1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHẨN đoán một số BỆNH về DA TRÊN CHÓ và THEO dõi HIỆU QUẢ điều TRỊ tại BỆNH xá THÚ y, TRƯỜNG đại học cần THƠ

54 805 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 3,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là một cơ quan quan trọng của cơ thể và đảm bảo nhiều chức năng: Bảo vệ cơ thể tránh những ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài: cơ học như cọ xát, đè nén, các vi khuẩn, vi sinh vật gây bện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

HUỲNH THỊ BỬU TRÂN

CHẨN ĐOÁN MỘT SỐ BỆNH VỀ DA TRÊN CHÓ VÀ THEO DÕI HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH XÁ THÚ Y,

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Luận văn tốt nghiệp Ngành: BÁC SỸ THÚ Y

Cần Thơ, 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp

Ngành: BÁC SỸ THÚ Y

Tên đề tài:

CHẨN ĐOÁN MỘT SỐ BỆNH VỀ DA TRÊN CHÓ VÀ THEO DÕI HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH XÁ THÚ

Y, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th s Nguyễn Thị Bé Mười Huỳnh Thị Bửu Trân

MSSV: 3064619

Lớp: Thú y K32

Cần Thơ, 2010

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

Đề tài: Chẩn đoán một số bệnh về da trên chó và theo dõi hiệu quả điều trị tại Bệnh Xá Thú Y, trường Đại học Cần Thơ; do sinh viên: Huỳnh Thị Bửu Trân thực hiện tại Bệnh Xá Thú Y, trường Đại học Cần Thơ từ 01/08/2010 đến 15/10/2010

Cần Thơ, ngày tháng năm 2010 Cần Thơ, ngày tháng năm 2010

Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn

Cần Thơ, ngày tháng năm 2010 Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 4

Xin kính dâng cha mẹ lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng cao quý nhất bằng tình yêu thương của đứa con mãi nhớ và yêu cha mẹ Người đã sinh và dạy dỗ tôi khôn lớn nên người

Xin cảm ơn các anh, chị và em của tôi đã luôn ủng hộ và lo lắng cho tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn các Thầy cô trong Bộ Môn Thú y- Khoa Nông Nghiệp

và Sinh Học Ứng Dụng đã tận tình chỉ dạy cho tôi những kiến thức về chuyên môn và

xã hội để hoàn thành công việc học tập cũng như giúp tôi vững bước vào đời

Hơn hết tôi chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Biện và cô Nguyễn Thị Bé Mười đã yêu thương, quan tâm, chỉ bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn các anh chị làm việc trong Bệnh Xá Thú Y đã giúp đỡ và chỉ dạy cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn

Cuối cùng cho tôi gửi lời cảm ơn đến các bạn của tôi đã luôn quan tâm và động viên tôi trong suốt thời gian vừa qua

Chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 14 tháng 12 năm 2010

Huỳnh Thị Bửu Trân

Trang 6

2.6.1 Nhiễm trùng do vi khuẩn sinh mủ 15 2.6.2 Rụng lông do rối loạn hormone 17

2.7 Tính chất dược lý của một số thuốc sử dụng trong điều trị 19

3.3 Nội dung và phương pháp thí nghiệm 26

4.1 Tình hình bệnh da trên chó tại Bệnh Xá Thú Y 29 4.1.1 Tỷ lệ bệnh về da so với các bệnh khác 29 4.1.2 Tỷ lệ bệnh da trên chó theo loại hình lông 29 4.1.3 Tỷ lệ bệnh da trên chó theo tuổi 30 4.1.4 Tỷ lệ bệnh da trên chó theo phương thức nuôi 31 4.1.5 Tỷ lệ bệnh da trên chó theo giới tính 31 4.1.6 Tỷ lệ bệnh da trên chó theo nhóm giống 32 4.2 Tỷ lệ các loại bệnh về da trên chó tại Bệnh Xá Thú Y 32

4.2.2 Hiệu quả điều trị các loại bệnh da 34 4.3 Một số ca bệnh da được khảo sát tại Bệnh Xá Thú Y 34 4.3.1 Bệnh da do ngoại ký sinh trùng 34

Trang 7

4.3.4 Bệnh da do rối loạn nội tiết 39

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.2 Tỷ lệ chó mắc bệnh da theo loại hình lông 29 Bảng 4.3 Tỷ lệ chó bệnh da xếp theo các nhóm tuổi 30 Bảng 4.4 Tỷ lệ chó mắc bệnh da theo phương thức nuôi 31 Bảng 4.5 Tỷ lệ chó mắc bệnh da theo giới tính 31 Bảng 4.6 Tỷ lệ chó mắc bệnh da theo nhóm giống 32

Trang 9

Hình 10 Da rụng lông lổm chổm toàn thân, ngứa và có vảy ghẻ ở bệnh

Hình 11 Lông vùng mông rụng, có vảy và viêm đỏ lổm chổm ở bệnh

Trang 10

TÓM LƯỢC

Sau gần 3 tháng thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp “Chẩn đoán một số bệnh

về da trên chó và theo dõi hiệu quả điều trị tại Bệnh Xá Thú Y, trường Đại học Cần Thơ” Chúng tôi thu được kết quả như sau:

Trong tổng số 704 ca chó bệnh được đem đến khám và điều trị tại Bệnh Xá Thú

Y có 103 ca chó bệnh ngoài da chiếm tỷ lệ 14,63% Trong đó có 40 ca nhiễm nấm

(38,84%), 30 ca nhiễm vi khuẩn sinh mủ (29,13%), 12 ca nhiễm Demodex Canis (11,65%), 10 ca nhiễm ve (9,71%), 4 ca nhiễm Sarcoptes scabiei var Canis (3,88%)

và 3 ca rối loạn nội tiết (2,91%) Đối với chó có bộ lông dài và dày mắc bệnh về da cao hơn (77,67%) chó có bộ lông ngắn và thưa (22,33%); chó từ 1 đến 3 năm tuổi mắc bệnh về da cao nhất (35,92%), kế đến là chó từ 3 đến 5 năm tuổi (23,30%) và chó dưới 1 năm tuổi (22,33%), chiếm tỷ lệ thấp nhất là chó trên 5 năm tuổi (18,45%) Còn đối với phương thức nuôi thì nuôi thả mắc bệnh cao hơn (54,37%) chó nuôi nhốt (45,63%) Tỷ lệ nhiễm bệnh da của chó đực cao hơn (62,14%) chó cái (37,86%); chó ngoại dễ mắc bệnh hơn (75,73%) chó nội (24,27%)

Sau một thời gian theo dõi hiệu quả điều trị thì trong 103 ca bệnh có 85 ca khỏi bệnh chiếm 82,52% Trong đó chiếm tỷ lệ khỏi bệnh cao nhất (100%) là các bệnh về

da do ve, mò bao lông và ghẻ do Sarcoptes scabiei var Canis; kế đến là bệnh viêm da

có mủ (90%), bệnh khối u ở da (75%) và bệnh do nấm (65%) Tỷ lệ khỏi bệnh thấp nhất là bệnh da do rối loạn nội tiết (33,33%) Đối với các bệnh do kí sinh trùng ngoài

da như ve thì dễ dàng loại bỏ bằng Frontline hoặc T-Kisi còn chó bị bệnh mò bao lông kí sinh nặng thường điều trị lâu dài bằng Ivermectin kết hợp với tắm Taktic Bệnh viêm da có mủ cho kết quả tốt khi sử dụng Shotapen Còn bệnh da do nấm cho kết quả chậm và cần điều trị xuyên suốt với Griseofulvin và prednisone kết hợp với tắm Haicneal Phẩu thuật được dùng trong các bệnh như khối u trên da cho kết quả tốt

Trang 11

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, phong trào nuôi thú cưng đặc biệt là nuôi chó kiểng đang phát triển ở nhiều nơi của Việt Nam Chó là con vật được thuần hoá từ rất sớm, nó luôn gắn liền với các thành viên trong gia đình, nhất là các em nhỏ Do đó, vấn đề chăm sóc sức khỏe thú nuôi ngày càng được chú trọng và bệnh của chó ngày càng phổ biến, rất được mọi người quan tâm Một trong các bệnh xảy ra ở chó đó là bệnh da Các bệnh trên da của chó tuy không gây tử vong cao nhưng rất phức tạp, khó điều trị, gây khó chịu ảnh hưởng đến đời sống bình thường của bản thân con vật, cộng đồng chó và môi trường sống của con người Chó ở mọi lứa tuổi, mọi giống đều có thể mắc các hội chứng bệnh về da

Da là cơ quan dễ thấy nhất cũng là cơ quan nhạy cảm nhất đối với tác động của môi trường bên ngoài Do đó, khi chó mắc bệnh về da hầu như dễ phát hiện để kịp thời điều trị Các bệnh da có thể là do các tác nhân từ môi trường ngoài như virus, vi khuẩn, protozoa, nấm, ký sinh trùng, chấn thương, phản ứng với các tia cực tím hay bắt nguồn từ các nguyên nhân bên trong như dị ứng, rối loạn nội tiết, dinh dưỡng, di truyền, tâm lý Nhiều nguyên nhân gây bệnh khác nhau nhưng chỉ biểu hiện giới hạn thành một số loại bệnh tích Thực tế khi tìm hiểu sâu, bệnh da rất đa dạng và phức tạp Do đó, để cho việc điều trị bệnh được tốt thì đòi hỏi chẩn đoán phải chính xác, điều trị hiệu quả, nhanh chóng và ít tốn kém Từ những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Chẩn đoán một số bệnh về da trên chó và theo dõi hiệu quả điều trị tại Bệnh Xá Thú Y, trường Đại Học Cần Thơ”

Mục đích của đề tài:

Ghi nhận các bệnh về da, các loại bệnh tích thường gặp ở chó

Tìm hiểu cách chẩn đoán thích hợp để phân chia từng loại bệnh da

Theo dõi kết quả điều trị đối với từng loại bệnh da

Trang 12

ở bên trong bị tổn thương mà da không bị rách

Da có màu sắc khác nhau do có tế bào sắc tố Ngoài ra, da còn có lông, màu lông cũng khác nhau tùy loài gia súc (Nguyễn Đình Nhung và Nguyễn Minh Tâm, 2005)

2.1.2 Chức năng của da

Mọi động vật đa bào đều được bao phủ bằng một màng bọc gọi là da, gồm một hay nhiều lớp tế bào Đó là một cơ quan quan trọng của cơ thể và đảm bảo nhiều chức năng:

Bảo vệ cơ thể tránh những ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài: cơ học như cọ xát,

đè nén, các vi khuẩn, vi sinh vật gây bệnh, tia tử ngoại, hóa chất,

Duy trì tính chất không đổi của môi trường bên trong cơ thể nhờ da có tính không thấm nước và ngăn cản sự thoát hơi nước từ bên trong cơ thể Nhờ có lớp mỡ dưới da, da sẽ hoạt động như một tác nhân điều hòa thân nhiệt

Da tham gia quá trình trao đổi chất: hô hấp và bài xuất nhờ mạng lưới mao mạch, các tuyến nằm ở da

Da chứa những đầu thần kinh cảm giác giúp cơ thể nhận cảm được áp lực nhiệt

độ, cảm giác đau (Lâm Thị Thu Hương, 2005)

Trang 13

2.1.3 Cấu tạo da

Hình 1 Cấu tạo da

(http://www.google.com.vn/imglanding) Biểu bì:

Là biểu mô lát kép hóa keratin (sừng) mạnh Bề dày của lớp này thay đổi tùy nơi Thường dày ở những chỗ không có lông và có sự cọ xát mạnh Lớp này không

có mạch máu, dinh dưỡng thực hiện nhờ sự thẩm thấu từ các mao mạch bên dưới Lớp này có tác dụng: lót mặt ngoài và bảo vệ cơ thể nhờ sự sừng hóa; chứa hắc

tố bào là những tế bào tạo ra sắc tố có tác dụng bảo vệ cơ thể đối với những tia bức xạ

và biểu bì không chứa mạch máu nên vi khuẩn không xâm nhập vào cơ thể nếu vết thương chưa sâu đến lớp chân bì

Chân bì:

Là lớp mô liên kết sợi vững chắc, có nhiều mạch máu và dây thần kinh Chân bì thường lồi lên biểu bì và tạo thành những nhú chân bì

Chân bì được phân thành 3 lớp:

 Lớp nhú: ngay sát biểu bì, mỗi nhú là một khối mô liên kết thưa không có hướng nhất định trong đó ngoài thành phần mô liên kết còn chứa tương bào và một số bạch cầu Đôi khi có những bó cơ trơn tạo thành cơ dựng lông

Trang 14

 Lớp bình diện: là phần mô liên kết sâu nằm song song với bề mặt da, lớp này chứa nhiều sợi keo, sợi đàn hồi, mạch máu, mạch bạch huyết, các sợi thần kinh và đầu thần kinh như tiểu thể meissner, tiểu thể golgi mazzoni

 Lớp dạng gân: tạo bởi mô liên kết chứa nhiều sợi chạy song song bề mặt da

và nén chặt nhau Ở đây chỉ có mạch máu chạy xuyên qua chứ không phân nhánh, cũng có những đầu thần kinh có bao

Hạ bì:

Được cấu tạo từ mô liên kết thưa, nối chân bì với các cơ quan bên dưới giúp cho

da trượt được trên các cấu trúc nằm dưới Tùy từng vùng của cơ thể, tùy tình trạng nuôi dưỡng ở lớp hạ bì có thể có những thùy mỡ tạo thành những lớp mỡ dày hay mỏng

Trong hạ bì chứa những tiểu động mạch, tiểu tĩnh mạch và mạch bạch huyết,

dây thần kinh, đầu thần kinh trần và đầu thần kinh bọc như tiểu thể Ruffini (Lâm Thị

Thu Hương, 2005)

2.2 Các bộ phận phụ của da

2.2.1 Lông

Là sự biến dạng của lớp biểu bì Biểu bì chạy lồng vào lớp bì và các tế bào của

nó bị hóa sừng Lông có hình trụ dài, cắm sâu vào trong da và gồm có phần : thân lông và chân lông

 Thân lông: trồi lên trên mặt da, thân lông cắm chéo với bề mặt da và cấu tạo gồm 3 lớp: tủy lông, vỏ lông và màng vỏ lông Tủy lông ở chính giữa trục lông, chứa những tế bào chưa hóa sừng, còn nhân Giữa các tế bào có khoang chứa không khí nhờ vậy lông có tính không dẫn nhiệt Vỏ lông có chứa sắc tố melanin tạo nên màu sắc cho lông Còn màng vỏ lông cấu tạo bởi nhũng tế bào dẹp, xếp thành lớp đã hóa sừng, không có nhân, không có sắc tố Hình thái và cách sắp xếp của màng này tùy loài gia súc

 Chân lông: nằm sâu trong da đó là vùng dinh dưỡng sinh trưởng của lông Phần tận cùng của chân lông phình to gọi là củ lông Cắt dọc chân lông gồm có hai

Trang 15

phần: ngoài cùng là bao sợi liên kết, trong là bẹ lông là phần kéo dài của biểu bì da Lớp sừng của da sẽ tạo thành màng vỏ bẹ

2.2.2 Nang lông

Nang lông gồm biểu mô trong, biểu mô ngoài và bao xơ

Biểu mô trong có nguồn gốc từ những tế bào biểu bì nằm ở đáy rãnh vòng quanh nhú lông Những tế bào ấy dần được đẩy lên rồi bị sừng hóa và thải trừ ra ngoài cùng chất bài xuất bởi tuyến bã

Biểu mô ngoài được tạo thành những sợi keo và sợi chun nối với nhau chung quanh nang lông

Bao xơ ở phía đáy lồi lên khỏi mô liên kết và có nhiều mạch máu, khối ấy gọi là nhú lông

Tuyến da gồm tuyến bã, tuyến mồ hôi và tuyến sữa

Tuyến bã là tuyến chế tiết ra chất làm mềm da và lông Tuyến này thường nằm giữa chân lông và cơ dựng lông Tuyến được tạo thành bởi một khối đặc tế bào, khối này được chia thành nhiều thùy nhưng có chung một ống bài xuất, ống này đổ vào nang lông hoặc đổ thẳng ra bề mặt da Tuyến được bao phủ bởi một mô liên kết đàn hồi, kế là màng đáy, bên trong là những tế bào có hình khối hoặc đa diện, nhân tế bào hình trứng

Tuyến mồ hôi là những tuyến nằm sâu trong lớp chân bì Tuyến mồ hôi chia thành 3 đoạn: tiểu cầu mồ hôi, ống bài xuất và đường mồ hôi

Tuyến sữa là loại tuyến mồ hôi biến đổi để thích ứng với chức phận tạo sữa, chỉ thấy trên thú cái Tuyến sữa là một khối tròn dẹp nằm ngoài hạ bì đẩy da phồng

Trang 16

lên Tùy loại thú mà vị trí và số lượng tuyến thay đổi Mỗi vú là một tuyến gồm những nang chế tiết sữa và một hệ thống ống dẫn sữa đổ vào một xoang tích lũy sữa (bầu sữa) trước khi sữa tống ra ngoài (Lâm Thị Thu Hương, 2005)

2.3 Những tổn thương da thường gặp khi khám lâm sàng và phân loại các thương tổn

Theo Harrison, 1999:

2.3.1 Thượng bì

Dát (macules) là vùng da có ranh giới, có màu sắc khác với màu da bình thường không gờ cao hoặc lõm xuống so với bình diện da xung quanh Các dát có thể to nhỏ khác nhau là kết quả của giảm sắc tố hoặc tăng sắc tố melamin hoặc hemosiderin như đốm cà phê sữa hay đốm mông cổ hoặc dị dạng huyết quản như u mao quản hay sự giãn mao quản nhất thời (dát đỏ)

Sần (papules) là một thương tổn chắc, đường kính nhỏ hơn 1cm, đa số nổi gờ

cao hơn chứ không chìm xuống so với bình diện da xung quanh Sự gờ cao đó là do những chất tích đọng chuyển hóa ở trung bì hoặc do các thâm nhiễm khu trú ở trung

bì hoặc do tăng sản tế bào khu trú ở trung bì hay biểu bì Các sần có bờ rõ rệt là kết quả của sự tăng sinh về số lượng tế bào biểu bì hay tế bào sắc tố Các sần trung bì sâu hơn do các thâm nhiễm tế bào tạo nên thường có bờ không rõ rệt

Đám (plaque) là một thương tổn gồ lên mặt da, có diện tích rộng so với độ cao của nó Thông thường nó được hình thành do sự hội tụ của các sần như trong bệnh nấm và bệnh u xùi dạng nấm

Vảy da (scales): tế bào biểu mô được thay thế hoàn toàn Sản phẩm cuối cùng của quá trình toàn hủy đó là lớp sừng Lớp ngoài cùng của da tức lớp sừng không còn nhân tế bào nên vảy bong đi Khi mức tăng sinh tế bào biểu bì quá nhanh, lớp sừng không được hình thành một cách bình thường và các tế bào lớp sừng vẫn còn nhân

Sự bong ra của các tế bào lớp sừng tạo thành vảy da, các vảy da bám chắc, sờ vào thô ráp là do sự tăng độ dày của lớp sừng ở từng điểm khu trú

Mụn nước (vesicles) có đường kính dưới 0,5cm hay bọng nước (bullae) có

đường kính hơn 0,5cm là một thương tổn nổi gò cao, có ranh giới và chứa dịch lỏng

Trang 17

Thường vách của mụn nước mỏng đến mức như là trong suốt và huyết thanh, bạch huyết, máu hay thoát dịch tế bào chứa trong đó có thể nhìn thấy được Mụn nước và bọng nước xuất hiện do sự bóc tách ở các mức khác nhau của da hoặc ở trong lòng biểu bì (đó là mụn nước trong biểu bì), hoặc ở mặt tiếp giáp giữa biểu bì và trung bì (đó là mụn bọng nước dưới biểu bì)

Mụn mủ (pustules) là một thương tổn nổi gờ cao lên trên mặt da, có ranh giới,

chứa chất tiết dịch là mủ, màu trắng, vàng hoặc vàng hơi xanh Thương tổn có thể xuất hiện ở một nang lông hay ở da thường Mụn mủ có thể có kích thước và hình thù khác nhau, tuy nhiên mụn mủ ở nang lông luôn luôn có hình nón và thường có một sợi lông ở trung tâm

ở trung bì hoặc tổ chức dưới da, thường là chỉ điểm của một số bệnh hệ thống như u lympho, ung thư di căn có thể biểu hiện bằng các u da Các u có thể xuất hiện do kết quả của sự tăng sản lành tính hay ác tính của tế bào Keratin

Vảy tiết hay vảy ghẻ (crusts) được hình thành do huyết thanh, máu hoặc mủ khô

và đóng lại trên da Đó là dấu hiệu của sự nhiễm khuẩn Vảy tiết có thể mỏng hay dày và dính, có màu vàng do huyết thanh khô tạo thành, có màu xanh hay vàng xanh

do chất tiết có mủ và có màu đỏ hay thẫm đỏ khi có máu

Lở (erosions) là sự mất liên lạc của da chỉ nằm giới hạn ở lớp biểu bì Mụn nước và túi nước thường tiến triển thành loét và lở

Loét (ulcers) là một thương tổn trong đó có sự hủy hoại thượng bì và lớp nhú

của trung bì Một số đặc điểm có thể giúp cho sự xác định nguyên nhân của ổ loét bao gồm vị trí, bờ, đáy, chất tiết dịch và đặc điểm định khu kết hợp khác như các u, vết

Trang 18

sước, giãn tĩnh mạch, phân bố lông, tóc, có hay không tiết mồ hôi và mạch đập kề ổ loét

Xuất huyết dưới da là những vùng da có những chấm, đám, mảng màu đỏ hay

đỏ thẫm, xuất huyết có thể lan hay không tùy vào bệnh Xuất huyết do nhiều nguyên nhân và xảy ra khi các mạch máu ở vùng dưới da bị vỡ

2.4 Bệnh da do ngoại ký sinh trùng

2.4.1 Bệnh ve cứng ký sinh

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996: họ ve cứng gồm có 6 giống là

Boophilus, Haemaphysalis, Amblyomma, Rhipicephalus, Dermacentor, Ixodes Ở nước ta gây bệnh chủ yếu trên chó là Boophilus microplus và Rhipicephalus sanguineus

Ve Boophilus microplus:

Hình 2 Ve Boophilus microplus

(http://www.google.com.vn/ images?)

Phân loại: Ngành Arthropoda, lớp Arachnida, bộ Acarina, phân bộ Ixodoidae,

họ Ixodidae, giống Boophilus, loài Boophilus microplus

Hình thái học: ve không có rãnh hậu môn, có mắt, không màu ánh kim, không

có rua, đầu giả ngắn, đáy đầu giả hình 6 cạnh Tấm dưới miệng dài hơn xúc

Trang 19

biện Háng I có 2 cựa, háng II và IV chỉ có 1 cựa đơn giản Ve đực nhỏ hơn ve cái,

có 2 đôi mai bụng, 1 đôi tấm cạnh hậu môn và 1 đôi tấm phụ, có mấu đuôi nhỏ, nhọn Háng I, III đều có 2 cựa, cựa háng I mập, nhọn và khỏe hơn các cựa khác, tấm cạnh hậu môn có 2 cựa hẹp Còn ve cái ở háng I có 2 cựa tròn, rộng, cách xa nhau, ở khoảng giữa lõm hình chữ V

Vòng đời:ve Boophilus microplus là loài ve một ký chủ Chu kỳ phát triển qua

4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, thiếu trùng và ve trưởng thành Ve đực hút máu thời gian ngắn hơn, ít khi hút máu no Ve cái hút máu 6 - 8 ngày, sau khi rơi xuống đất 3 -

15 ngày bắt đầu đẻ trứng Thời gian đẻ trứng từ 5 - 30 ngày Từ khi đẻ xong đến lúc chết 4 - 17 ngày Thời gian nở của ổ trứng 12 - 28 ngày, thời gian nở của trứng 19 -

46 ngày Ve cái đói bắt đầu hút máu ký chủ, sau đó ve đực đến giao phối Sau giao phối ve tiếp tục hút no máu rồi rơi xuống đất tìm nơi thích hợp để đẻ trứng Ấu trùng

ve hút máu 4 - 13 ngày, lột xác thành thiếu trùng sau 6-14 ngày, có thể nhịn đói 120 -

150 ngày và có thể sống đến 210 ngày Thiếu trùng ve hút máu từ 5-11 ngày lột xác thành ve trưởng thành sau 5 - 14 ngày

Hình thái học: ve có thân hình quả lê, màu nâu đen, đầu giả ngắn, gốc đầu hình

6 cạnh, hai góc bên nhọn và nhô ra ngoài Ve đực có tấm cạnh hậu môn hình tam giác còn ve cái có mai lưng hình bầu dục dài, rộng hơn

Trang 20

Vòng đời: ve Rhipicephalus sanguineus là loài ve ba ký chủ Chu kỳ phát triển thường là một năm Chu kỳ này qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng 6 chân, thiếu trùng 8 chân và giai đoạn trưởng thành Ve cái đói bắt đầu hút máu ký chủ, sau đó ve đực đến giao phối Sau giao phối ve tiếp tục hút no máu rồi rơi xuống đất tìm nơi thích hợp để đẻ trứng Thời kỳ phát triển của các kỳ như sau:

 Ve cái đẻ: 2000 - 3000 trứng

 Trứng nở: 17 - 30 ngày

 Bữa ăn của ấu trùng: 2 - 4 ngày

 Bữa ăn của thiếu trùng: 4 - 9 ngày

 Bữa ăn ve cái: 6 - 51 ngày

 Biến thái của ấu trùng: 5 - 23 ngày

 Biến thái của thiếu trùng: 11 - 73 ngày

 Thời gian nhịn đói của ấu trùng: > 8,5 tháng

 Thời gian nhịn đói của thiếu trùng: > 6 tháng

 Nhịn đói của ve trưởng thành: >19 tháng

Triệu chứng và bệnh tích: ve thường bám ở trong và ngoài vành tai, vùng cổ và

kẻ ngón chân Nhiễm nặng thì thấy ve bám khắp cơ thể Ve bám rất chắc vào da và cắn hút máu ký chủ gây tổn thường sinh ra phản ứng viêm, làm ngứa ngáy khó chịu, gãi thường xuyên có thể tạo nhiễm trùng thứ phát, áp xe hay loét Nếu nhiều làm cho

ký chủ thiếu máu, da xù xì, dầy lên, chó gậm, liếm và cào cấu thường xuyên (Nguyễn Văn Biện, 2001)

Chẩn đoán: căn cứ vào những triệu chứng lâm sàng

2.4.2 Bệnh ghẻ chó (do Sarcoptes scabiei var Canis)

Hình 4.Cái ghẻ Sarcoptes scabiei var Canis

(http://www.google.com.vn/ images?)

Trang 21

Phân loại: ngành Arthropoda, lớp Arachnida, bộ Acarina, phân bộ

Sarcoptiformes, họ Sarcoptidae, giống Sarcoptes, loài Sarcoptes scabiei var Canis

Hình thái học: thân chia làm 2 phần: phần phía trước là bộ phận lưng ngực có đôi chân I và đôi chân II, phần sau thân là bộ phận lưng bụng có đôi chân III và IV Ghẻ có hình tròn hay bầu dục, con đực nhỏ hơn con cái Cả con đực lẫn con cái đều

có điệm vuốt bàn chân Trên mình phủ nhiều lông tơ, capitulum (đầu) có hình nón, chiều ngang lớn gấp 2 lần chiều dọc Mặt lưng có nhiều đường vân song song Hậu môn ở rìa cơ thể và có thể thấy ở mặt lưng Ghẻ đực có giác bàn chân ở đốt chân số I,

II, III, lỗ sinh dục ở giữa đôi chân thứ III còn ghẻ cái có lỗ âm môn sau mặt lưng, có giác bàn chân ở đuôi I, II Quá trình phát dục của con ghẻ qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, thiếu trùng và ghẻ trưởng thành

Vòng đời: ghẻ đực và ghẻ cái giao phối với nhau trong đường rãnh ngắn ở lớp biểu bì Ghẻ cái sau khi đào được các rảnh thì bắt đầu đẻ trứng vào trong đó, mỗi ngày đẻ được 1-2 trứng Một đời ghẻ cái có thể sống được 4-5 tuần Tổng số trứng

đẻ ra 40-50 Từ trứng phát dục đến ghẻ trưởng thành khoảng 8-15 ngày Ấu trùng từ trứng nở ra rời khỏi đường rãnh mà ghẻ cái đã đào, bò lên trên mặt biểu bì của da rồi chui xuống khe kẻ của các chân lông để thành các lỗ huyệt nhỏ, sau đó tiến hành lột xác ở trong này thành thiếu trùng Thiếu trùng cũng chui sâu vào trong lớp bì của da, hình thành những đường rãnh nông và hẹp, rồi lột xác thành ghẻ trưởng thành Ghẻ đực sau khi giao phối xong lưu lại trong các đường rãnh mà ghẻ cái đã đào được hoặc

tự đào lấy một đường rãnh phụ ở phía bên cạnh rồi sống ở đó (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2001)

Triệu chứng và bệnh tích: ba triệu chứng điển hình là: ngứa, rụng lông và đóng vảy (Nguyễn Văn Biện, 2001)

 Ngứa do cái ghẻ đào hang và tiết độc tố làm con vật ngứa nhiều, kích thích con vật gãi, cọ xát làm cho tương dịch chảy ra cùng với máu và thượng bì đóng thành vảy

 Rụng lông do viêm bao lông và gây ngứa, con vật cọ nhiều Kiểu rụng lông này là rụng toàn bộ , đều và lan ra chậm

Trang 22

 Những chỗ ngứa thường có mụn nước, do con vật gãi, các mụn này vỡ ra gây những tổn thương, ở đây các tương dịch và thượng bì đóng thành vảy màu nâu nhạt Những chổ rụng lông và đóng vảy lan rộng dần có thể toàn thân, con vật bị trụi lông, đóng vảy dày, nhăn nheo và có mùi hôi do chất nhờn của tuyến da tiết nhiều rồi lên men, nhiễm trùng thứ phát Khi bị ghẻ con vât có thể gầy ốm và chết

2.4.3 Bệnh mò bao lông (do Demodex Canis)

Hình 5 Demodex Canis

(http://www.google.com.vn/ images?)

Phân loại: ngành Arthropoda, lớp Arachnida, bộ Acarina, phân bộ Trombidiformes, họ Demodicidae, giống Demodex, loài Demodex Canis

Hình thái học: ghẻ Demodex Canis có thân hình dài giống như một con sâu,

chiều dài 0,25-0,3mm và chiều rộng 0,4mm Thân ghẻ chia làm 3 phần: đầu, ngực và bụng Đầu có 1 đôi râu đầu xúc giác, 1 đôi càng và 1 đáy đầu giả; ngực có 4 đôi chân ngắn tù; bụng dài, trên mặt lưng và mặt bụng đều có những vệt hằn ngang Ghẻ đực

có gai giao cấu nhô lên trên mặt lưng ở bộ phận ngực Ghẻ cái có âm đạo ở mặt bụng Vòng đời: vòng đời của con ghẻ bao lông đều phát dục trên cơ thể chó Ghẻ cái

đẻ trứng ra, từ trứng nở ra ấu trùng có 3 đôi chân Ấu trùng lột xác thành thiếu trùng

Trang 23

có 4 đôi chân Thiếu trùng qua 2 lần lột xác thành ghẻ trưởng thành Lúc đầu con ghẻ có ở phần vỏ bọc của thân lông, phần vỏ bọc củ lông rồi chui sâu xuống dưới đáy

củ lông Bệnh phát triển nặng, con ghẻ có nhiều trong các ổ mủ ở lớp tổ chức dưới da vật chủ (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2001)

Triệu chứng và bệnh tích: thường có 2 thể bệnh: dạng ghẻ khô và dạng ghẻ mủ

 Dạng ghẻ khô: rụng lông trên da trán, mi mắt, 4 chân, da dầy cộm thành màu

đỏ xẫm, chó bệnh thường hay đưa chân lên gãi ở những chổ này

 Dạng ghẻ mủ: có những mụn mủ sưng mọng, đặc quánh màu vàng xám do các vi trùng sinh mủ xâm nhập vào Tại đây da nhăn nheo, rụng lông lâu ngày, các tổ chức chết cùng với dịch thể lâm ba tiết ra tạo thành các vẩy khô cứng dày cộm

Bệnh nặng: toàn thân chó rụng lông hết, ở những vùng da mỏng như bụng, nách, háng có những ổ mủ áp xe, mùi tanh hôi, khó chịu (Vương Đức Chất và Lê Thị Tài, 2004)

Chẩn đoán:

Chẩn đoán lâm sàng: dựa vào những triệu chứng lâm sàng như có những vết rụng lông, mụn mẩn đỏ trên lớp da rụng lông, ngứa gãi, có mùi tanh hôi Cần phân

biệt với các bệnh như nấm da, ghẻ do Sarcoptes scabieivar canis

Chẩn đoán cận lâm sàng: Dùng dao tẩm glycerin cạo vùng da có bệnh tích đang tiến triển cho đến khi da rướm máu Lấy mẫu sản phẩm vừa cạo để lên lam và xem Xem trên kính hiển vi ở vật kính 10 x 10

2.5 Bệnh nấm da

Theo Nguyễn Vĩnh Phước, 1978

Phân loại: ngành Ascomycota, lớp Ascomycetes, lớp phụ Pyrenomycetes, bộ Plectascales, họ Gymnoasceae, giống Microsporum, Trichophyton, Achorion, Epidermophyton

Hình thái học: bệnh nấm da, nấm lông là những bệnh truyền nhiễm ngoài cơ thể, ngoài da do tác động gây bệnh của nấm có hướng biểu bì, có thể tồn tại lâu dài, sống hoại sinh trong hoàn cảnh Ở trên da, chúng chỉ sống giới hạn ở lớp sừng của biểu bì

và tác động chủ yếu đến lông và nang lông, sinh những đám rụng lông rìa đều, ở đáy

Trang 24

da bị viêm hình thành những vảy lóc, có thể làm nang mưng mủ Bệnh nấm da chủ yếu gây ra do 4 giống: Microsporum, Trichophyton, Achorion và Epidermophyton nhưng chủ yếu gây bệnh nấm da ở chó là Microsporum canis, Microsporum gypsyum

và Trichophyton mentagrophyte

Cách sinh bệnh:

Nấm gây bệnh thông qua sự thủy phân chất keratin trên da, khuẩn ty của nấm đâm vào làm yếu và gãy lông, làm hư hại nang lông và gây ra các bệnh tích viêm nang lông, viêm da, da rụng lông thành từng đốm dạng vòng, hình tròn hay hình bầu dục, da nổi lên ban đỏ rồi hình thành vảy, những vòng này gò lên có bờ rõ ràng, xung quanh lông như bị xén, đôi khi gây viêm da có mủ do sự phụ nhiễm của vi trùng

Nấm da phát triển ở lớp biểu bì của da, lông, móng, chúng không xâm nhập qua lớp mô sống và không có mặt ở những vùng viêm nặng và dài Thời kỳ nung bệnh từ 8-10 ngày, bệnh tích xuất hiện từ 15-30 ngày Trong thời kỳ này, bệnh tích cũng có thể tự hết và lông mọc lại từ 2-3 tháng nếu sức đề kháng của cơ thể tốt

Triệu chứng và bệnh tích: rất đa dạng, biến đổi tùy thuộc vào vị trí nhiễm và giống nấm gây bệnh Da bị rụng lông hình đồng xu, đường kính từ 1-8 cm, da nổi mẩn đỏ, có vảy là các triệu chứng và bệnh tích đặc trưng của bệnh này Bệnh nấm da

Bệnh có những biểu hiện lâm sàng sau:

 Rụng lông hoàn toàn hoặc gãy lông như trạng thái cắt lông thành từng đốm hoặc từng mảng trên da, mặt, mắt, môi hoặc toàn thân, lông xơ xác, dễ nhổ

 Rụng lông toàn thân kèm theo da nhờn, xếp li, da cũng có thể thấy những vết viêm loét do phụ nhiễm trùng

 Da hôi, sần sùi, nổi mẫn đỏ hoặc đóng vảy, con vật ngứa ngáy khó chịu

Chẩn đoán:

Trang 25

Chẩn đoán lâm sàng:

Căn cứ vào triệu chứng và bệnh tích trên da có chu vi đều, giới hạn thường tròn, bệnh tích rụng lông hoàn toàn hoặc gẫy lông như trạng thái cắt lông, bệnh tích được bọc lên trên bằng vảy lóc, viêm ít khi nặng, da phù thũng và mưng mủ ở nang, lông

dễ nhổ

Chẩn đoán cận lâm sàng:

Phương pháp xem tươi: lấy da, lông, móng tại vùng bị bệnh đặt lên lam kính sạch, nhỏ một đến hai giọt KOH 10-20%, phủ lamelle lên ép nhẹ và để yên 10-30 phút để KOH làm mềm hầu hết các loại mô, làm tan các giọt mỡ và các mãnh khác trong mô để dễ quan sát nấm hơn, hơ nóng nhẹ để giúp quá trình này diễn ra nhanh hơn, nhưng không hơ quá nóng vì KOH sẽ bị kết tinh và bào tử gốc lông sẽ rơi ra Sau đó đưa lên kính hiển vi ở vật kính 40 để quan sát sợi nấm và bào tử nấm nếu có Phương pháp nuôi cấy: các bệnh phẩm thường được nuôi cấy trong ống nghiệm hoặc đĩa petri có chứa môi trường thạch Sabouraud dextrose có bổ sung kháng sinh (penicillin hoặc streptomycin) Tùy từng loại mẫu mà có cách lấy khác nhau:

Lông: dùng nhíp gắp từng sợi lông có cả chân lông khoảng 3-4 sợi đặt lên 3-4 điểm trên bề mặt môi trường

Vảy: dùng que đặt vảy lên 3-4 điểm trên bề mặt môi trường

Dịch mủ: dùng que cấy tam giác láng khắp mặt môi trường

Sau khi cấy xong mẫu được ủ ở nhiệt độ 25-300C trong 1-2 tuần hoặc có khi đến

1 tháng Khi nấm bắt đầu mọc ta tiến hành quan sát vi thể và đại thể

2.6 Bệnh da lông do nguyên nhân khác

2.6.1 Nhiễm trùng do vi khuẩn sinh mủ

Các vi khuẩn này thường trú ngụ sẵn trên lông, trên bề mặt da hoặc từ môi

trường ngoài xâm nhập vào Các loài vi khuẩn này thường thuộc Staphylococcus spp

hoặc các vi khuẩn gram âm Trong đó, Staphyloccus intermedius là vi khuẩn chủ yếu gây bệnh, 10 % còn lại là S aureus và S hyicus S.epidermis hoặc S xylosus không

gây bệnh

Trang 26

Staphylococcus spp có mặt ở da, niêm mạc, lông, móng, tuyến mồ hôi, lỗ chân

lông Chúng là một loại vi khuẩn sinh mủ điển hình làm cho các tổ chức của da, vết thương nung mủ gây nên những chứng viêm có mủ

Các nguyên nhân làm mất tính toàn vẹn của da như viêm, tổn thương do ngoại vật, cắn, liếm, cào gãi, do ký sinh trùng, do tiết nhiều hay tích đọng nhiều bã nhờn, đều là cơ hội cho sự xâm nhập, phát triển và gây bệnh của vi khuẩn (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)

Một số bệnh da lông do vi khuẩn:( Nguyễn Văn Biện, 2001)

Bệnh viêm mủ nếp gấp: viêm da nếp gấp thường xảy ra ở những chổ có nếp

gấp sâu như nếp môi sâu, hay nếp gấp âm hộ ở những chó quá mập Các trường hơp này thường do viêm da bề mặt

Nguyên nhân:

Tùy vị trí ở môi hay âm hộ Ở môi nếp gấp môi trên phủ sâu lớp môi dưới hiện diện trên một số giống chó làm cho thức ăn, nước dãi đọng lại đồng thời có sự cọ giữa

2 nếp tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển mà chủ yếu là Staphyloccus intermedius

và Staphyloccus aureus gây viêm

Triệu chứng:

Ở môi, môi trên phủ môi dưới bị ẩm ướt, viêm đỏ có mủ, có mùi hôi Khi viêm

sẽ kích thích con vật liếm, cọ, chà hoặc cắn vào chỗ viêm gây cho bệnh tích trầm trọng thêm Âm hộ bị đọng nước tiểu viêm đỏ có khi có mủ, mùi hôi

Bệnh chốc lở: là hiện tượng nhiễm vi khuẩn trên bề mặt da, đặc trưng bởi các

nốt mủ xuất hiện ở vùng da không có lông ở chó con

Nguyên nhân:

Do các vi khuẩn Staphylococcus, Streptococcus gây ra nhiễm trùng kế phát và

chế độ dinh dương thấp, môi trường sống dơ bẩn hay những ký sinh trùng

Triệu chứng:

Nốt mủ mọc ở vùng ít có lông hoặc không có lông mọc như ở bẹn, bụng, nách

Da tạo nhiều vảy nhỏ hoặc lớp biểu bì xuất hiện nhiều vòng tròn nhỏ sưng đỏ Con vật ngứa nhẹ, nốt mủ dễ vỡ và khô, đôi khi có dịch màu vàng chảy ra

Trang 27

Bệnh viêm da mõm: bệnh thường xảy ra ở dạng viêm da sâu

Viêm da chó con: bệnh thường xảy ra ở những chó từ 3 tuần đến 4 tháng tuổi,

đặc biệt thường xảy ra với chó lông ngắn Bệnh có thể xảy ra cùng lúc nhiều con trong bầy

Nguyên nhân:

Chưa xác định rõ nhưng có thể do vi khuẩn sinh mủ Staphylococcus intermedius

gây viêm da Ngoài ra, các phản ứng dị ứng cũng là nguyên nhân gây bệnh

2.6.2 Rụng lông do rối loạn nội tiết ( hormone)

Sự rối loạn hormone (oestrogen, thyroxin, hormone tuyến thượng thận, ) thường dẫn đến tình trạng rụng lông từng đốm sau vài tháng gây viêm da

Những vùng thường rụng lông là ngực, cổ, hông, đùi và bệnh có tính chất hai bên Lớp da ngoài dày lên, màu da khác thường, da tróc vảy (Trích dẫn từ luận văn tốt nghiệp của Đỗ Thị Thu Lan, 2007)

2.6.3 Bệnh da do dinh dưỡng:

Ngày đăng: 12/04/2018, 17:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm