Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLỜI CẢM TẠ Trong suốt thời gian năm năm học tập tại trường Đại Học Cần Thơ, được sự giảng dạy tận tình của các thầy cô, em c
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
…. …
NGUYỄN THỊ THUÝ DIỄM
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NHIỄM KÍ SINH TRÙNG TRÊN
CÁ TRA GIỐNG TẠI HUYỆN THỐT NỐT THÀNH PHỐ
CẦN THƠ
Giáo Viên Hướng Dẫn NGUYỄN HỮU HƯNG
Cần Thơ, Tháng 7/2007
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 3Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CẢM TẠ Trong suốt thời gian năm năm học tập tại trường Đại Học Cần Thơ, được sự giảng dạy tận tình của các thầy cô, em cảm thấy mình đã
tiếp thu và học hỏi được rất nhiều kiến thức vô cùng quý báu và cần thiết
cho bản thân
Xin chân thành cảm ơn:
- Thầy Nguyễn Hữu Hưng đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi hoàn thành luận văn này
- Quí thầy cô bộ môn Chăn Nuôi và Thú Y đã tận tình giảng dạy cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt những năm học qua
- Các anh chị và các bạn đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống
- Ba mẹ, anh chị em của tôi đã ủng hộ tôi về vật chất lẫn tinh thần
để tôi hoàn thành chương trình đại học này
Xin kính chúc quí thầy cô, người thân và bạn bè của tôi dồi dào sức khoẻ, đạt nhiều thành công trong công tác cũng như trong đời sống
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
Trang tựa i
Trang duyệt ii
Lời cảm tạ iii
Mục lục iv
Danh sách chữ viết tắt vi
Danh sách bảng vii
Danh sách hình viii
Tóm lược ix
Chương 1: Đặt vấn đề 1
Chương 2: Cơ sở lí luận 2
2.1 Tình hình nghiên cứu kí sinh trùng trong và ngoài nước 2 2.1.1 Tình hình nghiên cứu kí sinh trùng trên thế giới 2
2.1.2 Tình hình nghiên cứu kí sinh trùng trong nước 3
2.2 Đặc điểm sinh học của cá tra 4
2.2.1 Đặc điểm hình thái và phân loại .4
2.2.2 Đặc điểm sinh sản và phân bố 5
2.2.3 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.3 Mối quan hệ giữa các yếu tố gây bệnh cho cá 6
2.4 Một số bệnh thường gặp trên cá tra 8
2.4.1 Bệnh đốm đỏ .8
2.4.2 Bệnh trắng da 9
2.4.3 Bệnh mủ trên gan cá tra 11
2.5 Bệnh kí sinh trùng 13
2.5.1 Trùng bánh xe (Trichodina) 13
2.5.1 Trùng quả dưa (Ichthyophthyiosis) 15
2.5.3 Trùng loa kèn 16
2.5.4 Sán lá đơn chủ (Monogenea) 18
2.6 Ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến sự xuất hiện bệnh 19
2.6.1 pH 19
2.6.2 NH 3 (ammonia) 20
2.6.3 NO 2 - (nitrit) 20
2.6.4 Kiềm (alkalinity) 20
Chương 3: Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 22
3.1 Phương tiện nghiên cứu 22
3.2 Phương pháp nghiên cứu .22
3.2.1 Phương pháp điều tra 22
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3.1.3 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường ảnh
hưởng đến sự xuất hiện bệnh .22
3.2 Phương pháp nghiên cứu kí sinh trùng 23
3.2.1 Phương pháp xác định mức độ nhiễm kí sinh trùng24 Chương 4: Kết quả và thảo luận 25
4.1 Điều kiện tự nhiên xã hội và tình hình chăn nuôi tại huyện Thốt Nốt .25
4.1.1 Điều kiện tự nhiên xã hội .26
4.1.2 Tình hình chăn nuôi ở huyện .27
4.2 Kết quả kiểm tra một số chỉ tiêu về môi trường .28
4.3 Kết quả tình hình nhiễm kí sinh trùng ở cá tra giống tại huyện Thốt Nốt 30
4.4 Các bệnh xuất hiện trong quá trình kiểm tra mẫu 31
4.5 Mối quan hệ giữa nhiễm bệnh kí sinh trùng với bệnh xuất hiện trong quá trình kiểm tra mẫu 32
Chương 5: Kết luận .34
Tài liệu tham khảo
35 Phụ chương 36
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
TT : Thực tế
LT : Lí thuyết
R : Ruộng TLN : Tỉ lệ nhiễm CĐN : Cường độ nhiễm
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH SÁCH BẢNG Bảng 2.1 Thành phần thức ăn của cá tra tự nhiên 6
Bảng 4.1 Diện tích và sản lượng thủy sản từ năm 2005-2/2007 27
Bảng 4.2 Kết quả so sánh các chỉ tiêu môi trường ở ao nuôi cá tra giống tại
huyện Thốt Nốt 28 Bảng 4.3 Thành phần loài kí sinh trùng ở cá tra giống 30
Bảng 4.4 Một số bệnh xuất hiện trong quá trình kiểm tra mẫu 31
Bảng 4.5 Mối quan hệ giữa nhiễm bệnh kí sinh trùng với các bệnh xuất hiện
trong quá trình kiểm tra mẫu 32
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Hình dáng bên ngoài cá tra 5
Hình 2 Mối quan hệ giữa các yếu tố gây bệnh vùng xuất hiện bệnh có đủ 3 yếu tố gây bệnh 1, 2, 3 7
Hình 3 Không đủ 3 yếu tố không xảy ra bệnh 7
Hình 4 Cá tra bị bệnh đóm đỏ 8
Hình 5 Cá tra bị bệnh trắng đuôi 9
Hình 6 Cá tra bị bệnh thận mủ, gan xuất huyết 11
Hình 7 Trùng bánh xe (Trichodina) 13
Hình 8 Trùng bánh xe bám đầy trên vây cá 13
Hình 9 Trùng quả dưa (Ichthyophthyiosis) 15
Hình 10 Trùng loa kèn .16
Hình 11 Sán lá 16 móc (Dactylogyrus) 18
Hình 12 Bản đồ địa lí huyện Thốt Nốt 2
5 Hình 13 Trùng quả dưa (Ichthyophthyrius) 38
Hình 14.Trùng bánh xe (Trichodina) 38
Hình 15 Trùng bánh xe bám đầy trên mang cá 39
Hình 16 Trùng loa kèn (Apiosoma) 40
Hình 17 Trùng loa kèn (vorticella) 40
Hình 18 Trùng loa kèn (Epistylis) 41
Hình 19 Sán lá 16 móc (Dactylogyrus) .41
Hình 20 Gan xuất huyết 42
Hình 21 Thận sưng, bong bóng chứa máu 42
Hình 22 Xoang bụng chứa dịch vàng 43
Hình 23 Nắp mang xuất huyết .43
Hình 24 Gan xuất huyết, thận mủ 44
Hình 25 Gan trắng mang trắng 44
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TÓM LƯỢC Bệnh ký sinh trùng trên cá, đặc biệt là đối với các loài cá kinh tế họ
Pangasiidae là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm năng
suất chăn nuôi
Chúng tôi tiến hành đề tài này trên một số vấn đề sau:
- Điều tra điều kiện tự nhiên xã hội và tình hình chăn nuôi cá tra ở huyện Thốt Nốt – Thành Phố Cần Thơ
- Điều tra tình hình nhiễm kí sinh trùng trên cá tra
- Xác định sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự xuất hiện bệnh
Nghiên cứu được tiến hành trên 58 mẫu cá từ 19 ao cá ở giai đoạn giống bằng cách cạo nhớt ở da, vây, mang, và cắt mắt của cá sau đó quan
sát bằng mắt thường, kính lúp hoặc kính hiển vi ở độ phóng đại X 10 và
X 40
- Kết quả đã xác định được 6 giống kí sinh trùng trong đó có: Giống
Trichodina chiếm 84,48%, Giống Apisoma chiếm 15,51% Giống Epistylis
chiếm 6,89%, Giống Vorticella chiếm 3,44%, giống Ichthyophythyrius
chiếm 3,44% thuộc nhóm Protozoa và giống Dactylogyrus thuộc nhóm
Monogenea chiếm (6,89%)
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các loài cá nuôi phổ biến hiện nay ở Đồng Bằng Sông Cửu Long,
cá tra (Pangasius hypophthalmus) là loài chiếm ưu thế nhất bởi vì nó dễ nuôi,
kích thước lớn, tăng trọng nhanh, dễ dàng thích nghi với các loại thức ăn và là
loài có sức chịu đựng tốt trong điều kiện môi trường khắc nghiệt nên có thể
nuôi ở mật độ cao với các loại hình thủy vực khác nhau từ ao nhỏ, hồ lớn cho
đến những bè thả trên sông Ngoài ra cá tra là một trong các mặt hàng thủy
sản xuất khẩu chủ lực của tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần thơ… vào thị
trường Mỹ, EU, Nhật Bản Với những đặc điểm thuận lợi cá tra ngày càng
được người dân ưa chuộng và nuôi nhiều
Những năm gần đây nghề nuôi cá tra thâm canh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long đang trên đà phát triển mạnh mẽ Theo báo cáo của bộ thủy sản lượng
cá tra năm 2004 đạt mức hơn 300000 tấn, diện tích thả nuôi khoảng 2000 ha
Cá tra có đặc điểm tăng trọng nhanh, có thể sử dụng được nhiều loại thức ăn
khác nhau nên được nhiều người dân chọn nuôi nhằm tận dụng nguồn nguyên
liệu sẵn có tại địa phương giúp hạ thấp chi phí sản xuất Hơn nữa sản phẩm cá
tra được xem là nguồn xuất khẩu thủy sản quan trọng của nước ta, do đó nhiều
hộ nuôi đã mạnh dạn đầu tư vào đối tượng này
Để đáp ứng nhu cầu cá tra (Pangasius hypophthalmus) được ương nuôi phổ biến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, với xu hướng ương cá với mật độ cao
Cùng với việc nuôi mang tính tự phát, không đảm bảo chất lượng ảnh hưởng
xấu đến môi trường nên dẫn đến việc xuất hiện một số bệnh gây nguy hiểm
cho cá Nhất là bệnh kí sinh trùng, khi bệnh xảy ra gây thiệt hại lớn cho người
ương, nuôi Nguy hiểm là trùng quả dưa, trùng mặt trời, trùng loa kèn, chúng
phát triển nhanh và gây chết hàng loạt Khi cá mắc bệnh, thường lây lan
nhanh chóng, có khi chết 80%-90% số cá trong ao
Vì vậy nghiên cứu kí sinh trùng trên cá tra là việc làm có ý nghĩa rất lớn không những về khoa học mà còn trong cả thực tiễn sản xuất Được sự đồng ý
của khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại Học Cần Thơ
Tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Điều tra tình hình nhiễm kí sinh trùng trên
cá tra giống tại huyện Thốt Nốt – Thành Phố Cần Thơ”
Nội dung
Điều tra điều kiện tự nhiên xã hội và tình hình chăn nuôi cá tra ở huyện Thốt Nốt – Thành Phố Cần Thơ
Điều tra tình hình nhiễm kí sinh trùng trên cá tra
Xác định sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự xuất hiện bệnh
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Tình Hình Nghiên Cứu Kí Sinh Trùng Trong Và Ngoài Nước 2.1.1 Tình Hình Nghiên Cứu Kí Sinh Trùng Trên Thế Giới
Kí sinh trùng đã được nghiên cứu từ thời Linnae (1707-1778) Ở Liên Xô
cũ viện sĩ V A Dogiel (1882-1956) đã đặt nền móng cho nghiên cứu kí sinh
trùng cá Viện sĩ Bychowsky và các cộng sự, năm 1962 đã xuất bản cuốn sách
“Bảng phân loại kí sinh trùng của cá nước ngọt Liên Xô” Mô tả 1211 loài kí
sinh trùng của khu hệ cá nước ngọt của Liên Xô Tiếp tục năm 1984, 1985,
1987 công trình nghiên cứu khu hệ kí sinh trùng cá nước ngọt Liên Xô đã xuất
bản thành hai phần gồm 3 tập, do O.N Bauer là chủ biên chính, S S
Schulman chủ biên tập 1, A.V Gussev chủ biên tập 2, O.N Bauer chủ biên
tập 3, ngoài ra còn nhiều tác giả nghiên cứu kí sinh trùng lâu năm của Liên Xô
cũ Công trình đã nghiên cứu trên 2000 loài kí sinh trùng của 233 loài cá
thuộc 25 họ cá nước ngọt Liên Xô Có thể nói Liên Xô cũ là nước có rất nhiều
nhà khoa học nghiên cứu kí sinh trùng ở cá sớm nhất toàn diện nhất
Các nước Châu Âu khác cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu kí sinh trùng cá Jiri Lom (1958-1997) người Tiệp Khắc nghiên cứu kí sinh trùng
Ciliophora, Myxozoa, Microspora, Spotozoa và Mastigophora trên động vật
trong đó có Jiri Lom và G Grupcheva (1976), nghiên cứu kí sinh đơn bào của
cá chép ở Tiệp Khắc Và Bungari, các tác giả đã so sánh sự xuất hiện bệnh và
mô tả loài mới Năm 1992 Jiri Lom và Iva Dykov¸ đã xuất bản cuốn “Ký sinh
trùng đơn bào (Protozoa) của cá” Họ cho biết hiện nay có xấp xỉ 2420 loài kí
sinh trùng đơn bào (Protozoa) ở cá đã được công bố Nhiều loài gây nguy
hiểm cho cá nước ngọt và nuôi nước biển Cuốn sách đã giới thiệu phương
pháp nghiên cứu và hệ thống phân loại của 7 ngành kí sinh đơn bào ở cá, gồm
ngành trùng roi (Mastigophora), ngành Opalinata, ngành Amip (Amoebae),
ngành trùng bào tử (Apicomplexa), ngành vi bào tử (Microspora), ngành bào
tử (Myxozoa), ngành trùng lông (Ciliophora) Ở Trung Quốc giữa thế kỉ 20 đã
có nhiều nhà khoa học nghiên cứu kí sinh trùng cá, Chen Chih-leu (1955,
1956, 1960); Nie Dashu (1960) Yin Wen-ying (1960, 1962, 1963); Wu H.S
(1956) Năm 1973 Chen Chih-leu là chủ biên cuốn sách kí sinh trùng cá nước
ngọt tỉnh Hồ Bắc, điều tra 50 loài cá nước ngọt và phân loại được 375 loài kí
sinh trùng trong đó: động vật đơn bào (Protozoa) có 159 loài, sán lá đơn chủ,
(Monogenea) có 116 loài, sán dây (Cestoda) 10 loài, sán lá song chủ
(Trematoda) 33 loài, giun tròn (Nematoda) 21 loài, giun đầu gai
(Acanthocephala) 7 loài, đĩa (Hirudinea) 2 loài, nhuyễn thể (Mollusca) 1 loài,
giáp xác (Crustacea) 26 loài Yu Yi và Wu Huisheng (1989) đã nghiên cứu
khu hệ giun đầu gai 72 loài cḠthuộc trung lưu sông Trường Giang Trung
Quốc Đã phân loại được 10 loài, trong đó có 2 loài mới
Ở Nhật Bản công trình đồ sộ nhất của nhà kí sinh trùng họcYamaguti S
(1958, 1960, 1963, 1971) đã tổng kết kết quả nghiên cứu giun sán kí sinh ở
động vật và người trên toàn thế giới xuất bản thành nhiều tập Nagasawa K;
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Awakura T và Urawa S (1989) đã tổng kết nghiên cứu kí sinh trùng nước
ngọt ở Hokkaido- Nhật Bản và xác định được 96 loài ký sinh trùng bao gồm:
Protozoa-(21); Monogenea-(11); Trematoda-(22); Cestoda-(10);
Nematoda-(15); Acanthocephala-(7); Mollusca- (2); Copepoda- (6); Branchiura- (1) và
Isopoda- (1) và 38 loài chưa xác định đến tên loài
Một số nước khu vực Đông Nam Á đã có các nghiên cứu kí sinh trùng cá nước ngọt từ đầu thế kỉ 20, nhưng chưa nghiên cứu toàn diện các nhóm kí sinh
trùng mà thường nghiên cứu theo từng nhóm kí sinh trùng như sán lá song chủ
(Philippines) hoặc sán lá đơn (Malaysia)
Ở Philippines các tác giả nghiên cứu kí sinh trùng sớm nhất là Tubangui M.A (1928-1946); Vasquez-Colet (1938-1943); Africa C.M (1936-1938);
Carmen C Velasquez (1951-1988) Albaladejo J.D (1989); Boromthanarat S
(1982); Bamdad-Reantaso M.G (1989); Yambot A.V (1996) Năm 1975
Carmen C Velasquez đã xuất bản cuốn sách “sán lá song chủ Trematoda ở cá
Philippines” trong đó mô tả 73 loài thuộc 50 giống 21 họ sán lá song chủ kí
sinh trên 27 họ cá của Philippines Các tác giả Arthur, J.R.; Lumanlan-May,
S (1997) khi tổng kết nghiên cứu kí sinh trùng của cá ở Philippines đã điều tra
và xác định được 201 loài kí sinh trùng ở 172 loài cá, gồm: Apicomplexa- (1),
Ciliophora-(16), Mastigophora-(2), Microspora-(1), Myxozoa-(9),
Trematoda-(90), Monogenea-(22), Cestoda-(6), Nematoda-(20), Acanthocephala-(5),
Mollusca-(1), Branchiura-(2), Copepoda-(21) và Isopoda- (5)
Ở Thái Lan nhà khoa học người mỹ Charles Branch Wilson (1926, 1927,
1928), đã mô tả 2 loài của Argulus và Caligus từ cá nước ngọt Thái Lan
Paiboon-Yutisri; Apirum- Thuhanruksa (1985), khi điều tra khu hệ kí sinh
trùng của một số cá sống tự nhiên của Thái Lan đã phát hiện 160 loài kí sinh
trùng, trong đó gồm 3 loài ngoại kí sinh và 13 loài nội kí sinh ở cá bống tượng
(Oxyeleotris marmoratus) với tỉ lệ nhiễm 69,0% và giun sán ở cá sặc rằn
(Trichogaster pectoralis) Komonporn Tonguthai (1992) đã nghiên cứu
Isopod và Myxosporidia ký sinh trên cá Chinabut Suprane(1991, 1993,
1994)
2.1.2 Tình Hình Nghiên Cứu Kí Sinh Trùng Trong nước
Người đầu tiên nghiên cứu kí sinh trùng ở cá Việt Nam là nhà kí sinh trùng học người Pháp¸ bác sĩ Albert Billet (1856-1915) Ông đã mô tả một
loài sán mới sán lá song chủ Distomum hypselobagri (1898) ký sinh trong
bong bóng hơi cá nheo ở Việt Nam Chevey và J Lemasson (1936) đã nghiên
cứu sự kí sinh của trùng mỏ neo Lernaea carassii Tidd, 1933 (syn Của L
cyprinacea Linne, 1758) ở cá chép nuôi
Từ năm 1961- 1976 một số nhà khoa học của Liên Xô cũ Oschmarin P.G, Mamaev U.L, Paruchin A.M, Lebedev B.I khi điều tra kí sinh trùng ở hơn 60
loài cá của vịnh Bắc bộ, đã công bố hơn 20 bài báo trong các tạp chí sách tham
khảo Các tác giả đã xác định 190 loài giun sán kí sinh gồm: Monogenea-(46),
Cestoda-(10), Trematoda-(95), Nematoda-(31), Acanthocephala-(8), trong đó
đã mô tả được 9 giống và 37 loài mới đối với khoa học
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu kí sinh trùng ở cá đầy đủ và toàn diện nhất của tiến sĩ Hà Ký (1968, 1971) khi điều tra kí sinh trùng ở 16 loài cá kinh tế ở Bắc
Bộ Việt Nam, Ông đã xác định được 120 loài kí sinh trùng thuộc 48 giống, 37
họ, 26 bộ và 10 lớp, trong đó trùng roi (Mastigophora)-(2 loài), trùng bào
(Myxozoa)-(18), trùng lông (Ciliophora)-(17), Monogenea-(42), Cestoda-(4),
Trematoda-(8), Nematoda-(12), Acanthocephala-(2), Crustacea-(15); Ông
cũng đã mô tả 1 họ , 1 giống và 42 loài mới với khoa học
Lê Văn Hòa và Phạm Ngọc Khuê (1967) Lê Văn Hòa Và Bùi Thị Liên Hương đã nghiên cứu phân loại giun tròn trên cá ở Nam Bộ Các tác giả đã
mô tả 1 giống và 2 loài mới: Pseudoproleptus lamyi, Campanarouge
campanarougetae
Năm 1976 Nguyễn Thị Muội và cộng sự đã nghiên cứu giun đầu gai trên
cá thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, bước đầu phân loại được 9 loài kí sinh trùng
trên 12 loài cá Năm 1981-1985, Nguyễn Thị Muội và cộng sự khi điều tra kí
sinh trùng của 20 loài cá nước ngọt Tây nguyên, sơ bộ phân loại được 57
taxon, trong đó lớp sán lá đơn chủ (Monogenea)-15 taxon, ký sinh đơn bào
(Protozoa)-13, Trematoda-11, Crustacea-7, Cestoda-5, Nematoda-3,
Acanthocephala- 3
Hai nhà giun sán học F Moravec và O Sey (1986-1991) đã phân loại giun sán kí sinh ở một số mẫu cá của trường đại học Tổng Hợp Hà Nội thu
trên cá thuộc hệ thống sông Hồng Các tác giả đã phân loại được 16 sán lá
song chủ (Trematoda), 21 loài giun tròn (Nematoda), 7 loài giun đầu gai
(Acanthocephala), trong đó đã mô tả 16 loài, 2 giống mới đối với khoa học
Lê Văn Châu và cộng sự (1997) nghiên cứu vật chủ trung gian sán lá gan
nhỏ đã xác định được 10 loài cá nhiễm metacercaria của Clonorchis và
Opisthorchis ở một số tỉnh của miền bắc và miền trung Việt Nam
2.2 Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Tra 2.2.1 Đặc Điểm Hình Thái Và Phân Loại
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993, cá tra có tên khoa
học là Pangasius micronemus Bleeker, 1847 Ngoài ra ở Thái Lan, Indonesia,
Malaysia cá tra còn có tên là Pangasius sutchi (Cacot, 1998, trích dẫn từ Trần
Văn Nhì, 2005) Tuy nhiên, theo tài liệu của Trần Văn Nhì (2005), cá tra
thuộc:
Bộ: Siluriformes Họ: Pangasiidae Giống: Pangasius Loài: Pangasius hypophthalmus Sauvage, 1878
a Thành phần loài cá họ Pangasiidae đã phát hiện Theo Tyson Robert (1991) giống Pangasius có 17 loài xuất hiện ở tiểu lục
địa Ấn Độ, Burma, Indo-china, Malaysia
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ở Việt Nam, theo các tác giả Mai Đình Yên, Vũ Trung Tạng, Bùi Lai
Trần Mai Thiên (1979) thì họ Pangasiidae có 14 loài
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, theo hai tác giả Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, (1992) đã công bố danh sách thành phần loài gồm 11 loài,
ngoài ra còn có hai loài nữa mà hai tác giả không xác định được
Pangasius sp1 (cá Tra Nghệ) Pangasius sp2 (cá Bông Lau)
b Hình thái, sinh lý
Cá tra là cá da trơn (không vẩy), thân dài, lưng xám đen, bụng hơi bạc,
miệng rộng, có 2 đôi râu dài Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể
sống được ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối 7-10 ), có thể chịu đựng được
nước phèn với pH >5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 15 oC, nhưng chịu nóng tới
39 oC Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác Cá
có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu
đựng được môi trường nước thiếu oxy hòa tan Tiêu hao oxy và ngưỡng oxy
của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng
2.2.2 Đặc Điểm Sinh Sản Và Phân Bố
Cá tra không sinh sản trong ao nuôi, chúng không có bãi đẽ tự nhiên ở Việt Nam, cá tra đẻ ở Campuchia, cá bột theo dòng nước về Việt Nam Chúng
thành thục sinh dục chậm hơn các loài cá da trơn khác, chúng thường thành
thục sinh dục vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa
Mùa vụ sinh sản của cá bắt đầu từ tháng 5-7, thường vớt cá tra bột trên sông vào khoảng tháng 5 âm lịch Ngoài tự nhiên cá sống ở lưu vực sông Cửu
Long (Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam) Ở Việt Nam cá tra phân bố
trên sông Tiền, sông Hậu, nhiều nhất ở vùng hạ lưu
2.2.3 Đặc Điểm Sinh Trưởng
Cá tra có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều mùn
bã hữu cơ, hàm lượng oxy hòa tan thấp và có thể thả nuôi với mật độ cao
Hình 1: Hình dáng bên ngoài cá tra
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trong ao nuôi sau một năm cá
có thể đạt trọng lượng 1-1.5 kg/con và trong những năm sau cá lớn nhanh hơn
(theo Dương Nhựt Long, 2003)
Cá còn nhỏ tăng nhanh về chiều dài, cá sẽ bước vào thời kì tích lũy mỡ khi đạt 2.5kg/con Bên cạnh đó tốc độ tăng trưởng của cá phụ thuộc vào điều
kiện môi trường, mật độ thả, chất lượng thức ăn…
2.2.4 Đặc Điểm Dinh Dưỡng
Cá tra là loài ăn tạp thiên về động vật Trong tự nhiên cá tra có thể ăn được bã mùn hữu cơ, rễ cây thủy sinh, tôm, tép, cua, côn trùng, ốc và cá
Thành phần thức ăn trong dạ dày cá tra tự nhiên như sau:
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn của cá tra tự nhiên
Loại thức ăn Tỉ lệ %
Cá tạp
ốc thực vật
bã mùn hữu cơ
37.8 23.9 6.67 31.6
Cá trong ao nuôi có thể sử dụng được các loại thức ăn khác nhau như cá tạp, thức ăn viên, rau muống, tấm , cám,… tuy nhiên thức ăn có nguồn gốc
động vật sẽ giúp cá lớn nhanh hơn
2.3 Mối Quan Hệ Giữa Các Yếu Tố Gây Bệnh Cho Cá
Cá ở trong nước hay nói một cách khác nước là môi trường sống của cá
Cá sống được phải có môi trường sống tốt, đồng thời chúng phải có khả năng
thích ứng với môi trường Nếu môi trường sống của cá xảy ra những thay đổi
không có lợi cho chúng, những con nào thích ứng sẽ duy trì cuộc sống, những
con nào không thích ứng sẽ mắc bệnh hoặc chết Cá mắc bệnh là kết quả của
tác động lẫn nhau giữa cơ thể và môi trường sống Vì vậy, những nguyên
nhân gây bệnh cho cá gồm 3 nhân tố sau:
Môi trường sống (1): To, O2, pH, CO2, NH3, NO2, kim loại nặng… những yếu tố này thay đổi bất lợi cho cá và tạo điều kiện thuận lợi cho tác nhân gây
bệnh (mầm bệnh) dẫn đến cá dễ mắc bệnh
Tác nhân gây bệnh (2): virut, vi khuẩn, nấm, kí sinh trùng và những sinh
vật hại khác
Vật nuôi (3): có sức đề kháng hoặc mẫn cảm với tác nhân gây bệnh là cho
cá chống lại được bệnh hoặc dễ mắc bệnh
Mối quan hệ của các yếu tố gây bệnh khi dủ 3 yếu tố 1, 2, 3 thì cá mới có thể mắc bệnh (hình 2) nếu thiếu một trong 3 yếu tố thì cá không mắc bệnh
(hình 3) Tuy cá có mang mầm bệnh nhưng môi trường thuận lợi cho cá và
bản thân cá có sức đề kháng với mầm bệnh thì mầm bệnh không thể phát sinh
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
được Để ngăn cản những nhân tố trên không thay đổi xấu cho cá thì con
người, kỹ thuật nuôi phải tác động vào 3 yếu tố như: cải tạo ao tốt, tẩy trùng
ao hồ diệt mầm bệnh, thả giống tốt, cung cấp thức ăn đầy đủ chất và lượng thì
bệnh rất khó xuất hiện
Khi nắm được 3 yếu tố trên có mối quan hệ mật thiết, do đó xem xét nguyên nhân gây bệnh cho cá không nên kiểm tra một yếu tố đơn độc nào mà
phải xét cả 3 yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật nuôi Đồng thời khi đưa ra
biện pháp phòng và trị cũng lưu ý đến 3 yếu tố trên, yếu tố nào dễ làm chúng
ta sử lý trước Ví dụ thay đổi môi trường sống tốt cho cá là một biện pháp
phòng bệnh Tiêu diệt mầm bệnh bằng hóa chất, thuốc sẽ ngăn chăn bệnh
không phát triển nhanh Cuối cùng chọn giống có sức đề kháng với bệnh
thường gặp gây nguy hiểm cho cá
Hình 2: Mối quan hệ giữa các yếu tố gây bệnh: vùng xuất hiện bệnh có đủ 3
yếu tố gây bệnh 1, 2, 3
Hình 3: Không đủ 3 yếu tố không xảy ra bệnh
MẦM BỆNH 2
MÔI TRƯỜNG
MÔI TRƯỜNG
1
1 + 2
1 + 3
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.4 Một Số Bệnh Thường Gặp Trên Cá Tra 2.4.1 Bệnh Đốm Đỏ
a Tình hình xuất hiện bệnh
Bệnh đốm đỏ rất phổ biến
kể cả các nước vùng ôn đới và
nhiệt đới như: Liên Xô, Đức
Tiệp Khắc, Trung Quốc, Thái
Lan… ở Việt Nam cũng có
xuất hiện bệnh này
b Tác nhân gây bệnh
Bệnh Đốm Đỏ còn gọi là bệnh xuất huyết, bệnh nhiễm trùng máu, bệnh
sởi… là bệnh do vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây ra Ngoài ra, một số
trường hợp phân lập được vi khuẩn Aeromonas sobria, Aeromonas caviae
hoặc Pseudomonas sp Trên cá bị bệnh đốm đỏ
Về hình thái Aeromonas hydrophila là trực trùng hình que ngắn, chiều dài
2-3 µm, hai đầu hơi tròn, đầu có một tiêm mao, không có nha bào, không có
giác mạc, di động, gram âm
c Phân bố, loài cá và giai đoạn nhiễm bệnh
Bệnh đốm đỏ xuất hiện trên tất cả các loài cá nuôi và cá tự nhiên Bệnh xuất hiện khắp nơi trên thế giới Ở Việt Nam, vi khuẩn này thường gây bệnh
đốm đỏ trên cá trắm cỏ ở miền Bắc Ở miền Nam bệnh này xuất hiện trên cá
tra, basa, cá bống tượng, cá mè vinh, cá he, cá tai tượng, cá trê lai Bệnh có
thể xuất hiện ở tất cả các giai đoạn phát triển của cá
d Dấu hiệu bệnh lý
Thời gian chết kéo dài 2-3 tuần và triệu chứng thể hiện đặc trưng: hai bên thân nhất là phần bụng bị xuất huyết, ứ máu đỏ bầm Vảy dựng lên, gốc vây ứ
nước vàng, lấy tay ấn nước vàng sẽ chảy ra Bụng cá phình to, chứa dịch thể
màu vàng, đỏ bầm Một số vây cá rách xơ xác nhất là vây lưng, vây hậu môn
và vây đuôi Ở một số cá bệnh, mắt lồi, hậu môn lồi ra Vây cá dần dần bị
rụng, tuột ra, bên trong ruột ứ máu và mủ, lấy tay ấn vào thấy mềm nhũn
Khoảng 30-40% đàn cá bị bệnh Đàn cá bơi lội uể oải, lờ đờ, chậm chạp nên
dễ đánh bắt Ở cá khỏi bệnh nhiều chổ loét lành thành sẹo và sinh trưởng
chậm hơn 2-3 lần so với cá bình thường
e Mùa vụ xuất hiện
Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng thường tập trung vào mùa Xuân và mùa Thu ở miền Bắc, ở miền Nam bệnh thường xuất hiện vào đầu mùa mưa (giao
mùa) Tỉ lệ chết do bệnh này thường từ 30-70%
Hình 4: Cá tra bị bệnh đóm đỏ
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
đến mùa bệnh đốm đỏ và trong mùa bệnh hàng tháng cần cho cá ăn thức ăn có
trộn thuốc để phòng bệnh theo định kì, mỗi lần cho ăn 3 ngày liên tục Làm vệ
sinh để ao, hồ nuôi cá luôn sạch
h Cách trị
Thay phân nữa nước trong ao 2 ngày một lần, bón thêm vôi với liều 6kg/100m3 nước
4-Trộn thuốc vào thức ăn với liều:
Doxicline 0.5-1g hoặc oxytetraciline liều 2-4g cho1kg thức ăn Vitamin C 1-2g cho 100kg cá bệnh
Cho ăn liên tục 5-7 ngày Tốt nhất nên áo dầu hoặc chất kết dính ngoài viên thức ăn sau khi đã trộn thuốc
Vi khuẩn gây bệnh trắng đuôi là
Pseudomonas dermoabba, dạng hình que,
kích thước trung bình 0.8 x 0.4 µm Phần
lớn 2 tế bào nối liền nhau, phía đầu có 1-2
tiêm mao, có khả năng di động, không có
nha bào, không có giác mạc, bắt màu điều,
là vi khuẩn Gram âm
c Phân bố, loài cá và giai đoạn nhiễm bệnh
Bệnh trắng đuôi là bệnh chủ yếu của cá mè trắng, mè hoa, đôi khi cũng phát hiện ở cá trắm đen, trắm cỏ của Trung Quốc và ở cá miền Bắc Việt Nam,
đặc biệt miền Nam bệnh thường xuất hiện trên các loài cá nuôi như: cá trơn và
cá đồng Bệnh này rất nguy hại cho cá hương, cá giống từ 20-30 ngày Mức
hao hụt rất cao và quá trình bệnh rất ngắn, thời gian bắt đầu bệnh đến khi chết
chỉ trong vòng 2-3 ngày
Hình 5: Cá tra bị bệnh trắng
đuôi
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
d Dấu hiệu bệnh
Cá ăn yếu dần bỏ ăn ở cuối vây lưng cá xuất hiện màu trắng và lan dần từ
vây lưng đến cuống vây đuôi, lan lên thân đến trước vây lưng Cá lờ đờ chậm
chạp, đuôi cứng dần đến thân Vây đuôi có khi bị rách và gẫy dần khả năng
hoạt động của cá mất dần, cá nằm ngan mặt nước ve vẩy, yếu ớt Sau đó đuôi
treo trên mặt nước đầu cắm xuống đáy, bơi lờ đờ bằng cách giẫy có khi bất
động như treo lũng lẵng trong nước, từ từ chìm xuống đáy ao và chết
Khi quan sát cá tra con và cá tra thịt mới phát bệnh trắng đuôi thì thấy các tia máu ở các vây da căng phồng ứ máu Dần dần biểu bì ở da và ở vây bị phá
hủy xơ xác, da cá bị mất nhớt, sờ thấy nhám Cá con để trong nước dễ nhìn
thấy 2/3 thân về phía đuôi bị bạc màu
e Mùa vụ xuất hiện
Bệnh trắng đuôi thường xảy ra trong các ao, bể ương cá con, nhất là ở giai đoạn cá hương của cá mè , trôi vào mùa hạ và thu Khi đánh bắt hoặc vận
chuyển làm cá bị xây xác cũng là điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh xâm nhập
và phát triển
Theo tài liệu của Thượng Hải và Sơn Đông (Trung Quốc) tỷ lệ hao hụt của bệnh này trung bình 3%, mức lớn nhất 45% Theo tìm hiểu và quan sát
của chúng tôi ở An Giang tỷ lệ hao hụt bệnh trắng đuôi ở cá tra là 40-90%,
mức hao hụt lớn nhất ở bệnh này là cá tra hương, giống có tỉ lệ hao hụt đến
100%
f Chẩn doán bệnh
Dựa vào các dấu hiệu bệnh lý và phân lập vi khuẩn
g Cách phòng
Không đánh bắt vào những ngày nắng nóng, nhiệt độ cao Tránh đánh bắt
cá bằng lưới không đúng qui cách Không nên ương hoặc nuôi cá với mật độ
quá dày Ao ương phải vệ sinh sạch sẽ, tránh để đáy ao quá nhiều bã mùn hữu
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.4.3 Bệnh Mủ Trên Gan Cá Tra
a Tình hình dịch bệnh
Ở Đồng Bằng Sông Cữu Long, bệnh mũ gan xuất hiện đầu tiên vào
mùa lũ năm 1998 ở các tỉnh nuôi cá
tra thâm canh phát triển mạnh như:
An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ
Sau đó bệnh lan dần sang các vùng
nuôi cá tra lân cận Đặc biệt, những
năm gần đây bệnh này cũng xuất
hiện ở một số tỉnh mới nuôi cá tra
như Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng…
b Tác nhân gây bệnh
Bệnh mủ gan còn có một số tên gọi khác là: bệnh trắng gan; gan, thận mủ;
bệnh ung thư gan
Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
c Đặc điểm sinh lý sinh hóa
Vi khuẩn Edwardsiella ictaluri là vi khuẩn gram âm, không di động, lên men, không oxy hóa Edwardsiella ictaluri có dạng que và kích thước biến đổi
Các đặc điểm sinh hóa của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri cho hầu hết các
phản ứng âm tính chỉ có 2 phản ứng dương tính là Lysine và Glusose
d Phân bố, loài cá và giai đoạn nhiễm bệnh
Vi khuẩn Edwardsiella ictaluri xuất hiện đầu tiên trên cá nheo ở Mỹ, cá
trê trắng ở Thái Lan Ở Việt Nam bệnh mủ gan chủ yếu xuất hiện trên cá tra,
thỉnh thoảng xuất hiện trên cá ba sa Xuất hiện trên tất cả các giai đoạn phát
triển của cá tra Tỉ lệ hao hụt lớn nhất ở cá giống, nhưng gây thiệt hại về kinh
tế lớn nhất ở giai đoạn cá lứa cở 300-500g
e Dấu hiệu bệnh lý
Hoạt động của cá: cá gầy, mắt lồi Cá bệnh nặng bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước và tỉ lệ chết cao Dấu hiệu bệnh bên ngoài không rõ ràng Bên trong
xuất hiện nhiều đốm trắng đục kích cỡ 1-3mm trên gan, thận và tỳ tạng
Chú ý giai đoạn đầu, những đốm trắng chỉ xuất hiện trên thận hoặc tỳ tạng của cá
f Mùa vụ xuất hiện
Bệnh mủ gan thường xuất hiện vào mùa lũ và cao điểm vào tháng 7, 8
Tuy nhiên trong 2 năm gần đây Bệnh này xuất hiện trên cá tra hầu như quanh
năm Trong một vụ nuôi, bệnh mủ gan có thể xuất hiện 3-4 lần Tỉ lệ hao hụt
Hình 6: Cá tra bị bệnh thận mủ,
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
lên đến 10-50%, tùy thuộc vào chế độ chăm sóc và quản lý
f Chẩn đoán bệnh
Việc điều trị bệnh chỉ có hiệu quả khi phát hiện sớm bệnh Do đó, trong quá trình nuôi cần thường xuyên quan sát những biểu hiện của cá để phát hiện
bệnh và xử lý kịp thời
Giai đoạn đầu, vài con tách đàn bơi lờ đờ ở đầu bè hoặc dạt về góc bè, dọc
bờ ao, đôi lúc cá giảm ăn
Bắt khoảng 5-10 con kiểm tra các đốm trắng ở gan, thận và tỳ tạng
g Cách phòng
Chọn con giống khỏe mạnh, không nhiễm bệnh Tiệt trùng các dụng cụ như lưới, vợt, sọt, ống dây bằng Chlorine 10-15g/m3 trong 30 phút, rữa nước sạch và phơi khô
Cá chết được vớt ra khỏi ao, bè càng sớm càng tốt Không vứt cá chết bừa bãi ra sông, rạch, trên mặt đất, cần được chôn vào hố cách ly có rải vôi
sống để tiệt trùng
Vào mùa dịch bệnh (mùa lũ) không nên cho cá tra ăn cá tạp tươi sống
Thức ăn cần được nấu chính hoặc sử dụng thức ăn viên
Những ao cá đã bị bệnh mũ gan, cần cải tạo kỹ bằng vôi CaO 20kg/100m2)
(15-Trong ao nuôi, luân phiên mỗi tuần nên sử dụng CaCO3 (2-4kg/100m3 nước) và Zeolite Duy trì oxy trong nước >2.5mg/l
h Cách trị
Cá bệnh mủ gan chỉ dùng 1 trong 3 loại kháng sinh sau: Enrofloxacine
Ciprofloxacin hoặc Norfloxacin Liều lượng 0.1-0.5/kg thức ăn cho cá ăn liên
tục 5-7 ngày Có thể bổ sung thêm vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho
cá Thuốc được trộn vào thức ăn viên có áo dầu hoặc chất kết dính
Chú ý: Không sử dụng thuốc kháng sinh mà vi khuẩn này đã lờn Không nên sử dụng Oxytetracyline Oxolinic acid và Sulphonamides để trị bệnh mủ
gan Không nên dùng thuốc kháng sinh để phòng bệnh Không tùy tiện kết
hợp nhiều loại kháng sinh cùng một lúc Trước khi thu hoạch 4 tuần không
được cho cá dùng thuốc kháng sinh
2.5 Bệnh Kí Sinh Trùng
2.5.1 Trùng Mặt Trời (Trichodina)
Họ trùng bánh xe Trichodina có nhiều giống nhưng ở Việt Nam thường
gặp các loài thuộc 3 giống kí sinh ở cá nước ngọt, nước mặn, lưỡng thê và bò
sát Những giống loài thường gặp: Trichodina nigara, Trichodina nobilis,
Trichodina pediculus, Trichodina siluri, Trichodina domerguei, Trichodina
mutabilis, Trichodina epizootica, Trichodina bulbosa
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
a Hình dạng và cấu tạo
Cơ thể Trichodina nhìn mặt bên giống cái chuông, mặt bụng giống cái
đĩa Lúc vận động nó quay tròn lật
qua lật lại giống như bánh xe nên có
tên trùng bánh xe Nhìn chính diện
có 1 đĩa bám lớn có cấu tạo phức
tạp, trên đĩa có 1 vòng răng và các
đường phóng xạ Vòng răng có
nhiều thể răng, mỗi thể răng có
dạng gần như chữ “V” Hình dạng,
số lượng răng và đường phóng xạ là
tiêu chuẩn quan trọng để phân loại
Kích thước nhỏ, đường kính cơ thể khoảng từ 30-90 µm
Trùng bánh xe sinh sản chủ yếu bằng hình thức vô tính phân chia
đơn giản, tùy theo từng loài chúng
sinh sản gần như quanh năm
Trùng bánh xe có thể sống tự do
trong nước từ 1-1.5 ngày Trùng kí
sinh chủ yếu ở da mang mũi cá
cá gọi là bệnh “lắc đầu” Một số con tách đàn bơi quanh bờ ao Khi bệnh
nặng trùng kí sinh phá hủy các tơ mang khiến cá ngạt thở, những con bệnh
nặng mang đầy nhớt và bạc trắng Cá bơi lội lung tung không định hướng
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
c Phân bố và lan truyền
Trùng bánh xe phân bố rộng Theo Hà Ký (1968) và Bùi Quang Tề (1990, 2001) bệnh này gây tác hại chủ yếu cho cá hương cá giống ở Việt Nam
Bệnh phát sinh rộng trên nhiều loài cá khác nhau: chép, trắm cỏ, mè hoa, mè
trắng, trôi, rôhu, trê, tra, bống tượng, mùi,… và trên 10 loài cá kinh tế khác
nữa Trong các hồ ao ương nuôi cá bệnh phát triển quanh năm nhưng phổ biến
nhất vào mùa xuân, đầu mùa hạ và mùa thu ở miền bắc, vào mùa mưa ở miền
nam (mùa khô ít gặp hơn)
Bệnh gây thiệt hại lớn cho các cơ sở ương nuôi cá giống
d Chuẩn đoán bệnh
quan sát các dấu hiệu bệnh lý của đàn cá trong ao Bắt cá kiểm tra nhớt,
da, mang, vây, dưới kính hiển vi, xác định tỷ lệ và cường độ cảm nhiễm trùng
bánh xe
e Phòng và trị bệnh
Biện pháp phòng bệnh trùng bánh xe là giữ gìn vệ sinh cho các ao hồ nuôi
cá nhất là ao ương Trước khi ương nuôi phải tẩy vôi, tiêu độc ao Mật độ cá
không nên thả quá dày Theo Hà Ký (1963) mật độ cá thả quá dày thì cường
độ nhiễm trùng bánh xe sẽ tăng gấp 4-12 lần Các loại phân hữu cơ, nhất là
phân bắc cần phải được ủ kỹ với 1% vôi Thực tế cho thấy những nơi dùng
phân tươi thường hay phát sinh bệnh
Ở Việt Nam thường dùng một số phương pháp đơn giản và hóa chất dễ kiếm: dùng nước muối 2-3% tắm cho cá 5-15 phút, dùng CuSO4 nồng độ 3-
5ppm tắm cho cá 5-15 phút hoặc phun trực tiếp xuống ao với nồng độ
0.5-.7ppm (0.5-0.7g cho 1m3 nước)
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.5.2 Trùng Quả Dưa (Ichthyophthyiosis)
a Hình dạng
Tác nhân gây bệnh trùng quả dưa là loài Ichthyophthyiosis multifiliis
Fouguet (1876) Trùng có dạng rất giống quả dưa, đường kính 0.5-1mm
Toàn thân có nhiều lông tơ nhỏ, nhiều đường sọc, vằn dọc Giữa thân có một
hạch lớn hình móng ngựa và một hạch nhỏ
Chu kỳ sống của trùng gồm 2 giai đoạn: dinh dưỡng và bào nang
* Giai đoạn dinh dưỡng: Khi ấu trùng kí sinh ở da, mang ở giữa các tổ chức thượng bì hút chất dinh dưỡng của kí chủ để sinh trưởng, đồng thời kích
thích các tổ chức của kí chủ hình thành một đốm mủ trắng (vì vậy còn gọi là
bệnh đốm trắng) Trùng trưởng thành chui ra khỏi đốm mủ trắng và chuyển
sang giai đoạn bào nang
* Giai đoạn bào nang: trùng rời khỏi ký chủ bơi lội tự do trong một thời gian rồi dừng lại ở ven bờ ao hoặc tựa vào cây có thủy sinh, tiết ra chất keo
bao vây lấy cơ thể hình thành bào nang Trùng bắt đầu sinh sản phân đôi
thành rất nhiều (1000-2000) ấu trùng có đường kính 18-22µm
b Dấu hiệu bệnh
Da, mang, vây, của cá bị nhiễm bệnh có nhiều trùng bám thành các hạt lấm tấm rất nhỏ, màu hơi trắng đục, có thể thấy rõ bằng mắt thường Da mang
cá có nhiều nhớt màu nhợt nhạt Cá bệnh nổi thành từng đàn trên mặt nước,
bơi lờ đờ yếu ớt, tập trung gần bờ, nơi có cỏ rác, quẫy nhiều do ngứa Trùng
bám nhiều trên mang phá hoại biểu mô mang làm cá ngạt thở Khi cá yếu quá
chỉ còn ngoi đầu lên để thở, đuôi bất động cắm xuống nước
c Phân bố và lan truyền
Bệnh lưu hành rất rộng, khắp các châu lục trên thế giới Ở khu vực Đông Nam Á, các loài cá nuôi thường mắc bệnh này
Hình 9: Trùng quả dưa (Ichthyophthyiosis)
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1985) Tẩy dọn ao kỹ, phơi đáy ao 3-4 ngày bằng thuốc
Để trị bệnh cần chú ý đến 2 giai đoạn trong chu kỳ sống của nó Diệt trùng ở thời kỳ ấu trùng bơi lội tự do thuộc giai đoạn bào nang dễ dàng hơn so
với giai đoạn dinh dưỡng (ký sinh) Phương pháp dùng thuốc diệt hết trùng ở
giai đoạn ký sinh của cá cần ít nhất vài lần Các phương pháp trị bệnh trùng
quả dưa đều phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường nên phải thí nghiệm để lựa
chọn phù hợp với từng vùng Thuốc và hóa chất sử dụng điều trị bệnh này rất
đa dạng Nhiều tác giả ở các nước khác nhau đã sử lý đạt kết quả ở những
mức độ khá nhau Đối với cá giống nuôi ở đồng bằng Nam Bộ, do nhiệt độ
nước bình quân cao (25-28oC), có thể dùng thuốc ở nồng độ thấp hơn Ở Việt
Nam đã sử dụng có kết quả một số loại hóa chất như sau: Formalin tắm
200-300pmm thời gian 30-60 phút hoặc phun xuống ao liều lượng 10-20ppm thời
gian vô định
2.5.3 Trùng Loa kèn
a Tác nhân gây bệnh Lớp Peritricha Stein, 1859
Bộ Peritrichida F.Stein, 1859
Bộ phụ Sessilina Kahl, 1933
Họ Epistylididae Kahl, 1933
Họ phụ Epistylidinae Kahl, 1933 Giống Epistylis ehrenberg, 1836
Họ phụ Apiosomatinae Banina Giống Apiosoma Blanchard, 1885
Họ Vorticellidae Giống Zoothamnium Giống Vorticella
Ký sinh trùng ở động vật thủy sản Vịêt Nam, 4 giống thụôc 2 họ Nhìn
chúng cơ thể phía trước lớn, phía sau
nhỏ, có dạng hình loa kèn, hình chuông
lộn ngược, nên có tên gọi là trùng loa
kèn Phía trước cơ thể có1 - 3 vòng
Hình 10: Trùng loa kèn
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
lông rung và khe miệng Phía sau ít nhiều đều có cuống để bám vào bất cứ giá
thể nào Một số giống hình thành tập đoàn (Epistylis, Zoothamnium) các cá
thể liên kết với nhau bởi nhánh đuôi Trùng loa kèn lấy dinh dưỡng bằng cách
lọc trong môi trường nước
Trùng loa kèn sinh sản vô tính bằng hình thức tiếp hợp thường cơ thể nhỏ bám gần miệng cơ thể lớn Nhân lớn của tiếp hợp tử phân thành khối nhiễm
sắc thể
Giống Vorticella có thể sống đơn độc, đính vào giá thể bằng một cuống
hình trụ mảnh co thể co rút được Tế bào hình chuông lộn ngược Phía trước
thường rộng hình đĩa, một vùng lông xoắn ngược chiều kim đồng hồ, hướng
tới miệng Có thể có một nhân nhỏ và một nhân lớn hình dải, có 1 – 2 không
bào co rút Cơ thể không màu hoặc vàng, xanh
Giống Zoothamnium cấu tạo tế bào tương tự Vorticella nhưng nó khác với Vorticella, những loài của giống này sống tập đoàn, mỗi tập đoàn có vài hoăc
rất nhiều tế bào Cuống phân nhánh dạng lưỡng phân đều Cuống có khả
năng co rút không liên tục trong tập đoàn, nên mỗi nhánh co rút riêng rẽ
Giống Epistylis cấu tạo tế bào gần tương tự như Zoothamnium Nhân lớn
của chúng tương đối ngắn, có dạng xúc xích Đặc điểm chủ yếu khác với
Zoothamnium là cuống không co rút Bản thân tế bào có thể co hoặc duỗi
vòng lông rung ở phía trước miệng vào trong cơ thể Cuống phân nhánh so le
hoặc đều
Giống Apiosoma cơ thể hình chuông hoặc hình phểu lộn ngược Phía
trước tế bào hình thành đĩa lông rung gồm 3 vòng lông tơ xoáy ngược chiều
kim đồng hồ tới phiểu miệng Cuối phía sau tế bào thon dài thành cuống, đầu
mút của cuống có một đĩa bám nhỏ hoặc túm lông bám, tổ chức dính Màng tế
bào mỏng, có vân ngang, gần nhân có vành đai lông mao ngắn Nhân lớn hình
nón lộn ngược nằm ở trung tâm tế bào Nhân nhỏ hình bán cầu hoặc hình gậy
gần nhân lớn
Kích thước của trùng loa kèn thay đổi theo giống loài, ví dụ: Apiosoma piscicolum ssp cylindriformis (Chen,1955) kích thước tế bào 50 – 80 x 11 –
15,4 µm Loài Apiosoma minutum (Chen 1961): 13,7 – 26,2 x 5 – 12,5 µm
Epistylis sp (Hà Ký, 1968): 36,0 – 49,2 x 19,2 - 26,4 µm Epistylis sp (Bùi
Quang Tề, 1990): 56 – 70 x 30 - 40µm
b Dấu hiệu bệnh lý
Trùng loa kèn bám trên da, vây, mang cá, trên cơ thể mang có phần phụ của tôm, trên thân các chi của ếch, ba ba Trùng ảnh hưởng đến hô hấp, sinh
trưởng của tôm cá Ở giai đoạn ấu trùng của tôm cá trùng loa kèn cản trở hoạt
động của ấu trùng và gây chết rãi rác Đối với ếch, ba ba trùng loa kèn bám
thành những đám trắng xám dễ nhầm với nấm thủy my Bệnh nặng đã gây
chết cho ba ba giống
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
c Phân bố và lưu truyền
Trùng loa kèn phân bố ở cả nước ngọt, nước mặn Chúng ký sinh ở tất cả các động vất thủy sinh Theo C.G Skriptrenko, 1967 khi động vật thủy sinh
nhiễm Apiosoma thì không phát hiện có Chiodonella trên cơ thể và ngược lại
Bệnh trùng loa kèn thường xuất hiện vào mùa xuân, mùa thu, mùa đông ở
miền Bắc, mùa mưa ở miền Nam
d Chẩn đoán bệnh
Lấy nhớt kiểm tra dưới kính hiển vi
e Phòng và trị bệnh: tương tự như trùng bánh xe
2.5.4 Sán Lá Đơn Chủ (Monogenea) Sán Lá 16 Móc (Dactylogyrosis)
a Hình dạng và cấu tạo
Cơ thể của Dactylogyrus nói chung rất
nhỏ, dài (chiều dài khoảng 0.2-0.6mm) lúc
còn nhỏ có màu trắng nhạt và vận động rất
linh hoạt Khi vận động ở phía trước lộ rõ 4
thùy đầu trong đó có 4 đôi tuyến đầu tiết
chất nhờn phá hoại tổ chức tạo điều kiện cho
Dactylogyrus bám lên mang cá Phía trước
có 4 điểm mắt do các đám tế bào sắc tố tạo
thành tác dụng cảm giác ánh sáng
*Cơ quan sinh dục: Dactylogyrus có cơ
quan sinh dục lưỡng tính, cơ quan sinh dục
đực và cái trên cùng một cơ thể Cơ quan
giao cấu do một ống nhỏ và các phiến chống
đỡ tạo thành Hình dạng và cấu tạo của các
phiến chống đỡ là một trong những tiêu
chuẩn để phân loại đến loài của giống sán là
đơn chủ 16 móc
b Dấu hiệu bệnh lý Dactylogyrus ký sinh trên da và mang cá nhưng chủ yếu là mang Lúc kí
sinh chúng dùng móc của đĩa bám bám vào tổ chức tuyến đầu tiết ra men
hialuronidaza phá hoại tế bào tổ chức mang và da cá làm cho mang và da cá
tiết nhiều dịch nhờn ảnh hưởng đến hô hấp cá Tổ chức da và mang bị
Dactylogyrus kí sinh viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm và một số sinh
vật xâm nhập gây bệnh
Giống sán lá 16 móc Dactylogyrus có tính đặc hữu cao nhất của lớp sán
đơn chủ, mỗi loài sán Dactylogyrus chỉ kí sinh một loài cá ký chủ
Hình 11: Sán lá 16 móc
(Dactylogyrus)