TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG Tên đề tài: ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN SÁN KÝ SINH Ở ĐƯỜNG TIÊU HÓA CHÓ VÀ THỬ HIỆU QUẢ CỦA ALBENDAZOLE TRONG TẨY TRỪ GI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN SÁN KÝ SINH Ở ĐƯỜNG TIÊU HÓA CHÓ VÀ THỬ HIỆU QUẢ CỦA ALBENDAZOLE TRONG TẨY TRỪ GIUN TRÒN Ở CHÓ TẠI QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: “ Điều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở đường tiêu hoá chó và thử hiệu quả của Albendazole trong tẩy trừ giun tròn ở chó tại quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ”
Do sinh viên: Đỗ Văn Trường thực hiện tại quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bài trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Đỗ Văn Trường
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Xin chân thành cảm ơn thầy Đỗ Trung Giã và cô Nguyễn Thị Ánh Tuyết đã tận tình chỉ dẫn, động viên và tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu trường Đại Học Cần Thơ, ban giám hiệu khoa Nông Nghiệp Và Sinh Học Ứng Dụng
Cảm ơn quý thầy cô trong bộ môn thú y và chăn nuôi đã tận tình dạy bảo và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm bổ ích trong suốt thời gian học tại trường Cảm ơn thầy Nguyễn Hữu Hưng và thầy Đỗ Trung Giã đã tận tình dạy bảo và truyền đạt những kiến thức vô cùng quý báo cho tôi trong thời gian học tại trường Cảm ơn các cô chú và các anh chị tại phòng mạch thú y công ty Vemedim đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Chân thành cảm ơn tập thể lớp thú y k32 đã động viên, chia sẽ khó khăn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
Cảm ơn gia đình tôi hết lòng yêu thương và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học
Đỗ Văn Trường
Trang 5MỤC LỤC
TRANG BÌA
TRANG TỰA i
TRANG DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA ii
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v-vi DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
TÓM LƯỢC x
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1.Tình hình nghiên cứu về bệnh giun sán ký sinh ở chó ở trên thế giới 2
2.2.Tình hình nghiên cứu về bệnh giun sán ký sinh ở chó trong nước và ở Đồng Bằng Sông Cửu Long 2
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun sán ký sinh ở chó trong nước 2
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun sán ký sinh ở chó tại Đồng Bằng Sông Cửu Long 3
2.3 Sơ lược đặc tính sinh học một số loài giun sán ký sinh ở chó 5
2.3.1 Giun tròn ký sinh ở chó 5
2.3.2 Sán dây ký sinh ở chó 10
2.3.3 Sán lá ký sinh ở chó 12
2.4 Tác hại của giun sán đối với ký chủ và sức khỏe con người 13
2.4.1 Tác hại của giun sán đối với ký chủ 13
2.4.2 Tác hại của giun sán đối với sức khỏe con người 13
Trang 62.5 Thuốc tẩy trừ giun sán Albendazole 14
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội quận Ninh Kiều,Thành Phố Cần Thơ 15
3.1.1 Điều kiện tự nhiên quận Ninh Kiều 15
3.1.2 Điều kiện xã hội quận Ninh Kiều 15
3.2 Tình hình nuôi chó tại quận Ninh Kiều 15
3.3.Thời gian và địa điểm thí nghiệm 16
3.4 Phương pháp thí nghiệm 16
3.4.1 Điều tra tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa ở chó tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bằng phương pháp kiểm tra phân 16
3.4.2 Điều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở chó tại quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ bằng phương pháp mổ khám 19
3.5 Thử hiệu quả thuốc Albendazole 23
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 25
4.1 Kết quả tình hình nhiễm giun sán qua phương pháp kiểm tra phân 25
4.2 Tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở chó bằng phương pháp mổ khám 31
4.3 So sánh tỷ lệ nhiễm qua phương pháp kiểm tra phân và phương pháp mổ khám 37
4.4 Hiệu quả tẩy trừ .38
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ CHƯƠNG 44
XỬ LÝ THỐNG KÊ 45
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1: Tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh ở chó theo lứa tuổi 25 Bảng 2: Thành phần loài giun sán ký sinh ở chó theo cường độ và lứa tuổi qua phương pháp kiểm tra phân 27 Bảng 3: Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun sán ở chó theo lứa tuổi
bằng phương pháp mổ khám 31 Bảng 4: Thành phần loài giun sán ký sinh ở chó theo lứa tuổi bằng phương
pháp mổ khám 33 Bảng 5: Kết quả tỷ lệ nhiễm ghép giun sán ký sinh ở chó bằng phương pháp
mổ khám 36 Bảng 6: So sánh tỷ lệ nhiễm giữa phương pháp kiểm tra phân và phương
pháp mổ khám 37 Bảng 7: Kết quả thử nghiệm thuốc Albendazole tẩy trừ giun sán ký sinh ở chó 38
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Trứng Ancylostoma caninum 5
Hình 2.2 Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859) (theo Skrjabin Petrov, 1964) 6
Hình 2.3 Đầu Ancylostoma braziliense (theo Baylis, 1929) 6
Hình 2.4 Uncinaria stenocephala (Railliet, 1884), (theo Petrov, 1931) 7
Hình 2.5 Trứng Uncinaria stenocephala 7
Hình 2.6 Toxocara canis (Linstow, 1902) (theo Mosgovoy, 1953) 8
Hình 2.7 Trứng Toxocara canis 8
Hình 2.8 Toxascaris leonina (Linstow, 1902) (theo Mosgovoy, 1953) 9
Hình 2.9 Trứng Toxascaris leonine 9
Hình 2.10 Trichuris vulpis 9
Hình 2.11 Trứng Trichuris vulpis 9
Hình 2.12 Spirocerca lupi (Rudunphi, 1809) (theo Skrjabin, Soblev và Ivaschkin, 1968) 10
Hình 2.13 Trứng Spirocerca lupi 10
Hình 2.14 Dipylidium caninum (Linneus,1785) (theo Mathevosian, 1963) 11
Hình 2.15 Trứng Dipylidium caninum 11
Hình 2.16 Taenia hydatigena (Pallas, 1766) (theo Abuladze, 1964) 11
Hình 2.17 Multiceps multiceps (theo Leske, 1780) (theo Abuladze, 1964) 12
Hình 2.18 Cấu trúc hóa học của Albendazole 14
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 1: So sánh tỷ lệ nhiễm giun sán theo lứa tuổi chó bằng phương pháp
kiểm tra phân 25
Biểu đồ 2.1: So sánh tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh ở chó theo loài qua phương pháp kiểm tra phân 28
Biểu đồ 2.2: So sánh tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh ở chó theo tháng tuổi qua phương pháp kiểm tra phân 28
Biểu đồ 3: So sánh tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh ở chó theo lứa tuổi 32
Biểu đồ 4: So sánh thành phần loài giun sán ký sinh ở chó 34
Biểu đồ 5: So sánh tỷ lệ nhiễm ghép giun sán ký sinh ở chó 36
Biểu đồ 6: so sánh về tỷ lệ nhiễm giữa hai phương pháp 37
Trang 10TÓM LƯỢC
Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2010 đến tháng 12/2010 qua quá trình diều tra
tình hình nhiễm giun sán ở chó tai quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bằng hai phương pháp kiểm tra phân và mổ khám Chúng tôi kiểm tra 80 mẫu phân chó được chia làm 3 lứa tuổi (1-<5 tháng tuổi, 5-12 tháng tuổi và > 12 tháng tuổi) Đồng thời dùng Albendazole 4,2% để tẩy trừ giun sán trên chó
Kết quả cho thấy:
Qua kiểm tra phân tìm trứng giun sán: chó bị nhiễm với tỷ lệ 63,75%, phát hiện trứng của 6 loài giun sán kí sinh ở chó và 6 loài này điều thuộc lớp giun tròn:
Ancylostoma canium, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stepnocephala, Toxocara canis, Toxascaris Leonia, Trichuris vulpis
Qua mổ khám thì tỷ lệ nhiễm là 90,00% và tìm thấy có 5 loài giun sán, trong đó
có 4 loài giun tròn: Ancylostoma canium, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stepnocephala, Spirocerca lupi và 1 loài sán dây là Dipylidium caninum thuộc lớp
cestoda
Kết quả thử nghiệm thuốc:
Qua việc sử dụng thuốc Albendazole để tẩy trừ giun sán chúng tôi nhận thấy Albendazole có hiệu quả tẩy trừ cao
+7 ngày sau khi tẩy: tỷ lệ sạch trứng ở giun móc là (83,33-88,89%)
Tỷ lệ sạch trứng ở giun đũa và giun tóc là (100%)
+14 ngày sau khi tẩy: thì tỷ lệ sạch trứng ở giun móc, giun đũa và giun tóc
là (100%)
Trang 11CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Như ta đã biết chó là con vật được con người nuôi trong nhà từ rất sớm Từ xa
xưa con người biết thuần hoá loài chó săn trong rừng thành loài chó hiền lành nuôi trong nhà với mục đích giử nhà cho chủ
Chó là một con vật rất khôn ngoan luôn trung thành với chủ, nhờ bản tính trung thành, thông minh, thích sống gần gủi với con người, đặc biệt nhiều giống chó còn
có ngoại hình rất đẹp… cho nên chó là con vât được con người chọn nuôi nhiều nhất; chẳng hạn nuôi chó để làm cảnh, làm bạn, bảo vệ an ninh quốc phòng,… Khi xã hội phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì việc nuôi chó ngày càng trở nên phổ biến, số lượng chó ngày càng tăng, bên cạnh đó thì các dịch bệnh ở chó xảy ra ngày càng nhiều Một trong các bệnh đó thì bệnh ký sinh trùng ở chó không những ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân con chó mà đặc biệt hơn là ấu trùng của một số loài giun sán gây bệnh trên chó như bệnh giun móc, sán dây,…có khả năng lây truyền và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người Từ đó, việc tẩy sạch giun sán cho chó là việc rất cần thiết để bảo vệ bản thân con chó, đồng thời tránh lây lan, ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, được sự giúp đỡ của công ty Vemedim và sự chấp thuận của Bộ Môn Thú Y - Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng -
Trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi thực hiện đề tài “Điều tra tình hình nhiễm
giun sán ký sinh ở đường tiêu hoá chó và thử hiệu quả của Albendazole trong tẩy trừ giun tròn ở chó tại quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ”, với mục
đích:
- Xác định tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh ở chó
- Xác định thành phần loài giun sán ký sinh ở chó
- Thử nghiệm thuốc Albendazole để tẩy trừ giun sán ký sinh ở đường tiêu hóa của chó tại Thành Phố Cần Thơ
Trang 12
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun sán ký sinh ở chó trên thế giới
Islam, -AWMS; Chizyuka, -HGB (1983), nghiên cứu sự lưu hành của giun sán
ký sinh ở chó tại Lusaka, Zambia Đã kiểm tra 85 con chó nhà địa phương cho thấy
có 40,00% chó bị nhiễm với một hay nhiều loài giun sán ký sinh Giun sán đã tìm
thấy được là Dipylidium caninum 25%, Taenia hydatigena 18%, Toxocara canis 14%, Ancylostoma caninum 8%, Toxascaris leonina 7%, Diphyllobothrium 5%, Ancylostoma braziliense 2%, Spirocerca lupi 2% và Echinococcus granulosus 1%
Theo Basa, -SS; Ogunkoya, -AB; Ezeocoli, -CD (1983), tại Chori, Bắc Nigeria,
đã kiểm tra 144 chó thì thấy có 61 con nhiễm Ancylostoma caninum 42,40%, Toxocara canis và Taenia spp có 14 con nhiễm 9,70% mỗi loài, Dipylidium caninum nhiễm 11 con 7,60%, Spirocerca lupi nhiễm 2 con 1,30% Tỷ lệ nhiễm có khuynh hướng cao trong mùa mưa, Ancylostoma caninum lưu hành suốt cả mùa ẩm
ướt và mùa khô
Blagbum, BL; Lindsay, DS; Vaugan, JL; Rippei, NS; Wright, JC; Lynn, RC; Kelch, -WJ; Ritchie, -GC; Hepler, -DI (1996), ở Mỹ cho biết giun sán ký sinh ở đường tiêu hoá của chó ở Mỹ đã được nghiên cứu trên cơ sở kiểm tra phân Trình bày sự lưu hành những giun sán và nguyên sinh động vật thường gặp khác nhau tùy theo từng vùng tại Mỹ và sự lưu hành của giun sán tùy theo tuổi của vật chủ, tình trạng sản xuất và giống Những loài giun sán ký sinh thường xuyên và phổ biến
-nhất là Toxocara canis (14,54%), Ancylostoma caninum (19,19%) và Trichuris vulpis (14,30%) Kết quả trên cho thấy, cần phải kiểm soát bệnh ký sinh trùng và
tẩy trừ kịp thời, đặc biệt là những ký sinh trùng gây bệnh nghiêm trọng
2.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun sán ký sinh ở chó trong nước và ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun sán ký sinh ở chó trong nước
Ở nước ta các công trình và tài liệu nghiên cứu về giun sán chỉ chủ yếu tập trung
ở trâu, bò, heo và gia cầm nhưng trên chó thì còn rất hạn chế
Theo Trịnh Văn Thịnh (1978) đã tổng kết dựa trên tài liệu của Houdemer (1983) cho biết Việt Nam có 23 loài giun sán ký sinh trên chó bao gồm: 3 loài sán lá, 9
loàisán dây và 11 loài giun tròn với tỷ lệ nhiễm như sau: Ancylostoma caninum (75,87%),Dirofilaria immitis (25,75%),Dipyllidium caninum (22,80%),Toxocara canis (16,71%),Diphillobothrium manoni (11,68%), Clonorchis sinensis (10,94%)
Trang 13Theo Trần Thị Thanh Hằng (1989) điều tra tỷ lệ nhiễm giun sán chó tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chó bị nhiễm với tỷ lệ (94,12%), gồm có 2 lớp giun tròn
và sán dây, trong đó có 7 loài thuộc lớp giun tròn và 4 loài thuộc lớp sán dây Tỷ lệ
nhiễm từng loài như sau: Ancylostoma caninum (91,17%), Ancylostoma braziliense: (82,35%), Uncinaria stenocephala (41,17%),Toxocara canis (11,76%), Toxascaris leonina (5,88%), Spirocerca lupi (14,71%), Dipylidium caninum (17,65%), Taenia hydatigen (2,94%), Mesocestoides lineatus (2,94%), Taenia multiceps (2,94%)
Theo Ngô Huyền Thuý (1996) đã mổ khám 516 chó và xét nghiệm 1092 mẫu phân chó ở Hà Nội Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun sán của chó rất cao (92,10%)
và 12 loài giun sán đã được phát hiện gồm cả sán lá, sán dây và giun tròn (Toxocara canis, Toxascaris leonina, Ancylostoma caninum, Uncinaria stenocephala, Trichocephalus vulpis, Spirocerca lupi, Dipylidium caninum, Diphyllobothrium mansoni, Taenia pisiformis, Taenia hydatigena, Echinochasmus perfoliatus, Clonorchis sinensis) Chó thường nhiễm ghép 3-4 loài giun sán trên một cá thể, trong đó có 4 loài gây thiệt hại chủ yếu cho chó đó là Dipylidium caninum, Ancylostoma caninum, Toxocara canis, Spirocerca lupi Tác giả cũng thử nghiệm 4
loại thuốc tẩy trừ là: Piperazin liều 0,25 g/kg trọng lượng đạt hiệu quả tẩy giun đũa
là (94,60-100,00%); Mebendazole liều 0,10 g/kg đạt hiệu quả tẩy giun móc (93,00%); Lopatol liều 50 mg/kg có hiệu quả tẩy giun là (82,90%), tẩy sán (76,00%); Niclosamid liều 100 mg/kg đạt hiệu quả tẩy sán dây (77,00-81,00%) Theo Lê Hữu Khương và Lương Văn Huấn (1998) mổ khám 253 chó và xét nghiệm 753 mẫu phân chó ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ nhiễm giun móc
92,00-ở chó là (90,51%) (mổ khám) và (61,62%) (xét nghiệm phân) Có 3 loài giun móc
được định danh là Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephala Trong đó Ancylostoma caninum nhiễm cao nhất (79,84%)
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun sán ký sinh ở chó ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Theo Hồ Tồng Nhân (1997) tiến hành mổ khảo sát 120 chó tại thị xã Vĩnh Long
tỉnh Vĩnh Long, cho thấy chó bị nhiễm giun sán với tỷ lệ (100,00%) Trong đó có 2 loài thuộc lớp sán dây và 6 loài thuộc lớp giun tròn với tỷ lệ nhiễm theo từng loài như sau:
Taenia hydatigena: 0,83%
Dipylidium caninum: 25,00%
Ancylostoma caninum: 82,50%
Trang 14Theo Nguyễn Văn Nghĩa (1998) tiến hành nghiên cứu tình hình nhiễm giun móc tại thành phố Cần Thơ, kết quả kiểm tra 280 mẫu phân và mổ khám 35 con chó cho thấy tỷ lệ nhiễm giun móc là (78,93%) với thành phần và tỷ lệ nhiễm như sau:
Ancylostoma caninum: 87,50%
Ancylostoma braziliense: 81,25%
Uncinaria stenocephala: 43,75%
Theo Ôn Hoà Thịnh (1999) tiến hành điều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh
ở ống tiêu hóa chó tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, kết quả xét nghiệm
244 mẫu phân chó cho biết tỷ lệ nhiễm chung là (75,00%) với 6 loài thuộc lớp giun
tròn và 1 loài thuộc lớp sán dây trong đó Ancylostoma caninum (59,84%), Ancylostoma braziliense (26,64%), Uncinaria stenocephala (15,57%) Theo tác giả
qua mổ khám 124 chó cho thấy tỷ lệ nhiễm giun sán là (100,00%) Trong đó có 4
loài thuộc lớp sán dây và 8 loài thuộc lớp giun tròn, trong đó Ancylostoma caninum: (77,42%), Ancylostoma braziliense: (17,74%), Uncinaria stenocephala: (14,52%)
Theo Văng Phước Hậu (2000) điều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở đường tiêu hoá chó và thử hiệu lực thuốc Ivermectin trên chó tại thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long cho thấy: qua xét nghiệm 180 mẫu phân chó tại đây, nhận thấy tỷ lệ nhiễm giun sán là (71,11%) Thử hiệu lực thuốc ivermectin 0,1% cho thấy hiệu quả tẩy trừ (100,00%)
Theo Nguyễn Thị Mỹ Hiệp (2006) điều tra tình hình nhiễm giun móc ở chó tại Thành phố Cần Thơ và thử hiệu lực một số thuốc tẩy trừ, kiểm tra 220 mẫu phân chó và mổ khám 30 con chó cho kết quả như sau: đối với phương pháp kiểm tra phân tỷ lệ nhiễm giun móc là (60,45%), đối với phương pháp mổ khám tỷ lệ nhiễm giun móc là (83,33%), thuốc Ivermectin liều 0,25mg/kg trọng lượng cơ thể cho hiệu quả tẩy trừ cao (100%)
Trang 15Theo Phạm Minh Sơn (2007) điều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở chó tại quận Ô Môn thành phố Cần Thơ và thử hiệu quả một số thuốc tẩy trừ, kiểm tra
176 mẫu phân chó và mổ khám 107 chó cho kết quả như sau:
-Phương pháp kiểm tra phân:
+ Tỷ lệ nhiễm: Ancylostoma caninum (65,91%), Ancylostoma braziliense (51,14%), Uncinaria stenocephala (27,27%), (11,93%), Toxascaris Toxocara canis leonina (6,25%), Trichuris vulpis (7,39%), Dipylidium caninum (1,14%), Taenia pisiformis (4,55%)
-Phương pháp mổ khám:
+ Tỷ lệ nhiễm: Ancylostoma caninum (66,36%), Ancylostoma braziliense (51,40%), Uncinaria stenocephala (35,51%), Toxocara canis (7,48%), Toxascaris leonina (0,94%), Spirocerca lupi (26,17%), Dirofilaria immitis (11,21%), Dipylidium caninum (28,03%), Multiceps multiceps (2,80%)
2.3 Sơ lược đặc tính sinh học một số loài giun sán ký sinh ở chó
2.3.1 Giun tròn ký sinh ở chó
Giun móc ký sinh ở chó
Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859) là loài có kích thước lớn nhất trong 3
loài Miệng có 3 đôi răng lớn, túi miệng rất to Chiều dài biến thiên từ 6-21 mm, con đực dài khoảng 8-11 mm, 2 gai giao hợp bằng nhau dài 0,85 mm, túi đuôi phát triển Giun cái dài 12-14 mm, có khi đến 21 mm, thực quản dài 0,75-1,1 mm, hậu môn cách đuôi 0,22 mm, lỗ sinh dục cái nằm ở nửa sau thân Đuôi có gai nhọn Trứng hình bầu dục, hai đầu thon đều, có 2 lớp vỏ mỏng, trứng mới thải ra ngoài bên trong có 4-8 tế bào phôi Kích thước trứng 0,06-0,066 mm x 0,037-0,042 mm
Trang 16Hình 2.1 Trứng Ancylostoma caninum Hình 2.2 Ancylostoma caninum
(Ercolani,1859)
1 Đầu; 2.Túi đuôi con đực; 3 Túi đuôi con cái.
(theo Skrjabin Petrov, 1964)
Ancylostoma braziliense (Gomer de Faria, 1910) loài này có kích thước nhỏ
nhất trong 3 loài Bao miệng chỉ có một đôi răng không phân nhánh Giun đực dài 5-7 mm, 2 gai giao hợp bằng nhau dài 0,64 mm Giun cái dài khoảng 7-10 mm, nhìn chung kích thước không lớn hơn 10 mm, hậu môn cách đuôi 0,20-0,25 mm, lỗ
sinh dục cái nằm ở nữa sau thân Trứng giống như Ancylostoma caninum nhưng kích thước lớn hơn Trứng Ancylostoma braziliense có kích thước 0,075-0,095 mm
x 0,041-0,045 mm
Hình 2.3 Đầu Ancylostoma braziliense (theo Baylis, 1929)
Uncinaria stenocephala (Railliet, 1884) miệng không có răng, có 2 tấm cắt hình
bán nguyệt xếp đối xứng nhau Kích thước con đực 5-8 mm, con cái 7-12 mm Gai giao hợp dài 0,7 mm, lỗ sinh dục nằm ở giữa sau thân Thuỳ lưng của túi đuôi nhỏ hơn nhiều so với các thuỳ bên Trứng hình bầu dục dài, kích thước trứng 0,078-
0,083 mm x 0,052-0,059 mm
Trang 17Hình 2.4 Uncinaria stenocephala (Railliet, 1884), (theo Petrov, 1931)
1 Đầu; 2 Đuôi con đực
Hình 2.5 Trứng Uncinaria stenocephala Vòng đời giun móc: phát triển trực tiếp, không cần có sự tham gia của ký chủ
trung gian Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi sau 20 giờ tới một vài ngày sẽ phát triển thành trứng có ấu trùng gây nhiễm Ấu trùng nằm trong trứng và tồn tại rất lâu ngoài môi trường, khi chó ăn phải trứng này sẽ nhiễm giun Ngược lại, trứng của các loài giun móc sau khi ra ngoài 1-2 ngày sẽ nở ra ấu trùng giai đoạn 1, rồi trải qua 2 lần lột xác sau 3-5 ngày thành ấu trùng giai đoạn 3
(ấu trùng gây nhiễm) Ấu trùng này vào cơ thể chó qua miệng hoặc qua da
Giun đũa ký sinh ở chó
Toxocara canis (Werner, 1782)
Hình thái: khi còn sống Toxocara canis có màu trắng ngà, vỏ ngoài trơn láng
Đầu giun thường cong về mặt bụng, miệng có 3 môi và có 2 cánh đầu rộng làm cho đầu giun giống mũi tên Con đực dài 5-10 cm, đuôi có vật phụ hình nón nhỏ giống ngón tay, hai gai giao hợp dài bằng nhau 0,75-0,97 mm Con cái dài 9-18 cm, lỗ sinh dục cách đầu khoảng 1/5-1/4 so với chiều dài thân Giữa thực quản và ruột có
dạ dày, đây là đặc điểm để phân biệt với loài Toxascaris leonina (loài này không có
Trang 18dạ dày) Loài Toxacara cati cũng có đặc điểm này nhưng chỉ ký sinh ở mèo không
ký sinh ở chó
Vòng đời: trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi sau 3-5 ngày phát triển thành trứng có ấu trùng gây nhiễm L2 Vật chủ cuối cùng ăn phải trứng vào ruột ấu trùng được giải phóng theo mạch máu về gan lột xác thành L3, lên tim, lên phổi sau đó ra khí quản được chó mèo nuốt trở lại ruột non lột xác lần 2 phát triển thành con trưởng thành sau 1 tháng Ấu trùng có thể di hành qua bào thai về phổi của thai và lột xác thành L3 Khi được thai nuốt xuống ruột phát triển thành con trưởng thành sau 3 tuần Ngoài ra, khi chó con bú mẹ trong sữa có lẫn L3, khi vào ruột của chó con ấu trùng lột xác 2 lần để phát triển thành dạng trưởng thành
Hình 2.6 Toxocara canis(Linstow, 1902) Hình 2.7 Trứng Toxocara canis
1 Đuôi cá thể đực, mặt bên 2 Dạ dày; 3.Đuôi cá thể đực, mặt bụng (theo Mosgovoy, 1953)
Toxascaris leonina (Leiper, 1907)
Hình thái: đầu có 3 môi, thực quản đơn giản, hình trụ, không có thành thực quản và không có dạ dày Đầu hẹp hơi cong về phía lưng Con đực dài 40-80 mm, đuôi nhọn, hai gai giao hợp dài bằng nhau 0,9-1,5 mm Con cái dài 60-100 mm Trứng hơi tròn, bên ngoài có lớp vỏ nhẵn, đường kính 0,075-0,085 mm gồm hai lớp
vỏ dày màu vàng nhạt
Vòng đời: trứng theo phân ra ngoài nếu gặp điều kiện nhiệt độ 19-22 0C sẽ hình thành trứng có chứa ấu trùng L2 (ở nhiệt độ 28-300C cần 2,5 ngày) Nhiệt độ cao hơn 400C trứng bị chết Khi chó ăn phải trứng có chứa ấu trùng, ấu trùng sẽ giải phóng ở ruột sau đó xâm nhập vào vách ruột, lột xác và phát triển thành giun trưởng thành Thời gian từ khi ăn phải trứng đến khi thành giun trưởng thành và có khả năng đẻ trứng mất 74 ngày
Trang 19Hình 2.8 Toxascaris leonina (Linstow, 1902) Hình 2.9 Trứng Toxascaris leonina
1 Phần trước cơ thể; 2 Đầu, mặt lưng; 3 Đuôi cá thể đực (theo Mosgovoy, 1953)
Giun tóc ký sinh ở chó
Hình thái: những giống Trichocephalus cơ thể chia làm 2 phần rõ rệt Đoạn
trước thắt nhỏ hình sợi tóc, đoạn sau lớn hơn Thực quản có hình chuỗi hạt Giun đực dài 20-80 mm, đuôi thường cong lại, có bao gai giao phối với nhiều gai nhỏ phủ
ở trên, có một gai giao hợp dài cấu tạo tuỳ thuộc từng loài Giun cái dài 35-70 mm, đuôi không cong Âm hộ nhô ra dạng hình trụ hơi cong ở đoạn dưới thực quản hay 1/3 phía sau thân Trứng có hình hạt chanh, lớp vỏ dày màu vàng sậm hoặc màu hơi đen Kích thước trứng 0,027-0,040 mm x 0,052-0,080 mm (Angus M.Dunn,
1969, 1978)
Hình 2.10 Trichuris vulpis Hình 2.11 Trứng Trichuris vulpis
Vòng đời: trứng theo phân ra ngoài, một con cái đẻ khoảng 2.000 trứng một ngày, trứng phát triển trên đất bắt đầu sản sinh ra ấu trùng Theo Spindler (1929) trứng trở hành gây nhiễm ở nhiệt độ 370C trong vòng 12-15 ngày, 300C trong vòng
16 ngày và khoảng 35 ngày ở nhiệt độ 220C Chó bị nhiễm do ăn phải trứng chứa
ấu trùng gây nhiễm vào trong đường tiêu hoá Trứng nở ra trong khoảng nữa giờ và
ấu trùng bám vào màng nhầy niêm mạc ruột trong vòng 24 giờ Ấu trùng có kích
Trang 20thước dài 360 µ, rộng 12,5 µ, với miệng lưỡi mác rất phát triển Phần lớn chúng ký
sinh ở phần trên của ruột non và vẫn ở đây trong 8-10 ngày (Miller, 1947), sau đó chúng chuyển đến manh tràng, ở đây chúng bám chặt vào màng nhầy manh tràng và trở thành giun trưởng thành từ 70-90 ngày sau khi vào đường tiêu hoá Chúng sống khoảng 16 tháng (Rubin, 1954)
Spirocerca lupi (Rudolphi, 1809)
Hình thái: giun to dạng xoắn, màu hơi đỏ, miệng nhỏ hình 6 cạnh Thực quản kép Con đực dài 30-54 mm, rộng 760 µ, có 2 gai giao hợp dài không bằng nhau, gai giao hợp trái dài 2,45-2,8 mm và gai phải dài 475-750 µ Con cái dài 54-80
mm, rộng 1,15 mm, đuôi dài 400-450 µ, âm hộ nằm trước thân gần cuối thực quản Trứng hình trụ có kích thước 0,035-0,039 mm x 0,014-0,023 mm, bên trong có chứa ấu trùng
Vòng đời: trứng theo lổ dò thực quản theo phân ra ngoài, các loại côn trùng cánh
cứng Scarabius dacer, Corpis lunaris, Geotruper, Stercorarius ăn phải trứng, vào
vật chủ trung gian, ấu trùng sẽ giải phóng, lột xác 2 lần tạo thành ấu trùng gây nhiễm Nếu vật chủ khác ăn phải vật chủ trung gian sẽ trở thành vật chủ dự trữ Khi chó ăn phải vật chủ trung gian hoặc vật chủ dự trữ vào trong cơ thể phát triển thành giun trưởng thành
Hình 2.12 Spirocerca lupi (Rudunphi, 1809) Hình 2.13 Trứng Spirocerca lupi
1 Lát cắt ngang đỉnh đầu; 2 Phần đầu; 3 Phần đuôi con đực
(theo Skrjabin, Soblev và Ivaschkin, 1968)
2.3.2 Sán dây ký sinh ở chó
Dipylidium caninum (Linnaeus, 1758)
Hình thái: sán dài từ 10-75 cm, rộng 2-3 mm, đầu nhỏ có 4 giác bám hình elip, đỉnh đầu có 3-4 hàng móc, có từ 30-150 móc Móc lớn dài 0,012-0,015 mm, móc nhỏ dài 0,005-0,006 mm, đốt trưởng thành và đốt già có chiều dọc lớn hơn chiều
Trang 21ngang và có hình dạng giống như hạt dưa, mỗi đốt có 2 cơ quan sinh dục đổ ra 2 bên của đốt sán
Vòng đời: phát triển gián tiếp có sự tham gia của ký chủ trung gian là bọ chét và
rận chó (bọ chét chó Ctenocephalides canis, bọ chét người Pulex irritans, rận chó Trichodectes canis) Đốt sán chửa thường xuyên rụng theo phân ra ngoài, mỗi đốt
chứa khoảng 3.000 trứng Đốt sán bị phá vỡ giải phóng trứng và bọc trứng Nếu ký chủ trung gian (các loại bọ chét của chó, mèo, người) ăn phải sẽ phát triển thành
Cysticercoid sau 18 ngày Vật chủ cắn lông ăn phải bọ chét hoặc bọ chét rơi vào
thức ăn, nước uống vào trong đường tiêu hóa phát triển thành sán trưởng thành sau
3 tuần
Hình 2.14 Dipylidium caninum (Linneus,1785) Hình 2.15 Trứng Dipylidium caninum
1,2 Đầu; 3 Đốt lưỡng tính (theo Mathevosian, 1963)
Taenia hydatigena (Pallas, 1766): Taenia hydatigena dài tới 5 m, rộng 7 mm,
đầu có 26-44 móc, xếp thành 2 hàng Móc lớn có kích thước 0,17-0,22 mm, móc
nhỏ dài 0,11-0,16 mm Đốt già tử cung phân thành 7-10 nhánh mỗi bên
Hình 2.16 Taenia hydatigena (Pallas, 1766)
1 Móc vòi; 2 Đốt lưỡng tính; 3 Đốt già (theo Abuladze, 1964)
Trang 22Taenia multiceps (Leske, 1790) sán dài 40-100 cm, rộng tối đa 5 mm Đầu sán
có 4 giác bám và có 22-32 móc xếp thành 2 hàng Móc lớn dài 0,15-0,17 mm, móc
nhỏ dài 0,09-0,13 mm Đốt già có 9-26 nhánh tử cung
Hình 2.17 Multiceps multiceps (theo Leske, 1780)
1 Đầu; 2 Móc vòi; 3 Đốt lưỡng tính; 4 Đốt già (theo Abuladze, 1964)
2.3.3 Sán lá ký sinh ở chó
Echinochasmus perfoliatus (Ratz, 1908) sán lá có dạng mãnh và thon dài Kích
thước cơ thể 3,45-4,96 x 0,55-0,71mm Bề mặt cơ thể sau viền cổ và vùng hầu phủ gai cutin dày, sau thưa dần và kết thúc ở phía sau giác bụng, một số cá thể gai cutin phủ đến tinh hoàn Giác miệng nhỏ, hình phểu, kích thước 0,138-0,165 x 0,138-0,165mm Trước hầu ngắn, hầu có chiều dài và rộng gần bằng nhau 0,179-0,207 x 0,179-0,207mm Thực quản dài 0,13-0,34mm, tiếp đến là 2 nhánh ruột kéo dài đến phía sau cơ thể, thường bị tuyến noãn hoàng che lấp từ phía sau giác bụng Giác bụng tròn, to hơn giác miệng, kích thước 0,30-0,38 x 0,30-0,41mm Lỗ sinh dục nằm chỗ thực quản chẻ đôi, túi sinh dục kéo dài tới quá nữa giác bụng và có kích thước 0,267 x 0,138mm Hai tinh hoàn to, nằm cái trước cái sau ở nữa sau cơ thể
và thường nằm đè lên nhau một chút, kích thước gần như nhau 0,38-0,41 mm x
0,55-0,69mm
Vòng đời: Nhóm sán lá Echinostomatidae gây bệnh sán lá đường ruột ở loài chó
(cả mèo, loài có vú và chim) và cả con người Tất cả các bệnh sán lá
Echinostomatidae đều có nguồn gốc động vật mà người đảm bảo cho sự phát triển
hoàn toàn của loài ký sinh trùng đó hay là một kho dự trữ của ký sinh trùng Vì vậy, loài chó và một số loài gia súc khác có thể truyền bệnh cho người
Chu kỳ phát triển của nhóm sán lá đường ruột Echinostomatidae và sự truyền
bệnh từ chó hay các loài động vật khác như sau: chó là ký chủ cuối cùng bài xuất phân cùng trứng của nhóm sán lá này ra môi trường bên ngoài, trứng sán lá trôi vào
Trang 23môi trường nước ngọt của suối, sông, ao hồ và trứng nở thành Miracidiumm Ấu trùng này tiếp tục xâm nhập vào một loài ốc nước ngọt Limnae hay Planorbis và ở
đây vĩ ấu được tạo thành Đôi khi các vĩ ấu này tạo thành kén trên ốc là ký chủ trung gian thứ nhất, nhưng thường chúng thoát ra khỏi ký chủ này trở lại vào nước
và xâm nhập vào một ký chủ thứ hai: đó cũng là một loài ốc hay một loài lưỡng cư
và hiếm hơn là một loài cá (như đối với sán lá Echinochasmus perfoliatus) Khi người hay gia súc khác ăn phải ký chủ trung gian này chứa Metacercaria thì mắc
bệnh Ấu trùng này phát triển thành sán lá trưởng thành do sán lá ký sinh trong vách ruột
2.4 Tác hại của giun sán đối với ký chủ và sức khỏe con người
2.4.1 Tác hại của giun sán đối với ký chủ
Giun móc: theo Jay R Georgi (1992) giun móc bám chặt vào màng niêm mạc
ruột non của ký chủ, tại chổ bám sẽ tạo nên vết xuất huyết do trong nước miếng của giun móc có chất chống đông máu làm cho ký chủ mất máu Trên chó con gây hiện tượng mất máu không bù được có thể làm chó chết, trên chó lớn có thể hồi phục được tuy nhiên sẽ đưa tới chất làm máu loãng Trên ruột non giun móc tạo ra những vết loét, gây viêm
Giun đũa: khi bị nhiễm giun đũa chó mất tính thèm ăn, gầy còm, chậm lớn,
bụng trương to, có thể ói mửa ra giun Đôi khi xuất hiện các triệu chứng thần kinh,
co giật Trong thời kỳ di hành ấu trùng có thể gây ra sự hoại tử ở các cơ quan
Sán dây: khi vật chủ bị nhiễm nặng sẽ ói ra đốt sán, giảm ăn, kiệt sức, tiêu chảy,
có triệu chứng thần kinh
2.4.2 Tác hại của giun sán đối với sức khỏe con người
Ngoài việc gây tác hại chủ yếu lên cơ thể vật chủ, giun sán còn ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sức khỏe của con người
Giun móc: theo Trần Thị Xuân Mai trường Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí
Minh (1994) ấu trùng có thể chui qua da người, do không có men phân giải vách tỉnh mạch nên chúng không vào máu được Tại đây chúng tạo nên những nốt đỏ sần, có bọng nước nhô lên như sợi chỉ, mỗi ngày dài ra vài mm đến vài cm Cùng với nhận định này theo Jay R Georgi (1992) khi ấu trùng chui qua da người sẽ gây nên phản ứng da tạo thành những nốt đỏ gọi là hiện tượng “Ấu trùng định cư dưới da”
Trang 24Giun đũa: theo Jay R Georgi (1992) ấu trùng giun đũa chủ yếu ở trẻ em, nó tạo
nên 2 hội chứng: “Ấu trùng di hành trong nội tạng” và “ấu trùng di hành trong mắt” Hội chứng “Ấu trùng di hành trong nội tạng” gây viêm phổi, gan to (gây bệnh chủ yếu ở trẻ em dưới 3 tuổi) Hội chứng “ấu trùng di hành trong mắt” gây viêm võng mạc mắt, mắt kết võng mạc giống như hiện tượng nguyên bào võng mạc (gây bệnh
cho trẻ em từ 3-13 tuổi)
Sán dây: được lây truyền bởi trứng sán dây có lẫn trong thức ăn, nước uống
Trẻ em chiếm 75% trong số những người bị nhiễm
2.5 Thuốc tẩy trừ giun sán Albendazole
Thuốc Albendazole dẫn xuất của imidazole, thuộc nhóm benzimidazole là loại
có phổ ký sinh trùng hiệu quả rộng, thuốc được sử dụng rộng rãi và an toàn Thuốc
có hiệu quả đối với các loài giun tròn ở dạ dày, ruột, bao gồm ức chế các thể ấu trùng, các loài sán dây và sán lá ký sinh ở gan, phổi
2.5.1 Tính chất
Thuốc albendazole là một dạng bột màu trắng, không tan trong nước, có thành phần hóa học Methyl 5n-(propylthio)-2-benzimidazolecarbamate
2.5.2 Cơ chế tác động
Albendazole làm ức chế hấp thụ glucose do đó làm giun mất năng lượng không
đủ để sống, gây bất động rồi chết, xác giun được nhu động ruột đẩy ra ngoài
2.5.3 Phổ kháng ký sinh
Giống như mebendazole, albendazole là một loại thuốc được sản xuất có hiệu quả cao diệt được các loại giun tròn ký sinh ở ruột, dạ dày đối với dạng trưởng thành cũng như dạng chưa trưởng thành, làm giảm sức sống của trứng giun trước khi chúng được bài xuất ra ngoài (Sacko và ctv,1999; Bennett và Guyatt, 2000) Thuốc cũng có thể diệt được sán dây ở động vật nuôi (De silva va ctv, 1997), diệt
ấu trùng sán dây (Jung, 1998) và hiệu quả tẩy sán lá gan do F hepatica (Ottesen và ctv, 1999)
Hình 2.18 Cấu trúc hóa học Albendazole
Trang 25CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ
3.1.1 Điều kiện tự nhiên quận Ninh Kiều
- Quận Ninh Kiều là trung tâm của thành phố Cần Thơ nơi tập trung đông dân
cư, là trung tâm văn hóa khoa học kỹ thuật của của thành phố Cần Thơ
- Quận Ninh Kiều có điều kiện khí hậu nhiệt đới với hai mùa rõ rệt trong năm: + Mùa mưa: từ tháng 5-11, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam
+ Mùa khô: từ tháng 12-4, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc + Nhiệt độ trung bình: 27 0C
+ Lượng mưa trung bình: 1.635 mm
+ Dân tộc: Chủ yếu là dân tộc Việt, Hoa, Chăm, Khmer,…
+Tôn giáo: Phật giáo, Cao đài, Thiên chúa giáo, Tin lành
3.1.3 Vị trí địa lý: quận Ninh Kiều là trung tâm thành phố Cần Thơ
+Phía bắc giáp với quận Bình Thủy
+Phía đông giáp với Vĩnh Long
+Phía tây giáp với huyện Phong Điền
+Phía nam giáp với huyện Phong Điền và quận Cái Răng
3.2 Tình hình nuôi chó ở quận Ninh Kiều
Tập quán nuôi chó đã có từ lâu đời, chó là một trong những loài vật có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân
Trong những năm gần đây phong trào nuôi chó ở quận Ninh Kiều rất phát triển Nuôi chủ yếu là 2 giống chó: chó địa phương và chó ngoại (như chó Berger, lông xù, chó Bắc Kinh,…) Trong đó, giống chó nội chiếm tỷ lệ nhiều nhất, nhưng càng ngày người ta co xu hướng nuôi chó ngoại nhiều hơn
Trang 26Phương thức nuôi: chủ yếu chó sống trong nhà với chủ và thả rong, cách nuôi này thường gặp ở giống chó địa phương Còn giống chó ngoại chủ yếu là nuôi nhốt
- Túi nylon, găng tay cao su, dây thun
- Rây lựơc phân
Trang 27 Phương pháp tiến hành thí nghiệm:
Các bước tiến hành
-Cách lấy mẫu: phân được lấy ngẫu nhiên từ những chó nuôi của các hộ dân tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, phân được lấy tại nhà của các hộ dân Mỗi mẫu lấy khoảng 20-30 gam phân, cho vào túi nylon, buộc chặt, đánh dấu
-Cách ghi chép: Mỗi mẫu được ghi thông tin vào phiếu điều tra với nội dung sau:
PHIẾU ĐIỀU TRA TRÊN CHÓ
(Phương pháp kiểm tra phân) 1) Ngày lấy mẫu:………
2) Địa điểm lấy mẫu: Quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ
9) Trạng thái phân: Lỏng………., Bình thường………
10) Màu sắc phân: Đen………, Xám………., Có lẩn máu……
11) Đã tẩy ký sinh trùng: có……… , không………, lúc nào………
Kết Quả Xét Nghiệm
STT Tên loài giun sán Cường độ nhiễm Kích thước trứng Ghi chú
Trang 28-Cách bảo quản: mỗi mẫu sau khi lấy đựơc bảo quản trong phích trữ lạnh với nước đá và được mang về phòng thí nghiệm công ty thuốc thú y Vemedim, trong trường hợp mẫu không được xét nghiệm hết trong ngày thì đem trữ trong tủ lạnh để bảo quản ở nhiệt độ 5-8 độ C và phải được xét nghiệm hết trong vòng 3 ngày kể từ ngày lấy mẫu
Phương pháp kiểm tra trong phòng thí nghiệm:
Phương pháp phù nổi Willis, 1927
Nguyên lý: Trong dung dịch muối bảo hoà, trứng của hầu hết giun tròn có tỷ trọng
nhỏ hơn dung dịch muối bảo hoà, nên trứng sẽ nổi lên và tập trung trên bề mặt dung dịch
- Dung dịch NaCl bảo hoà: 1000ml nước sôi, cho vào 450 gram NaCl, hoặc đun sôi nước cho từ từ vào muối, khuấy đều cho đến khi muối không tan nữa, lọc qua màng vải hoặc bông, bỏ cặn (Phạm Văn Khuê, Phan Lục, 1996)
- Cho 1-2 gram phân vào cốc thuỷ tinh, cho vào một ít nước muối NaCl bảo hoà, đánh tan phân rồi lắc đều
+ Lược qua rây lược, cho vào lọ nhỏ sạch
+ Cho nước muối bảo hoà đầy miệng lọ
+ Đậy phiến kính lên miệng lọ, để yên 3-4 phút
+ Sau đó lấy phiến kính ra và đậy lá kính lên phiến kính
+ Kiểm tra trên kính hiển vi, dựa vào hình dáng, tế bào phôi,… để nhận dạng trứng
+ Đếm trứng giun trên một vi trường
Phương pháp lắng cặn Benedek, 1943
Phương pháp này cũng dựa trên nguyên lý về tỷ trọng, trứng của một số loài sán lá, sán dây có tỷ trọng nạng hơn tỷ trọng của nước, do đó trứng của chúng bị chìm dưới đáy bề mặt dung dịch đó
Lấy 10-20 gram phân cho vào cối nghiền nát, sau đó cho nước tiếp tục nghiền nát cho đều, lượt qua rây (81 lỗ/ cm2) tiếp tục cho nước lên rây để lược bỏ xác ra Cho vào cốc có mỏ, tiếp tục cho nước vào gần đầy cốc, để yên 5-10 phút Đổ lớp nước phía trên và chừa phần cặn Tiếp tục cho nước vào cốc chứa cặn trên để yên lắng cặn, đổ lớp nước trong đi, tiếp tục như thế khoảng 5-6 lần, cuối cùng lấy chất
Trang 29rắn thu được ở đáy cốc cho vào lame và đưa lên kính hiển vi xem với độ phóng đại
- Cường độ nhiễm nhẹ: 1-3 trứng /vi trường (+)
- Cường độ nhiễm vừa: 4 -6 trứng /vi trường (++)
- Cường độ nhiễm nặng: >6 trứng /vi trường (+++)
Trang 30-Răng sữa: khoảng 4 tuần tuổi sẽ mọc, chó mọc răng theo trình tự: răng cửa hàm dưới, răng kề, kề bên gồm 6 chiếc mọc hết rồi mới mọc hàm răng trên Sau đó mới mọc răng nanh và răng hàm, răng chó mọc hết 32 răng
-Chó 2 tháng tuổi thì các thùy răng mòn đi, răng cửa hàm dưới mòn trước song song dần đến các răng kế tiếp sẽ mòn đi
-Chó đến 2,5 tháng tuổi thì toàn bộ răng dưới mòn đi thì bắt đầu răng hàm từ từ -Chó 5-6 tháng tuổi thì lớp răng sữa đều rụng hết và mọc răng mới Đây là răng thật hay còn gọi là răng vĩnh viễn
-Chó 7 tháng tuổi thì toàn bộ răng vĩnh viễn mọc đầy đủ, vậy là lúc này chó có khoảng 42 răng
-Chó 1 năm tuổi thì răng có màu trắng, bóng
Trang 31-Chó 2 năm tuổi răng vĩnh viễn bắt đầu mòn đi và răng giữa hàm dưới bắt đầu mòn trước
-Chó 3 năm tuổi thì 2 răng kề hàm dưới bắt đầu mòn đi
-Chó 4 năm tuổi thì tất cả răng cả hàm dưới mòn và răng cửa hàm trên bắt đầu mòn
-Chó 5 năm tuổi thì 12 răng cửa của hai hàm đều mòn
- Dùng dao cắt dạ dày theo chiều dọc ở một bên đường cong lớn, cho các chất chứa bên trong dạ dày vào xô, dùng phương pháp gạn rửa nhiều lần tìm giun sán sau đó lột mặt trong dạ dày ra ngoài, quan sát trên bề mặt dạ dày tìm giun sán -Đối với ruột non và ruột già được mổ khám riêng, ruột được cắt thành từng đoạn khoảng 15cm sau đó cho vào ca nhựa có nắp, cho nước vào ca lắc mạnh cho giun tách rời ra, gạn rửa chất chứa trong ruột tìm giun sán, dùng dao cạo lớp niêm mạc ruột quan sát tìm giun sán
Tiến hành thu nhặt mẫu
Sau khi mổ khám chúng tôi tách riêng từng bộ phận sau đó quan sát từng cơ quan từng tổ chức
-Thực quản: quan sát bằng mắt thường từ ống thực quản tới dạ dày, nếu thấy khối u chúng tôi cắt khối u và tiến hành thu nhặt mẫu
- Dạ dày: lộn ngược dạ dày, lấy toàn bộ chất chứa cho vào xô và gạn rửa sa lắng, sau đó quan sát và tìm khối u trên dạ dày khi phát hiện khối u chúng tôi cắt và thu nhặt mẫu
- Ruột già và ruột non lấy chất chứa đem gạn rửa sa lắng nhiều lần, lộn ruột quan sát niêm mạc nhặt giun sán