Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y Đề tài: Điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng t
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN THỊ THU BA
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NHIỄM KÝ SINH TRÙNG TRÊN CÁ
TRA (Pangasuis hypothalamus) TẠI QUẬN Ô MÔN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Giáo Viên Hướng Dẫn
NGUYỄN HỮU HƯNG
Cần thơ, 07/2007
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: Điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng trên cá tra (Pangasuis
hypothalamus) tại quận Ô Môn, Thành Phố Cần Thơ; do sinh viên: NGUYỄN THỊ THU BA thực hiện tại bộ môn Thú Y, khoa Nông Nghiệp & SHƯD, trường Đại Học Cần Thơ
Cần Thơ, ngày tháng năm… CầnThơ, ngày tháng năm
Duyệt Bộ môn Thú Y Duyệt Giáo viên hướng dẫn
Cần Thơ, ngày tháng năm
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 3Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CẢM TẠ
Kính gởi lời cảm ơn sâu sắc đến cha mẹ đã nuôi nấng, dạy dỗ và luôn đặt niềm tin hy vọng và tôi trong suốt 5 năm học tập tại trường và trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn Hữu Hưng đã hết lòng chỉ bảo, động viên tôi để hoàn thành luận văn tốt nghiệp Xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến cô chủ nhiệm lớp thú y k28 Lý Thị Liên Khai đã hết lòng lo lắng và dạy bảo trong 5 năm học qua Xin cảm ơn chú Hoàng Phương - Trưởng trạm Thú y quận Ô Môn đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Kính gởi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô thuộc bộ môn thú y và bộ môn chăn nuôi đã hướng dẫn và truyền thụ kiến thức cho tôi trong 5 năm qua
Kính gởi lời cảm ơn chân thành đến
Cô Từ Thanh Dung- Khoa thủy sản
Cô Thanh Thư viện khoa thủy sản
Các cô trong thư viện khoa nông nghiệp
Các anh, chị trạm Thú y quận Ô Môn
Chú Nguyễn Tấn Nguyên
Anh Lư Tuấn
Bà con chăn nuôi cá tra thuộc quận Ô Môn
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
Trang
Trang tựa -i
Trang duyệt của Hội Đồng Khoa - ii
Lời cảm tạ - iii
Mục lục - iv
Danh mục hình - vii
Danh mục bảng -viii
Tóm lược - ix
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ - 1
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN - 3
2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng - 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ngoài nước - 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trong nước - 3
2.2 Đặc điểm sinh học con cá tra - 4
2.2.1 Phân loại cá tra - 4
2.2.2 Phân bố và môi trường sống - 5
2.2.3 Hình thái sinh lý - 6
2.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng - 6
2.2.5 Đặc điểm sinh trưởng - 7
2.2.6 Đặc điểm sinh sản - 7
2.3 Đặc điểm ký sinh trùng trên cá - 8
2.3.1 Đặc điểm ngoại ký sinh trùng trên cá - 8
2.3.2 Đặc điểm nội ký sinh trùng trên cá -15
2.4 Tiêu chuẩn các yếu tố môi trường nuôi thuỷ sản -18
2.4.1 Các yếu tố hoá học -18
2.4.2 Các yếu tố vật lý -21
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU -23
3.1 Nội dung đề tài -23
3.2 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài -23
3.3 Phương tiện thí nghiệm -23
3.3.1 Đối tượng điều tra -23
3.3.2 Dụng cụ và hóa chất -23
3.4 Phương pháp tiến hành -24
3.4.1 Điều tra tình hình chăn nuôi cá tra -24
3.4.2 Phương pháp kiểm tra và mổ khám -24
3.4.3 Phương pháp cố định và nhuộm mẫu ký sinh trùng -25
3.4.4 Phương pháp xác định mức độ cảm nhiễm ký sinh trùng -25
3.4.5 Phương pháp định danh phân loại -27
3.5 Phương pháp xử lý số liệu -27
PHẦN 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN -28
4.1 Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi cá tra tại quân Ô Môn -28
4.1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội -28
4.1.2 Tình hình chăn nuôi cá tra ở các phường thuộc quận Ô Môn -29
4.1.3 Tình hình dịch bệnh xảy ra -29
4.2 Kết quả điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nhiễm ký sinh trùng ở cá tra tại quận Ô Môn -30
4.2.1 Mùa vụ -30
4.2.2 Mật độ -31
4.2.3 Một số chỉ tiêu về môi trường nuôi cá -31
4.3 Kết quả tình hình nhiễm ký sinh trùng ở cá tra tại quận Ô Môn -33
4.3.1 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên cá của các phường thuộc quận Ô Môn -33
4.3.2 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên cá tra theo giai đoạn nuôi -34
4.3.3 Tỷ lệ nhiễm nguyên sinh động vật -35
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4.3.4 Tỉ lệ nhiễm các loài ngoại ký sinh ở cá -36
4.3.5 Tỉ lệ nhiễm các loài nội ký sinh trùng ở cá thịt -38
4.4 Một số hình ảnh về ký sinh trùng trên cá -40
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ -44
5.1 Kết luận -44
5.2 Đề xuất -44
TÀI LIỆU THAM KHẢO -45
PHỤ CHƯƠNG -46
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH M ỤC H ÌNH
Hình 1 Hình dạng bên ngoài cá tra (Pangasuis hypothalamus) - 5
Hình 2 Cấu tạo đĩa bám của 3 giống trùng mặt trời - 9
Hình 3 Gyrodactylus salaries -12
Hình 4 Gyrodactylus sp -12
Hình 5 Ấu sán Gyrodactylus sp -13
Hình 6 Phần đầu Spectatus sp -40
Hình 7 Phần sau Spectatus sp -40
Hình 8 Phần trước cơ thể Cucullanelus sp -40
Hình 9 Phần sau cơ thể Cucullanelus sp. -40
Hình 10 Dactylogyrus sp nhuộm dung dịch Carmin -41
Hình 11 Dactylogyrus sp. -41
Hình 12 Trichodina sp mẫu nhuộm dung dịch Carmin -41
Hình 13 Epistylus Kronweri mẫu tươi -42
Hình 14 Apiosoma sp mẫu nhuộm dung dịch Carmin -42
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH M ỤC B ẢNG
Bảng 2.4.1 Tiêu chuẩn về chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản - 24
Bảng 4.1.2 Thống kê diệnt ích ao nuôi cá tra các phường từ tháng 06/2006 đến 06/2007 -29
Bảng 4.2.2 Mật độ nuôi cá tra của quận Ô Môn -31
Bảng 4.2.3 Tỉ lệ các chỉ số hoá học của môi trường nước của 16 ao nuôi thuộc quận Ô Môn -32
Bảng 4.3.1 Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng ở cá của các phường-quận Ô Môn -33
Bảng 4.3.2 Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng ở cá tra theo giai đoạn nuôi -34
Bảng 4.3.3 Tỉ lệ nhiễm nguyên sinh động vật theo vị trí ký sinh -35
Bảng 4.3.4 Tỉ lệ nhiễm các loài ngoại ký sinh ở cá -36
Bảng 4.3.5 Tỉ lệ nhiễm các loài nội ký sinh ở cá thịt -38
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TÓM LƯỢC
tại quận Ô Môn, chúng tôi tiến hành kiểm tra ký sinh trùng của 136 mấu cá, trong
đó có 86 con cá giống và 50 con cá thịt nuôi theo hình thức thâm canh ở 4 phường, phương Thới An, phường Thới Long, Phường Phước Thới, phường Châu Văn Liêm Qua thời gian thực hiện từ tháng 4/2007 đến 7/2007 chúng tôi thu được kết quả như sau:
Kết quả phân tích 136 mẫu cá tra, trong đó có 86 con cá giống và 50 con cá thịt Qua đó chúng tôi ghi nhận tỷ lệ nhiễm ở cá giống là 72,09%, tỷ lệ nhiễm của cá thịt là 46,00%
Cá tra nuôi ở giai đoạn giống thường hay nhiễm ký sinh trùng đơn bào ngoại
ký sinh ở da, mang Trong đó Trichodina sp.là loài thường xuất hiện nhiễm với tỷ lệ 33,82% nhiều nhất so với 3 loài Dactylogylus sp.tỷ lệ nhiễm 22,79%, Epistylus kronweri tỷ lệ 4,41%, Apiosoma sp tỷ lệ nhiễm 3,68%
Ở giai đoạn cá thịt mức độ nhiễm ký sinh trùng đơn bào thấp, nhưng nhiễm
ký sinh trùng đa bào cao Sán lá đơn chủ Dactylogylus sp ở mang 26,00%, giun tròn Spectatus sp.nhiễm ở ruột 10,00% , Cucullanelus minutus tìm thấy ở túi mật tỷ
Thành phần ký sinh trùng được xác định gồm: Trichodina sp, Ichthyonytus, Balantidium sp., Dactylogylus sp., Epistylus Kronweri, Apiosoma sp., giun tròn Spectatus sp và Cucullanellus minitus
qua kiểm tra nằm trong giới hạn
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá tra (Pangasuis hypophthalamus) là một loại cá da trơn được nuôi phổ
biến ở vùng Đông Nam Á nói chung và khu vực ĐBSCL nói riêng Do đặc tính thích nghi của cá tra là sống trong vùng khí hậu nhiệt đới, dễ nuôi, mao lớn hơn loài
cá da trơn khác và có giá trị xuất khẩu cao
Từ nửa đầu thế kỷ 20, việc nuôi cá trong ao mới bắt đầu xuất hiện ở Đồng bằng Nam Bộ và đối tượng nuôi là cá tra, nhưng việc nuôi cá lúc này còn ở vi mô nhỏ lẻ và chưa kỹ thuật nên sản lượng và chất lượng nuôi trong ao chưa cao, chưa chủ động được nguồn cá giống, chủ yếu là vớt cá bột trong tự nhiên Một điều đáng lưu ý lúc này là thị trường tiêu thụ cho con cá tra chưa được mở rộng chủ yếu là tiêu thụ trong nước
Ngày nay trước nhu cầu thị trường chế biến và xuất khẩu thành phẩm cá tra ngày một tăng, trong xu thế chung hiện nay là nuôi cá tra trong ao đã phát triển hình thức nuôi thâm canh trong ao, mang tính công nghiệp cho năng suất cao và hiệu quả kinh tế lớn Sản phẩm cá nuôi ngoài tiêu chuẩn về qui cở, cần phải đạt được tiêu chí sản phẩm sạch, người nuôi cần tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về kỷ thuật nuôi từ giai đoạn cá giống cho đến cá thương phẩm
Bên cạnh những đặc điểm sinh trưởng nhanh, có khả năng sống trong điều
đó không ít người lợi dụng đặc điểm đó và chạy theo lợi nhuận trên bàn tính theo cách nghĩ thông thường mà nuôi cá với mật độ cao, dày, việc quản lý ao nuôi chưa đúng cách, nên dẫn đến cá thường xuyên bị bệnh Trong đó ký sinh trùng đóng vai trò là yếu tố mở đầu cho vi khuẩn, virus cũng như nấm tấn công gây bệnh, ký sinh trùng còn làm cá mất máu, giảm sức đề kháng với mầm bệnh tồn tại thường xuyên
Việc nghiên về ký sinh trùng cần được quan tâm, đặc biệt là tìm hiểu về thành phần cũng như tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng trên cá tra ở các giai đoạn nuôi, từ đó góp phần hạn chế yếu tố gây bệnh
Được phép của Khoa Nông Nghiệp và Sinh học ứng dụng-Trường Đại học
Cần Thơ chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Điều tra tình hình nhiễm ký sinh
trùng trên cá tra (Pangasius hypophthalamus) tại Quận Ô Môn”
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài
- Xác định tình hình nhiễm ký sinh trùng trên cá tra (Pangasius hypophthalamus) tại
Quận Ô Môn
- Xác định tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ nhiễm ngoại - nội ký sinh trùng trên cá tra theo giai đoạn
- Ghi nhận thành phần loài ngoại - nội ký sinh trùng trên cá tra theo giai đoạn
- Khảo sát một số chỉ tiêu về môi trường nước
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ngoài nước
Từ năm 1929-1970 hàng loạt các công trình nghiên cứu về ký sinh trùng ở cá nước ngọt và nước mặn được công bố thuộc nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu về khu hệ ký sinh trùng ký sinh ở các loài cá nước ngọt ở Liên Xô do Bychowsky biên tập Từ kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, công trình đã phát hiện và phân loại được khoảng 2000 loài ký sinh trùng khác nhau và công bố năm 1968
Tại LIên Xô Dogiel (1882-1956) đã đưa ra “Phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng trên cá” - tác giả này mở ra một phương hướng phát triển mới cho nghiên cứu
về các khu hệ ký sinh trùng và các loại bệnh cá do ký sinh trùng gây ra
Jiri Lom và Iva DyKová (1992) cung cấp những thông tin cơ bản rằng
“protozoa chỉ sống ngoài môi trường hoặc trên mặt bề mặt của cơ thể cá Ngày nay
có khoảng 2420 loài protozoa gây nhiễm cho cá đã được ghi nhận, trong đó một số loài Protozoa đưa đến một số bệnh nghiêm trọng cho cá
Việc nghiên cứu ký sinh trùng ở cá được bắt đầu với rất nhiều nhà khoa học
ở Châu Âu và Châu Mỹ vào cuối thế kỷ qua: EBrumpt, O.Butschli, F.Doflein, R.R.Gurley… Năm 1904 BrunoHofer đã kết luận rằng: protozoa là tác nhân mở đường cho các bệnh nguy hiểm trên cá là một phần bệnh học ở cá hoặc ký sinh trùng trên cá
Theo nhiều tác giả như:Amlacher, Van Duin, Ghittino, Kabata … (1992) cho rằng protozoa đóng vai trò là tác nhân gây bệnh cho cá
Tại Châu Á việc nghiên cứu ký sinh trùng cũng sớm đựoc xem là ngành khoa học thực sự.Từ công trình nghiên cứu của Yamaguti cho đến công trình nghiên cứu
ký sinh trùng cá nước ngọt ở Hokkaido của Nagasama, Awakura và Urava (1989)
đã phát hiện 96 loài ký sinh trùng
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trong nước
Từ năm 1960 đến 1990 các công trình nghiên cứu về bệnh động vật thuỷ sản
ở Việt Nam, nhưng cũng chủ yếu tập trung vào nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng và các bệnh do ký sinh trùng gây ra ở cá Công trình nghiên cứu đầu tiên “Nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng và bệnh của cá nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam “của Hà Ký,
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nghiên cứu này được thực hiện trong 15 năm (1960-1975), đã mô tả được 120 loài
ký sinh trùng ký sinh trên cá nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam, trong đó có 42 loài
ký sinh trùng mới, một giống và một họ phụ mới đối với khoa học
Công trình nghiên cứu “khu hệ ký sinh trùng trên 41 loài cá nước ngọt ở ĐBSCL” của Bùi Quang Tề và ctv (1984-1990), công trình này đã phát hiện được157 loài ký sinh trùng
Công trình nghiên cứu “khu hệ sinh thái ký sinh ở 20 loài cá nứơc ngọt ở
miền Trung và Tây Nguyên“ của Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hoà (1980-1985)
công trình đã phát hiện được 57 loài ký sinh trùng
Công trình nghiên cứu “Thành phần ký sinh trùng trên một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Phú Khánh (Khánh Hoà )” của Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hoà (1978-1980) công trình này đã phát hiện được 80 loài ký sinh trùng ký sinh trên cá biển
Theo Bùi Quang Tề (2001) có 23 loài ký sinh trùng ký sinh trên cá tra nuôi ở các giai đoạn, giai đoạn cá thịt gặp 10 loài, giai đoạn cá nhỏ gặp 16 loài
Một số ký sinh trùng gây bệnh nguy hiểm cho cá tra nuôi ở ĐBSCL là trùng bánh
xe (Trichodina, Trichodinella, Tripartiella), trùng quả dưa (Ichthyophthyrius), trùng
loa kèn (Aspiosoma), sán lá đơn chủ (Silurodiscoides), giun tròn (Spectatus) (Bùi
Quang Tề -2001)
Năm 1972 Thái Lan công bố qui trình sinh sản nhân tạo cá tra với phương
2.2 Đặc điểm sinh học cá tra
2.2.1 Phân loại
Cá tra là một trong số 11 loài thuộc họ cá tra (Pangasiidae) đã được xác định
ở sông Cửu Long Tài liệu phân loại gần đây nhất 1996 của tác giả W.Rainboth xếp
cá tra nằm trong giống cá tra dầu Cá tra dầu rất ít gặp ở nuớc ta và còn sống sót rất
ít ở Thái Lan và Campuchia, đã được xếp vào danh sách cá cần bảo vệ Cá tra của ta
cũng khác với loài cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) thuộc họ Ictaluridae
Phân loại cá tra:
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bộ cá nheo: Siluriformes (cá da trơn )
Họ: Pangasiidae (shark catfishes)
Giống cá tra dầu: Pangasius
Loài: Pangasuis hypophthalamus (Sauvage 1878)
Hình 1 Hình dạng ngoài cá tra (Pangasuis hypophthalamus) (Bùi Quang Tề, 2006)
2.2.2 Phân bố và môi trường sống
Cá tra phân bố ở một số nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Indonexia và Việt Nam, loài cá này được tìm thấy ở lưu vực sông Mêkông cũng như sông Chaophraya Ngày nay cá tra được nuôi phổ biến trong các ao bè
Cá tra là loài cá nước nước ngọt, hoạt động sống ở vùng khí hậu nhiệt đới và môi trường sống lý tưởng cho cá sinh sống với
Độ pH: 6,5 – 7,5
Việc cá thích nghi với nhiệt độ như trên nên chúng không thể sống được nếu nhiệt độ xuống thấp
Cá phân bố ở các tầng nước từ tầng trên đến tầng đáy, cá có thể sống được ở các thủy vực nước tĩnh và nước chảy
Điều kiện tự nhiên, môi trường sống chủ yếu cá tra là ghềnh thác, bờ sông có bãi cát Ngoài ra, người ta còn thấy chúng rải rác ở các lòng sông sâu nhiều đá và kênh rạch Loài cá này sinh sống chủ yếu dọc theo sông Mêkông, nhiều nhất là ở Campuchia, Lào và Việt Nam Cá tập trung ở những chỗ nước sâu vào mùa khô khi mực nước hạ rất thấp (Thoại Sơn, 2006)
Cá tra là loài cá di cư, vào mùa lũ khi mực nước dâng cao cá di chuyển về vùng thượng nguồn đẻ trứng Khi mực nước sông xuống thấp cá trở về vùng hạ nguồn để tìm nơi cư trú
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cá tra sống từng đàn trên sông cũng như ao hồ, cá có thể sống trong ao hồ có hàm lượng oxy thấp, cũng như có thể nước tù bẩn Do đó có thể nuôi với mật độ cao Ngoài ra cá tra khoẻ mạnh có sức đề kháng với các thay đổi của môi trưòng cao, do đó cá ít khi bị bệnh gây chết thành đàn.Ở sông Mêkông, cá tra định cư vùng thượng nguồn vào tháng 5-6, trở về vùng hạ nguồn từ đầu tháng 9 đến cuối tháng
12 Vùng phía Nam của thác Khone việc định cư ở vùng thượng nguồn xảy ra vào cuối tháng 10, từ tháng 11-12 cá hiện diện nơi đây với số lượng nhiều
2.2.3 Hình thái sinh lý
Cá tra là cá da trơn có đầu lớn, thân thon và dẹp dần về phía đuôi, vây lưng cao, có 1 gai lưng cứng có răng cưa, vây ngực có ngạch cứng, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng có 2 đôi râu, vây cá có màu nâu sậm hay đen, cá con có 1 sọc đen chạy dọc 2 bên thân và 2 sọc đen bên dưới 2 đường bên thân, cá có bộ da màu sắc sáng bóng (màu cầu vồng ) Tuy nhiên ở cá trưởng thành thì vây kỳ có màu nâu bình thường và thân không có sọc vằn, chiều dài 130 cm, con lớn nhất có thể nặng
44 kg
Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước lợ (nồng
có hàm lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác, cá có cơ quan hô hấp phụ bằng bóng khí và da nên chịu được môi trường thiếu oxy hoà tan, tiêu hao oxy
và ngưỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng (http://www.fistenet.gov.vn)
2.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá tra là loài ăn tạp, sử dụng được các loại thức ăn khác nhau như: bèo, cám, rau muống, gạo, ngũ cốc… những thức ăn có nguồn gốc động vật thường có tác dụng làm cá lớn nhanh hơn (http://www.khuyennong.org)
Về mặt cơ thể học cá tra có dạ dày hình chữ U và co giãn được, ruột cá tra ngắn không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay bên dưới bóng khí
và tuyến sinh dục, dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt
Theo Thoại Sơn (2006) nếu cho cá tra ăn thức ăn có nguồn gốc động vật thì chúng lớn rất nhanh, đặc biệt là khi nuôi trong ao
khi cá tra hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống và thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau vì vậy chúng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá hương không được cho ăn đầy đủ
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trong quá trình ương nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các động vật phù du có kích thước vừa cở miệng của chúng và các thức ăn nhân tạo
Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dể chuyển đổi loại thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức ăn khác như mùn bã hữu
cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác như cám, rau, động vật đáy
Khi phân tích thức ăn trong ruột cá đánh bắt ngoài tự nhiên cho thấy thành phần thức ăn đa dạng, trong đó cá ăn tạp thiên về động vật.Theo D.Menon và P.I.Cheko (1955) thành phần thức ăn trong ruột cá ngoài tự nhiên như sau: (trích
2.2.5 Đặc điểm sinh trưỏng
Cá tra có tốc độ sinh trưởng nhanh, giai đọan còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài, cá ương trong ao sau 2 tháng đã đạt chiều dài 10 -12 cm (14- 15 gram) Cá Từ khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể
2.2.6 Đặc điểm sinh sản
Cá tra là loài đẻ trứng vào giai đoạn khá muộn trong cuộc sống Khả năng động dục của chúng hình thành mất hơn 3 năm Theo Cacot (1990), phải mất hơn 3 năm cá tra mái mới có khả năng động dục, dù nuôi trong bè, ao hồ hay sống ngoài
tự nhiên Khó có thể xác định khả năng động dục của cá tra bằng kích cở ngoại hình của chúng, song người ta có thể nhận biết tương đối, khi cá tra dài khoảng 54 cm và cân nặng tối thiểu 3- 4 kg thì chúng sẽ có khả năng này
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ, nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực, cá cái Ở thời kỳ thành thục, tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay noãn sào Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt được đực cái từ giai đọan 2 tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều Các giai đọan sau, buồng trứng tăng về kích thước,
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sửa Cá tra là loài mắn đẻ Tỷ lệ trứng của chúng tùy thuộc vào độ tuổi và một số con có khả năng đẻ trứng 2 lần / năm
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 6 dương lịch, cá có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái Lan, ở Việt Nam cá tra không có bãi đẻ tự nhiên, sau đó cá bột theo dòng nước đến Việt Nam Chúng đẻ trứng trong giai đoạn giao mùa, giữa tháng 5 và tháng 8 âm lịch Ấu trùng trôi giạt xuống vùng châu thổ sông Mêkông Vào cuối mùa mưa, cá tra bột có khuynh hướng di chuyển đến những vùng nước sâu hơn Tuy nhiên cá mái trưởng thành lại di chuyển ngược dòng nước đến với vùng thượng nguồn để đẻ trứng, sau khi đẻ trứng chúng lại di chuyển lại vùng hạ nguồn để định cư
Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1-3 lần trong 1 năm Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá gọi là sức sinh sản tuyệt đối Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200 ngàn đến vài triệu trứng Sức sinh sản có thể tới 135 ngàn trứng / kg cá cái Kích thước trứng cá tra tương đối nhỏ và
có tính dính Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 1 mm Sau khi đẻ ra và hút nước đường kính trứng khi trương nước có thể tới 1,5 -1,6 mm
2.3 Đặc điểm ký sinh trùng ký sinh trên cá
2.3.1 Đặc điểm ngoại ký sinh trùng trên cá
Protozoa Trùng mặt trời
Lớp peritricha Stein, 1895
Bộ peritrichida F.Stein, 1859
Bộ phụ Mobilina Kahl, 1993
Họ Trichodonidae Claus, 1874
Giống Trichodina ehrenberg, 1830
Giống Trichodinella Sramek-Husek, 1953
Giống Tripartiella Lom, 1959
cấu tạo các đĩa bám như hình 2
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hình 2 Cấu tạo đĩa bám của 3 giống trùng mặt trời; a: Trichodina, b: Trichodinella,
c: Tripartilla
Họ trùng bánh xe Trichodinae có nhiều giống, nhưng ở Việt Nam thường gặp các loài thuộc 3 giống trên ký sinh ở cá nước ngọt, nước mặn, lưỡng thể và bò
sát Những giống loài thường gặp : Trichodina nigra, Trichodina nobilis,
Trichodina pediculus, Trichodinella siluri, Trichodina domerguei, Trichodina
mutabilus , Trichodinella epizootica, Tripartiella bulbosa
Hình dạng cấu tạo của cơ thể Trichodina nhìn mặt bên giống như cái chuông,
mặt bụng giống cái đĩa Lúc vận động nó quay tròn lật qua lật lại giống như bánh xe nên có tên trùng bánh xe Nhìn chính diện có một đĩa bám lớn có cấu tạo phức tạp, trên đĩa có vòng tròn răng và các đường phóng xạ, Vòng răng có nhiều thể răng có dạng như hình chữ "V" bao gồm thân răng ở phía ngoài dạng hình lưỡi rìu, hình tròn hay hình bầu dục, còn móc răng ở phía trong dạng hình kim Hình dạng, số lượng răng và đường phóng xạ khác nhau mỗi loài Xung quanh cơ thể có lông tơ luôn luôn rung động làm cho cơ thể vận động rất linh hoạt
Trùng bánh xe sinh sản chủ yếu bằng hình thức vô tính phân chia đơn giản,
tùy theo từng loài chúng sinh sản quanh năm như: Trichdina nigra, Tripartiella bulbosa thì sinh sản trong điều kiện thời tiết ấm, nhiệt độ 22-280C; Trichodina pediculus có thể sinh sản trong điều kiện thời tiết lạnh: ở 160C trùng vẫn có thể sinh sản được (theo D.Ivanov, 1969)
Trùng bánh xe có thể sống tự do trong nước (ngoài ký chủ) từ 1-1,5 ngày Trùng ký sinh chủ yếu ở da, mang, khoang mũi của cá
Dấu hiệu bệnh lý: khi mới mắc bệnh thân cá có nhiều nhớt màu hơi trắng đục, ở dưới nước thấy rõ hơn khi bắt cá lên cạn Da cá chuyển màu xám, cá cảm thấy ngứa ngái, thường nỗi đầu từng đàn trên mặt nước, riêng cá tra giống thường nhô hẳn đầu lên mặt nước và lắc mạnh, người nuôi cá gọi là bệnh "lắc đầu" Một số con tách đàn bơi quanh bờ ao Khi bệnh nặng trùng ký sinh ở mang, phá hủy các tơ mang khiến cá bị ngạt thở, những con bệnh nặng mang đầy nhớt và bạc trắng Cá bơi lội lung tung không định hướng Sau cùng cá lật bụng mấy vòng, chìm xuống
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
đáy ao và chết Ngừơi nuôi cá tra giống còn gọi bệnh này là bệnh "trái", vì sau mấy
ngày trời u ám không nắng, nhiệt độ mát mẻ, trùng bánh xe sinh sản nhanh chóng
gây thành dịch khiến cá chết hàng loạt Đàn cá bị bệnh nhẹ thì gầy yếu, nếu không
xử lý trị bệnh kịp thời cá sẽ chết nhiều
Phân bố và lan truyền: theo Hà Ký (1968) và Bùi Quang Tề (1990-2001) trùng bánh xe phân bố rộng, bệnh này gây tác hại chủ yếu cho cá hương, cá giống ở
Việt Nam Trong các ao ương nuôi cá bệnh phát triển quanh năm nhưng phổ biến
nhất vào mùa xuân, đầu hạ và mùa thu ở miền Bắc, vào mùa mưa ở miền Nam (
mùa khô ít gặp hơn )
Trùng loa kèn ký sinh trên cá thường gặp 4 giống thuộc 2 họ Nhìn chung hình dạng cơ thể phía trước lớn, phía sau nhỏ, có dạng như hình loa kèn, hình
chuông lộn ngược nên có tên gọi là trùng loa kèn Phía trước cơ thể có 1 -3 vòng
lông rung và khe miệng Phía sau có ít nhiều đều có cuống để bám vào bất kỳ giá
thể nào Một số giống hình thành tập đoàn (Epistylus) các cá thể liên kết với nhau
bởi nhánh đuôi, trùng loa kèn lấy dinh dưỡng bằng cách lọc trong môi trường nước
Giống Epistylus cấu tạo tế bào hình chuông lộn ngược, nhân lớn của chúng
tương đối ngắn, có dạng xúc xích, cuống không co rút Bản thân tế bào có thể co
hoặc duỗi vòng lông rung ở phía trước miệng, cuống phân nhánh so le hoặc đều
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Giống Apiosoma cơ thể hình chuông hoặc hình phểu lộn ngược Phía trước tế
bào hình thành đĩa lông rung gồm 3 vòng tơ xoáy ngược chiều kim đồng hồ tới phểu miệng Cuối phía sau tế bào thon dài thành cuống, đầu mút của cuống có 1 đĩa bám nhỏ hoặc túm lông bám, tổ chức dính Màng tế bào mỏng, có vân ngang, gần nhân có vành đai lông mao ngắn Nhân lớn hình nón lộn ngược nằm ở trung tâm tế bào Nhân nhỏ hình bán cầu hoặc hình gậy gần nhân lớn, kích thước trùng loa kèn thay đổi theo giống loài
Giống Vorticella có thể sống đơn độc, dính vào giá thể bằng một cuống hình
trụ mảnh có thể co rút được, tế bào hình chuông lộn ngược Phía trước thường rồng thành đĩa, có 1 vùng lông xoắn ngược chiều kim đồng hồ, hướng tới miệng Có thể
có 1 nhân lớn và 1 nhân nhỏ hình đài, có 1 -2 không bào co rút Cơ thể không màu hoặc màu vàng, xanh
Giống Zoothamnium cấu tạo tế bào tương tự như Vorticella nhưng nó khác
với Vorticella, những loài của giống này sống thành tập đoàn, mỗi tập đoàn có vài hoặc rất nhiều tế bào Cuống phân nhánh dạng lưỡng phân đều Cuống có khả năng
co rút không liên tục trong tập đoàn, nên mỗi nhóm co rút riêng rẽ
Trùng loa kèn sinh sản vô tính bằng hình thức cắt đôi theo chiều dọc cơ thể, sinh sản vô tính bằng hình thức tiếp hợp thường cơ thể nhỏ bám gần miệng cơ thể lớn
Dấu hiệu bệnh lý: Trùng loa kèn bám trên da, vây, mang cá, trùng làm ảnh hưởng đến hô hấp, sinh trưởng của cá Ở giai đoạn ấu trùng của cá, trùng loa kèn cản trở sự hoạt động của ấu trùng và gây chết rải rác
Phân bố và lan truyền bệnh: trùng loa kèn ký sinh ở tất cả các động vật thủy sản, phân bố ở cá nước ngọt, nước mặn Theo C.G.Skriptrenko (1967) khi động vật
thủy sản nhiễm Apiosoma thì không phát hiện có Chilodonella trên cơ thể và ngược
lại Bệnh xuất hiện vào mùa xuân, mùa thu, mùa đông ở miền Bắc, mùa mưa ở miền Nam
Đặc điểm ký sinh trùng đa bào ngoại ký sinh
Sán lá đơn chủ 18 móc (Gyrodactylus sp.)
Bộ Gyrodactylidea Bychowsky, 1937
Giống Gyrodactylus Nordmann, 1832
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Gyrodactylus là sán lá với 400 loài được mô tả từ 25.000 loài (Bakke et
al.2002), thuộc ngoại ký sinh trùng, được nghiên cứu từ sau thế kỷ 19, phần lớn loài
sán này sinh sản định kỳ
Gyrodactylus là ký sinh trùng sống trên cơ thể ký chủ, sinh sản định kỳ Ký sinh trùng đẻ con có phôi thai phát triển hoàn chỉnh, vì thế khi được sinh ra thì con con có cơ thể giống như con trưởng thành, việc phát triển phôi qua 3 giai đoạn, có thể thấy sán ở giai đoạn 1
Theo Russia-Doll thì phương thức sinh sản của sán lá 18 móc được biết là
thế hệ rất nhanh, điều này giải thích việc sán lá tồn tại nhiều trên cơ thể ký chủ
Sán lá con dùng giác bám phía sau cơ thể tấn công vào ký chủ, nó sử dụng cơ
và tế bào biểu mô ký chủ làm thức ăn, và nó có thể di chuyển tự do trên cơ thể ký
cũng có thể ký sinh trên nhiều ký chủ trong suốt vòng đời của nó
Hình 3 Gyrodactylus salaries Hình 4 Gyrodactylus sp
Gyrodactylus có chiều dài < 1mm, kích thước 192- 425µm x 57 -106 µm Ký chủ không ảnh hưởng khi bị nhiễm với tỷ lệ thấp, thưòng sự xuất hiện của nó không
có nguyên nhân, trong suốt quá trình tấn công cướp đoạt dưỡng chất trên cơ thể ký chủ đã tạo nên nhiều lỗ thũng và vết loét, điều kiện tốt cho mầm bệnh xâm nhập và gây bệnh Hầu hết trong 1 quần thể cá có hiện tượng đáp ứng miễn dịch (Buchmann) nhưng tính đề kháng trong quần thể cá là không đồng nhất (http//www.gyrob.net/biology.php)
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cơ thể giống Gyrodactylus rất linh hoạt, chúng luôn vận động trong đó có 2
tuyến đầu có tác dụng tiết chất nhờn phá hoại tổ chức của tế bào vật chủ
Gyrodactylus không có điểm mắt, phía sau cơ thể là đĩa bám có 2 móc lớn ở giữa và
16 móc nhỏ bằng kitin xếp xung quanh, các móc lớn có 2 màng nối Do cấu tạo của
các cơ quan móc sau nên Gyrodactylus có tên gọi là sán lá 18 móc Cơ quan tiêu
hóa gồm miệng, hầu, thực quản ngắn và ruột chia làm 2 nhánh, ở giữa là phôi hình bầu dục, dưới phôi có trứng, dịch hoàn và buồng trứng Phần cuối cùng là giác bám gồm 2 móc lớn và 16 móc nhỏ xung quanh Hai móc lớn có nhánh nối ngang với nhau (Từ Thanh Dung, 2004)
Loài sinh sản đơn tính, trong cơ thể sán có bào thai hình bầu dục, đồng thời trong thai này đã hình thành nên bào thai của đời sau nên có tên gọi là tam đại trùng, thậm chí có cả thai của đời thứ 4 Nguyên nhân của sự sinh sản tương đối đặc
cơ thể mẹ, ở giữa cơ thể trùng nổi lên 1 cái bọc, phôi chui ra từ điểm đó, phần giữa chui ra trước sau đó phần đầu và phần sau thoát ra Ấu trùng nở ra giống như trùng trưởng thành có khả năng sinh sản ra đời sau Ấu trùng vận động trong nước từ 5 –
10 ngày, nếu không gặp ký chủ, nó sẽ chết Nhiệt độ thích hợp cho trùng phát triển
Công bố gần đây 20-8-2006 cho thấy Haakon Hansen và đồng sự tìm được
một loài sán 18 móc Gyrodactylus là Gyrodactylus neilin sp., loài này được phát
hiện trên các vây và bên ngoài cơ thể cá chó đen.(http//www.gyrob.net/biology.php)
Hình 5 Ấu sán 18 móc (Gyrodactylus sp.)
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Sán lá đơn chủ 16 móc (Dactylogyrus)
Họ Dactylogyridae Bychowsky, 1937
Giống Dactylogyrus Diesing, 1850
Cơ thể của Dactylogyrus nói chung nhỏ, dài kích thước 0,5 -1 mm x 0,2 -0,4
mm Thân mềm, trắng dài và vận động rất linh hoạt Mỗi khi vận động, cơ thể vươn dài ra phía trước, sau đó có thể rút ngắn, kéo cả phần sau lại, lấy phần sau làm trụ rồi vươn dài ra phía trước, lúc này ở phía trước cơ thể lộ rõ 4 thùy đầu trong đó có 4 đôi tuyến đầu tiết chất nhờn phá hoại tổ chức tạo điều kiện cho Dactylogyrus bám lên mang cá Phía trước có 4 điểm mắt do các đám tế bào sắc tố tạo thành tác dụng cảm giác ánh sáng
Phía sau cơ thể có đĩa bám, chính giữa đĩa bám có 1 đôi móc giữa, 2 móc giữa nối với nhau bởi màng nối lưng và màng nối bụng, xung quanh đĩa bám có 7 đôi móc rìa vì thế thường có tên gọi sán lá đơn chủ 16 móc Kích thước hình dạng các móc, màng nói giữa các móc giữa là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để
phân biệt các loài Dactylogyrus sp
quản, ruột chia làm 2 nhánh chạy dọc cơ thể xuống phía sau rồi tiếp hợp lại tạo
thành ruột kín.Chổ ruột gặp nhau hơi phình to, sán Dactylogyrus sp không có hậu
môn
Cơ quan sinh dục: Dactylogyrus sp có cơ quan sinh dục lưỡng tính, cơ quan
sinh dục cái và đực trên cùng một cơ thể Cơ quan sinh dục cái có 1 buồng trứng thường phía trước tinh hoàn, buồng trứng hướng về phía trước của ống dẩn trứng thông với tử cung và thông với lỗ sinh dục (âm đạo) ở mặt bụng gần vị trí ruột phân nhánh Cơ quan sinh dục đực gồm có 4 tinh hoàn ở giữa và ở phía sau cơ thể, ống dẫn tinh nhỏ thông với túi chứa tinh đến cơ quan giao phối rồi đến cơ quan sinh dục Cơ quan giao phối do 1 ống nhỏ và các phiến chống đỡ tạo thành Hình dạng
và cấu tạo của các phiến chống đỡ là 1 trong những tiêu chuẩn để phân biệt đến loài
của giống sán lá đơn chủ 16 móc (Dactylogylus sp.)
Chu kỳ phát triển: Dactylogyrus đẻ trứng, trứng lớn có cuống hay gai lồi, số
lượng trứng cũng không nhiều, trứng vừa đẻ ra chìm xuống đáy bám vào cỏ nước sau vài ngày nở cho ấu trùng dài, có 4 điểm mắt và 5 nhánh tiêm mao, phía sau có các móc rìa, chưa có móc giữa Thông thường trong tử cung có 1 trứng nhưng nó có
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ của nước Theo quan sát của E.M.Laiman, 1957
Dấu hiệu bệnh lý: Dactylogyrus sp ký sinh trên da và mang của cá nhưng
chủ yếu là mang Lúc ký sinh chúng dung móc của đĩa bám sau bám vào tổ chức, tuyến đầu sán tiết ra men Hialuronidaza da phá hoại tế bào tổ chức mang và da cá làm da cá tiết ra nhiều dịch nhờn ảnh hưởng đến hô hấp cá Tổ chức da và mang bị
Dactylogyrus sp ký sinh viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm và một số sinh
vật khác gây bệnh, có trường hợp Dactylogyrus sp ký sinh không những gây viêm
nhiễm làm tổ chức tế bào sưng to và xương nắp mang cũng phòng lên Cá bị bệnh bơi lội chậm chạp, cơ thể gầy yếu, cơ thể thiếu máu
Phân bố và lan truyền bệnh: giống sán lá 16 móc Dactylogyrus sp có tính
đặc hữu cao nhất của lớp sán lá đơn chủ, mỗi loài sán Dactylogyrus chỉ ký sinh 1 loài cá vật chủ
2.3.2 Đặc điểm nội ký sinh trùng ký sinh trên cá
Ký sinh trùng đường ruột Giun tròn (Cucullanellus minutus)
Bộ: Spirurida Chitwood, 1933 Họ: Cucullanidae Cobdold, 1864
Giống: Cucullanellus Tornqiust, 1931
Loài: Cucullanellus minutus (Rud 1898)
Giun tròn có kích thước lớn có thể thấy bằng mắt thường, cơ thể thon dài không phân đốt, 2 đầu nhỏ nhọn hơi cong, cơ quan sinh dục phân tính đực cái riêng biệt, có loài đẻ trứng, có loài đẻ con Chu kỳ phát triển của giun tròn có sự khác nhau theo từng giống loài, 1 số loài phát triển trực tiếp hoặc gián tiếp, không cần ký chủ trung gian nhưng một số khác có chu kỳ phát triển đòi hỏi phải có ký chủ trung gian
Giun ký sinh trong ruột bám vào thành ruột hút chất dinh dưỡng làm giảm sức sinh trưởng của cá, mở đường cho các tác nhân khác gây bệnh (Bùi Quang Tề, 2006)
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Toàn thân của giun được bao bọc bởi lớp kitin, dẻo nhưng không giản, duy trì hình dạng cơ thể bằng cách phòng lên các bộ phận nhờ vào chất dịch chiếm đầy trong xoang cơ thể (Kabata, 1985) Đặc điểm này giúp giun chuyển động kiểu làn sóng và có thể chui qua nhiều cấu trúc hẹp như gan, ống mật, dạ dày làm nhiễm trùng hoặc làm tắc các đường ống dẫn này
Giun tròn ký sinh ở một số cá vồ đém, cá tra, cá lóc, cá trê Một số giống Spinitectus, Contracaecum, Soectatus ký sinh trong ruột và xoang cơ thể cá Cá basa
mức độ nhiễm giun tròn Spectatus sp khá cao, tỷ lệ nhiễm 62,5%, cường độ nhiễm
18- 927 trùng/cơ thể cá, chúng ảnh hưởng đến sức sinh trưởng của cá (Bùi Quang
Tề, 2001)
Giống Cucullanus: cơ thể giun tròn Cucullanus lớn ở giữa nhỏ dần về hai
đầu miệng có xoang miệng rất nhỏ hình tam giác, thực quản không chia làm hai phần, ruột và thực quản không có mấu lồi (trích dẫn của Trần kim Ngọc, 2006)
Giun tròn ký sinh trong thành ống dẫn mật của cá tra làm tắc ống dẫn mật, gây ảnh hưởng đến tiết dịch mật của cá
Giun tròn (Spectatus)
Bộ: Oxyurdea Weinland, 1858
Họ: Kathalaniidae Travassos, 1918
Loài: Spectatus pangasia
Cơ thể thon dài, cuối phía trước tù, cuối phía sau hẹp nhỏ và nhọn Hệ cutin mỏng Đĩa miệng có 6 môi phát triển, mỗi môi có 1 gai môi ngoài và 2 gai môi trên
Thực quản dài, gồm phần cơ và phần tuyến Cuối phía trước của phần cơ và phần
tuyến phụ thu nhỏ, cuối phía sau của phần cơ và phần tuyến phình ra gần hình tròn (dạng củ hành)
Con đực chiều dài thân 5,22 – 5,56 mm, chiều rộng 0,14 -0,16 mm Thực quản có chiều dài phần cơ 0,328 mm, phần tuyến 0,484 mm Đuôi hơi cong về phía bụng Có 2 gai sinh dục không đều nhau Chiều dài 0,897 mm và 0,328 mm Có một đôi núm nhỏ ở phía trước và 4 đôi núm nhỏ ở phía sau hậu môn
Con cái: chiều dài thân 6,50 -7,80 mm, chiều rộng 0,26 mm Thực quản có chiều dài phần tuyến 0,498 mm, phần cơ 0,312 mm Đuôi dài 0,812 – 0,905 mm Tử cung của các giun thành thục chứa đầy các ấu trùng dài, có kích thước 1,508 – 1,624 x 0,038 – 0,040 mm
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Loài Spectatus pangasia có đặc điểm của họ Kathlaniidae miệng có 6 hoặc 3
môi phát triển Túi bao miệng nông Thực quản dài, cuối phía sau thực quản cơ là
thực quản tuyến phình to dạng củ hành Giống Spectatus đặc điếm chính là có 6 môi
miệng phát triển, mỗi môi có 3 gai( 1 gai ngoài và 2 gai bên), túi bao miệng nông
Tác hại và phân bố: Ở Việt Nam phát hiện Spectatus pangasia ký sinh ở ruột
cá tra, cá vồ đem, cá hú và cá basa Ở cá basa tỷ lệ cảm nhiễm 93%, trung bình 45 trùng / cơ thể cá, cá biệt có 927 trùng/cơ thể cá (Bùi Quang Tề,1993) Giun gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá, cá basa nuôi bè hao phí thức ăn tinh
Trùng lông ( Ichthyonyctus sp.)
Lớp: Polyhymenophora Jankovski, 1967
Bộ: Heterotrichida Stein, 1859
Họ: Sicuophoridae Amaro, 1972
Giống: Ichthyonyctus Jankovski, 1974
Cơ thể của loài này được bao phủ bởi lông tơ, có cơ thể hình thoi, rộng nhiều
ở phần giữa thân và dẹp dần về phía trước, thân dẹp bên cạnh màng mỏng vùng gần miệng đi theo rìa thân, chúng chuyển động theo hình thức xoay tròn
Đối với cá Ichthyonyctus ký sinh hầu hết các đoạn ruột nhưng chủ yếu tập trung ở đoạn ruột sau nơi chứa thức ăn của cá, chúng thường ký sinh thành tập đoàn giữa các nếp gấp niêm mạc ruột lấy chất thừa của ký chủ để dinh dưỡng Theo Đỗ Thị Hoà và ctv (2004) mặc dù ký sinh với số lượng lớn nhưng loài này không gây hại cho ký chủ, nhưng khi ký chủ bị viêm ruột cộng theo sự nhiễm loài này với số lượng lớn sẽ làm bệnh nặng nhanh chóng
Trùng lông (Balantidium sp.)
Lớp: Rimostomata Jankouski, 1978
Bộ: Balantidiida Jankouski, 1978 Họ: Balantidiidae Reichenow, 1929
Giống: Balantidium Claparede et Lachmann, 1858 Trùng ký sinh trên cá thường gặp một số loài Balantidium ssp.hình dạng cơ
thể hình bầu dục hoặc hình trứng, phía trước 1 bên cơ thể có khe miệng hình tròn, trên khe miệng có lông tơ phân bố thành hàng xoắn, sau tạo thành bao hầu hình túi kéo dài, bên trái miệng có 1 số lông tơ miệng dài và thô do lông tơ cơ thể kéo dài ra
mà thành Cơ thể có lông tơ phân bố đều thành hàng dọc, mỗi lần lông tơ rung động
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
làm cho chơ cơ thể vận động được Đoạn sau cơ thể lõm vào giống như lỗ hậu môn Sinh sản theo lối cắt ngang hoặc tiếp hợp Khi điều kiện môi trừơng không thuận lợi hoặc sau 1 thời gian sinh sản có thể hình thành nha bào
Dấu hiệu bệnh lý: Balantidium spp ký sinh ở giữa các nếp gấp niêm mạc ruột lấy các chất thừa của ký chủ để dinh dưỡng Khi ký sinh một mình, Balantidium ssp
dù ký sinh số lượng lớn cũng không gây tác hại nhưng khi ký chủ bị bệnh viêm ruột
lượng lớn sẽ làm bệnh nặng nhanh chóng Molnar và Reshardt, 1978, Balantidium
ssp có thể phá hoại tế bào thượng bì ruột cá và làm cho từng bộ phận lõm vào thậm chí làm tổn thất lớp tế bào thượng bì của thành ruột
2.4 Tiêu chuẩn các yếu tố môi trường nuôi thủy sản
Nước là môi trường sống của cá, cá sống được phải có môi trường sống tốt, đồng thời chúng phải có khả năng thích ứng với môi trường Các yếu tố của môi trường gồm có 3 yếu tố: yếu tố hóa học, yếu tố vật lý, yếu tố sinh học Sự thay đổi của các yếu tố này ngay cả khi chỉ là sự thay đổi nhỏ thì đều gây ảnh hưởng đến khả năng chống chịu với mầm bệnh
2.4.1 Các yếu tố hóa học
Chỉ số pH
pH là trị số xác định độ kiềm hay độ chua của nước Độ pH của nước ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của động vật thủy sinh Tuy phạm vi thích ứng độ pH của cá tương đối rộng, phần lớn các loài cá thích ứng ở độ pH 6,5 – 9,0, nhưng pH thấp dưới 5 hoặc cao hơn 9 có thể làm cá chết Biên độ biến động pH theo ngày đêm phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng của môi trường nước vì dinh dưỡng quyết định đến mật độ của thực vật Thực vật môi trường nước chủ yếu là các loại tảo, do
đó vào ban ngày có ánh sáng, thực vật quang hợp làm pH tăng dần, pH đạt cao nhất
và lúc 14:00-16:00 giờ vì lúc này cường độ ánh sáng cao nhất Ban đêm chỉ có quá
vào lúc bình minh (6:00 giờ)
Chỉ số NH 3
bã động thực vật phù du, sản phẩm bài tiết của động vật thủy sinh hay phân bón vô
cơ, hữu cơ
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
gia tăng và ngược lại
pH tăng dẫn đến rối loạn các phản ứng xúc tác của enzyme và độ bền vững của màng tế bào, làm thay đổi độ thấm thấu của màng tế bào đưa đến cá chết vì không
cũng làm tăng tiêu hao oxy của mô, làm tổn thương mang và làm giảm khả năng
đến thủy sinh vật như nó gia tăng tính mẫn cảm của động vật đối với những điều kiện không thuận lợi của môi trường như sự giao động của nhiệt độ, thiếu oxy, ức chế sự sinh trưởng bình thường, giảm khả năng sinh sản, giảm khả năng chống bệnh
một số vấn đề sau
− Cải tạo ao tốt trước mỗi vụ nuôi ( loại bỏ vật chất hữu cơ tích tựu trong ao)
− Duy trì mật độ nuôi thích hợp
− Không cho thức ăn dư quá thừa và bón phân quá nhiều
− Khống chế mức dao động pH nước ao không quá 1
− Thay nước khi hàm lượng ammonia vượt quá mức cho phép
− Bón phân khi hàm lượng ammonia quá thấp
Chỉ số NO 2
lượng Nitrit cao, Nitrit sẽ kết hợp với hemoglobin tạo thành methemoglobin, lúc
hợp với oxy Gây hiện tượng thiếu máu Máu có chứa methemoglobin thường có màu nâu nên nó được gọi là”bệnh máu nâu”
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nitrit hấp thụ vào máu qua mang, mức độ hấp thụ nitrit phụ thuộc vào tỷ lệ nitrit và chloride trong môi trường nước (Schwedler et al, 1980, trích dẫn bởi Boyd,1990) và khả năng chịu đựng nitrit có liên quan đến hàm lượng chloride Khi cá nheo sống trong môi trường nước có tỉ lệ nitrit : chloride 1:1 thì methemoglobin chiếm 85 % trong máu, trong khi môi trường nước có nitrit:chloride 1:3 thì hàm lượng methemoglobin chiếm 25 %.( Trương Quốc Phú – 2004)
Độ kiềm
Độ kiềm là tổng số những tinh thể Titratable bases mà chính yếu là bicarbonate và carbonate được tính bằng mg/l Calcium carbonate tương đương
đất Ao hồ có độ kiềm cao có thể chế ngự được sự thay đổi của pH, ao hồ có độ kiềm trong khoảng 20-150 mg/l là thích hợp cho nhiều phiêu sinh vật cũng như tôm cá phát triển Chất kiềm quan trọng trong ao hồ vì vai trò chất đệm và hiện
Theo Trương Quốc Phú – 2004 Tiêu chuẩn về chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bảng 2.4.1 Tiêu chuẩn về chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản
Phân loại nước nước nuôi thủy sản Đặc điểm
độ và các yếu tố thủy hóa của môi trường nước Hay nói một cách khác khu hệ ký sinh trùng còn phụ thuộc vào sự thay đổi của điều kiện môi trường bên ngoài và trạng thái sinh lý của vật chủ (Bùi Quang Tề, 2001)
Theo Đỗ Thị Hòa và Nguyễn Thị Muội (2000) thì nguyên nhân gây ra bệnh chủ yếu là do nguồn nước bị ô nhiễm, nước có nhiều bùn bã hữu cơ, nền đáy lâu năm không nạo vét và nước quá bẩn (trích dẫn bởi Huỳnh Cẩm Tú, 2006)
2.4.2 Yếu tố vật lý
Màu nước
Nước sạch không có màu, chí có lớp nước dày mới có màu xanh lơ Trên thực tế, nước thiên nhiên các thủy vực thường có màu do sự xuất hiện của các hợp chất hữu cơ và vô cơ hòa tan hay không hòa tan, hay sự phát triển của tảo Trong ao nuôi thủy sản thường có các màu sau
Màu xanh nhạt: do tảo Lục (Chlorophyta)
Màu xanh đậm: do tảo Lam (Cyanophyta), tảo Lục
Màu vàng nâu: do tảo Silic (Bacillariophyta)
Màu nâu đen: do tảo Mắt (Euglenophyta) hay nước bẩn có nhiều chất hữu cơ