1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆU QUẢ của PHÂN VI SINH BIOGRO lên sự SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT và CHẤT LƯỢNG xà LÁCH TRONG mùa mưa tại THÀNH PHỐ cần THƠ (THÁNG 7 8 2011)

54 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 814,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN THỊ KIM PHIẾN HIỆU QUẢ CỦA PHÂN VI SINH BIOGRO LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG XÀ LÁCH TRONG MÙA MƯA...

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN THỊ KIM PHIẾN

HIỆU QUẢ CỦA PHÂN VI SINH BIOGRO LÊN

SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG XÀ LÁCH TRONG MÙA MƯA

Trang 2

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG NGHIỆP SẠCH

Tên đề tài:

HIỆU QUẢ CỦA PHÂN VI SINH BIOGRO LÊN

SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG XÀ LÁCH TRONG MÙA MƯA

TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

(THÁNG 7-8/2011)

Lớp: Nông Nghiệp Sạch-K35

Cần Thơ – 2012

Trang 3

ii

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

-

Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Nghiệp Sạch với đề tài:

HIỆU QUẢ CỦA PHÂN VI SINH BIOGRO LÊN

SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG XÀ LÁCH TRONG MÙA MƯA

TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

(THÁNG 7-8/2011)

Do sinh viên Nguyễn Thị Kim Phiến thực hiện

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2012 Cán bộ hướng dẫn

PGs.Ts Trần Thị Ba

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Phiến

Trang 5

iv

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

-

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Nghiệp Sạch với đề tài: HIỆU QUẢ CỦA PHÂN VI SINH BIOGRO LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG XÀ LÁCH TRONG MÙA MƯA TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ (THÁNG 7-8/2011) Do sinh viên Nguyễn Thị Kim Phiến thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:

Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:

DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2012 Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội đồng

Trang 6

Năm sinh: 1991 Dân tộc: Kinh

Nơi sinh: Phụng Hiệp – Hậu Giang

Họ và tên Cha: Nguyễn Văn Hải Sinh năm: 1969 Nghề nghiệp: làm ruộng

Họ và tên Mẹ: Lê Thị Mai Phượng Sinh năm: 1964 Nghề nghiệp: làm ruộng Quê quán: Ấp Tân Quới, xã Tân Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang

Quá trình học tập

 1997 – 2002: Học trường tiểu học Tân Bình 2, Phụng Hiệp - Hậu Giang

 2002 – 2006: Học trường THCS Bình Thành, Phụng Hiệp - Hậu Giang

 2006 – 2009: Học trường THPT Tầm Vu I, Phụng Hiệp - Hậu Giang

 2009 – 2013: Học ngành Nông Nghiệp Sạch khóa 35, khoa Nông nghiệp &

SHƯD, trường Đại học Cần Thơ, Ninh Kiều - TP Cần Thơ

Ngày….tháng….năm 2012

Nguyễn Thị Kim Phiến

Trang 7

vi

Kính dâng!

Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng, dạy dỗ con khôn lớn nên người

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

- PGs.Ts Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, góp ý

và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này

- Thầy Bùi Văn Tùng đã tận tình giúp đỡ em phân tích các chỉ tiêu ở phòng

Xin chân thành cảm ơn!

- Chị Nguyễn Thị Mỹ An lớp Cao học Trồng Trọt khoá 18 đã giúp tôi hoàn thành số liệu và chỉnh sửa luận văn

- Chị Quyên, chị Lòng, anh Hoàng, anh Sang, anh Duy, các bạn Quỳnh, Tính, Ngoan… và tập thể các anh chị và các bạn cùng làm luận văn trong nhà lưới

đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực hành thí nghiệm, giúp tôi hoàn thành tốt luận văn

Thân gửi về!

Các bạn lớp Nông nghiệp Sạch khóa 35 những lời chúc sức khỏe và thành

đạt trong tương lai

Nguyễn Thị Kim Phiến

Trang 8

Cần Thơ (tháng 7-8/2011)” Luận văn tốt nghiệp Đại học ngành Nông Nghiệp

Sạch, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Trần Thị Ba và ThS Võ Thị Bích Thủy

TÓM LƯỢC

Đề tài “Hiệu qủa của phân vi sinh Biogro lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng xà lách trong mùa mưa tại thành phố Cần Thơ (tháng 7-8/2011)” được thực hiện nhằm xác định hiệu quả phân vi sinh Biogro có sử dụng bùn ao làm chất mang lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng rau xà lách Thí ngiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lặp lại, gồm 4 nghiệm thức là (1) Đối chứng 1 tấn phân hữu cơ vi sinh COVAC và 10 lít phân cá; (2) Bón bùn ao khô: 6,9 tấn khô/ha; (3) Bùn ao đã xử lý vi sinh: 8,3 tấn khô/ha; (4) Phân vi sinh Biogro: 0,7 tấn/ha Trên nền phân hóa học 71-46-32 NPK (kg/ha)

Kết quả nghiên cứu cho thấy phân vi sinh Biogro đã có tác dụng tích cực trong việc cải thiện năng suất rau xà lách Về sinh trưởng của xà lách ở các nghiệm thức tương đương nhau Sử dụng phân vi sinh Biogro cho trọng lượng cây xà lách đạt 20,01 g/cây, tổng năng suất thực tế (27,10 tấn/ha), năng suất lý thuyết (34,12 tấn/ha) và năng suất thương phẩm (21,34 tấn/ha) cao nhất, kế đến năng suất thương phẩm của nghiệm thức đối chứng chỉ sử dụng 1 tấn phân hữu cơ vi sinh COVAC,

10 lít phân cá (18,88 tấn/ha) và Bùn ao khô (17,48 tấn/ha), thấp nhất là nghiệm thức Bùn đã xử lý vi sinh (15,85 tấn/ha) Hiệu quả kinh tế ở nghiệm thức sử dụng phân

vi sinh Biogro là cao nhất, cho lợi nhuận 69.925,51.000 đồng/ha và bùn đã xử lý vi sinh thấp nhất (15.875,51.000 đồng/ha) Hàm lượng Nitrate trong thân và lá của xà lách đều dưới ngưỡng cho phép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (1.500 mg/kg) Trồng xà lách tại thành phố Cần Thơ có thể sử dụng 0,7 tấn/ha phân vi sinh Biogro để bón lót

Trang 9

viii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÂY XÀ LÁCH 2

1.1.1 Nguồn gốc, đặc tính thực vật và giá trị dinh dưỡng 2

1.1.1.1 Nguồn gốc 2

1.1.1.2 Đặc tính thực vật 2

1.1.1.3 Giá trị dinh dưỡng 2

1.1.2 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh 3

1.1.2.1 Nhiệt độ 3

1.1.2.2 Ẩm độ 3

1.1.2.3 Ánh sáng 4

1.1.2.4 Đất và dinh dưỡng 4

1.1.3 Tình hình sản xuất xà lách trong và ngoài nước 5

1.2 PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG 6

1.2.1 Phân hữu cơ vi sinh 6

1.2.2 Tình hình sử dụng phân hữu cơ vi sinh 7

1.3 ĐẶC ĐIỂM BÙN ĐÁY AO NUÔI CÁ TRA 7

1.3.1 Đặc tính lớp bùn đáy ao nuôi cá tra 7

1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu về bùn đáy ao 8

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 10

2.1 PHƯƠNG TIỆN 10

2.1.1 Địa điểm và thời gian 10

2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn 10

2.1.3 Vật liệu 10

2.2 PHƯƠNG PHÁP 11

Trang 10

2.2.1 Bố trí thí nghiệm 11

2.2.2 Kỹ thuật canh tác 12

2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 14

2.2.4 Phân tích số liệu 16

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17

3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT 17

3.2 TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG 17

3.2.1 Chiều cao cây và tốc độ tăng trưởng chiều cao 17

3.2.2 Số lá trên cây 18

3.2.3 Kích thước lá 18

3.2.4 Đường kính thân 19

3.3 THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT 20

3.3.1 Trọng lượng cây 20

3.3.2 Năng suất thực tế 21

3.3.3 Năng suất lý thuyết 21

3.4 MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ PHẨM CHẤT 22

3.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ 23

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 26

4.1 KẾT LUẬN 26

4.2 ĐỀ NGHỊ 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

PHỤ CHƯƠNG 32

Trang 11

3.1 Chiều cao cây (cm) của cải xà lách trồng tại phường Hưng

Thạnh, quận Cái Răng, Cần Thơ, tháng 7-8/2011

18

3.2 Số lá trên cây (lá/cây) của cải xà lách trồng tại phường Hưng

Thạnh, quận Cái Răng, Cần Thơ, tháng 7-8/2011

18

3.3 Chiều dài lá và chiều rộng lá (cm) của cải xà lách tại 17 NSKG

và 37 NSKG trồng tại phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng,

Cần Thơ, tháng 7-8/2011

19

3.4 Đường kính gốc thân cây (cm) của cải xà lách trồng tại phường

Hưng Thạnh, quận Cái Răng, Cần Thơ, tháng 7-8/2011

20

3.5 Độ Brix thịt lá (%), hàm lượng Nitrate (mg/kg) và hàm lượng

vật chất khô của cải xà lách trồng tại phường Hưng Thạnh, quận

Cái Răng, Cần Thơ, tháng 7-8/2011

23

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH

2.1 Hình dạng các loại phân bùn ao: (a) Đối chứng, (b) Bùn ao khô,

(c) Bùn đã xử lý vi sinh, và (d) phân vi sinh Biogro

11

2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Hiệu quả của phân vi sinh Biogro lên

sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng xà lách trong mùa mưa

tại thành phố Cần Thơ, tháng 7-8/2011”

12

3.1 Trọng lượng cây cải xà lách trồng tại phường Hưng Thạnh,

quận Cái Răng, TP Cần Thơ, tháng 7-8/2011

20

3.2 Năng suất thực tế tổng, năng suất thực tế thương phẩm và tỷ lệ

phần trăm thương phẩm của cải xà lách trồng tại phường Hưng

Thạnh, quận Cái Răng, TP Cần Thơ, tháng 7-8/2011

21

3.3 Năng suất lý thuyết của cải xà lách trồng tại phường Hưng

Thạnh, quận Cái Răng, TP Cần Thơ, tháng 7-8/2011

22

Trang 13

Trong những năm gần đây, ngành sản xuất rau của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phát triển khá mạnh, hàng năm cung cấp cho thị trường một lượng lớn rau các loại, trong đó rau ăn lá chiếm lượng đáng kể Trong các loại rau ăn lá được trồng ở ĐBSCL, xà lách là loại rau có giá trị dinh dưỡng, giá trị sử dụng và giá trị kinh tế khá cao Hiện nay trình độ thâm canh của nông dân tương đối cao, dần quan tâm nhiều đến việc sử dụng các loại phân hữu cơ vi sinh (HCVS) để giúp tăng độ màu mỡ của đất và chất lượng nông sản Tuy nhiên chất lượng của các sản phẩm phân HCVS hiện nay chưa cao và thường không ổn định nên năng suất, chất lượng xà lách còn thấp và chi phí sản xuất còn cao Các mô hình sản xuất rau xà lách trong mùa mưa thường mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng các yếu tố bất lợi của thời tiết và dịch bệnh trong mùa này gây ảnh hưởng xấu đến năng suất và chất lượng rau

Song song với sự phát triển ngành sản xuất rau, nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL

đã và đang trở thành ngành công nghiệp chủ lực của vùng Theo tổng cục thủy sản (2011), Sản lượng cá tra đã tăng rất nhanh từ 265.000 tấn vào năm 2004 lên hơn 1,5 triệu tấn năm vào 2007 Để có được sản lượng cá như trên các ao nuôi cá đã thải ra môi trường khoảng 1 triệu tấnvật chất khô trong đó chứa 900 nghìn tấn chất hữu cơ,

29 nghìn tấn phân đạm và 9,5 nghìn tấn phân lân (Trương Quốc Phú, 2007) Chính lượng chất thải này khi tràn ra các sông ngòi hoặc lắng tụ xuống đáy ao đã gây ô nhiễm môi trường nước mặt, là nơi lưu tồn và phát tán các mầm bệnh, do đó những

ao nuôi cá phải được nạo vét bùn hàng năm để phòng bệnh cho cá Tuy nhiên bùn đáy ở các ao nuôi cá tra có chứa hàm lượng hữu cơ và các dưỡng chất khá cao (Cao

Văn Phụng ctv., 2007) vì vậy nếu có thể tái chế thành sản phẩm phân hữu cơ không

những mang lại hiệu quả kinh tế mà còn an toàn về môi trường Từ những yêu cầu thực tế đó đề tài “Hiệu quả của phân vi sinh Biogro lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng xà lách trong mùa mưa tại thành phố Cần Thơ (tháng 7-8/2011)” được thực hiện nhằm xác định hiệu quả phân vi sinh Biogro có sử dụng bùn ao làm chất

mang lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng rau xà lách

Trang 14

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÂY RAU XÀ LÁCH

1.1.1 Nguồn gốc, đặc tính thực vật và giá trị dinh dưỡng

1.1.1.1 Nguồn gốc

Xà lách thuộc họ Cúc (Compositae), có tên khoa học là Lactuca Sativa var

capitata L Tên tiếng Anh là Lettuce Xà lách là loại rau ăn sống quan trọng và phổ

biến ở vùng ôn đới, tuy nhiên xà lách cũng đóng vai trò lớn ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Mai Thị Phương Anh, 1999) Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005), thì vùng tiểu Á Trung Đông được xem là quê hương của xà lách Hiện nay, loại rau xà lách này đã được sử dụng và gieo trồng rộng rãi ở khắp các nước trên thế giới

1.1.1.2 Đặc tính thực vật

Xà Lách thuộc cây thân thảo, là loại rau ăn lá hàng năm (Huỳnh Thị Dung và

ctv., 2007) Theo Trần Thị Ba (2005), xà lách có rễ cọc, sinh trưởng trên bề mặt của

đất, rễ phát triển rất mạnh Tùy theo từng loại giống mà lá xà lách có hình dạng và

số lượng lá khác nhau (Mai Thị Phương Anh, 1999) Cây xòe rộng, lá mọc quanh thân, các lá phía gốc mọc chụm với nhau, có cuống còn các lá phía trên không cuống, phiến lá hình hơi tròn, nhăn nheo, quăn ở mép, mép lá nguyên hay xẻ răng cưa (Huỳnh Thị Dung và Nguyễn Duy Điềm, 2007) Trong thân và cuống lá có mủ trắng Chùm hoa ở đầu thân, dạng chùy kéo dài, mang nhiều hoa nhỏ màu vàng, hình môi Quả bế, có lông trắng, trong chứa nhiều hạt nhỏ (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007)

1.1.1.3 Giá trị dinh dưỡng

Xà lách được xem là một trong những loại rau ăn lá giàu dinh dưỡng Theo

Mai Thị Phương Anh và ctv., (1996), xà lách rất giàu vitamin và các chất khoáng

như Canxi, Sắt, Carbohydrat và vitamin C Xà lách là nguồn bổ sung vitamin và

Trang 15

chất khoáng quan trọng cho cơ thể giúp trung hòa pH và dịch tế bào (Trần Thị Ba

và ctv., 2001)

Xà lách chủ yếu dùng để ăn tươi, món xà lách trộn với dầu giấm, dầu ô liu hay dầu hazelnut rất phổ biến ở Châu Âu Xà lách cũng được dùng để trang trí trên các món ăn chính cho thêm phần hấp dẫn (Nguyễn Y Đức, 2011) Ngoài tác dụng cung cấp dinh dưỡng, xà lách còn có thể chữa một số bệnh nhờ loại dịch trắng như sữa ở thân cây (Đường Hồng Dật, 2003)

1.1.2 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh

1.1.2.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của thực vật Nhiệt độ ảnh hưởng lên sự bốc thoát hơi nước, sự hấp thu dưỡng chất từ đất, sự đồng hóa hô hấp, tích lũy chất dự trữ và nhiều tiến trình sinh

lý của thực vật (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005) Mỗi loại rau sẽ có một khoảng nhiệt độ nhất định thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển (Phạm Hồng

Cúc và ctv., 2001)

Theo Trịnh Thu Hương (2003), nhiệt độ thích hợp nhất cho toàn bộ quá trình sinh trưởng và phát triển của cây rau xà lách là 15-200C Khi nhiệt độ trên 200C hoặc dưới 80C cây sinh trưởng chậm lại Tuy nhiên, nhiệt độ cần thiết cho từng thời

kỳ sinh trưởng cũng khác nhau, ở thời kỳ nảy mầm nhiệt độ tối ưu là 240C, nhiệt độ trên 270C hạt xà lách sẽ không nảy mầm và chuyển sang miên trạng Trong giai đoạn cây con, thân lá còn yếu vì thế thời điểm này cây cần nhiệt độ thấp hơn thời kỳ

nảy mầm (Tạ Thu Cúc, 2005; Ginna và ctv., 1988) Trong thời gian cây sinh trưởng

mạnh thì nhiệt độ thích hợp khoảng 17-200C (Trần Thị Ba và ctv., 2001)

1.1.2.2 Ẩm độ

Mai Thị Phương Anh và ctv., (1996), cho rằng ẩm độ có vai trò quan trọng

trong quá trình phân chia tế bào, duy trì và phát triển tế bào Ẩm độ trong không khí cũng như ẩm độ trong đất ảnh hưởng đến các giai đoạn sinh trưởng của xà lách như

tỷ lệ nảy mầm, sinh trưởng sinh dưỡng, sâu bệnh hại và khả năng bảo quản

Trang 16

Xà lách thuộc nhóm rau hút nước yếu nhưng lại tiêu hao nước nhiều (Trần

Thị Ba và ctv., 2001) Theo Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi (1996), thì ẩm độ

đất thích hợp cho sự phát triển của xà lách là 70-80% Vào mùa mưa, ẩm độ đất tăng cao vì vậy cần chú ý thoát nước tốt để có độ ẩm thích hợp cho xà lách phát triển Đặc biệt mùa mưa xà lách rất khó trồng, cây tăng trưởng kém, dễ bị rách lá

(Trần Thị Ba và ctv., 2009) Do đó, khi trồng xà lách nên có lưới che phía trên để

giảm lực tác động đến rau, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và chất lượng xà lách (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007)

1.1.2.3 Ánh sáng

Ánh sáng giữ vai trò rất quan trọng trong sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, là thành phần không thể thiếu trong quá trình quang hợp của cây (Mai Thị Phương Anh, 1999) Nếu thiếu ánh sáng sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng và năng suất cây trồng (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005)

Theo Đường Hồng Dật (2003) và Mai Thị Phương Anh (1999), ánh sáng thích hợp cho xà lách phát triển là khoảng 17.000 lux, thời gian chiếu sáng là 10-12 giờ trên ngày thì cây sinh trưởng, phát triển bình thường và cho năng suất cao Xà lách thuộc loại rau yêu cầu cường độ ánh sáng yếu, cần phải trồng trong điều kiện

che bóng (Trần Thị Ba và ctv., 2001)

1.1.2.4 Đất và dinh dưỡng

Theo Trịnh Thu Hương (2003), thì xà lách không kén đất nhưng yêu cầu thoát nước tốt Đất cần được làm tơi xốp, nhỏ, kỹ Luống lên cao 7-10 cm Bộ rễ xà lách rất yếu, vì vậy cần trồng trên đất giàu dinh dưỡng, khả năng giữ nước tốt Đất cát pha thịt nhẹ, tơi xốp là tốt nhất cho sự phát triển của xà lách (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2003), pH từ 5,5-7 là thích hợp cho cây hấp thu các dưỡng chất

N, P, K (Tạ Thu Cúc, 2005) Tuy nhiên, theo Mai Thị Phương Anh và ctv., (1996),

thì pH thích hợp là 5,8-6,6 Cũng như các loại cây trồng khác, rau xà lách cũng đòi hỏi phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, trong đó chủ yếu là đạm, lân và kali Đặc biệt đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng đối với rau xà lách Đạm làm cây xà lách

Trang 17

nhanh chóng bén rễ, xúc tiến nhanh quá trình hình thành thân, lá (Nguyễn Như Hà, 2006) Xà lách là cây trồng ngắn ngày, khoảng 30-40 ngày là thu hoạch Do đó, cần bón các loại phân dễ tiêu, chủ yếu là đạm, lân (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007) Theo Đường Hồng Dật (2002), phân lót có thể bón cho xà lách là 7-

10 tấn phân chuồng + 40 kg Kali/ ha, sau đó khoảng 15-20 ngày tuổi bón thúc phân đạm với lượng 33-35 kg Urea/ha Tuy nhiên theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005), lượng phân có thể sử dụng khi trồng xà lách là 110 N-50 P2O5-50

K2O kg/ha

1.1.3 Tình hình sản xuất xà lách trong và ngoài nước

Trên thế giới, rau ăn lá là một loại thực phẩm không thể thiếu trong các bữa

ăn gia đình Hơn nữa, rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, là cây trồng có

tỷ xuất hàng hóa lớn hơn nhiều cây trồng khác (Nguyễn Như Hà, 2006) Chính vì lẽ

đó mà diện tích sản xuất rau trên thế giới không ngừng tăng lên qua các năm (Faostat, 2012) Đặc biệt là rau xà lách Ở châu Á diện tích trồng xà lách chiếm cao hơn so với Châu lục khác, năm 1961 diện tích sản xuất là 221.000 ha đến năm 2010 diện tích lên đến 752.170 ha (chiếm khoảng 70,79% diện tích trồng trên thế giới),

kế đến là châu Mỹ với diện tích sản xuất năm 2010 là 152.412 ha (chiếm 14,34%),

ở châu Âu là 134.312 ha (thấp hơn châu Mỹ là 1,70%) và châu Úc có diện tích trồng thấp nhất chỉ chiếm 0,74% diện tích trên toàn thế giới

Theo số liệu thống kê của Faostat (2012), Trung Quốc là nước có diện tích sản xuất xà lách nhiều nhất trên thế giới với hơn 510.000 ha năm 2010, chiếm 48% diện tích sản xuất trên thế giới, năng suất trung bình khoảng 24 tấn/ha/năm Kế đến

là Ấn Độ với diện tích 159.100 ha, trung bình năng suất 6,2 tấn/ha/năm Diện tích sản xuất đứng thứ ba trên thế giới là Mỹ, thấp hơn Ấn Độ là 32% Tuy nhiên, năng suất xà lách của Mỹ lại đạt cao nhất trên thế giới năm 2010 là 36,5 tấn/ha/năm Xà lách được coi là loại rau quan trọng ở Mỹ sau cà chua và khoai tây

Ở Việt Nam, do diện tích sản xuất rau xà lách còn nhỏ nên chưa có trên số liệu thống kê của Faostat (Faostat, 2012) Tuy nhiên, diện tích trồng xà lách ngày càng mở rộng, nhằm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng Đặc biệt Đà Lạt là nơi nổi

Trang 18

tiếng sản xuất rau an toàn, với diện tích 4.200 ha, đạt chất lượng cao cung cấp cho thị trường như các nhà hàng, siêu thị lớn, Trong đó xà lách được trồng phổ biến với nhiều chủng loại khác nhau Hiện nay, tỉnh Vĩnh Long đang thực hiện mô hình trồng rau ăn lá đạt kinh tế cao, trong đó có rau xà lách (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Vĩnh Long, 2011)

1.2 PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG

1.2.1 Phân hữu cơ vi sinh

Phân hữu cơ vi sinh là sản phẩm được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu

cơ khác nhau nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống được tuyển chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn quy định,

góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản (Võ Thị Gương và ctv., 2009) Tuy

nhiên theo Đỗ Thị Thanh Ren và Ngô Ngọc Hưng (2004), phân hữu cơ vi sinh là sản phẩm cao cấp hơn so với phân hữu cơ do được bổ sung thêm một số loại vi sinh vật hữu ích như vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân khó tan, vi sinh vật kích thích tăng trưởng cây trồng, vi sinh vật đối kháng,… Theo Nguyễn Đăng

Nghĩa và ctv., (2005), các vi sinh vật được sản xuất qua kỹ thuật lên men trên môi

trường sau đó trộn với xác bã thực vật hoặc than bùn nên phân thường có màu nâu thẫm hoặc đen Hàm lượng các vi sinh vật có ích trong phân thường phải đạt 1,0 x

106CFU/gam (Lê Văn Tri, 2001)

Theo Jo (1990), thì phân hữu cơ vi sinh có vai trò làm tăng khả năng giữ ẩm

và thấm nước của đất Duy trì thế cân bằng vi sinh vật có lợi trong đất, bổ sung chất hữu cơ trong đất tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển mạnh hạn chế mầm

bệnh Làm tăng khả năng trao đổi cation (CEC) Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv.,

(2005) cho rằng phân hữu cơ là nguồn thực phẩm của các vi sinh vật đất như vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân, Ngoài ra, phân hữu cơ vi sinh còn làm tăng tốc độ khoáng hóa các chất hữu cơ trong đất tăng hơn so với chỉ sử dụng đơn thuần phân NPK vì trong phân hữu cơ vi sinh có chứa đầy đủ các dạng dinh dưỡng

đa lượng, trung lượng, vi lượng và các enzyme kích thích sinh trưởng cây trồng nên

sẽ là nguồn cung cấp dinh dưỡng trực tiếp cho cây trồng (Võ Thị Gương và Trần Bá

Trang 19

Linh, 2002) Hơn nữa, bón phân hữu cơ vi sinh bổ sung nguồn vi sinh vật đất có tác dụng đối kháng, khống chế vi sinh vật gây bệnh và kìm hãm được vi sinh vật gây bệnh dưới ngưỡng thiệt hại kinh tế (Lê Văn Hưng, 2004)

1.2.2 Tình hình sử dụng phân hữu cơ vi sinh

Hiện nay phân hóa học đang chiếm ưu thế trên thị trường bởi đặc tính tác dụng nhanh, tuy nhiên lại làm tăng chi phí sản xuất, suy thoái đất, năng suất và chất lượng đất không ổn định Vì vậy, cùng với nhu cầu rau tươi càng tăng, người tiêu dùng càng ngày quan tâm đến chất lượng và độ an toàn sản phẩm Điều này đã thúc đẩy người nông dân sử dụng phân hữu cơ nhiều hơn Đặc biệt là phân hữu cơ vi

sinh vật để cải tạo đất, bổ sung nguồn vi sinh vật có lợi cho đất (Lê Văn Hưng và

ctv., 2004) Từ những năm 1990 trở lại đây phân hữu cơ vi sinh đang được tiến hành

nghiên cứu sản xuất ở các đơn vị, đứng đầu là viện Công nghệ sinh học Phân hữu

cơ vi sinh đã giúp tăng năng suất cũng như chất lượng trên nhiều loại cây rau như cải trắng, đậu phộng, dưa leo, cải ngọt, Ngày nay, phân hữu cơ vi sinh càng được nông dân sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp

1.3 ĐẶC ĐIỂM BÙN ĐÁY AO NUÔI CÁ TRA

1.3.1 Đặc tính lớp bùn đáy ao nuôi cá tra

Theo Boyd (1990), bùn đóng vai trò quan trọng trong ao nuôi thủy sản Bùn đáy ao giữ và phóng thích cả chất dinh dưỡng và vật chất hữu cơ và cũng là môi trường cho sinh vật đáy, thực vật, vi khuẩn phát triển Các vật chất lắng tụ trong ao nuôi được phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau, chủ yếu là đất từ bờ ao bị rửa trôi, thức ăn thừa, chất thải của vật nuôi, xác chết phiêu sinh vật, các loại vôi,

khoáng chất, (Nguyễn Anh Tuấn và ctv., 2002) Nhìn chung, lượng thức ăn bổ

sung vào các ao nuôi là rất lớn, nên thức ăn thừa và chất thải của cá lắng đọng xuống đáy ao với số lượng đáng kể và càng về cuối vụ sự tích lũy này càng cao (Burford và William, 2001; Lê Bảo Ngọc, 2004) Theo Đặng Đình Kim và Vũ Văn Dũng (2004), các chất thải lắng tụ này tích lũy dần sinh ra những chất gây độc cho vật nuôi trong ao Bên cạnh đó, bùn đáy ao là chất thải có tác động xấu đến môi

Trang 20

trường Tuy nhiên, trong thành phần của nó có nhiều chất hữu cơ, nhiều chất dinh dưỡng có thể xử lý sử dụng như một loại phân thúc đẩy sự phát triển của cây trồng Theo nghiên cứu của Kongkeo (1998), thì thành phần phần lớp bùn đáy ao chủ yếu là các chất hữu cơ như carbohydrate, protein, lipid, chất khoáng và vitamin Trong bùn đáy ao phần trăm chất hữu cơ, đạm tổng số, lân tổng số, kali, canxi khá cao Để sản xuất 1 tấn cá tra thải ra môi trường 25,2 kg đạm, 12,6 kg phospho và 0,93 tấn vật chất khô (Cao Văn Thích, 2008) Theo Lê Bảo Ngọc (2004), bùn đáy

ao nuôi cá tra có tổng đạm biến động bình quân là 2,68-5,33 mg/g và tỷ lệ thuận với vật chất hữu cơ trong bùn đáy ao Ở các ao nuôi cá tra, hàm lượng tổng lân trong bùn đáy ao là khá cao khoảng 13,2-16,6 mg/g, tuy nhiên hàm lượng lân hòa tan trong nước chỉ chiếm 10-20% tổng lân, phần lớn lân trong ao nuôi bị hấp thu bởi bùn đáy ao (Boyd, 1985) Trong thành phần này cũng chứa hàm lượng các độc chất kim loại nặng như Cd, Pb, Cr, Ni, nhưng hàm lượng kim loại nặng trong bùn đáy

ao ở mức rất thấp so quy định về hàm lượng kim loại nặng đối với phân hữu cơ sinh học Vì vậy, hàm lượng kim loại nặng trong bùn đáy ao không ảnh hưởng đến việc

sử dụng bùn ao làm phân bón (Trần Huỳnh Phương, 2009)

1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu về bùn đáy ao

Theo Quách Quốc Tuấn (2008), nghiên cứu tận dụng chất thải ao nuôi cá tra

và xác bã thực vật để sản xuất phân hữu cơ vi sinh cho canh tác rau an toàn tỉnh Vĩnh Long, cho thấy hiệu quả khi sử dụng phân hữu cơ vi sinh từ xác bã thực vật và bùn đáy ao nuôi cá tra có tác dụng tốt lên sinh trưởng và năng suất của rau mồng tơi

và khổ qua, có khả năng thay thế 50% lượng phân bón hóa học sử dụng và làm giảm thấp dư lượng nitrate có trong rau Phan Văn Lập (2009), cũng đã nghiên cứu tận dụng chất thải ao nuôi cá tra và xác bã thực vật để sản xuất phân hữu cơ vi sinh bón cho một số rau củ tại Cần Thơ Kết quả sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ bùn ao nuôi

cá tra thâm canh sau khi thu hoạch, từ nguyên liệu mụn dừa, lục bình và rơm kết

hợp với bùn đáy ao có bổ sung chủng vi sinh vật phân hủy cellulose (Trichoderma

sp) và vi khuẩn phân giải lignin với tỷ lệ phối trộn nguyên liệu tối ưu là 1/3 bùn đáy

ao nuôi cá tra và 2/3 xác bã thực vật Sử dụng phân hữu cơ vi sinh này có khả năng

Trang 21

thay thế 75% lượng phân hóa học khi sử dụng trên cây đậu bắp và cây cải củ trắng

có kết hợp tưới vi khuẩn cố định đạm và hòa tan lân Đối với rau muống có thể thay thế 50% lượng phân hóa học trong đợt 1 và 75% lượng phân hóa học cho đợt 2 Dư lượng nitrate ở cả ba loại rau đều giảm thấp hơn so với đối chứng

Kết quả nghiên cứu xác định số lượng, chất lượng bùn đáy ao nuôi cá tra và

sử dụng trong canh tác rau của Phạm Quốc Nguyên (2008), cho thấy với hàm lượng dinh dưỡng cao của bùn đáy ao có thể sử dụng để trồng rau muống cho năng suất 15,32 tấn/ha khi thu hoạch đợt 1 và 22,72 tấn/ha khi thu hoạch đợt 2 mà không cần bón phân Năng suất này cao hơn hẳn so với trồng trên đất ở địa phương có và không có bón phân NPK Nguyễn Lệ Phương (2011), đã nghiên cứu sử dụng bùn thải ao nuôi cá tra để làm phân hữu cơ Kết quả là sử dụng các loại phân ủ từ bùn ao

để bón cho rau muống với liều lượng 20 tấn/ha qua hai vụ cho năng suất đạt 24,98 tấn/ha, tương đương khi sử dụng phân NPK với lượng 200 kg/ha Kết quả cho thấy có thể sử dụng phân ủ từ bùn đáy ao thay thế một phần phân hóa học

22,63-Theo Nguyễn Thị Bé Phúc (2008), khảo sát chất thải từ bùn đáy ao nuôi cá tra lên môi trường nước xung quanh và sử dụng bùn đáy ao cho canh tác lúa ở huyện Châu Phú và Phú Tân tỉnh An Giang Kết quả nghiên cứu là việc sử dụng bùn đáy ap dưới dạng compost ở mức 1, 2, 3 tấn/ha có thể tiết kiệm được 1/3 đến 2/3 lượng phân bón vô cơ theo khuyến cáo Ngoài ra việc sử dụng bùn đáy ao còn góp phần đáng kể trong việc bảo vệ môi trường do tránh xả thải bùn ao trực tiếp vào

nguồn nước mặt Nghiên cứu của Cao Văn Phụng và ctv (2009), thì sử dụng bùn

thải ao nuôi cá tra trộn với rơm rạ theo tỷ lệ 1:1 để bón cho lúa cho thấy có thể thay thế từ 1/3 đến 2/3 lượng phân vô cơ theo khuyến cáo là 80 kg N/ha cho mùa khô và

60 kg N/ha cho mùa mưa

Trang 22

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN

2.1.1 Địa điểm và thời gian

- Địa điểm: tại phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ

- Thời gian: từ tháng 7/2011 đến tháng 8/2011

2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn

Theo trung tâm dự báo khí tượng thủy văn thành phố Cần Thơ năm 2011, nhiệt độ trung bình trong thời gian làm thí nghiệm không cao (từ 27,2-27,50C) Ẩm

độ trung bình từ 84-85%, sự chênh lệch ẩm độ thấp (1%) Có những trận mưa lớn xuất hiện ở tháng 7 (384,5 mm)

Bảng 2.1 Tình hình khí tượng thủy văn trong thời gian làm thí nghiệm tại thành phố

Cần Thơ, 2011( Nguồn Trung Tâm dự báo khí tượng thủy văn Cần thơ, 2011)

Thời gian

(tháng)

Nhiệt độ trung bình (0C)

Số giờ nắng (giờ)

Lượng mưa (mm)

Ẩm độ (%)

15 tấn/ha

- Phân từ bùn đáy ao sử dụng trong thí nghiệm: bùn ao khô, bùn ao đã xử lý

vi sinh vật và phân vi sinh Biogro sử dụng bùn đáy ao làm chất mang, do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam phân phối

- Phân hữu cơ vi sinh COVAC (1% N, 2% P2O5, 1% K2O), phân bón lá Super fish (5% N, 1% P2O5, 1% K2O do Công ty TNHH TM & DL Phú Hảo phân phối)

Trang 23

- Thuốc trừ sâu bệnh: Basudin 10H, Proplant 722 SL, Thần hổ, …

- Vật liệu thí nghiệm khác: thước dây, thước kẹp, cân, Brix kế, túi ni lông,…

2.2 PHƯƠNG PHÁP

2.2.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, với 4 nghiệm thức

và 3 lần lặp lại Bốn nghiệm thức là 3 loại phân bùn đáy ao và 1 nghiệm thức đối chứng là phân hữu cơ vi sinh COVAC kết hợp phân cá:

1) Đối chứng (ND): Phân hữu cơ vi sinh COVAC 1 tấn/ha và phân cá 10 lít/1 ha

2) Bùn ao khô: 6,9 tấn/ha (BT)

3) Bùn đã xử lý vi sinh: 8,3 tấn/ha (BX)

4) Phân vi sinh Biogro: 0,7 tấn/ha (BI)

Hình 2.1 Hình dạng các loại phân bùn ao: (a) Đối chứng, (b) Bùn ao khô, (c) Bùn

đã xử lý vi sinh, và (d) Phân vi sinh Biogro

Trang 24

Ghi chú: diện tích mỗi lô là 14,5 m 2 (mặt liếp 10 m 2 + tim mương và lối đi 4,5 m 2 )

“ND”: đối chứng; “BT”: bùn thô; “BX”: bùn đã xử lý; “BI”: phân Biogro

2.2.2 Kỹ thuật canh tác

* Chuẩn bị đất và hạt giống

- Nền đất chuyên trồng rau, vụ trước trồng xà lách Sau khi thu hoạch rau vụ trước được dọn sạch cỏ dại, phơi đất khoảng 15 ngày, sau đó cuốc liếp lại cho đất tơi xốp, liếp rộng 1,25 m, cao 20 cm, lối đi 20 cm

- Hạt giống xà lách được gieo sạ với lượng hạt là 8 kg/ha

Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Hiệu quả của phân vi sinh Biogro lên sự sinh

trưởng, năng suất và chất lượng xà lách trong mùa mưa tại thành phố Cần Thơ (tháng 7-8/2011)”

Trang 25

* Chăm sóc, bón phân

- Che lưới: sau khi gieo hạt tiến hành che lưới cước trắng phía trên liếp trồng, cách mặt liếp khoảng 60 cm

Hình 2.3 Che lưới trên liếp trồng xà lách

- Tỉa cây: khoảng 18 - 20 ngày sau khi gieo (NSKG), chừa cây cách cây khoảng 4cm x 4cm

- Bón phân: nền phân hóa học như sau: 71 – 46 – 32 : N – P2O5 – K2O kg/ha

+ Bón lót toàn bộ phân bùn đáy ao và phân COVAC theo từng nghiệm thức với lượng như trình bày tại bảng 2.2

+ Tưới thúc toàn bộ phân hóa học và phân cá (phân cá chỉ sử dụng cho nghiệm thức nông dân) (Bảng 2.3), cân và pha phân riêng cho từng lô (hòa tan từng loại phân sau đó pha chung các loại để tưới) Tưới phân vào chiều mát, lưới nước ướt đều liếp rồi mới tưới phân phân hóa học

- Bón phân: lượng phân bón theo từng nghiệm thức (Bảng 2.2 và 2.3)

Bảng 2.2 Loại và liều lượng phân bón lót trước khi gieo xà lách

Nghiệm thức Loại phân tấn/ha

Trang 26

Bảng 2.3 Loại, liều lượng phân bón và thời gian tưới thúc sau khi gieo xà lách

Ngày bón thúc Loại phân Tổng số

- Phòng trừ sâu bệnh hại chính trên xà lách: theo dõi thường xuyên, phát hiện

và xử lý kịp thời, chủ yếu bắt bằng tay hoặc dùng các loại thuốc vi sinh thế hệ mới

2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi

* Ghi nhận tổng quan

- Ngày gieo, ngày trồng, ngày thu hoạch

- Sâu bệnh hại chính: theo dõi tình hình xuất hiện sâu bệnh

- Có những đợt mưa lớn xuất hiện trong thời gian thí nghiệm

* Chỉ tiêu về sinh trưởng

Quan sát cố định 10 cây/2 khung/lô (kích thước khung 50 x 20 cm), lấy chỉ tiêu lúc tỉa/dặm, giai đoạn 15-20 (NSKG) và thu hoạch

- Chiều cao cây: dùng thước cây đo từ cổ rễ đến chóp lá cao nhất của cây

- Số lá: đếm tổng số lá trên thân tính từ lá thật đầu tiên đến lá ngọn (có chiều dài phiến lá trên 2 cm)

- Kích thước lá: dùng thước cây đo chiều dài và chiều rộng của lá to nhất trên cây khi thu hoạch

- Đường kính gốc thân: dùng thước kẹp đo gốc thân nơi cổ rễ khi thu hoạch

* Chỉ tiêu về thành phần năng suất và năng suất

- Trọng lượng cây (g/cây): cân trọng lượng tổng tất cả các cây trong khung sau đó đếm tất cả cây trong khung 50x20 cm (2 khung), và cân trọng lượng 10 cây mẫu từ đó tính trọng lượng trung bình cây

- Năng suất tổng (tấn/ha): cân tất cả trọng lượng xà lách trong và ngoài

khung chỉ tiêu rồi quy ra năng suất tấn/ha

Trang 27

- Năng suất thương phẩm (tấn/ha): tách riêng phần không thương phẩm là những cây bị hư hại do sâu bệnh, dị tật, thối úng hay quá nhỏ không bán được trong

2 khung đem cân, rồi lấy trọng lượng tổng trừ đi trọng lượng không thương phẩm Quy ra năng suất thương phẩm/năng suất tổng (%)

ml nước cất vào trong bình lắc đều Rồi tiến hành trung hòa acid bằng cách nhỏ từng giọt NaOH 10% cho đến khi pH trung tính, thử bằng giấy đo pH, dung dịch sẽ chuyển sang màu vàng Chuyển dung dịch vào trong bình định mức 50 ml, thêm nước cất tới vạch định mức và lắc đều Tiến hành xác định hàm lượng Nitrate bằng cách đo cường độ màu vàng bằng quang phổ kế ở bước sóng 436 nm

- Trọng lượng khô (%): rửa rau rồi để cho ráo và cân trọng lượng toàn cây (W0) Cân trọng lượng bọc giấy W1, sau đó cho mẫu vào bọc giấy rồi đem sấy ở nhiệt độ 600C trong 48 giờ Lấy bọc giấy chứa mẫu ra làm nguội trong bình hút ẩm

từ 20-30 phút, đem cân trọng lượng W2, để chắc chắn mẫu khô ta cho mẫu vào lại tủ sấy 30 phút, lấy ra để nguội trong bình hút ẩm rồi cân (lặp lại đến khi trọng lượng không đổi)

Công thức tính:

(W2 – W1) Trọng lượng khô (%) = x 100

W0

Ngày đăng: 12/04/2018, 17:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w