, 2000)

Tô Thị Xuân Phương (2005): máu đến gan bởi 2 nguồn:

- Động mạch gan là một nhánh của động mạch lòng Máu từ tim qua động mạch chủ và vào động mạch gan Động mạch gan cung cấp một lượng lớn oxy và dưỡng chất cho tế bào gan sử dụng trong quá trình trao đổi chất Động mạch này cung cấp khoảng 1/3 lượng máu đến gan

- Tĩnh mạch cửa: là một tĩnh mạch khá lớn, đưa máu từ dạ dày, ruột, lách, tuyến tụy đổ vào nội tạng của gan Tĩnh mạch này cung cấp 2/3 lượng máu đến gan Dưỡng chất từ hệ tiêu hóa đến gan qua tĩnh mạch cửa Ở gan bình thường, dưỡng chất thô được hấp thu từ ruột đến gan sẽ được loại thải độc chất và vi khuẩn bởi quá trình chuyển hóa và giải độc trước khi theo các tĩnh mạch gan đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ sau để về tim Quá trình giải độc bảo vệ các cơ quan khác, đặc biệt là não,

do vi khuẩn và độc chất có thể làm tổn thương tế bào não

2.2 CẤU TẠO MÔ HỌC CỦA GAN

Gan được bao bọc bởi một lớp màng liên kết, lớp màng này phân nhánh vào trong và chia gan thành nhiều tiểu thùy Mỗi tiểu thùy gan có hình khối 6 cạnh, ngăn cách nhau bởi những vách liên kết mỏng được gọi là khoảng Kiernan nằm ở góc tiểu thùy Trong khe Kiernan có nhánh tĩnh mạch cửa, nhánh động mạch gan và ống mật Trong tiểu thùy, các tế bào gan xếp thành dây tế bào gọi là bè remark, các dây tế bào này đan lại với nhau thành mạng lưới, giữa các mắt lưới có nhiều mao

Trang 13

mạch chạy khúc khuỷu được gọi là xoang mao mạch của gan (hepatic sinusoid) Giữa hai mặt bên của hai tế bào gan kề cận có một vi quản mật, giữ vai trò dẫn mật

do các tế bào gan tiết ra đến ống dẫn mật ở vách liên kết (Lâm Thị Thu Hương, 2005)

2.3 CÁC CHỨC NĂNG SINH HỌC CỦA GAN

Trong cơ thể, gan là cơ quan đảm nhận nhiều chức năng quan trọng nhờ vào các tế bào gan (tế bào nhu mô gan và tế bào kupffer), hệ enzyme và lượng máu chảy vào lớn Mỗi tế bào gan tham gia hàng ngàn phản ứng sinh hóa phức tạp, liên quan đến các cơ quan nội tạng khác Các chức năng sinh học này có mối quan hệ với nhau, do vậy khi một chức năng bị ngưng trệ thì các chức năng khác sẽ chịu ảnh hưởng, dẫn đến tình trạng bệnh lý Khi gan bị tổn thương, một vài tế bào bị hư hại, gan vẫn có thể hoạt động bù đấp khá tốt, ngoài ra các tế bào gan có khả năng tự phục hồi (Twedt, 2007; Đỗ Thanh Thủy, 2008)

2.3.1 Chức năng chuyển hóa carbohydrat

Gan tham gia vào việc duy trì lượng đường huyết hằng định, bằng cách lấy glucose máu vào, khi nồng độ glucose trong máu cao sau khi ăn và dự trữ dưới dạng glucogen Gan cung cấp trở lại glucose, khi nồng độ glucose máu thấp trong thời gian giữa các bữa ăn Khi đã sử dụng hết glycogen, gan có thể tạo glucose từ acid amin và glycerol, gọi là sự tân sinh đường (Phạm Đình Lựu, 2004)

2.3.2 Chức năng chuyển hóa lipid

Mỡ được hấp thu từ ruột sẽ theo mạch bạch huyết đến gan Tại đây mỡ bị thủy phân thành glycerol và acid béo tự do Các acid béo được beta-oxit hóa, để cung cấp năng lượng và acid acetoacetic Mỡ được gan đưa trở lại vào máu dưới dạng lipoprotein để cung cấp mỡ cho các mô khác, đặc biệt là mô mỡ Gan còn có vai trò tổng hợp cholesterol và phospholipit, là những chất rất cần thiết cho sự sản xuất muối mật, hormone steroid, màng tế bào (Phạm Đình Lựu, 2004) Cholesterol được phân bố khắp cơ thể hoặc đổ vào ống mật để phân tán Sự gia tăng hàm lượng cholesterol trong mật có thể dẫn đến sự hình thành sỏi mật Hầu như các bệnh trên gan không có ảnh hưởng đến hàm lượng lipid trong máu, tuy nhiên trong trường hợp chó bị ứ mật thì mức độ sẽ trầm trọng hơn khi kết hợp với bệnh gan (Đỗ Thanh Thủy, 2008)

2.3.3 Chức năng chuyển hóa protein

Vai trò của gan trong chuyển hóa protein là tối cần thiết cho cơ thể Ammonia bị lấy ra khỏi acid amin được biến đổi thành ure, đi vào máu và thải ra bởi thận Gan là nơi duy nhất tổng hợp các acid amin “không thiết yếu” (non-essential aminoacids) và các enzyme huyết tương như aspartat aminotransferaz

Trang 14

(AST), alanin amino transferaz (ALT), lactat dehydrogenaz (LDH) và alkalin phosphataz (Phạm Đình Lựu, 2004) Hầu hết các loại protein của cơ thể (ngoại trừ kháng thể) đều được tổng hợp và phân tiết ở gan; trong đó phần lớn là albumin Vì vậy nếu chức năng gan bị suy yếu thì hàm lượng albumin huyết thanh sẽ bị giảm Bên cạnh đó, gan còn tổng hợp các chuỗi globulin có liên quan đến một số phản ứng sinh hóa của cơ thể, sự gia tăng số lượng globulin là một dấu hiệu bệnh lý đặc biệt của gan Một vài amino acid được chuyển hóa trực tiếp tại gan (Đỗ Thanh Thủy, 2008)

2.3.4 Chức năng tạo máu

Một chức năng quan trọng khác của gan là lấy đi hồng cầu già bị hư hỏng ra khỏi vòng tuần hoàn, phân giải hemoglobin và dự trữ sắt Vì thế, bệnh gan mãn tính

có thể gây ra bệnh thiếu máu trên động vật (Đỗ Thanh Thủy, 2008)

2.3.6 Chức năng lọc máu

Máu đi qua mao mạch ruột chứa nhiều vi khuẩn ruột, nhưng sau khi đi qua các xoang tĩnh mạch, các vi khuẩn này bị tế bào Kupffer ở thành mao mạch kiểu xoang thực bào Có lẽ số vi khuẩn thoát ra khỏi hàng rào lọc này không đáng kể (Phạm Đình Lựu, 2004)

2.3.7 Chức năng đông máu

Vitamin K cần thiết cho sự thành lập các yếu tố đông máu (Phạm Đình Lựu, 2004) Gan có chức năng chuyển hóa trực tiếp các vitamin (C, B, A, D, E, K, nhóm B) trong thức ăn để cung cấp cho cơ thể Dưới tác dụng chuyển hóa của gan, vitamin K sẽ chuyển từ dạng không hoạt động sang dạng hoạt động (Đỗ Thanh Thủy, 2008)

Trang 15

2.3.8 Chức năng đệm của gan

Biểu mô của mao mạch kiểu xoang có tính thấm rất cao, nên phần lớn các chất dinh dưỡng đến từ hệ tiêu hóa trong tĩnh mạch cửa đều được hấp thu nhanh chóng vào khoảng gian bào của nhu mô gan Sự hấp thu các chất này ra khỏi máu tĩnh mạch cửa giúp cho nồng độ các chất này không tăng quá cao trong máu tuần hoàn ngay sau bữa ăn Sau đó gan sẽ biến đổi chúng thành những chất mới thích hợp hơn cho cơ thể và phóng thích vào máu với nồng độ đã được điều chỉnh (Phạm Đình Lựu, 2004)

2.3.10 Chức năng giải độc

Gan có thể biến đổi các chất hóa học nội sinh và ngoại sinh, các phân tử lạ và hormone thành những chất ít độc hơn hay giảm hoạt tính sinh học của chúng, làm cho chất có khả năng gây độc dễ thải ra ngoài hơn, trong dịch mật hay là trong nước tiểu như trường hợp của rượu, bartiturat, ampletamin, thuốc steroit, các hormone estrogen, testosterone, ADH Tuy nhiên các sản phẩm chuyển hóa này có khi lại độc cho gan, các sản phẩm chuyển hóa của rượu tích tụ trong gan là acetaldehyt và hydro Acetaldehyt hủy hoại ty thể của tế bào gan còn hydro làm gan bị nhiễm mỡ (Phạm Đình Lựu, 2004)

Ammonia tự do (NH3) chuyển hóa thành ion ammonium (NH4+), chúng được đưa đến gan, chuyển hóa thành urea và bài thải trong nước tiểu qua thận Trong tình trạng chó bị bệnh gan nặng, ammonia tự do không biến thành dạng ion ammonium và tích tụ lại trong máu, tăng pH máu, rối loạn cân bằng acid base máu gây ra tình trạng trúng độc kiềm (alkalosis) độc hại cho các cơ quan khác đặc biệt là

hệ thống thần kinh, có thể dẫn đến tình trạng bệnh não do gan (Đỗ Thanh Thủy, 2008)

Bilirubin là sắc tố màu vàng, được hình thành từ quá trình phân giải hemoglobin của hồng cầu ở lách Bilirubin sẽ được các albumin bao bọc xung quanh khi lưu thông trong máu Khi vào gan, bilirubin sẽ được hòa chung với glucuronic acid tạo nên một dung dịch bilirubin dạng hòa tan đổ vào trong mật Việc tăng bilirubin trong máu gây ra bệnh lý vàng da (Meyer, 2001; Foster and Smith, 2000)

Trang 16

Hầu hết các loại thuốc chuyển hóa ở gan trước khi được hấp thu và bài thải, đặc biệt là đối với các loại thuốc cung cấp bằng đường uống và hấp thu ở ruột Trong trường hợp chó bị bệnh gan, việc khử độc bài thải có thể bị thay đổi một cách nguy hiểm, làm cho nồng độ thuốc trong máu trở nên quá cao hay quá thấp, ảnh hưởng đến quá trình điều trị, hoặc sản xuất ra các loại độc tố đối với cơ thể (Meyer, 2001)

Độc tố: gan giữ vai trò quan trọng trong việc khử độc các tác nhân hóa học

và các loại độc tố Gan bị bệnh sẽ ngăn cản hoặc làm biến đổi tiến trình khử độc của gan, làm gia tăng ảnh hưởng của chất độc lên cơ thể Việc tiếp xúc thường xuyên với các chất hóa học như alcohol, các loại độc tố có ảnh hưởng trực tiếp lên gan, gây tổn thương cục bộ hoặc toàn bộ gan (Meyer, 2001)

2.3.11 Chức năng miễn dịch

Gan có một loại tế bào đặc biệt gọi là tế bào Kupffer, những tế bào này là một phần của hệ thống miễn dịch của cơ thể Chúng có tác dụng loại trừ và làm suy yếu vi khuẩn, độc tố, chất dinh dưỡng, chất hóa học, … khi đi vào trong gan thông qua hệ thống tĩnh mạch cửa Đối với những chó có bệnh gan, quá trình lọc này bị mất đi, làm tăng tính độc của thuốc, chất hóa học hay độc tố vi khuẩn Tình trạng gia tăng quá mức lượng độc tố của vi khuẩn trong máu được gọi là nhiễm trùng huyết và đây là một trong những nguyên nhân mà thuốc kháng sinh thường được sử dụng trong việc điều trị bệnh gan (Foster and Smith, 2000; Seltzer, 2008)

2.3.12 Chức năng bài tiết mật của gan

Tất cả các tế bào gan đều tiết mật Mật được bài tiết vào các tiểu quản mật, rồi chảy vào các ống mật lớn hơn Các ống này ngày càng lớn và cuối cùng đổ vào ống mật chủ Mật từ ống mật chủ đi vào tá tràng hay đi vào túi mật Nước, Na+, Cl-

và các chất điện giải khác đều được hấp thu qua niêm mạc túi mật, làm mật độ được

cô đặc từ 5 – 10 lần Thành phần chính của mật là muối mật, sắc tố mật, cholesterol

và một số chất khác Muối mật được tổng hợp từ cholesterol ở gan Muối mật có hai chức năng quan trọng là tác dụng nhũ tương hóa và hòa tan mỡ trong nước Tác dụng nhũ tương hóa làm tăng diện tích tiếp xúc của lipaz với các hạt mỡ Nếu không có muối mật số lượng lipid không được hấp thu có thể lên đến 40%, theo đó các vitamin tan trong mỡ cũng không được hấp thu như vitamin A, D, E, K Sự kém hấp thu vitamin K sẽ gây rối loạn đông máu nghiêm trọng Trong sự thành lập và bài tiết muối mật, cholesterol cũng được bài tiết vào mật mỗi ngày Cholesterol không tan trong nước nhưng khi kết hợp với muối mật trong các hạt mixen sẽ tan được trong nước Trong một số trường hợp cholesterol có thể kết tủa thành sỏi mật

do nước, muối mật hoặc một số chất khác cần thiết cho sự hòa tan cholesterol bị hấp thu quá mức vào tế bào biểu mô túi mật (Phạm Đình Lựu, 2004)

Trang 17

Quá trình chuyển hóa của bilirubin

Hồng cầu vỡ sẽ giải phóng hemoglobin Hemoglobin được chuyển thành bilirubin gián tiếp tan trong mỡ (hay còn gọi là billirubin tự do) Bilirubin gián tiếp gắn vào một protein của huyết tương chuyên chở đến tế bào gan, bilirubin gián tiếp tách khỏi protein và được hấp thụ vào trong tế bào gan Trong tế bào gan, bilirubin gián tiếp liên hợp với acid glycuronic chuyển thành bilirubin trực tiếp tan trong nước (hay còn gọi là bilirubin kết hợp) Bilirubin trực tiếp được bài tiết vào ống mật qua màng tế bào rồi được chuyển xuống ruột Ở ruột bilirubin được oxy hóa và chuyển thành urobilinogen Một phần urobilinogen được chuyển thành stercobilinogen rồi thành stercobilin, phần còn lại được tái hấp thu vào máu, ở đây một phần lớn lại tiếp xúc chu trình chuyển hóa bilirubin, một phần nhỏ được đào thải qua nước tiểu, trong nước tiểu Urobilinogen bị oxy hóa thành urobilin (Nguyễn Văn Thành, 2001)

Trong trường hợp tan máu nhiều, trong máu bilirubin gián tiếp tăng lên, trong phân stercobilin cũng tăng, phân có màu vàng đậm, nhưng nước tiểu vẫn trong (vì bilirubin gián tiếp không bài tiết qua nước tiểu được) có nhiều Urobilinogen và Urobilin Ngược lại trong trường hợp, Bilirubin trực tiếp trong máu tăng cao, stercobilin trong phân giảm và phân nhạt màu có khi thành màu trắng như vôi, nước tiểu sẫm màu vì có bilirubin, nhưng không có urobilinogen, và urobilin, đồng thời xuất hiện cả muối mật trong nước tiểu (Nguyễn Văn Thành, 2001) Gan

bị tổn thương hay các ống mật bị tắc nghẽn sẽ dẫn đến tình trạng ứ mật (cholestasis), thú bị tiêu chảy, phân có mùi hôi thối do các chất béo không được hấp thu và biểu hiện vàng da, vàng niêm mạc (Đỗ Thanh Thủy, 2008) Nguyên nhân thông thường của vàng da là huyết tán (khiến billirubin tự do trong máu tăng lên), tắc mật hay tổn thương tế bào gan (khiến billirubin bài tiết ít hơn vào ống tiêu hóa

và thấm vào máu nhiều hơn) (Phạm Đình Lựu, 2004)

Trang 18

Sơ đồ chuyển hóa bilirubin

2.4 MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH LÝ CỦA GAN

Theo Foster và Smith, (2000), Fleming, (2007) có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh trên gan ở chó có thể tóm lược như sau:

Tổn thương cơ học: đây có thể là một nguyên nhân phổ biến nhất Do bản tính năng động nên chó thường xuyên bị va đập, những cú va đập mạnh vào vùng bụng

có thể làm tổn thương gan Ngoài ra, chó bị đánh, xe đụng, … ở vùng bụng cũng có thể ảnh hưởng đến gan

Ngộ độc: chó ăn phải các chất tẩy rửa, chất hóa học, thức ăn hư hỏng, hoặc có thể ngộ độc do các loại thuốc điều trị bệnh về da như ketaconazole, nhóm thuốc trị

kí sinh trùng, nhóm thuốc glucocorticoid,…

Nhiễm ký sinh trùng: giun tim, sán lá gan, …

Z • Y

Urobilinogen

Urobilin

Trang 19

Nhiễm vi khuẩn, virus, nấm, … với một số trường hợp bệnh lý đặc trưng trên chó như bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Canine herpesvirus, bệnh do Canine parvovirus type 1, bệnh do canine adenovirus type 1

Gan bị ảnh hưởng từ các bệnh khác như viêm tụy, viêm thận, thiếu máu, …

2.5 MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH LÝ GAN

Đỗ Thanh Thủy, (2008) xác định 11 triệu chứng lâm sàng chung trên chó bệnh gan

Rối loạn dạ dày ruột không liên tục và có định kỳ, mất tính thèm ăn, ói mửa, tiêu chảy và táo bón

Suy nhược, chó không muốn hoạt động

Tích dịch xoang bụng (báng bụng)

Phân có màu xám

Nước tiểu màu vàng cam do hàm lượng bilirubin trong nước tiểu cao

Vàng da (chứng hoàng đản) do sự tích lũy bilirubin hoặc hỗn hợp của nó trong các mô của cơ thể Tình trạng hoàng đản được nhận thấy rõ trong phần tròng trắng mắt và nướu răng

Các vấn đề liên quan đến việc đông máu, tuy nhiên dấu hiệu này hiếm gặp Bệnh não do gan hoặc chó có những di chứng thần kinh như thay đổi thói quen, đi đứng không có chủ đích hay đi theo hình vòng tròn, …

Đau vùng bụng

Sụt cân

Uống nước và đi tiểu nhiều

2.6 CHẨN ĐOÁN CÁC TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ CỦA GAN

Gan có quan hệ mật thiết với các cơ quan khác trong cơ thể do đó triệu chứng của bệnh gan thường không đặc trưng, hơn nữa bệnh gan thường là bệnh thứ cấp, bắt nguồn từ quá trình bệnh ở các cơ quan khác ảnh hưởng đến gan; cho nên biểu hiện bệnh lý ở gan trên cơ thể thú bị nhầm lẫn với tình trạng bệnh ở những cơ quan nội tạng khác Vì thế, trong công tác chẩn đoán bệnh gan ngoài chẩn đoán lâm sàng cần phải áp dụng các phương pháp chẩn đoán khác như chẩn đoán huyết thanh học, siêu âm, X – quang hay bệnh học tế bào (sinh thiết gan), … để có kết luận chuẩn xác (Fleming, 2007)

Tế bào nhu mô gan phản ứng rất nhanh với mọi sự thay đổi bất thường dù nặng hay nhẹ Tổn thương gan không phải tất cả các chức năng gan đều bị rối loạn,

Trang 20

có chức năng bị rối loạn nhưng có chức năng vẫn bình thường Hơn nữa gan có chức năng dự trữ rất lớn để thích ứng bù trong gia đoạn đầu của tổn thương (trong thực nghiệm trên súc vật gan chỉ còn lại hơn 20% vẫn có khả năng hoạt động bù chức năng), khả năng tái sinh của gan rất lớn Nếu tổn thương chỉ gây giảm chức năng nhẹ thì không biểu hiện ra lâm sàng Vì vậy cần phải thăm dò nhiều chức năng cùng một lúc mới định rõ được toàn diện chức năng của gan (Nguyễn Văn Thành, 2001)

2.6.1 Bilirubin huyết thanh

Có hai dạng bilirubin, bilirubin gián tiếp và bilirubin trực tiếp Cả hai dạng trên kết hợp lại thành bilirubin toàn phần (Huỳnh Thị Bạch Yến, (2006) Trong huyết thanh bình thường phần lớn là bilirubin gián tiếp, chỉ có 4% là bilirubin trực tiếp (Hồ Văn Nam, 1997)

Bilirubin toàn phần tăng trong máu khi sản xuất bilirubin tăng hoặc do rối loạn thải trừ bilirubin và gây ra triệu chứng vàng da, kể cả vàng da do tắc mật, do viêm gan hay do tan máu Nếu tế bào nhu mô gan bị tổn thương thì bilirubin gián tiếp tăng rõ rệt nhưng nếu có tắc mật thì bilirubin trực tiếp cũng tăng (Nguyễn Thế Khánh và ctv, 2005)

2.6.2 ALT (Alanine aminotransferase huyết thanh)

ALT (còn gọi là GPT = glutamate pyruvate aminotransferase) là enzyme xúc tác phản ứng chuyển nhóm amin từ glutamate sang pyruvate để tổng hợp alanine Alanine theo máu chuyển về gan và phản ứng với -ketoglutarate để tạo lại pyruvate và glutamate nhờ enzyme ALT ở gan (Nguyễn Phước Nhuận và ctv, (2003) ALT được phóng thích vào máu khi các tế bào gan bị hoại tử ALT tăng trong những trường hợp bệnh gan (tổn thương gan, xơ gan, hoại tử gan do nhiễm trùng, …) Nguyên nhân giảm ALT không quan trọng (Đỗ Thanh Thủy, (2008) Hoạt lực của ALT trong gan chó rất cao Khi tế bào gan bị ứ mật hay viêm gan những enzyme này sẽ được phóng thích vào huyết thanh Hàm lượng của ALT tăng

4 – 8 lần trong huyết thanh là biểu hiện đặc trưng trong bệnh viêm gan trên chó, mèo và những động vật nhỏ (Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006)

2.6.3 AST (Aspartate aminotransferase huyết thanh)

AST (còn gọi là GOT = glutamate oxaloacetate transferase) xúc tác chuyển nhóm amin từ glutamate sang oxaloacetate để tổng hợp aspartate Khi viêm gan cấp

và mãn tính, hoạt lực AST tăng trong huyết thanh (Huỳnh Thị Bạch Yến, (2006) AST được tìm thấy trong tế bào chất và ty thể của các tế bào gan, tế bào cơ Men này được phóng thích khi tế bào gan bị hoại tử Chỉ tiêu này dùng để đánh giá sự

Trang 21

tổn thương của gan và cơ AST huyết thanh tăng trong bệnh gan, bệnh ở cơ, tim, … (Đỗ Thanh Thủy, 2008)

Giá trị chính của việc đo hoạt lực AST và ALT huyết thanh là thăm dò tình trạng tổn thương tế bào gan trong bệnh viêm tế bào gan và sự tiến triển của bệnh viêm gan cấp Hoạt lực ALT và AST quá cao trong máu được cho là do viêm gan cấp, nhưng tăng nhẹ được xem là do viêm tế bào gan mãn, xơ gan, ký sinh trùng trong gan (Huỳnh Thị Bạch Yến, (2006) ALT tăng khi màng tế bào bị vỡ, còn nếu

cà AST cũng tăng lên thì màng tế bào và cả màng ty thể đều bị vỡ, mức độ hủy hoạt

tế bào trầm trọng hơn Xác định các enzyme AST, ALT giúp nhận định về mức độ hủy hoại tế bào gan (Đỗ Đình Hồ, 2005)

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu về sinh hóa máu bình thường trên chó

* Clarence M.Fraser và ctv (1986)

** Hồ Văn Nam (1997)

2.7 GIỚI THIỆU MỘT SỐ BỆNH LÝ Ở GAN

Trong bệnh lý gan mật có thể chia ra làm nhiều nhóm, hội chứng để đánh giá từng khía cạnh, chức năng tương ứng của gan: hội chứng suy tế bào gan, hội chứng hủy tế bào gan (ALT, AST tăng), hội chứng ứ mật (bilirubin huyết thanh tăng) và hội chứng viêm nhiễm (Đỗ Đình Hồ, 2005)

Ngày đăng: 12/04/2018, 17:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm