1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN móc ở CHÓ tại THÀNH PHỐ cần THƠ và THỬ HIỆU lực của một số THUỐC tẩy TRỪ

52 336 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các bệnh gây nguy hiểm cho chó thì bệnh giun móc Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephala ngoài ảnh hưởng đến chó nuôi là làm cho chó gầy còm, chậm lớ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 2

4 Sơ lược về giun móc và bệnh giun móc ở chó 6

6.1 Về tác hại của giun móc đối với cơ thể vật chủ 11 6.2 Về tác hại của giun móc đối với sức khỏe của con người 12

Trang 3

Chương 3: Phương tiện và phương pháp thí nghiệm 18

1.3 Điều kiện xã hội của Thành phố Cần Thơ 19

3 2 Phương pháp Mac – Master (áp dụng để thử thuốc) 21 3.2.1 Cách tiến hành 22

3.3 Phương pháp mổ khám từng phần của Viện sĩ Skrjabin 22

3.3.2 Xác định tuổi chó bằng phương pháp xem răng 23 3.3.3 Phương pháp mổ khảo sát 23

1 Kết quả tình hình nhiễm giun móc bằng phương pháp kiểm tra

Trang 4

Bảng 11: Thành phần loài giun móc ký sinh ở chó theo phương pháp mổ khám

Bảng 12: Kết quả tình hình nhiễm ghép của giun móc qua phương pháp kiểm tra phân

Bảng 13: Kết quả tình hình nhiễm ghép giun móc qua phương pháp mổ khám

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Vòng đời phát triển của giun móc trên chó

Hình 2: Bảng đồ hành chính Thành phố Cần Thơ

Hình 3 : So sánh về tỉ lệ nhiễm giữa hai phương pháp kiểm tra phân và mổ khám

Hình 4: So sánh tỉ lệ nhiễm giun móc theo lứa tuổi ở phương pháp kiểm tra phân

Hình 5: Tỷ lệ nhiễm giun móc theo lứa tuổi ở phương pháp mổ khám

Hình 6: So sánh tỷ lệ nhiễm giun móc theo giống chó ở phương pháp kiểm tra phân

Hình 7: So sánh tỉ lệ nhiễm giun móc giữa giữa hai phương thức nuôi ở phương pháp kiểm tra phân

Hình 8: Tỉ lệ nhiễm giun móc theo giới tính giữa hai phương pháp kiểm tra phân

Hình 13: Kết quả tình hình nhiễm ghép giun móc qua phương pháp mổ khám

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

+ Chó từ 1-4 tháng tuổi nhiễm giun móc với tỉ lệ 73,84%; chó từ

5-12 tháng tuổi nhiễm với tỉ lệ 59,46% và chó từ >5-12 tháng tuổi nhiễm với tỉ lệ 49,38%

+ Tỉ lệ nhiễm cao 80,10% đối với giống địa phương; và giảm dần ở giống lai 55,7% và giống ngoại chiếm tỉ lệ 45,56%

+ Tỉ lệ nhiễm theo phương thức nuôi cho thấy chó nuôi thả rong 67,59% cao hơn đối với những con chó nuôi theo phương thức nhốt 53,57%

+ Tỉ lệ nhiễm theo giới tính thì những con chó cái chiếm tỉ lệ 66,12% cao hơn so với những con chó đực 53,53%

+ Theo trạng thái phân thì những chó có biểu hiện phân lỏng (tiêu chảy) thì tỉ lệ nhiễm 68,54% cao hơn so với những chó có biểu hiện phân bình thường 54,96%

+ Về thành phần loài chúng tôi ghi nhận được ba loài trong đó tỉ lệ

nhiễm các loài như sau: Ancylostoma caninum 42,27%, Ancylostoma braziliense 30,9%, Uncinaria stenocephala 11,36% Và thấy nhiễm ghép giữa hai loài

Ancylostoma caninum và Ancylostoma braziliense là phổ biến

- Đối với phương pháp mổ khám, chó nhiễm chiếm tỉ lệ 83,33% có phần cao hơn đối với phương pháp kiểm tra phân 60,45%

+ Tỉ lệ nhiễm theo lứa tuổi: chó <1 năm tuổi chiếm tỉ lệ 77,78%; chó

từ 1-2 năm tuổi chiếm tỉ lệ 90,90% và chó từ >2 năm tuổi chiếm tỉ lệ 80,00%

+ Tỉ lệ nhiễm theo giới tính thì những con chó cái chiếm tỉ lệ 92,85% cao hơn so với những con chó đực 75,00%

+ Về thành phần loài chúng tôi ghi nhận được ba loài trong đó tỉ lệ

nhiễm các loài như sau: Ancylostoma caninum 73,73%, Ancylostoma braziliense 60,00%, Uncinaria stenocephala 46,67% Và thấy nhiễm ghép giữa hai loài

Ancylostoma caninum và Ancylostoma braziliense là phổ biến

- Về phần thử thuốc chúng tôi sử dụng hai loại thuốc là Levamisole với liều lượng 20mg/kg P và Ivermectin với liều lượng 0,25 mg/kg P, mỗi loại tẩy đối với

7 con chó, nhận thấy rằng thuốc Ivermectin có hiệu quả tốt hơn Levamisole

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay việc nuôi chó không chỉ là tập quán của người dân mà còn là nhu cầu phục vụ đời sống con người như nuôi chó để làm cảnh, làm bạn, bảo

vệ an ninh quốc phòng và tài sản người dân

Do nuôi chó với mục đích đa dạng và phổ biến như vậy nên số lượng chó nuôi ngày càng tăng đặc biệt chó nghiệp vụ và chó cảnh được nuôi nhiều ở

thành phố Song song với số lượng chó nuôi tăng lên kéo theo các dịch bệnh ở

chó ngày càng nhiều Trong các bệnh gây nguy hiểm cho chó thì bệnh giun

móc (Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephala )

ngoài ảnh hưởng đến chó nuôi là làm cho chó gầy còm, chậm lớn, giảm sức đề

kháng và làm tiền đề cho các vi khuẩn xâm nhập và gây hại Bên cạnh đó bệnh

giun móc ở chó còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con người (Monnig H.O, 1949)

Xuất phát từ nhu cầu thực tế và từng bước bảo vệ sức khỏe cho đàn chó

nuôi, được sự chấp thuận của Bộ Môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học

Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi thực hiện đề tài: “ĐIỀU TRA

TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN MÓC Ở CHÓ TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

VÀ THỬ HIỆU LỰC MỘT SỐ THUỐC TẨY TRỪ”

Mục đích của đề tài

• Xác định tình hình nhiễm giun móc ở Thành phố Cần Thơ

• Xác định tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm của giun móc theo lứa tuổi

• Xác định tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm của giun móc theo giống

• Xác định tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm của giun móc theo phương thức nuôi

• Xác định tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm của giun móc theo giới tính

• Xác định tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm của giun móc theo trạng thái phân

• Xác định thành phần loài giun móc theo lứa tuổi

• Thử hiệu lực của thuốc tẩy Ivermectin và Levamisole

Từ đó làm cơ sở khoa học cho việc khuyến cáo người nuôi tẩy trừ và phòng bệnh giun móc, góp phần hạn chế sự lây lan và phát tán bệnh đối với vật

nuôi và con người tại Thành phố Cần Thơ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Tình hình nghiên cứu giun móc ở nước ngoài

Islam; AWMS; HGB (1983), nghiên cứu sự lưu hành của giun sán ký sinh ở chó tại Lusaka, Zambia Giữa tháng 5/1980 và tháng 4/1982 đã kiểm tra

85 con chó nhà địa phương cho thấy có 40% chó bị nhiễm với một hay nhiều

loài giun sán ký sinh Trong đó, loài Ancylostoma caninum (8%), Ancylostoma

braziliense (2%)

Sự lưu hành bệnh giun sán ký sinh ở đường tiêu hoá của chó trong vùng nông thôn ở Negeria, theo các tác giả Basa- SS; Ogunkoya-AB; Ezeocoli- CD

(1983), tại Chori, Bắc Nigeria, đã kiểm tra 144 chó thì thấy có 61 con nhiễm

Ancylostoma caninum (42,4%) Tỉ lệ nhiễm có khuynh hướng cao trong mùa

mưa, Ancylostoma caninum lưu hành suốt cả mùa ẩm ướt và mùa khô

Shien-YS; Jou-SR; Wong - CW; Ni-WJ; Lin-SY (1983) thấy rằng những chó nuôi ở vùng Taipei, Đài Loan, trong số 4900 chó tại bệnh xá ở Đài

Loan thì hầu hết thường nhiễm bệnh ký sinh trùng vào giữa tháng 6/1978 và

tháng 8/1982 thì bệnh giun móc có 1480 trường hợp bệnh Hầu hết những chó

thường nhiễm ký sinh trùng dưới 1 năm tuổi Sự lưu hành của bệnh giun móc

cao xảy ra suốt năm

Blagbum-BL; Lindsay- DS; Vaughan- JL; Rippei-NS; Wright- JC;

Lynn- RC; Kelch-WJ; Ritchie-GC; Hepler-DI (1996) ở Mỹ thấy rằng giun sán

ký sinh ở đường tiêu hoá của chó ở Mỹ đã được nghiên cứu trên cơ sở kiểm tra

phân Trình bày sự lưu hành của giun sán và nguyên sinh động vật thường gặp

khác nhau tuỳ theo từng vùng tại Mỹ và sự lưu hành của giun sán tuỳ theo tuổi

của vật chủ, tình trạng sản xuất và giống Những loài giun sán ký sinh thường

xuyên và phổ biến trong đó có loài Ancylostoma caninum (19,19%) và giun

tóc (14,3%) Kết quả trên cho thấy cần phải kiểm soát bệnh ký sinh trùng và trị

liệu kịp thời, đặc biệt là giun móc vì gây bệnh nghiêm trọng

2 Tình hình nghiên cứu giun móc trong nước

Tỉ lệ nhiễm giun móc ở chó khá cao, cao nhất là Ancylostoma Theo Đỗ Hải, 1972 Chó Bắc bộ nhiễm Ancylostoma 83,33%

Theo Trần Thị Thanh Hằng và Lương Văn Huấn, 1989 Chó nuôi tại Thành phố Hồ Chí Minh nhiễm:

Ancylostoma caninum 91,17%

Ancylostoma braziliense 82,35%

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

Uncinaria stenocephala 41,17%

Theo Trịnh Văn Thịnh và Phạm Văn Khuê, 1982 Tỉ lệ nhiễm giun móc

ở chó săn là 75 – 82% Tỉ lệ này tùy thuộc theo lứa tuổi và giống chó

• Chó sơ sinh đến 4 tháng tuổi nhiễm 82%

35 con chó cho thấy như sau tỉ lệ nhiễm giun móc là 78,93% Và thành phần

loài giun móc ký sinh ghi nhận có ba loài với tỉ lệ như sau Ancylostoma

caninum 87,50%, Ancylostoma braziliense 81,25%, Uncinaria stenocephala

43,75%

Theo Trần Đệ Quang (1998), khảo sát tình hình nhiễm nội ký sinh trùng trên đàn chó tai Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả xét nghiệm 220 mẫu phân và

mổ khám 232 con chó cho thấy như sau tỉ lệ nhiễm ở phương pháp kiểm tra

phân là 69,55% và tỉ lệ nhiễm qua phương pháp mổ khám là 69,55% Trong đó,

loài Ancylostoma caninum chiếm tỉ lệ 76.29%, cường độ nhiễm 9,02 ± 2,26

Theo luận án thạc sĩ của Ôn Hòa Thịnh (1999), tiến hành điều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở ống tiêu hóa chó tại Thành phố Long Xuyên,

tỉnh An Giang, kết quả xét nghiệm phân 244 chó cho biết tỉ lệ nhiễm như sau tỉ

lệ nhiễm chung 75% với 6 loài thuộc lớp giun tròn và 01 loài thuộc lớp sán dây

trong đó Ancylostoma caninum 59,84%, Ancylostoma braziliense 26,64%,

Uncinaria stenocephala 15,57%

Cùng tác giả qua mổ khám 124 chó cho thấy tỉ lệ nhiễm giun sán là

100%, trong đó 4 loài sán dây và 8 loài giun tròn trong đó Ancylostoma

caninum 77,42%, Ancylostoma braziliense 17,74%, Uncinaria stenocephala

14,52%

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

Theo Văng Phước Hậu (2000), điều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh

ở đương tiêu hóa chó và thử hiệu lực thuốc tẩy Ivermectin trên chó tại thị xã

Vỉnh Long, tỉnh Vỉnh Long xét nghiệm 180 mẫu phân và thử nghiệm tẩy trừ 64

chó nuôi tại thị xã Vỉnh Long, tỉnh Vỉnh Long, nhận thấy tỉ lệ nhiễm giun sán

là 71,11% Về thử hiệu lực thuốc Ivermectin 0.1% cho thấy hiệu quả 100%

Theo Skrjabin.K.I, Petro ấu trùng chưa cảm nhiễm thì không rời khỏi đóng phân, còn ấu trùng cảm nhiễm thì rời khỏi đóng phân và có khả năng

không những di chuyển thắng đứng theo ngọn cỏ

3 Đặc điểm chó nuôi ở nước ta

3.1 Nguồn gốc và phân loại chó

Chó là một động vật có vú, ăn thịt Được loài người nuôi dưỡng như là người bạn đồng hành, cách đây ít nhất 12 ngàn năm Là một trong những loài

vật được nuôi dưỡng sớm nhất, nuôi trong nhà Theo Đac uyn tổ tiên của loài

chó ngày nay có nguồn gốc từ giống chó xám (canis pulus) sống rãi rác ở nhiều

nơi, tập trung nhiều nhất là ở vùng Bắc cực và được thuần hóa nhiều nơi trên

thế giới chứ không riêng ở vùng nào

Thủy tổ của chúng ngày xưa được người ta nuôi để giữ gia súc Có thể đầu tiên con người huấn luyện chúng vào mục đích ấy

Bề ngoài của những giống chó ngày nay không khác gì giống chó xám ngày xưa Tuy nhiên trong quá trình nuôi dưỡng, chọn lọc cũng như điều kiện

chăn nuôi ở mỗi nơi mỗi khác, nên hình dáng và màu sắc của chúng có sự thay

đổi khác nhau Giống chó lớn ở Alaska, những giống chó nhỏ từng ở Châu Á

Khi xã hội ngày càng phát triển và ổn định thì nhu cầu chăn nuôi chó càng nhiều và người ta đã tìm ra và nuôi được nhiều giống chó mới quý Hiện

nay có khoảng trên 300 giống chó khác nhau, hình dáng và màu sắc cũng đa

dạng, có con to bằng nắm tay, có con to bằng bê nghé, có giống lông dài, lông

ngắn, đủ màu sắc, có con hiền lành, dể thương, có con hung dữ, đáng sợ Do

đó, mục đích sử dụng cũng khác nhau: Chó nhỏ đẹp sử dụng làm kiểng, chó

lớn, hung dữ, thông minh và đánh hơi giỏi được sử dụng vào những việc:

nghiệp vụ, canh giữ, săn bắt

3.2 Một số giống chó thường thấy

Chó là động vật ăn thịt, có những biến động lớn về hình dạng và kích thước Chó nuôi ở nước ta rất đa dạng có thể chia làm hai nhóm:

3.2.1 Chó địa phương

Chó vàng có bộ lông vàng tuyền, tầm vóc trung bình, biết đi săn và khá tinh khôn

Chó Lào có bộ lông xồm màu hung với hai vệt trắng trên mắt

Chó miền núi cao có tầm vóc to con, tai vểnh quen với khí hậu vùng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

Ngoài ra, còn có những giống chó địa phương khác có mặt ở khắp các vùng quê như chó Mực với bộ lông đen tuyền, chó Trắng, chó Vá, chó Đốm,

chó Khoang dùng giữ nhà và lấy thịt

3.2.2 Chó nhập nội được nuôi ở nước ta như

Chó Berger: thân hình cao to, tai vểnh chuyên làm nhiệm vụ giữ nhà, canh kho tàng và làm nhiệm vụ an ninh quốc phòng

Chó bông Nhật: đây là giống chó cảnh có bộ lông dài xoăn hoặc không

Màu lông trắng tinh đôi khi có một vài đốm nâu, đen Thân hình nhỏ nhắn,

hiền lành Hiện nay được nuôi nhiều ở thành phố đáp ứng yêu cầu làm cảnh và

Thân nhiệt bình thường của chó trưởng thành là 380C – 38,50C Chó con

là 38.50C – 390C Mùa hè có thể tăng 0.20C, mùa đông giảm 0.20C

Nhịp tim: 70 – 130 nhịp/phút Mùa hè tăng 5 nhịp/phút Mùa đông giảm

5 nhịp/phút Khi hoạt động tăng 10 – 20 nhịp/phút

Nhịp thở: 10 – 40 nhịp/phút Mùa đông giảm 5 nhịp/phút, mùa hè tăng 5 nhịp/phút Khi hoạt động tăng 10 – 15 nhịp/phút

Hồng cầu (red blood cell): từ 5,2 – 8,4 triệu/mm3 máu, trung bình 6,2 triệu/mm3 máu

Hemoglobine: từ 11–17 gam/100 ml máu, trung bình 14 gam/100ml máu

Bạch cầu (white blood cell): từ 7000 – 17000/mm3 máu, trung bình 12000/ mm3 máu

3.4 Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của chó

Tuổi trưởng thành trung bình của chó từ 8 – 12 tháng tuổi, sự thay đổi giữa các cá thể trong cùng một loài nó phụ thuộc vào giống, khu vực nuôi, đặc

điểm nuôi, điều kiện khí hậu, tình trạng chăm sóc, điều kiện thời tiết

Chu kỳ động dục 2 lần / năm Thời gian mang thai 58 – 64 ngày Chó mẹ có sữa trước khi đẻ 4 – 5 ngày

4 Sơ lược về giun móc và bệnh giun móc ở chó

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

Bệnh giun móc ở chó chủ yếu do các loài giun thuộc họ

Ancylostomatidae gây ra, là một trong những bệnh thường thấy và gây tác hại

cho nhiều loài gia súc đặt biệt là chó Giun móc thường có ba loài

Ancylostoma caninum

Ancylostoma braziliense

Uncinaria stenocephala Hai lòai Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense thuộc lớp

Nematoda, họ Ancylostoma, họ phụ Ancylostomatinae Looss, 1905, bộ phụ

Strongulata, giống Ancylostoma Dubini (1843)

4.1 Ancylostoma caninum

4.1.1 Sơ lược về Ancylostoma caninum

Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859) Hall, 1913 đã tìm thấy ở ruột

non chó, cáo, chó sói đồng cỏ, chồn, gấu, và các loài thú rừng ăn thịt trên thế

giới Có những báo cáo cho rằng ít thấy ở người và heo nhưng giá trị phát hiện

chưa được chắc chắn Đây là loài giun móc ký sinh phổ biến ở chó tại các tiểu

bang của Mỹ Chẳng hạn, Cooperider (1952) đã thấy chó nhiễm với tỉ lệ 86%,

trong số 50 chó tại bệnh xá thú y ở Goorgia, Mann (1955) chó nhiễm với tỉ lệ

22%, trong tổng số 100 chó thả rong tại New Jersey, Ehrenfor (1953) chó

nhiễm với tỉ lệ 51% trong tổng số 377 chó tại Ấn Độ và các vùng phụ cận,

Worley (1964) trong số 123 chó thả rong tại vùng Detroit tỉ lệ nhiễm

Ancylostoma caninum 51%, Ash (1962) tỉ lệ nhiễm ở chó là 71%, trong số 96

chó thả rong tại Oahu, Hawaii, Burrows (1962) tỉ lệ nhiễm 24%, trong số 1331

chó ở New Jersey, Lillis (1967) đã thấy có 27% chó bị nhiễm trứng giun trong

số 2737 chó tại New Jersey, Styles (1967) chó bị nhiễm với tỉ lệ 50%, trong số

120 chó thả rong dưới 6 tháng tuổi tại thành phố Mexico, và Vargas – Mena và

de Brondon (1967) chó bị nhiễm với tỉ lệ 98,5% trong số 200 chó tại

Monterrey, Mexico

Người ta đã tìm thấy Ancylostoma caninum khắp nơi trên thế giới,

Fei-chang Young; Mo- Kang Ming (1996) đã kiểm tra 96 chó thả rong ở vùng

Teipei của Đài Loan, thấy 96 chó bị nhiễm Ancylostoma caninum Ở

Morogoro, Tanzania chó nhiễm giun móc tỉ lệ 72% (Maken; Muhair và

Mtambo, 1996), Wang – Daodi và Lui – Xioa Mieng (1995) đã kiểm tra phân

120 con chó ở Quãng Châu, Trung Quốc thấy có 67 chó bị nhiễm Ancylostoma

caninum

Đặc điểm chung của các loài này là đầu cong về phía lưng (giống móc câu) Ở vị trí vòng thần kinh có hai gai cổ Túi miệng có cấu tạo đặc biệt là có

đôi răng lớn hình chìa khóa cong về phía trong Từ đáy bao miệng có lớp phủ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

thực quản bằng chitine lồi lên, con đực có túi đuôi, con cái có âm hộ nằm ở

giữa thân sau

Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non, hút máu Túi miệng bám chặt vào niêm mạc làm tổn thương niêm mạc ngoài ra còn tiết độc tố có tác dụng ức chế,

phá hoại khả năng của cơ quan sinh huyết, phá vở hồng cầu, làm máu không

đông (Đỗ Dương Thái và Nguyễn Thị Minh Tâm, 1978; Trịnh Văn Thịnh,

1982)

4.1.2 Hình thái Ancylostoma caninum

Ancylostoma caninum: Bao miệng mỗi bên có ba đôi răng chia ba

nhánh, con đực dài 9 – 12 mm, đuôi phát triển có túi chitine, spicule dài bằng

nhau và bằng 0,74 – 0,87 mm, đọan cuối nhọn, bánh lái dài 0,13 – 0,21 mm,

âm hộ nằm 1/3 thân sau Trứng hình bầu dục, hai đầu thon đều, có hai lớp vỏ

mỏng, trứng mới thải ra ngoài bên trong có 4 – 8 tế bào phôi Kích thước

trứng 0,06 – 0,066 mm × 0,037 – 0,042 mm

Mỗi giun cái có thể đẻ từ 7700 đến 28000 trứng trong một ngày

(Norman D Levin, 1977) Một cách tổng quát sự hiện diện của giun cái nhiều

hơn giun đực Roche và Patek (1966), đã tìm thấy tỉ lệ 1.3:1.0 ở 57 chó, tỉ lệ

nhiễm có khuynh hướng gia tăng cao theo tuổi nhiễm và giảm ở vị trí gần cuối

đường tiêu hóa

Sự phát triển của Ancylostoma trong cơ thể chó giai đoạn trưởng thành

kéo dài 14 – 16 ngày, còn thời gian sống của giun này trong khoảng từ 43 –

100 tuần

Một số tác giả cho rằng, chó nhiễm Ancylostoma có sức đề kháng cao

với sự nhiễm mới của giun này Nếu như ấu trùng này bị thải ra, thì chó lại bị

nhiễm bệnh Thực nghiệm đã chứng minh chó ở điiều kiện ăn đói cũng trở nên

khá mẫn cảm hơn với Ancylostoma Khi cho chó thí nghiệm ăn với khẩu phần

đầy đủ thì sức đề kháng lại được khôi phục và giải phóng nhanh khỏi một số

lượng lớn Ancylostoma một cách tự nhiên

4.2 Ancylostoma braziliense

4.2.1 Sơ lược về Ancylostoma braziliense

Ancylostoma braziliense de Faria, 1910 được xác định bởi Boicca

(1951) ký sinh ở ruột non chó mèo, mèo rừng, con báo Đã có những báo cáo

thấy ở người và nhiều loài động vật ăn thịt khác Beaver (1956) đã có những

kết luận rằng không có sự ghi nhận Ancylostoma braziliense trưởng thành ở

người Bắc Mỹ Tuy nhiên, Zuidema (1965) đã báo cáo tìm thấy Ancylostoma

braziliense ở 9 hải quân người Hà Lan ở phía Tây của New Guinea, có 3 người

trong số họ có số lượng giun lần lượt sau 297, 125 và 104

4.2.2 Về hình thái Ancylostoma braziliense

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

Giun ký sinh ở ruột non chó, mèo, có khi ở người và hổ, báo Loài này

nhỏ hơn Ancylostoma caninum Bao miệng chỉ có một đôi răng không phân

nhánh Con đực dài 6 – 6,75 mm, con cái dài 7 – 10 mm Trứng giống như

Ancylostoma caninum nhưng kích thước lớn hơn Trứng Ancylostoma

Mỗi giun cái có thể đẻ được khoảng 4000 trứng trong một ngày (Norman D Levin, 1977)

4.3 Uncinaria stenocephala

4.2.1 Sơ lược về Uncinaria stenocephala

Uncinaria stenocephala thuộc lớp Nematoda, họ phụ Bunostomatinae

Looss, 1911; bộ phụ Ancylostoma, giống Uncinaria ( Fohlich, 1789), trong đó

loài điển hình là Uncinaria stenocephala (Railliet, 1884) Đặc điểm của giống

Uncinaria phần trước cong về phía lưng Bao miệng hình phểu có hai mãnh

nghiền cắt phía bụng, hình bán nguyệt ở rìa miệng Trong đáy bao miệng có hai

lưỡi mác phía gần bụng Không có nón lưng

vùng Cực Bắc Giun ký sinh ở ruột non chó, mèo, cáo, chồn và các thú ăn thịt

khác Đây là loài đã tìm thấy ở Bắc Mỹ, Châu Âu và ở Úc Theo Cameron

(1951) nó chỉ là loài giun móc ở chó tại Anh và ở Canada, Ehrenfor (1953)

thấy trong số 377 chó, tỉ lệ nhiễm 17% ở Ấn Độ và những tiểu bang lân cận,

Levine và Ivens (1965) đã thấy có 3% chó bị nhiễm trứng giun trong số 2737

chó tại New Jersey, Pullar (1946) thấy tỉ lệ chó nhiễm 20% trong số 174 chó

chạy rông ở vùng thành thị và ở vùng xung quanh Melbourne tại Úc,

Matchanov (1961) thấy có 6% chó nhiễm trong số 71 chó ở Kelessk Massof tại

Kazakhstan

4.3.2 Về hình thái Uncinaria stenocephala

Uncinaria stenocephala ký sinh ở ruột non chó, mèo, màu vàng nhạt,

hai đầu thon nhọn Bao miệng có năm phần mảnh lồi, Túi miệng rất lớn, phía

mặt bụng của túi miệng có hai đôi răng hình bán nguyệt xếp đối xứng nhau

Con đực dài 6 – 16 mm × 0,1 – 0,33 mm, thực quản dài 0,75 – 0,083 mm, túi

đuôi phát triển, hai gai giao hợp bằng nhau 0,65 – 0,75 mm, đầu mút của gai rất

nhọn, bánh lái gai giao hợp tròn dài 0,10 – 0,12mm, rộng nhất 0,28 – 0,37 mm

Con cái dài 9 – 16 mm đỉnh của đuôi có gai mịn, âm hộ nằm 1/3 phía sau thân

Trứng hình bầu dục dài, kích thước trứng 0,078 – 0,083 mm × 0,052 – 0,059 mm

Trang 15

• Phát triển ở môi trường bên ngoài

• Phát triển bên trong cơ thể ký chủ

5.1 Phát triển ở môi trường bên ngoài

Ấu trùng giun móc phát triển ở bên ngoài theo sơ đồ sau:

Sau 20 giờ đến một vài ngày hình thành ấu trùng trong trứng Ấu trùng chui ra

khỏi trứng qua 6 – 7 ngày lột sát hai lần để trở thành ấu trùng gây nhiễm (ấu

trùng giai đoạn 3) Ấu trùng gây nhiễm dài 0,59 – 0,69 mm (Lương Văn Huấn

và Lê Hữu Khương, 1996) Ấu trùng gây nhiễm xâm nhập vào cơ thể ký chủ

cuối cùng bằng ba con đường

Hình 1: Vòng đời phát triển của giun móc trên chó

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

5.2 Phát triển bên trong cơ thể

Di trú trong niêm mạc ruột

2 – 3 tuần

(Georgi Jay R, parasitology for veterinarians, 1969)

Ấu trùng giun móc khi gia nhập đường tiêu hóa:

24 giờ đã thấy có trong niêm mạc dạ dày của chó, sau đó chui vào các đáy khe (chỉ trong một thời gian ngắn)

48 – 72 giờ sau khi chui vào ruột nhất là ở đoạn không tràng Tại đây ấu trùng lột xác lần 3 thành ấu trùng giai đoạn 4, vào ngày thứ 6 đến ngày thứ 9

lột xác lần 4 thành ấu trùng giai đọan 5 Sau 13 – 20 ngày thành giun trưởng

thành và đẻ trứng trong phân (Kolevatva.AL, 1959)

Nếu gia súc ăn phải ấu trùng gây nhiễm vào phổi lột xác lần 3 thành ấu trùng giai đọan 4 Về ruột lột xác lần 4 thành ấu trùng giai đoạn 5 Sau 14 – 20

ngày thành giun trưởng thành và đẻ trứng trong phân (Lương Văn Huấn và Lê

Hữu Khương, 1996)

Ấu trùng giun móc khi xâm nhập qua da: chúng theo chân lông vào da, sau 40 phút tất cả ấu trùng di chuyển vào hệ thống tuần hoàn và theo hệ thống

tuần hoàn vào phổi Từ phổi ấu trùng di chuyển tiếp vào bộ máy tiêu hóa của

chó và chúng di trú nhiều ở niêm mạc môn vị (khoảng 3 – 5 ngày) Sau đó về

ruột, phát triển thành giun trưởng thành và đẻ trứng trong phân

Trang 18

sau đó về ruột lột xác hai lần Sau 14 – 20 ngày trở thành giun trưởng thành và

đẻ trứng trong phân (Dương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1996)

Trong khi cho con bú ấu trùng trong máu chó mẹ sẽ truyền qua sữa và gây nhiễm cho chó con (Trịnh Văn Thịnh, 1982; Fraser.C.M, 1986; Kolevatova.AL., 1959)

6 Tác hại của giun móc

6.1 Về tác hại của giun móc đối với cơ thể vật chủ

Theo các tác giả Clarence (1996); Georgi Jay R (1977); Đỗ Dương Thái, Vi Kim Ngọc (1978), Trịnh Văn Thịnh, Phan Trọng Cung, Phạm Văn

Khuê và Phan Lục (1982) trong quá trình ký sinh giun móc gây ra những biến

đổi bệnh lý ở chó do hai yếu tố: tác động cơ học và ảnh hưởng độc tố

Giun móc có bao miệng phát triển lại được trang bị các mảnh chitine do

đó mà giun bám chắc vào niêm mạc ruột gây chảy máu mao mạch Ấu trùng và

giun trưởng thành còn phá huỷ các mô cuả cơ thể trong quá trình di chuyển của

chúng ở tổ chức ruột và tổ chức dưới da

Kolevatora A.I (1959) thấy trên lớp sừng của biểu bì có những lổ thủng khi ấu trùng giun móc chui qua để xâm nhập vào cơ thể chó Ngoài ra ấu trùng

còn thấy ở trong bao lông, theo chân lông vào da và lớp dưới da giữa các hạt

mỡ Khi chui qua da, ấu trùng từ 6-9 giờ đã có thể xâm nhập vào dạ dày di

chuyển theo tuần hoàn máu và phần lớn chúng cư trú lại ở niêm mạc môn vị

Giun trưởng thành cư trú ở không tràng, tá tràng và kết tràng

Giun móc khi bám vào ruột hút máu tiết ra một chất kháng đông , dể đưa đến hiện tượng xuất huyết ruột Chúng còn tiết ra độc tố, độc tố có thể ngấm

vào máu đi khắp cơ thể gây ra hội chứng thần kinh, gây rối loạn tiêu hoá, viêm

ruột cấp tính Ngoài ra, giun móc còn tạo điều kiện nhiễm khuẩn tại các tổn

thương mà chúng gây ra

6.2 Về tác hại của giun móc đối với sức khỏe của con người

Theo bác sỹ Trần Xuân Mai Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh (1994) cho biết ấu trùng giun móc có thể chui qua da người, do

không có men phân giải vách tĩnh mạch của người nên chúng không vào máu

được, tại đây chúng tạo nên những nốt đỏ sần, có bọng nước nhô lên như sợi

chỉ, mỗi ngày dài ra vài mm đến vài cm Cùng với nhận định này, theo Jay

R.Georgi (1992) khi ấu trùng chui qua da người sẽ gây nên phản ứng da tạo

thành những nốt đỏ gọi là hiện tượng “ấu trùng di cư dưới da”

Theo Nguyễn Văn Biện (2001), ấu trùng giun móc có thể xâm nhập vào người bằng cách xuyên qua da, gây bệnh viêm da có mủ

7 Triệu chứng và bệnh tích

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

Theo Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 2001 Theo dõi và điều trị 147 trường hợp chó nghiệp vụ và chó cảnh, có 67 trường hợp ở thể cấp tính chiếm

tỉ lệ 46,60% và 80 trường hợp ở thể mãn tính, chiếm tỉ lệ 54,40%

Chó bị bệnh giun móc thường xảy ra ở hai thể:

• Thể cấp tính: Thường thấy ở chó con từ 1 – 4 tháng tuổi Chó nôn mữa liên tục ăn kém hoặc bỏ ăn, tiêu chảy Trường hợp nặng chó nôn ra máu

tươi, tiêu chảy nặng phân có lẫn máu tươi hoặc màu đen như bã cà phê, chó bị

rối loạn chức năng tiết dịch và co bóp của dạ dày dẫn đến viêm dạ dày ruột cấp

Chó chết do tiêu chảy mất máu, mất chất điện giải, trụy tim

• Thể mãn tính: triệu chứng thể mãn tính giống như thể cấp tính nhưng thể hiện ở mứt độ thấp hơn và thời gian ngắn hơn Chó có hội chứng

thiếu máu, chảy máu ruột, sau vài tháng triệu chứng này giảm đi chỉ còn hiện

tượng gầy còm, thiếu máu, thỉnh thoảng nôn khan

Bệnh tích: mổ khám thấy giun cấm sâu vào niêm mạc ruột nhất là đoạn

không tràng Ruột xuất huyết, niêm mạc ruột sưng và có chất dịch nhầy có khi

niêm mạc ruột viêm cata và loét, xuất huyết chảy máu Gan có màu nâu sáng,

hóa mỡ

8 Chẩn đoán

• Dựa vào triệu chứng lâm sàng

• Xét nghiêm phân để tìm trứng giun móc theo phương pháp phù nổi của Willis

• Nuôi cấy trứng giun móc trong ống nghiệm hoặc trong than để tìm ấu trùng

Không nên nuôi chó thả rong

Nên dùng thuốc tẩy cho chó mẹ một lần trong khi mang thai và hai lần sau khi đẻ

Phân chó cần được thu gom và xử lý

Có thể sử dụng vaccin ấu trùng giun móc để phòng bệnh

Tẩy sạch giun trước khi cho chó mẹ phối giống

10 Điều trị

10.1 Mebendazole

N (benzoyl – 5 – benzimidazolyl – 2) carbamat de methyl

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

Công thức

C

N NHCO – OCH3

khoảng 0,3% so với liều uống Khi được hấp thu, thuốc gắn mạnh vào huyết

tương Thời gian bán giã từ 6 đến 9 giờ Nếu bị suy gan, thời gian bán giã thuốc

kéo dài Thuốc được thải chủ yếu qua phân sau 24 giờ Chỉ 5 – 10% liều uống

được thải qua nước tiểu

Mebendazole là thuốc tổng hợp từ benzimidazole có tác động chống giun sán rất rộng và ít tai biến

10.1.2 Cơ chế

Ức chế sự tổng hợp vi quản (microtubule) của ký sinh trùng hình ống

Ức chế sự tổng hợp glucose, dự trữ glycogen làm liệt cơ của giun ở ruột

Trang 21

Là dẫn xuất từ tetrahydropirimidin, rất có hiệu quả trên giun kim, giun đũa, giun móc và không có tác dụng trên giun lươn

10.2.1 Sự chuyển hóa

Pyrantel ở dạng tartrat được hấp thu tốt và chuyển hóa nhanh trên chó

Thuốc đạt nồng độ hữu hiệu trong huyết tương sau 2 – 3 giờ Có khoảng 40%

liều sử dụng được thải ra ngoài qua nước tiểu Khoảng 50% lượng thuốc được

thải qua phân dưới dạng không biến đổi Pyrantel dứơi dạng muối pamoat rất ít

được hấp thu phần lớn thải ra ngoài theo phân Dạng này chỉ điều trị các loại

giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa

Gây liệt cơ giun, làm ức chế phân hủy acetylcholin của cơ giun

Giảm axit succinic là sản phẩm chuyển hóa cần thiết cho năng lượng co

cơ của giun

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

Thuốc được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa hay tiêm Tiêm được hấp thu nhanh và có nồng độ trong máu cao hơn Thời gian bán thải lớn hơn 4 giờ

Thuốc nhanh chống thải ra ngoài qua nước tiểu 46%, qua phân 32% trong 24

giờ đầu Thải qua hơi thở dưới dạng nguyên vẹn hay biến đổi

• Không dùng cho gia súc bị suy gan, suy thận

• Liều độc so với liều điều trị gấp 5 – 6 lần

10.4 Ivermectin

Công thức Với Dihydroavermectin B1a thay R = C2H5

Với Dihydroavermectin B1b thay R = CH3 Lactose macrocylique, 22 – 23 dihydro avermectin B1

Dihydroavermectin B1b Thuốc có tác dụng trị tất cả các giun tròn ký sinh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

Ưu điểm nổi bậc của thuốc là chỉ số an toàn cao Không hề gây độc cho bào thai, trừ một số giống chó kéo xe có thể bị triệu chứng ngộ độc của hệ thần

kinh

Thuốc được dùng cả ba dạng: uống, tiêm dưới da, tiêm bắp

Thuốc có tác dụng trị tất cả các giun tròn ký sinh Thuốc có tác dụng chống tất cả ký sinh trùng ở các thời kỳ khác nhau trưởng thành và các thời kỳ

phát triển của ấu trùng ký sinh trên động vật nuôi

Thuốc được thải trừ qua phân nên cũng gây ảnh hưởng đến môi trường

Nó làm chậm quá trình phân giải các chất hữu cơ trong chất thải của động vật

khi ủ hay trong đất, trong nước

Tỉ lệ hấp thu phụ thuộc vào cách bào chế, đường đưa thuốc Nếu tiêm cho chó mèo nồng độ thuốc cao nhất sẽ đạt sau 2 – 5 giờ

10.4.2 Cơ chế

Thuốc ức chế sự dẫn truyền xung động thần kinh của nội ký sinh trùng

Dưới tác dụng của thuốc enzym cholinestheraza bị phong tỏa, làm acetylcholin

tích lũy nhiều tại synap thần kinh Trong khi đó hệ GABA (δ- amino – butyric

acid) vẫn hoạt động bình thường, tức acetylcholin vẫn tiếp tục được tổng hợp

Kết quả hoạt động của các nhánh thần kinh thuộc hệ trung ương không được

kiểm soát làm cho ký sinh trùng bị ngộ độc thuốc Biểu hiện: run rẩy, co giật

liên tục mất năng lượng, hết khả năng bám, liệt rồi chết

Liều lượng: Chó 0,1 – 0,2 ml/kg thể trọng Tiêm dưới da

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

1 Sơ lược về Thành phố Cần Thơ

1.1 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm

Thời gian: Từ ngày 27/03/2006 đến ngày 12/7/2006

Đại điểm: Lấy mẫu ở hộ dân thuộc Thành phố Cần Thơ

Được thực hiện tại Thành phố Cần Thơ Trước khi tiến hành điều tra tình hình nhiễm giun móc ở chó tại Thành phố Cần Thơ, chúng tôi tìm hiểu

một số đặc điểm của Thành phố Cần Thơ có liên quan đến tình hình nhiễm

giun móc ở chó tại nơi đây Những đặc điểm bao gồm:

1.2 Điều kiện tự nhiên Thành phố Cần Thơ

Thành phố Cần Thơ là trung tâm đầu mối giao thông của 12 tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi tập trung đông dân cư, là trung tâm văn hóa khoa

học kỷ thuật và là nơi ngành trồng trọt và chăn nuôi phát triển

Hình 2: Bảng đồ hành chính Thành phố Cần Thơ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

Thành phố Cần Thơ có điều kiện khí hậu nhiệt đới với hai mùa rỏ rệt trong năm: mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng

11 Theo số liệu của đề tài khí tượng thủy văn Cần Thơ:

Nhiệt độ trung bình: 27°C.

Ẩm độ trung bình: 83%

Lượng mưa trung bình: 1.635 mm

1.3 Điều kiện xã hội của thành phố Cần Thơ

• Dân số: 1.121.141, nông thôn 50.14%, thành thị 49,86%

• Diện tích: 1.389,60 km2

• Mật độ dân số: 800,2 người/km2

• Dân tộc: chủ yếu là dân tộc Việt, Hoa, Chăm, Khmer

• Tôn giáo: Phật giáo, Cao đài, Thiên chúa giáo, Tin lành

1.4 Tình hình tập quán chăn nuôi chó

Tập quán chăn nuôi chó đã có từ lâu đời, chó là một trong những loài vật có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân

Trong những năm gần đây phong trào nuôi chó rất phát triển Theo số liệu điều tra mới nhất ở Thành phố Cần Thơ có trên 15.000 con chó với các

giống khác nhau: Giống địa phương; giống chó ngoại (berge, lông xù ) Trong

đó chó nội chiếm tỉ lệ nhiều nhất, nhưng càng ngày người ta có xu hướng nuôi

chó ngoại nhiều hơn Nhưng hầu như chưa quan tâm nhiều đến việc tiêm ngừa

- Ống đong thủy tinh 60ml

- Đũa khuấy, đĩa petri

- Rây lược phân

- Túi nylon, dây thun, găng tay cao su

Trang 26

- Khay mổ, dao mổ, kéo, kẹp, giấy bóng mờ, viết chì

- Ống nghiệm, đĩa petri, chai lọ chứa mẫu vật

- Ca nhựa 2 lít, giấy thấm, lông gà dùng để thu nhặt mẫu giun sán

- Dung dịch Lactosephenol:

Glycerin 2 phần Acid acetic 1 phần Phenol 1 phần Nước cất 1 phần

- Dung dịch Acid acetic và glycerin với tỉ lệ 1:1

lấy khoảng từ 10 đến 15 gam phân, cho vào túi nylon có ghi số hiệu, buộc chặt

lại bằng dây thun

- Cách ghi chép Mỗi mẫu được ghi vào phiếu điều tra với nội dung sau

- Cách bảo quản Mẫu sau khi lấy được bảo quản trong phích trữ lạnh với nước đá và được mang về phòng thí nghiệm thuộc Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp và

Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại Học Cần Thơ để xét nghiệm, trong trường

hợp số mẫu xét nghiệm không hết trong ngày, những mẫu còn lại được đưa vào

tủ lạnh để bảo quản ở nhiệt độ từ 5 đến 80C và phải được xét nghiệm hết trong

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 12/04/2018, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm