1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHẨN đoán và điều TRỊ BỆNH nấm DA ở CHÓ tại BỆNH xá THÚ y, TRƯỜNG đại học cần THƠ

51 737 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 7,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định tỷ lệ chó nhiễm nấm da và thành phần các giống nấm gây bệnh trên da chó bằng phương pháp xem tưới .... CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀBệnh nấm da thường được biết đến bằng từ “ Ringworm” là

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths Nguyễn Dương Bảo Đoàn Thị Hồng Phấn

MSSV: 3042824

Lớp: TY K30

Cần Thơ, 2009

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Cần Thơ, ngày tháng năm 2009 Cần Thơ, ngày tháng năm 2009

Duyệt Bộ Môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn

Nguyễn Dương Bảo

Cần Thơ, ngày tháng năm 2009 Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 4

Gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy nguyễn Dương Bảo, người đã luôn quan tâm, tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báo cho tôi terong suốt thời gian thực hiện luận văn

Chân thành các ơm quý thầy cô cùng tất cả các anh chị tại Bệnh Xá Thú Y đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành đề tài

Cùng tất cả các bạn lớp thú y K30 đã chia sẽ và động viên tôi trong suốt khóa học

Trang 5

Mục lục Trang tựa

Trang duyệt i

Lời cảm tạ ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Danh mục hình vi

Tóm lược vii

Chương 1: Đặt vấn đề 1

Chương 2: Cơ sở lý luận 2

2.1 Da và các sản phẩm phụ của da 2

2.1.1 Da 2

2.1.1.1 Chức năng của da 2

2.1.1.2 Cấu tạo của da 3

2.1.1.3 Sự tuần hoàn và hệ thống thần kinh 4

2.1.1.4 Các tuyến dưới da 5

2.1.2 Các sản phẩm phụ của da 5

2.1.2.1 Lông 5

2.1.2.2 Móng 6

2.2 Bệnh nấm da 6

2.2.1 Phân loại nấm học 6

2.2.2 Đặc tính sinh học 7

2.2.3 Đặc tính miễn dịch 7

2.3 Bệnh nấm da ở chó 8

2.3.1 Nguyên nhân 8

2.3.2 Cách sinh bệnh 15

2.3.3 Triệu chứng lâm sang và bệnh tích 15

2.3.4 Chẩn đoán 15

2.3.5 Điều trị 17

2.4 Một số bệnh ngoài da khác khác 18

2.4.1 bệnh ghẻ do Sarcoptes scabiei var canis 18

2.4.2 Bệnh do rối loạn hormone 18

2.4.3 Một số bệnh khác có liên quan 19

2.5 Tính chất vật lý và tác dụng của một ssos thuốc sử dụng trong thí nghiệm điều trị 19

2.5.1 Itraconazole 19

2.5.2 Terbinafine 21

Chương 3: Phương pháp và phương tiện thí nghiệm 23

3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 23

3.2 Đối tượng thí nghiệm 23

3.3 Phương tiện thí nghiệm 23

3.4 Nội dung và phương pháp thí nghiệm 24

3.4.1 Xác định chó bệnh da qua khảo sát các triệu chứng lâm sàng 24

Trang 6

3.4.2 Xác định tỷ lệ chó nhiễm nấm da và thành phần các giống nấm gây

bệnh trên da chó bằng phương pháp xem tưới 25

3.4.3 Thí nghiệm theo dõi hiệu quả điều trị bệnh nấm da qua các phác đồ điều trị tai bệnh xá thú y 26

Chương 4: Kết quả và thảo luận 28

4.1 Kết quả xác định tỷ lệ chó bị bệnh da qua khám lâm sàng 28

4.2 Xác định tỷ lệ chó nhiễm nấm da qua phương pháp xem tươi 28

4.3 Xác định thành phần các giống nấm gây bệnh nấm da 29

4.3.1 Xác định tỷ lệ nhiễm ghép các giống nấm trên các ca bệnh nấm da30 4.4 Kết quả điều trị qua các phác đồ điều trị 33

4.5 Hiệu quả các phác đồ điều trị 35

Chương 5: Kết luận 36

Tài liệu tham khảo 37

Phụ chương 39

Trang 7

Danh mục bảng

Bảng 1: Phương pháp bố trí các phác đồ điều trị bệnh nấm da ở chó 26

Bảng 4.1 Tỷ lệ bệnh da qua khám lâm sàng 28

Bảng 4.2 Tỷ lệ bệnh nấm da qua xét nghiệm trực tiếp 28

Bảng 4.3 Tỷ lệ các giống nấm gây bệnh nấm da ở chó 29

Bảng 4.3.1 Tỷ lệ nhiễm ghép các giống nấm 30

Bảng 4.4 Hiệu quả các phác đồ điều trị nấm da trên chó 33

Bảng 4.5 Chi phí điều trị 35

Trang 8

Danh mục hình

Hình 1: Cấu tạo da 3

Hình 2: Microsporum canis dạng sợi và đại bào tử 9

Hình 3: Microsporum gypseum 10

Hình 4: Trichophyton mentagrophytes dạng sợi và đại bào tử 11

Hình 5: Trichophyton verrucosum 12

Hình 6: Trichophyton schoenleini dạng sợi và bào tử 13

Hình 7: Epidermophyton floccosum 14

Hình 8: Các thuốc sử dụng trong các phác đồ điều trị 27

Hinh 9: Sợi nấm và bào tử nấm da ở chó 32

Hình 10: Chó bị nhiễm nấm da trước và sau khi điều trị 5 tuần 34

Hình 11: Chó bị nhiễm nấm da trước và sau khi điều trị 2 tuần 34

Hình 12: Mô tả giống Microsporum canis và Microsporum gypseum 39

Hình 13: Mô tả Trichophyton mentagrophyte, a: tiểu bào tử nhỏ, b: sợi nấm chứa tiểu bào tử, c: sợi nấm, d: tiểu bào tử và e: đại bào tử 39

Hình 14: Mô tả bào tử của 3 loại nấm da thường gặp (a) đại bào tử và tiểu bào tử của giống Trichophyton spp (b) đại bào tử Epidermophyton spp (c) đại bào tử và tiểu bào tử của giống Microsporum spp 40

Hình 15: Sợi nấm và bào tử nấm da ở chó 40

Trang 9

Tóm lược

Thực hiện đề tài “Chẩn đoán và điều trị bệnh nấm da ở chó tại bệnh xá thú y trường đại học Cần Thơ” nhằm xác định bệnh nấm da qua khám lâm sàng kết hợp với phương pháp xét nghiệm trực tiếp (xem tươi) Từ 760 ca đem đến khám và điều trị, chúng tôi đã xác định được 65 ca chó bệnh da, trong đó có 24 ca chó bệnh nấm da (936,92%)

Có 3 giống nấm được tìm thấy Ngoài hai giống phổ biến là Microsporum spp (87,50%) và Trichophyton spp (41.67%) còn có sự hiện diện của chỉ một loài nấm da mới là Epidermophyton floccosum (12,50%) thuộc giống Epidermophyton spp

Có 66,67% các ca chỉ nhiễm một giống nấm Còn có hiện tượng nhiễm ghép 2, 3 giống nấm trên cùng một ca bệnh

Cả hai phác đồ điều trị theo thể bệnh có tỷ lệ khỏi hoàn toàn là 100% Trong đó:

Bệnh thể cục bộ: phác đồ dùng terbinafine hiệu quả vì rút ngắn thời gian điều trị (sau 2 tuần điều trị tỷ lệ khỏi bệnh đạt tới 77,77%) và chi phí thấp

Bệnh thể toàn thân: phác đồ dùng itraconazole có thời gian điều trị rút ngắn và được ghi nhận là không có phản ứng phụ trong suốt quá trình điều trị

Trang 11

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh nấm da thường được biết đến bằng từ “ Ringworm” là bệnh do các loài nấm sống kí sinh ở lớp thượng bì hoặc mô keratin hóa như: da, lông, móng gây ra Các triệu chứng chủ yếu của bệnh nấm da bao gồm: da đóng vảy, mẩn đỏ, sần sùi; ngứa gãi; gãy, rụng lông; đôi khi bị mưng mủ do phụ nhiễm vi khuẩn Vì vậy các vật nuôi bị bệnh nấm da không chỉ tổn hại tới sức khỏe mà còn làm mất đi vẻ đẹp thẩm mỹ và gây phiền toái cho người nuôi

Nấm da có nhiều loại, có loại ưa đất, loại ưa người, loại ưa động vật,… có một số loại có khả năng lây nhiễm từ động vật sang người như giống Microsporum spp, giống Trichophyton spp…, nên các vật nuôi bị bệnh nấm da chính là nguyên nhân tiềm ẩn nguy hiểm gây bệnh nấm da ở người

Ngoài ra, theo nhiều tác giả thì việc điều trị nấm da ở người và vật nuôi như chó, mèo thường khó khăn, phức tạp, thời gian điều trị kéo dài nhiều tuần, nhiều tháng và nguy cơ tái nhiễm sau điều trị rất cao

Nhằm vận dụng những hiểu biết của bản thân vào thực tiễn, nghiên cứu bệnh nấm da trên chó Được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của quí thầy cô bộ môn Thú Y, khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Chẩn đoán và điều trị

bệnh nấm da ở chó tại Bệnh Xá Thú Y trường đại học Cần Thơ”

Mục đích của đề tài:

Xác định bệnh nấm da qua chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm trực tiếp

Xác định tỷ lệ nhiễm nấm da ở chó tại Bệnh Xá Thú Y

Xác định thành phần loài nấm ký sinh trên da chó nhiễm nấm

Xác định hiệu quả điều trị các phác đồ thí nghiệm

Trang 12

Đối với loài chó, bên ngoài lớp da được bao phủ bằng bộ lông Số lượng nhiều hay

ít, dày hay mỏng, lông ngắn hay dài là tùy thuộc vào từng giống chó khác nhau

2.1.1.1 Chức năng của da

Theo Phạm Phan Địch (2002), da là lớp ngoài bao bọc toàn bộ cơ thể đảm nhận nhiều chức năng quan trọng và riêng biệt:

 Bảo vệ cơ thể tránh những ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài: cơ học (cọ xát,

đè nén,…), vi khuẩn, vi sinh vật gây bệnh, tia tử ngoại, hóa chất…

 Duy trì tính chất không đổi của môi trường bên trong cơ thể nhờ da có tính không thấm nước và ngăn cản sự thoát hơi nước từ bên trong cơ thể nên da

có thể hoạt động như là một tác nhân điều hòa thân nhiệt

 Da tham gia quá trình trao đổi chất: hô hấp và bài xuất nhờ mạng lưới mao mạch, các tuyến nằm ở da

 Da chứa những đầu dây thần kinh cảm giác giúp cơ thể nhận cảm được áp lực, nhiệt độ và cảm giác đau

Trang 13

sẽ sản sinh ra nhiều lớp tế bào mới sẽ từ từ duy chuyển lên phía trên, lớp tế bào phía trên bị đẩy lên bề mặt, sẽ sừng hóa và bong tróc di Lớp sừng hóa (keratin) có

độ dày hay mỏng thay đổi tùy nơi trên cơ thể Thường dày hơn ở những vùng không có lông và có sự cọ sát mạnh Biểu bì con già dày hơn con non, con đực dày hơn con cái, ở vùng lưng dày hơn ở vùng bụng Lớp biểu bì có tác dụng:

Lót mặt ngoài da và bảo vệ cơ thể nhờ sự sừng hóa

Chứa hắc tố bào, là những tế bào tạo ra sắc tố có tác dụng bảo vệ cơ thể tránh tia bức xạ

Hình 1 Cấu tạo da

Hình 1 Cấu tạo da

Trang 14

Biểu bì không chứa mạch máu nên hạn chế sự xâm nhập và phát tán nhanh của vi khuẩn trong cơ thể nếu vết thương chưa sâu đến lớp chân bì

Chân bì

Là lớp mô liên kết sợi vững chắc, có nhiều mạch máu và thần kinh Lớp này chứa nhiều sợi keo (98 %), 1,5 % sợi đàn hồi nên quyết định tính bền và tính đàn hồi của da Chân bì thường lồi lên biểu bì và tạo thành những nhú chân bì Chân bì được phân thành 3 lớp là lớp nhú, lớp bình diện và lớp dạng gân

Hạ bì

Là mô liên kết mỡ được ngăn thành nhiều thùy và tiểu thùy bởi những bó sợi keo Trong hạ bì chứa những tiểu động mạch, tiểu tĩnh mạch và mạch bạch huyết, dây thần kinh, đầu thần kinh trần và đầu thần kinh bọc như tiểu thể Ruffini

2.1.1.3 Sự tuần hoàn và hệ thống thần kinh của da

Mạch máu

Các động mạch và tĩnh mạch của da nối với nhau thành lưới mạch máu chạy song song với bề mặt da Chính nhờ cấu trúc này mà da đảm nhận được nhiều chức năng Hệ động mạch và tĩnh mạch sẽ tạo thành 2 lưới mạch: mạch lưới nông

và mạch lưới sâu

Mạch bạch huyết

Bắt nguồn từ những mao mạch kín, đầu nằm trong nhú chân bì sau đó vào lưới mao mạch bạch huyết dưới nhú đến tầng sâu của chân bì tạo thành lưới bạch huyết trong chân bì nằm giữa 2 lưới mạch máu nông và sâu Từ lưới này lại đổ vào tĩnh mạch bạch huyết rồi xuyên qua hạ bì để đến tĩnh mạch bạch huyết dưới da

Đám rối thần kinh không có myelin: gồm những sợi thần kinh giao cảm tiếp xúc quanh mạch máu và các tuyến dưới da

Trang 15

2.1.1.4 Các tuyến dưới da

Tuyến bã

Là tuyến chế tiết ra chất làm mềm da và lông gọi là chất bã Ở gia súc, trên

bề mặt da chổ nào cũng có tuyến bã trừ một số nơi: da mũi, đầu vú, gan bàn tay và bàn chân Tuyến này nằm giữa chân lông và cơ dựng lông

Tuyến mồ hôi: Là những tuyến nằm sâu trong lớp chân bì Ở chó tuyến này

cuộn lại thành bó Tuyến mồ hôi được chia làm 3 đoạn:

Tiểu cầu mồ hôi: đoạn ống này cong queo nằm trong hạ bì Đó là phần chế tiết ra mồ hôi, đường kính lớn hơn ống bài xuất, cao 20 – 25 µm, vách ống cấu tạo bởi 2 hàng tế bào là: tế bào biểu mô tuyến và tế bào cơ – biểu mô

Ống bài xuất: đoạn này chạy xuyên qua chân bì đến lớp mầm của biểu bì Vách của ống được cấu tạo bởi hai hàng tế bào nằm trên màng đáy, cả 2 loại đều

là khối đơn Lớp tế bào ngoài thì sẫm màu, bên trong có tính chất bắt màu acid mạnh, đỉnh tế bào có ngấm một chất mỡ có tác dụng bảo vệ

Đường mồ hôi: đoạn này xoắn ốc trong biểu bì lên đến mặt da

2.1.2 C ác sản phẩm phụ của da

2.1.2.1 Lông

Là những sợi mảnh sừng hoá được phát triển từ những tế bào biểu bì Chiều dài và độ dày của lông thay đổi tùy vào từng vùng của cơ thể, mỗi lông có cấu tạo gồm 2 phần: thân lông và chân lông

Cắt ngang thân lông gồm 3 phần:

- Tủy lông: là trục của lông Những tế bào gốc của tủy lông nằm trên đỉnh lớp nhú lông là những tế bào hình đa diện Phía ngoài trên hành lông các tế bào của tủy lông biến đổi dần rồi bị sừng hóa, nằm rải rác trong những khoảng trống chứa không khí

- Vỏ lông: những tế bào gốc của vỏ lông cũng nằm trên đỉnh nhú lông chung quanh những tế bào sinh tủy lông Phần vỏ chứa sắc tố melanin tạo nên màu sắc cho lông

- Áo ngoài: là một lớp tế bào sinh ra từ những tế bào nằm trên sườn của nhú lông ngay ở ngoài những tế bào sinh vỏ lông

Trang 16

Chân lông gồm: bao biểu mô trong, bao biểu mô ngoài và bao xơ

* Chức năng sinh lý của lông: chức năng quan trọng nhất là bảo vệ da và giữ nhiệt cho cơ thể Ngoài ra, còn có một số lông mang tính chất xúc giác như: lông môi,

mí mắt và mũi Những lông này to, dài, có tính đàn hồi và bao sợi của lông có các xoang chứa đầy máu và các đám rối thần kinh có nhiệm vụ xúc giác

2.1.2.2 Móng

Là những miếng sừng dẹp lợp mặt lưng của những đầu ngón chân Móng có bốn bờ: bờ sau, hai bờ bên và bờ thứ tư ở phía đầu ngón Móng là sản phẩm của biểu bì dưới dạng một tấm chất sừng phủ lên bề mặt ở các ngón cuối cùng Móng được giữ vào thịt ở ba phía bởi một lớp da bì được cấu tạo bằng mô liên kết và lớp thượng bì có khả năng sinh trưởng làm cho móng phát triển về chiều dài

Theo Nguyễn Vĩnh Phước, 1978:

Nấm da có thể sống kí sinh trên da, lông, móng hoặc hoại sinh ở môi trường ngoài Đặc tính chủ yếu của nấm da là ưa keratin nên trong đời sống kí sinh, nấm

da thích nghi đặc biệt với lớp biểu bì, sừng và lông Vì thế chúng ta có thể tìm nấm ở vùng keratin hóa và sự tiến sâu của chúng dừng lại ở vùng không có keratin

Trang 17

Kháng nguyên hoàn toàn của nấm kích thích cơ thể nhiễm bệnh sản sinh kháng thể Tuy nhiên các kháng thể trong huyết thanh của thú bệnh không tồn tại lâu và không bảo vệ được thú

Kháng nguyên không hoàn toàn có khả năng gây những phản ứng tối mẫn cảm trên con vật bệnh

Phần lớn thú khi tiếp xúc với nấm bệnh hay đã mắc bệnh đều có phản ứng quá mẫn muộn: phát hiện bằng cách tiêm nấm hay các sản phẩm của nấm vào trong da sẽ làm sưng đỏ vị trí tiêm

2.3 Bệnh nấm da ở chó

Nấm da gây bệnh dermatophytosis là loại nấm lông gây bệnh truyền nhiễm ngoài cơ thể, do có tác động của nấm có hướng biểu bì, có thể tồn tại lâu dài, sống hoại sinh trong ngoại cảnh

Ở trên da, chúng chỉ sống giới hạn ở lớp sừng của biểu bì và tác động chủ yếu đến lông và nang lông, sinh những đám rụng lông rìa đều, không ngứa, chổ rụng lông da có thể bị viêm hình thành những vảy và nang lông có thể mưng mủ

Trang 18

2.3.1 Nguyên nhân

Theo Moraillon và ctv (1997), một số nguyên nhân chủ yếu sau tạo điều kiện chó cảm nhiễm bệnh nấm da

Điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng kém

Do lây nhiễm từ thú bệnh sang thú khỏe

Chế độ dinh dưỡng không hợp lý

Suy giảm miễn dịch trong thời kỳ nhiễm bệnh

Sử dụng kháng sinh lâu dài

Các giống chó lông dài cũng là điều kiện thuận lợi cho nấm da phát triển Khi gặp điều kiện chăm sóc kém, khí hậu nóng ẩm, ẩm độ của da tăng thì tỷ lệ nhiễm nấm da ở những giống chó lông dài rất cao Một số giống chó thường mắc bệnh: Bắc Kinh, Nhật, Sharpei, West Highland, Scottish, Dogue Allemand… Căn cứ vào hình thái học của nấm kí sinh trong lông và vẩy, nhiễm nấm trên biểu bì, người ta chia nấm da gây bệnh dermatophytosis thành 3 giống:

Trichophyton spp, Microsporum spp và Epidermophyton spp Bên cạnh đó, thú có

thể nhiễm một số nấm cơ hội như: Candida, Aspergillus, Penicillum, chúng chỉ gây bệnh khi sức đề kháng cơ thể yếu đi Theo Fraser (1986), bệnh nấm da ở chó

được gây ra bởi 70% Microsporum canis, 20% bởi Microsporum gypseum, và 10% bởi Trichophyton mentagrophytes Ở mèo, đến 98% do Microsporum canis

và 2% còn lại do Microsporum gypseum và Trichophyton mentagrophytes.

Trang 19

Giống Microsporum spp

Theo Frank Kralb và Rober M Schwantzman (1964), giống nấm này được phân lập ở động vật nuôi trong nhà và động vật hoang dã bị nhiễm bệnh Trong đó,

có nhiều loài gây bệnh cho thú và người, thường gây bệnh thể toàn thân Một số

loài Microsporum: M canis (Bodin,1902), M.equinum (Gúeguen, 1904), M.canium (Sabouraud, 1902), M.gypseum (Guiart, 1928 M fulvum (Sabouraud, 1910), M.audouinii (Guby, 1843), M distortum… Trong đó có 2 loài chính gây bệnh nấm da trên chó, mèo là: M canis và M gypseum (Georg, L K., 1959)

Microsporum canis

Hình 2 Microsporum canis dạng sợi và đại bào tử

(www.mycology.adelaide.edu.au/gallery/photos/mcanis11.html)

M canis sinh nhiều bào tử lớn hình thoi, thành dày (4µ), có kích thước

15-20 x 60-125 µ, bên trong chia thành 8-15 vách ngăn Sinh ít tiểu bào tử, đơn lẻ, có hình chùy, kích thước 2 - 3 µ và đính trực tiếp trên sợi nấm

Chủng này thường kí sinh trên các vùng đầu, chân, đuôi và một vài nơi khác của cơ thể Bề mặt vùng bệnh tích của da thường không có lông, trên da có vảy và

dễ bị nhiễm trùng Trường hợp nặng vùng da bệnh trở nên nổi mẫn đỏ, chảy mủ và

có nhiều vẩy Lông bị nhiễm nấm M Canis sẽ phát huỳnh quang dưới ánh sáng

của đèn Wood’s

Trang 20

Nuôi cấy trong môi trường Sabuoraud có hoặc không có chất kháng sinh thì khuẩn lạc mọc rất nhanh tạo khóm dạng lông, bề mặt có màu trắng hay vàng, xốp, tạo rảnh hình đồng tâm, rìa khuẩn lạc màu vàng sáng

Những lông bị nhiễm M gypseum thì không phát huỳnh quang dưới ánh sáng của

đèn Wood’s

Chủng nấm này sinh nhiều bào tử lớn, bào tử có dạng giống hình elip, gồ ghề, bên trong có 4-6 vách ngăn, kích thước 7,5-16 x 25-60 µm, bào tử nhỏ sinh ra rất ít có kích thước 2,5-3 x 4-6 µ, hình chùy và đính trực tiếp trên sợi nấm

Nuôi cấy trong môi trường Sabuoraud có hoặc không có chất kháng sinh thì khuẩn lạc mọc rất nhanh, bề mặt có dạng bột thô có màu nâu vàng, rìa khuẩn lạc phân bố

không đều, mặt dưới có màu vàng nhạt

Trang 21

Trichophyton spp

Giống nấm này thường có các bào tử nấm kí sinh ở trên lông, là căn bệnh của bệnh nấm rụng lông hoặc nấm lông mưng mủ Những chủng nấm này hiếm khi tạo ra đại bào tử Nấm có dạng sợi không có vách ngăn, bào tử kết nhau thành chuỗi theo trục dài của lông, ở bên ngoài và bên trong lông Bào tử hình, điếu thuốc, tròn hay bầu dục, thành mỏng, nhẵn đường kính khoảng 4-8 µm

Giống Trichophyton có trên 50 loài, trong đó có một số loài phổ biến T mentagrophytes (Blanchard, 1896), T equinum (Gedoelst, 1902), T verrucosum (Bodin, 1902), T schoenleini (Langeron, 1930), T gallinae (Silva và Benham, 1952), T rubrum (Castellani ,1910), T quinckeanum (Zopf, Mac – Leod và Muende), có 3 loài gây bệnh nấm da phổ biến trên chó là: T mentagrophytes, T verrucosum và T schoenleini

Khuẩn lạc mọc rất nhanh trong môi trường Sabuoraud có hoặc không có chất kháng sinh:dạng bột hay hạt, có nhiều lông tơ, mịn trên bề mặt, khuẩn lạc có màu

Trang 22

trắng hay kem, đôi khi có màu vàng hoặc đỏ Mặt dưới khuẩn lạc có màu nâu, thỉnh thoảng có màu vàng, cam hoặc đỏ sậm

Quan sát dưới kính hiển vi, chủng T mentagrophytes tạo ra vô số tiểu bào tử

hình cầu nhỏ, hình thon hay thon dài riêng lẻ dọc theo sợi nấm hoặc dạng chùm giống quả thông ở đầu sợi nấm Bào tử lớn ít hình chùy, hình thoi hoặc hình điếu thuốc, thành mỏng, nhẵn và có nhiều vách ngăn (2 – 5)

T verrucosum rất khó phân lập trong môi trường Sabouraud có hoặc không

có chất kháng sinh, sau 10 – 14 ngày nuôi cấy Khuẩn lạc nhỏ, tròn, có nếp gấp, ban đầu nhẵn, giống sáp, sau đó có màu trắng hoặc dạng bột vàng Khuẩn lạc sẽ mọc nhanh ở 37oC trong môi trường giàu dinh dưỡng

Nấm sinh bào tử lớn và bào tử nhỏ ít, mảnh, vỏ nhẵn, có kích thước và hình dạng rất khác nhau Bào tử có dạng chuỗi là nét đặc trưng của loài

Trang 23

Khuẩn lạc phát triển chậm có màu trắng, nhăn trên bề mặt, đôi khi nhẵn, giống sáp, dạng bột hoặc lông mịn trên bề mặt

Chủng nấm nầy sinh rất ít bào tử nhỏ, có kích thước hình dạng rất biến đổi và không sinh bào tử lớn

Epidermophyton spp

Giống Epidermophyton spp có nhiều loài, trong đó chỉ có loài Epidermophyton floccosum là gây bệnh nấm da trên người và động vật Loài này

gây bệnh trên da, trên móng mà không cư trú trên lông, tóc

Trong môi trường thạch Sabuoraud, khuẩn lạc phát triển chậm, ban đầu là mọc nốt hay chấm màu vàng hay trắng Khuẩn lạc có dạng bột hay mượt như nhung, từ tâm khuẩn lạc phát ra nhiều tia sáng màu vàng xanh Mặt dưới có màu vàng nhạt Sau vài tuần, khuẩn lạc phát triển thành dạng sợi có màu trắng

Epidermophyton floccosum sinh nhiều đại bào tử , không có tiểu bào tử Bào

tử lớn rìa trơn, vách mỏng có từ 2 – 4 vách ngăn Thường thấy ở đầu mút sợi nấm, đơn lẻ hay nhóm 2 – 3 bào tử đính trên sợi nấm

Trang 24

Nấm gây bệnh thông qua sự thủy phân chất keratin trên da, khuẩn ty của nấm đâm vào làm yếu và gẫy lông, làm hư hại nang lông và gây ra các bệnh tích như viêm nang lông, viêm da, da rụng lông thành từng đốm dạng vòng, hình tròn hay hình bầu dục, nổi mẫn đỏ, có vảy, đôi khi gây viêm da có mủ do sự phụ nhiễm của

Trang 25

Bệnh thường có những biểu hiện lâm sàng sau:

- Rụng lông hoàn toàn hoặc gẫy lông như trạng thái cắt lông thành từng đốm hoặc từng mảng trên da, mặt, mắt, môi, hoặc toàn thân, lông xơ xác, dễ nhổ, dưới chân được bao bọc bởi túi biểu bì

- Rụng lông toàn thân kèm theo da nhờn, xếp li da, cũng có thể thấy những vết viêm loét do phụ nhiễm trùng

- Da hôi, sần sùi, nổi mẫn đỏ hoặc đóng vảy, con vật ngứa ngáy khó chịu

2.3.4 Chẩn đoán

* Chẩn đoán lâm sàng

Quan sát trạng thái, triệu chứng và bệnh tích con vật Căn cứ vào một số triệu chứng và bệnh tích thường xẩy ra trên chó, mèo như: rụng lông hoặc gẫy lông từng mảng hay toàn thân, da khô, hôi, sần sùi, có vảy gàu, nổi mẫn đỏ tại, con vật ngứa, khó chịu khi đó tiến hành chẩn đoán tại phòng thí nghiệm bằng phương pháp xem tươi

Ngày đăng: 12/04/2018, 17:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm