Nhằm bảo vệ sức khỏe đàn chó, và cũng góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng, được sự đồng ý của Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại Học Cần Thơ và Bệnh Viện Thú Y
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
TRƯƠNG VĂN GIÀN
KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN Ở CHÓ CÁI TẠI BỆNH VIỆN THÚ
Y PETCARE, QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ 5/2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
TRƯƠNG VĂN GIÀN
KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN Ở CHÓ CÁI TẠI BỆNH VIỆN THÚ
Y PETCARE, QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Giáo Viên Hướng Dẫn Th.S NGUYỄN DƯƠNG BẢO Th.S HUỲNH THỊ THANH NGỌC
Cần Thơ 05/2009
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009 Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009
Duyệt khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Chân thành ghi ơn sâu sắc đến cha, mẹ đã hết lòng nuôi dưỡng, dạy dỗ con nên người và cho con có được ngày hôm nay Và xin cám ơn toàn thể gia đình, người thân đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành được nguyện vọng
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn Dương Bảo, người Thầy đã tận tâm hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ những kiến thức và lời động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Cần Thơ, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Bộ môn Thú y cùng toàn thể quý thầy
cô trong Bộ môn Thú y, Bộ môn Chăn nuôi, Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian trong giảng đường đại học
Đặc biệt cảm ơn Thạc sĩ Huỳnh Thị Thanh Ngọc, Bác sĩ Thú y Nguyễn Thị Quỳnh Hoa cùng toàn thể các anh chị tại Bệnh viện Thú y Petcare đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp và hoàn thành luận văn
Và xin cám ơn đến các bạn lớp Thú y K 30 đã giúp đỡ, động viên cùng tôi vượt qua khó khăn trong suốt thời gian học tập tại giảng đường Trường Đại Học Cần Thơ
Ngày 14 tháng 05 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Trương Văn Giàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH viii
TÓM LƯỢC ix
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 CẤU TẠO CƠ QUAN SINH DỤC CHÓ CÁI 2
2.1.1 Noãn sào hay buồng trứng (Ovaries) 2
2.1.2 Ống dẫn noãn hay ống dẫn trứng (Oviducts) 3
2.1.3 Tử cung (Uterus) 3
2.1.4 Âm đạo (Vagina) 4
2.1.5 Tiền đình 4
2.1.6 Âm hộ 4
2.2 CHU KỲ SINH DỤC CỦA CHÓ CÁI 4
2.2.1 Sự thành thục tính dục 4
2.2.2 Chu kỳ động dục 5
2.3 MỘT SỐ HORMONE SINH DỤC 6
2.3.1 FSH (Follicle Stimulating Hormone = kích noãn bào tố) 6
2.3.2 LH (Luteinizing hormone = kích hoàng thể tố) 6
2.3.3 LTH (Luteotropic hormone = Prolactin) 6
2.3.4 Oestrogen 6
2.3.5 Progesterone 7
2.3.6 Oxytoxin 7
2.3.7 Relacxin 7
Trang 62.4 SỰ ĐIỀU HÒA HOẠT ĐỘNG SINH DỤC CÁI CỦA KÍCH DỤC TỐ 7
2.5 SỰ SINH ĐẺ 8
2.5.1 Dấu hiệu chó sắp sanh 8
2.5.2 Những giai đoạn của quá trình đẻ 8
2.6 MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN Ở CHÓ CÁI 9
2.6.1 Viêm mủ tử cung (pyometra) 9
2.6.2 Đẻ khó (dystocia) 12
2.6.3 Khối u tuyến vú (Mammary Tumor) 14
2.6.4 Bệnh sốt sữa 15
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 17
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN 17
3.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 17
3.2.1 Đối tượng thí nghiệm 17
3.2.2 Dụng cụ thí nghiệm 17
3.2.3 Hóa chất và thuốc điều trị 18
3.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 18
3.3.1 Nội dung đề tài 18
3.3.2 Phương pháp khám 18
3.3.3 Điều trị 21
3.4 XỬ LÝ SỐ LIỆU 23
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 XÁC ĐỊNH TỶ LỆ BỆNH SINH SẢN Ở CHÓ CÁI TẠI BỆNH VIỆN THÚ Y PETCARE 24
4.2 XÁC ĐỊNH TỶ LỆ CÁC BỆNH SINH SẢN Ở CHÓ CÁI 24
4.3 XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN ĐẺ KHÓ VÀ GIẢI PHÁP CAN THIỆP 26
4.4 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐẺ KHÓ 27
4.5 KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN PHÂN LOẠI BỆNH VIÊM MỦ TỬ CUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ 28
4.6 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM MỦ TỬ CUNG 29
Trang 74.7 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ VÀ HIỆU
QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH KHỐI U TUYẾN VÚ VÀ BỆNH SỐT SỮA 29 Chương 5: KẾT LUẬN 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 8DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
FSH: Follice stimulating hormone Kích nang noãn tố GnRH: Gonadotropin-releasing hormone Kích tố giải phóng gonadotropin LH: Luteinizing hormone Kích tố gây xuất noãn LTH: Luteotropic hormone
PG F2α: Prostaglandin F2α
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Các bệnh điều trị bằng thuốc
Bảng 3.2: Các bệnh điều trị bằng phẫu thuật
Bảng 4.1: Tỷ lệ bệnh sinh sản ở chó cái đến khám và điều trị tại bệnh viện thú y Petcare
Bảng 4.2: Tỷ lệ các bệnh sinh sản ở chó cái
Bảng 4.3: Tỷ lệ các nguyên nhân gây đẻ khó và phương pháp điều trị
Bảng 4.4: Tỷ lệ chó khỏi bệnh sau khi điều trị bằng thuốc và phẫu thuật
Bảng 4.5: Tỷ lệ các dạng viêm mủ tử cung và phương pháp điều trị
Bảng 4.6: Tỷ lệ chó khỏi bệnh sau khi điều trị bằng thuốc và phẫu thuật
Bảng 4.7: Phương pháp điều trị và tỷ lệ khỏi bệnh khối u tuyến vú và bệnh sốt sữa
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.2: Ảnh siêu âm tử cung có mủ (F) của chó Corgi 12 tuổi
Hình 2.4: Ảnh siêu âm của chó Doberman 10 tuổi bị bội triển nội mạc tử cung Hình 3.1: Dụng cụ giải phẫu
Hình 3.2: Máy siêu âm
Trang 11TÓM LƯỢC
Bệnh sinh sản xảy ra không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, thậm chí
có thể gây chết vật nuôi mà phổ biến hơn là ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản, duy trì nòi giống nhất là các giống chó quý Bằng phương pháp hỏi bệnh sử, khám lâm sàng và kết hợp với chẩn đoán siêu âm chúng tôi đã chẩn đoán được 108 ca chó cái bị bệnh sinh sản (chiếm tỷ lệ 20,89 %) trong tổng số 517 ca chó cái được mang đến khám và điều trị tại Bệnh viện thú y Petcare
Có 4 loại bệnh sinh sản thường gặp ở chó cái là: đẻ khó 46 ca chiếm tỷ lệ (42,59 %), viêm mủ tử cung 31 ca chiếm tỷ lệ (28,70 %), khối u tuyến vú 20 ca chiếm tỷ lệ (18,52 %), sốt sữa 11 ca chiếm tỷ lệ (10,19 %)
Các nguyên nhân đẻ khó thường gặp ở chó cái là: hẹp khung chậu (32,61 %),
tư thế thai bất thường (15,22 %), thai lớn (10,87 %), vỡ tử cung (6,52 %), thai chết (6,52 %), tử cung co bóp kém (28,26 %)
Có 2 dạng viêm mủ tử cung là viêm mủ tử cung dạng kín (chiếm tỷ lệ 35,48
%) và viêm mủ tử cung dạng hở (chiếm tỷ lệ 64,52)
Kết quả điều trị các bệnh sinh sản ở chó cái: bệnh khối u tuyến vú hiệu quả thành công điều trị bằng phẫu thuật đạt 100 %, bệnh sốt sữa hiệu quả điều trị 100
% Bệnh viêm mủ tử cung hiệu quả điều trị thành công 100 % và bệnh đẻ khó hiệu quả điều trị đạt 97,83 %
Trang 12Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, nuôi chó và nhất là chó kiểng ở nước ta đã trở thành một nhu cầu khá phổ biến nên đã làm gia tăng cả về số lượng và chủng loại với nhiều giống chó quý hiếm đã được nhập từ nước ngoài Cùng với sự gia tăng đó thì tình hình bệnh tật trên chó cũng ngày càng nhiều và đa dạng Một trong những loại bệnh đang được nhiều người nuôi và cán bộ thú y quan tâm đó là các bệnh sinh sản ở chó cái Bệnh xảy ra không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, thậm chí có thể gây chết vật nuôi mà phổ biến hơn là ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản, duy trì nòi giống nhất là các giống chó quý Ngoài ra, một số bệnh sinh sản ở chó còn có thể truyền lây sang người
Nhằm bảo vệ sức khỏe đàn chó, và cũng góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng, được sự đồng ý của Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại Học Cần Thơ và Bệnh Viện Thú Y PetCare chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài “Kết Quả Chẩn Đoán Và Điều Trị Một Số Bệnh Sinh Sản Ở
Chó Cái Tại Bệnh Viện Thú Y PetCare, Quận 2, Thành Phố Hồ Chí Minh”
Mục tiêu đề tài:
Xác định tình hình bệnh sinh sản ở chó cái tại bệnh viện thú y PetCare
Xác định kết quả phân loại bệnh sinh sản ở chó cái và đề xuất phương pháp điều trị Xác định kết quả điều trị các bệnh sinh sản ở chó cái
Trang 13Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 CẤU TẠO CƠ QUAN SINH DỤC CHÓ CÁI
Cơ quan sinh dục của chó cái gồm có noãn sào, ống dẫn noãn, tử cung, âm đạo, tiền đình và âm hộ Ngoài ra, còn có tuyến vú mặc dù là tuyến của da nhưng cũng được ghép vào cơ quan sinh dục vì nó liên hệ chặt chẽ với cơ quan sinh dục cái (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
Hình 2.1: cấu tạo cơ quan sinh dục chó cái
(Nguồn: http://www.vetmed.wsu.edu/ClientED/anatomy/dog_ug.aspx)
2.1.1 Noãn sào hay buồng trứng (Ovaries)
Buồng trứng của chó cái hình bầu dục, dài và dẹt, dài khoảng 2 cm, gồm một đôi nằm trong hai túi buồng trứng, ở phía sau thận Mỗi buồng trứng được dính bởi dây riêng vào tử cung và dây treo vào cân mạc ngang của bụng, ngay phía trong của xương sườn chót, khoảng đốt sống thắt lưng thứ 3 hoặc thứ 4 Buồng trứng phải thường nằm về trước hơn buồng trứng trái (vị trí khoảng 1/3 dưới thận trái) Buồng trứng vừa là tuyến ngoại tiết sản xuất tế bào sinh dục cái (noãn bào), vừa là tuyến
Trang 14nội tiết tổng hợp và phân tiết kích thích tố estrogen, progesterone (Đỗ Hiếu Liêm, 2006; Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
Cắt ngang noãn sào: ngoài cùng là miền vỏ, có nhiều noãn bào phát triển ở những giai đoạn khác nhau, bên trong là miền tủy có chứa nhiều mạch máu và dây thần kinh Noãn bào sẽ rụng khi chín và được phần loa kèn hứng lấy, chỗ noãn rụng
sẽ biến thành hoàng thể (thể vàng) có chức phận nội tiết, tiết ra hormone progesterone có tác dụng trong việc biến đổi lớp niêm mạc của thành tử cung để đón nhận noãn thụ tinh và thể vàng sẽ tồn tại suốt thời gian mang thai Nếu trứng không được thụ tinh, sau vài tuần thể vàng sẽ biến đi, niêm mạc thành tử cung bị bong ra và được đẩy ra ngoài (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
Động mạch noãn sào xuất phát từ nhánh của động mạch tử cung - noãn sào
và từ động mạch tử cung vào vùng rốn noãn sào vào vùng tủy rồi chia nhánh đến vùng vỏ và nuôi dưỡng cả nang noãn Noãn sào có nhiều mạch bạch huyết chạy dọc theo động mạch tử cung - noãn sào để tới các hạch chậu trong (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
2.1.2 Ống dẫn noãn hay ống dẫn trứng (Oviducts)
Ống dẫn trứng còn được gọi là vòi Fallop bắt đầu từ cạnh bên buồng trứng bởi một phần loa rộng gọi là loa kèn, ống dẫn trứng thông với đầu sừng tử cung Ống dẫn noãn của chó dài khoảng 5 - 8 cm Sự thụ tinh được thực hiện ở 1/3 đầu của ống dẫn trứng (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
2.1.3 Tử cung (Uterus)
Tử cung của chó cái có dạng chữ Y Tử cung định vị ở khoảng giữa phần bụng của bàng quang và kết tràng (một phần nằm trong xoang bụng và một phần nằm trong xoang chậu) Kích thước của tử cung rất thay đổi, phụ thuộc vào tầm vóc của thú, số lần mang thai, tình trạng bệnh lý sinh sản, chó cái có mang thai hay không mang thai (Đỗ Hiếu Liêm, 2006)
Tử cung thông với ống dẫn noãn về phía trước và với âm đạo về phía sau Tử cung bao gồm các phần: 2 sừng tử cung, thân tử cung, cổ tử cung
- Sừng tử cung (Horn): sừng tử cung được treo vào thành bụng bởi dây chằng rộng tử cung, hai sừng tử cung được nối liền nhau bởi dây chằng liên sừng Sừng tử cung của chó cái 12 - 15 cm Các sừng có đường kính đồng đều và gần thẳng Từ thân tử cung chúng rẽ ra thành hình chữ V hướng về mỗi thận
- Thân tử cung (Body): có hình ống, phía trước thông với đầu sừng tử cung, phía sau thông với âm đạo qua một eo hẹp gọi là cổ tử cung Thân tử cung dài khoảng 2-3 cm
Trang 15- Cổ tử cung (Cervix): là chỗ co lại ngăn cách cổ tử cung với âm đạo Có tính chất cứng rắn hơn các phần khác là do ở trong có các nếp xoắn nhô lên thành giồng Cổ tử cung chó rất ngắn, thành cổ tử cung dầy
Nhiệm vụ cổ tử cung là ngăn cản ngoại vật vào tử cung Bình thường cổ tử cung khép chặt, lúc con vật lên giống, cổ tử cung mở ra tạo điều kiện cho tinh trùng
đi vào Trước khi sinh, cổ tử cung mở ra Trong thời gian mang thai, các tuyến nhờn tiết chất nhầy bít cổ tử cung lại để bảo vệ thai (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
2.1.4 Âm đạo (Vagina)
Âm đạo là phần tiếp nối với tử cung, trước nó là cổ tử cung, sau nó là tiền đình và âm hộ Phía trên âm đạo tiếp xúc với trực tràng, phía dưới là bóng đái và ống thoát tiểu Ở chó, âm đạo tương đối dài và hẹp ở phần trước (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
Âm đạo nằm hoàn toàn trong xoang chậu Âm đạo đảm nhận các chức năng như tiếp nhận dương vật của thú đực trong quá trình phối giống và là đường tiếp dẫn thú con sinh ra (Đỗ Hiếu Liêm, 2006)
2.1.5 Tiền đình
Là phần phía sau âm đạo và phía trước âm hộ, phía trước tiền đình có một nếp gấp gọi là màng trinh (Hymen), sau màng trinh phía dưới là lỗ thoát tiểu (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
2.1.6 Âm hộ
Là cửa sau của cơ quan sinh dục cái, thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng, nằm dưới hậu môn, được giới hạn bởi hai mép dầy ở hai bên và chụm lại bằng một chóp nhọn ở phía dưới Ở thành âm hộ có các tuyến nhờn Ngoài ra ở mép dưới cũng có một cơ cấu đặc biệt là âm vật, nằm trong một hố nhỏ (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007)
2.2 CHU KỲ SINH DỤC CỦA CHÓ CÁI
2.2.1 Sự thành thục tính dục
Tuổi thành thục hay trưởng thành sinh dục là tuổi mà cơ quan sinh dục bắt đầu hoạt động, buồng trứng của thú cái sản sinh noãn bào, dịch hoàn sản sinh tinh trùng và các tế bào giao tử này có khả năng thụ tinh Chó cái thành thục tính dục trung bình 6 - 12 tháng tuổi nhưng rất biến động và chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó giống có ảnh hưởng rất lớn đến thời điểm động dục lần đầu Do vậy, rất khó xác định chính xác tuổi thành thục của chó cái (Đỗ Hiếu Liêm, 2006)
Kinh nghiệm của các nhà chăn nuôi và cho biết các giống chó tầm vóc nhỏ
Trang 16(khoảng 12 tháng tuổi) Tuy nhiên, nhiều giống chó to có chu kỳ sinh dục đầu tiên xảy ra từ 18 - 24 tháng tuổi Sự thay đổi tự nhiên này có thể do chó cái biểu hiện động dục thầm lặng nên nhà chuyên môn và chủ nuôi không thể xác định thời điểm động dục đầu tiên (Đỗ Hiếu Liêm, 2006)
2.2.2 Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục của chó cái kéo dài thường 6 tháng hoặc có những cá thể kéo dài đến 10 - 12 tháng Một chu kỳ được chia làm bốn giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi (Đỗ Hiếu Liêm, 2006)
Giai đoạn trước động dục: kéo dài từ 6 - 11 ngày, trung bình khoảng 9 ngày Nếu quá ngắn (2 - 3 ngày) hay quá dài (hơn 25 ngày) là tình trạng bất thường Đây
là một phần mở đầu cho một chu kỳ động dục mới của chó cái với lượng estrogen tăng cao dưới sự kích thích của FSH và một phần hỗ trợ của LH Kết quả là hàm lượng estrogen trong máu tăng cao dần và đạt đỉnh vào khoảng 1 - 2 ngày cuối của giai đoạn trước động dục Dưới sự ảnh hưởng của estrogen, cơ quan sinh dục có nhiều biến đổi như vách của ống dẫn trứng phát triển có nhiều nhung mao để chuẩn
bị đón noãn bào, gia tăng mạch máu, tử cung phát triển các nang tuyến và lớp nội mạc, tăng sinh biểu mô âm đạo Trong giai đoạn này chó cái có biểu hiện sinh lý như âm hộ sưng phồng, dịch tiết lẫn máu, pheromone được phân tiết để dẫn dụ chó đực nhưng không cho chó đực giao phối (Phan Thị Bích, 2004)
Giai đoạn động dục: chó có thời gian động dục là 9 - 18 ngày, trung bình khoảng 9 ngày Lượng estrogen bắt đầu giảm dần vào những ngày cuối của giai đoạn trước động dục, thấp nhất ở giai đoạn 1/3 giai đoạn động dục Sau 24 - 48 giờ khi chuyển qua giai đoạn động dục LH đạt đỉnh, sự xuất noãn xảy ra và hình thành hoàng thể, kết quả gia tăng lượng progesterone Ở giai đoạn này, những thay đổi của đường sinh dục chó cái so với giai đoạn trước càng thêm sâu sắc hơn như sự phân tiết dịch từ nang tuyến của tử cung gia tăng, lớp biểu mô âm đạo tăng sinh để chuẩn bị đón trứng đã thụ tinh Thú có những hành vi tính dục như tìm kiếm chó đực, đứng yên cho chó đực nhảy và chờ phối, âm hộ giảm trương phồng, dịch tiết trong và keo lại (Phan Thị Bích, 2004)
Giai đoạn sau động dục: kéo dài 70 - 80 ngày, trung bình là 60 ngày Sau khi xuất noãn ở giai đoạn động dục, hoàng thể được thành lập Progesterone huyết thanh do hoàng thể xuất tiết tăng dần, ngược lại nồng độ estrogen huyết thanh giảm thấp và sự xuất noãn chấm dứt Nếu chó cái không có mang thai, hoàng thể thoái hóa sau 57 ngày và chuẩn bị bước vào giai đoạn nghỉ ngơi Trong giai đoạn sau động dục, chó cái từ chối chó đực Âm hộ teo và không xuất dịch, cổ tử cung thắt lại (Phan Thị Bích, 2004)
Trang 17Giai đoạn nghỉ ngơi: là giai đoạn dài nhất, bình thường là từ 4 - 5 tháng, nhưng có thể biến thiên từ 2 - 10 tháng nhất là đối với những giống chó động dục 1 lần/ năm như Basenji và Dingo Vào giai đoạn nghỉ ngơi, tử cung tiết ra prostaglandin F2 làm phân giải hoàng thể dẫn đến ngừng tiết progesterone Do đó, hàm lượng progesterone giảm thấp và kéo dài đến giai đoạn động dục của chu kỳ sau Đồng thời, lớp nội mạc tử cung được “sửa chữa”, cổ tử cung thắt lại, tính dục của chó cái không biểu hiện Thời kỳ nghỉ ngơi chấm dứt khi có hiện tượng xuất dịch có lẫn máu ở âm hộ chó cái, mở đầu chu kỳ động dục kế tiếp (Phan Thị Bích, 2004)
2.3 MỘT SỐ HORMONE SINH DỤC
2.3.1 FSH (Follicle Stimulating Hormone = kích noãn bào tố)
Do não thùy trước tiết ra và có tác dụng kích thích làm cho những nang noãn trên buồng trứng trở thành những nang noãn trưởng thành nhưng không gây hiện tượng rụng trứng (Nguyễn Thị Kim Đông, 2006)
2.3.2 LH (Luteinizing hormone = kích hoàng thể tố)
Do não thùy trước tiết ra có tác dụng kích thích những nang noãn đã trưởng thành trở nên thành thục và kích thích những nang noãn thành thục tiết ra kích thích
tố estrogen (Nguyễn Thị Kim Đông, 2006)
LH có tác động thúc đẩy sự xuất noãn và kích thích những tế bào hạt của nang trứng phát triển thành hoàng thể, đồng thời kích thích hoàng thể tổng hợp và phân tiết progesterone (Trần Thị Dân, 2001)
2.3.3 LTH (Luteotropic hormone = Prolactin)
Do tuyến não thùy trước tiết ra, đóng vai trò quan trọng trong sự tiết sữa Nó duy trì sự hoạt động của hoàng thể và kích thích hoàng thể tiết ra kích thích tố Progesterone (Nguyễn Thị Kim Đông, 2006)
2.3.4 Oestrogen
Oestrogen được hình thành từ noãn bào, là hormone chủ yếu của gia súc cái Oestrogen có tác dụng kích thích cơ quan sinh dục cái phát triển làm cho tử cung tăng sinh, niêm mạc tử cung dày lên hình thành nhiều mạch máu, các tuyến tử cung,
âm đạo phát triển và tăng tiết dịch Ngoài ra còn kích thích các tế bào tuyến vú, các ống dẫn sữa phát triển (Trần Tiến Dũng và ctv, 2002)
Cấu tạo là steroid với 18 carbon, gồm có 3 chất chính là: estradiol, estrone và estriol, được các tế bào hạt tổng hợp, từ tiền chất cholesterol thông qua chất trung gian androstenedione dưới sự xúc tác của enzyme aromatase Estradiol là chất có
Trang 18cung như là phát triển lớp niêm mạc tử cung và âm đạo, tăng sự tích lũy glycogen, phát triển các nang tuyến vú, tuyến dịch nhờn, tăng tích lũy mở, nước, protein, tạo đặc tính sinh dục thứ cấp ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục và hành vi dục tính của chó cái (Phan Thị Bích, 2004) Estrogen cũng ảnh hưởng sự phân tiết FSH và làm
tử cung cảm ứng đối với tác dụng của progesterone, oxytoxin và relaxin (Trần Thị Dân, 2001) Đặc biệt ở âm đạo estrogen làm cho biểu mô âm đạo trở nên sừng hóa xếp tầng, khó bị nhiễm trùng và tổn thương trong lúc giao hợp (Phan Thị Bích, 2004)
2.3.5 Progesterone
Progesterone (Agolutin, Progestin, …) do thể vàng của buồng trứng tiết ra nhưng khi chưa hình thành thể vàng thì do những tế bào hạt Lutein của noãn bào sản sinh ra Progesterone có tác dụng kích thích tăng cường quá trình tăng sinh niêm mạc tử cung và tăng tiết dịch các tuyến tử cung, làm xuất hiện hàng loạt biến đổi trong cơ quan sinh dục, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tử làm tổ và nuôi dưỡng thai Mặt khác, progesterone còn có tác dụng ngăn chặn tử cung co bóp, ức chế noãn bao phát triển, ức chế tuyến yên tiết ra LH Vì vậy trong thực tế, người ta ứng dụng progesterone để kích thích tuyến sữa, ức chế động dục và chống hiện tượng sẩy thai (Trần Tiến Dũng và ctv, 2002; Phan Thị Bích, 2004)
2.3.6 Oxytoxin
Do tuyến não thùy sau tiết ra, có tác dụng đặc biệt là kích thích sự co bóp của
cơ tử cung, có thể tăng cường sự co bóp cơ tuyến sữa, cơ trơn bàng quang và cơ
trơn ruột Oxytoxin không chỉ được sản sinh ra và có tác dụng trong thời gian sinh
đẻ, mà còn kích thích những phản xạ khác nhau trong thời gian giao phối như tăng cường sự co bóp của đường sinh dục, đặc biệt nhất là kích thích sự chuyển động của tinh trùng Thời gian đầu thì oxytoxin và progesterone ở trong máu không hoạt động Ngoài ra, oxytoxin còn có tác dụng làm co những mạch máu nhỏ, nhất là những mạch ở tử cung gia súc nên được sử dụng để cầm máu (Trần Tiến Dũng và
ctv, 2002)
2.3.7 Relacxin
Relacxin được hình thành từ thể vàng của buồng trứng Nó có tính chất đặc biệt là làm giảm tính trương lực của các dây chằng vùng xoang chậu, rất quan trọng trong quá trình sinh đẻ được bình thường (Trần Tiến Dũng và ctv, 2002)
2.4 SỰ ĐIỀU HÒA HOẠT ĐỘNG SINH DỤC CÁI CỦA KÍCH DỤC TỐ
Trần Tiến Dũng và ctv, (2002) cho rằng cùng với sự tác động của prostaglandin làm thoái hóa thể vàng và các yếu tố ngoại cảnh đã tác động lên võ đại não thông qua các giác quan của con vật Từ đó dẫn tới sự tiết của GnRH,
Trang 19GnRH theo máu tác động lên thùy trước tuyến yên tiết gonadotropin để thúc đẩy quá trình phân chia và phát triển của tế bào trứng trên buồng trứng Nang trứng phát triển, chín đã tiết ra oestrogen gây tác động ngược lên Hypothalamus và Hypofisis làm chúng tăng cường tiết LH Điều này đã dẫn tới sự thải trứng và tạo thể vàng Thể vàng phát triển, tiết ra progesterone để bảo vệ và nuôi dưỡng thai, đồng thời gây tác động ngược lên Hypothalamus và Hypofisis ức chế quá trình tiết GnRH, FSH và LH Khi con cái không chửa, prostaglandin được tiết từ các tế bào niêm mạc âm đạo, tử cung làm thoái hóa thể vàng và chu kỳ mới lại tiếp tục
2.5 SỰ SINH ĐẺ
2.5.1 Dấu hiệu chó sắp sanh
Hai hay ba ngày trước ngày dự kiến sanh ta có thể kiểm tra thân nhiệt mỗi buổi sáng Khoảng 12 - 18 giờ trước khi sanh thân nhiệt chó mẹ hạ từ nhiệt độ bình thường (38,50C) xuống còn 37,50C hoặc thấp hơn Tuy nhiên trong một số trường hợp thì thân nhiệt chó mẹ vẫn bình thường Từ 12 - 24 giờ trước khi sanh chó mẹ trở nên bồn chồn, bứt rứt Chó mẹ hay cào ổ, có thể bỏ ăn (Trần Đăng Khôi, 2005)
2.5.2 Những giai đoạn của quá trình đẻ
Quá trình đẻ có thể được chia ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: thường kéo dài khoảng 6 - 12 giờ Giai đoạn này có thể kéo dài
đến 36 giờ, đặc biệt ở những thú đẻ lần đầu Ở giai đoạn này, thân nhiệt thú thường thấp hơn bình thường, âm đạo và cổ tử cung dãn nở Thân nhiệt thú giảm do sự
giảm hàm lượng progesterone trong máu Tử cung co thắt từng cơn nhưng không có
dấu hiệu của sự co thắt thành bụng Thú trở nên bức rức, khó chịu (Trần Đăng Khôi,
2005)
Giai đoạn 2: thường kéo dài từ 3 - 12 giờ, một số trường hợp có thể kéo dài đến 24 giờ Sau khi thân nhiệt thú giảm 24 giờ, thú bắt đầu bước vào giai đoạn 2 của quá trình đẻ Thân nhiệt của thú trở lại bình thường hoặc đôi khi hơi cao hơn bình thường Giai đoạn này, bào thai đã bắt đầu đi vào xoang chậu và xuất hiện đồng thời cả các cơn co thắt tử cung và các cơn co thắt thành bụng Trong vòng 4 giờ sau khi các dấu hiệu của giai đoạn 2 xuất hiện, bào thai chó con bọc trong màng
ối sẽ được chó mẹ rặn đưa ra ngoài Chó mẹ sẽ liếm, chọc thủng màng ối và đưa chó con ra ngoài Có ba dấu hiệu để biết chó mẹ đã vào giai đoạn hai của quá trình đẻ: có sự chảy dịch thai ở âm hộ, thành bụng co thắt, thân nhiệt trở lại bình thường
(Trần Đăng Khôi, 2005)
Giai đoạn 3: đây là giai đoạn tống nhau và sừng tử cung dần thu ngắn lại (Trần Đăng Khôi, 2005)
Trang 202.6 MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN Ở CHÓ CÁI
2.6.1 Viêm mủ tử cung (pyometra)
Viêm mủ tử cung là một tình trạng rối loạn trong giai đoạn không động dục
do yếu tố hormone, có đặc điểm là nội mạc tử cung bất thường, cùng với sự nhiễm
vi khuẩn kế phát (Aiello và ctv, 1998)
Nguyên nhân
Những rối loạn về nội tiết tố, sự lên giống dẫn đến gây bất thường ở nội mạc
tử cung thường là điều kiện dẫn đến nhiễm trùng tử cung Trong hoạt động sinh dục, khi mức độ progesterone tăng lên thì nội mạc tử cung phát triển trong khi các hoạt động của cơ tử cung giảm đi Kế đó có sự tăng sinh nội mạc tử cung và cuối cùng sự tiết dịch tử cung tăng lên Dịch tiết từ các tuyến tử cung là môi trường rất tốt cho vi trùng phát triển Hệ vi khuẩn ở âm đạo là nguồn chủ yếu xâm nhập lên gây nhiễm trùng tử cung, có lẽ các vi trùng này xâm nhập lúc cổ tử cung dãn nở trong thời kỳ tiền lên giống Ngoài ra vi khuẩn đường tiết niệu và vi khuẩn huyết
cũng là nguồn bệnh đáng chú ý Escherichia coli là vi khuẩn đáng kể nhất trong tình trạng này, mặc dù vậy các vi khuẩn như Staphylococcus, Proteus spp.,
Streptococcus, Pseudomonas và một số loại vi khuẩn khác cũng tìm thấy khi phân
lập (Nguyễn Văn Biện, 2001; Nguyễn Văn Thành, 2004) Do sử dụng progesterone kéo dài để ngăn chặn và ức chế sự rụng trứng, hay do sử dụng estrogen trên những chó đã phối giống (Aiello và ctv, 1998)
Triệu chứng
Các triệu chứng lâm sàng thường tùy thuộc vào sự mở hay đóng của cổ tử cung và mức độ bệnh của tử cung (Nguyễn Văn Biện, 2001)
Trường hợp viêm mủ tử cung dạng hở:
Viêm mủ tử cung dạng hở là trường hợp viêm tử cung với cổ tử cung mở và dịch chảy ra ngoài âm hộ nên có thể quan sát được (Phan Thị Kim Chi, 2003)
Dịch tiết có mủ lẫn máu từ âm đạo có thể xuất hiện 4 - 8 tuần sau khi lên giống Những dấu hiệu khác có thể thấy như lừ đừ, suy nhược, tiểu nhiều, khát nước nhiều, không thèm ăn và ói mửa, thú có thể sốt hoặc không sốt Khi khám lâm sàng thì ngoài các triệu chứng trên ta có thể thấy tử cung nở lớn, và có dịch tiết có mủ lẫn máu từ âm đạo chảy ra (Nguyễn Văn Biện, 2001)
Trường hợp viêm mủ tử cung dạng kín:
Viêm mủ tử cung dạng kín là trường hợp có mủ trong tử cung nhưng mủ không chảy ra ngoài được do cổ tử cung đóng kín (Phan Thị Kim Chi, 2003)
Trang 21Các triệu chứng bên ngoài có vẻ ít trầm trọng hơn Tuy nhiên thực tế thì các trường hợp này khi ta chẩn đoán sẽ thấy chó còn bệnh nặng hơn vì cổ tử cung đóng không cho phép các dịch bài xuất ra ngoài nên bệnh âm ỉ bên trong, người chủ không chú ý đến Ở những trường hợp này chỉ thấy các dấu hiệu như suy nhược, bỏ
ăn, bụng căng, tử cung nở lớn, tiểu nhiều, khát nước, ói mửa, và tiêu chảy Những triệu chứng trên có thể diễn biến nhanh làm cho con vật mất nước nghiêm trọng, sốc, hôn mê và chết (Nguyễn Văn Biện, 2001)
Chẩn đoán
Việc khám bệnh nên bắt đầu bằng cách hỏi bệnh sử, đến khám lâm sàng, rồi kết hợp với chụp x- quang vùng bụng Việc chẩn đoán sẽ gặp khó khăn khi không biết rõ lịch sử bệnh, dịch tiết từ âm đạo không phát hiện, hoặc có sự tiết dịch mà không thấy hiện tượng nở lớn tử cung Trong những trường hợp này thì cần thực hiện những phương pháp khám đặc biệt như siêu âm, nội soi âm đạo, mổ ổ bụng Cần chẩn đoán phân biệt với viêm âm đạo và các trường hợp bệnh khác gây ra tiểu nhiều, khát nước, có dịch tiết từ âm đạo với màu nho chín (Nguyễn Văn Biện, 2001)
Hình ảnh siêu âm tử cung bình thường:
Tử cung bình thường nhỏ, có hồi âm đồng nhất, vách tử cung khó có thể nhìn thấy Dựa vào khu vực trung tâm trống hay hồi âm kém mà xác định có dịch chất hiện diện hay không Thông thường, khi chó không mang thai thì tử cung có hồi âm đồng nhất Cổ tử cung, thân tử cung, đáy tử cung cách biệt nhau bởi một đường rất mảnh tăng hồi âm nhưng không cân xứng trên các mặt cắt dọc Thành tử cung có ba lớp cơ có độ hồi âm khác nhau
Lớp ngoài: độ hồi âm kém
Lớp giữa: dày nhất, hồi âm tăng hơn so với lớp ngoài và trong
Lớp trong: mỏng nhất, nằm kề sát bao quanh lớp nội mạc tạo vòng giảm hồi âm quanh nội mạc Nội mạc tử cung có cấu trúc hồi âm và bề dày thay đổi theo chu kỳ kinh (Mattoon và Nyland, 1995)
Hình ảnh siêu âm tử cung bất thường:
Ảnh siêu âm bụng chó Corgi 12 tuổi biểu hiện lòng tử cung rộng ra với đường kính
17 mm , chứa đầy dịch cho hồi âm kém (hình 2.2) và ảnh siêu âm bụng của chó Doberman Pinscher 10 tuổi bị bội triển nội mạc tử cung tạo nang cho thấy các nang với đường kính 2 - 3 mm không hồi âm (hình 2.3) (Đỗ Hiếu Liêm, 2006)
Trang 22Hình 2.2: Ảnh siêu âm tử cung có mủ (F) của chó Corgi 12 tuổi