1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của bón đạm THEO BẢNG SO màu lá lên NĂNG SUẤT mía tại cù LAO DUNG và LONG mỹ

76 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 490,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này chothấy thời điểm thu hoạch mía nguyên liệu ở Cù Lao Dung rơi vào đầu mùa khô, rấtthuận lợi cho cây mía tăng chữ đường, thu hoạch và vận chuyển mía cũng dễ dànghơn Nguyễn Văn Đắ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

- -HUỲNH MẠCH TRÀ MY

ẢNH HƯỞNG CỦA BÓN ĐẠM THEO BẢNG SO MÀU LÁ

LÊN NĂNG SUẤT MÍA TẠI CÙ LAO DUNG

VÀ LONG MỸ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT

CHUYÊN NGÀNH NÔNG NGHIỆP SẠCH

KHÓA 35

Cần thơ, tháng 12/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

- -HUỲNH MẠCH TRÀ MY

ẢNH HƯỞNG CỦA BÓN ĐẠM THEO BẢNG SO MÀU LÁ

LÊN NĂNG SUẤT MÍA TẠI CÙ LAO DUNG

VÀ LONG MỸ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 GS.TS Ngô Ngọc Hưng

2 Ths Nguyễn Quốc Khương

3 Ks Trương Thúy Liễu

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Xin tỏ lòn g biết ơn sâu sắc!

Thầy hướng dẫn Ngô Ngọc Hưng, người đã luôn dõi theo, hết lòng hướngdẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luậnvăn này

Thầy cố vấn Châu Minh Khôi đã quan tâm, dìu dắt, động viên và giúp đỡchúng em trong suốt khoá học

Chân thành cảm ơn!

Thầy Nguyễn Trọng Cần, anh Nguyễn Quốc Khương, chị Phạm Thị Yony vàchị Trương Thúy Liễu, người đã luôn tận tình chỉ dẫn, giải đáp những khó khăn cho

em trong thời gian thực hiện bài luận văn này

Quý Thầy Cô, Anh Chị công tác tại Bộ môn Khoa học đất – Khoa Nôngnghiệp và Sinh học Ứng dụng - Trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt kiến thức,kinh nghiệm bổ ích cho chúng em

Tập thể lớp Nông Nghiệp Sạch khóa 35 và các bạn trong đội văn nghệ KhoaNông Nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện

và hoàn thành luận văn

Kính dâng!

Cha mẹ hết lòng nuôi dạy con khôn lớn nên người!

Huỳnh Mạch Trà My

Trang 4

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Địa chỉ: phường Trà Nóc, Q.Bình Thủy, Tp Cần Thơ

4 Từ năm 2009 đến nay: Sinh viên hệ c hính quy Trường Đại học Cần ThơChuyên ngành: Nông nghiệp sạch

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kếtquả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kì công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Trang 6

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

-XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư chuyên ngành Nông Nghiệp Sạch với đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA BÓN ĐẠM THEO BẢNG SO MÀU LÁ LÊN NĂNG SUẤT MÍA TẠI CÙ LAO DUNG VÀ LONG MỸ Do sinh viên Huỳnh Mạch Trà My thực hiện từ 05/2012 – 09/2012 Ý kiến của Cán Bộ Hướng Dẫn

Cần Thơ, ngày… tháng ….năm 2012

Cán Bộ Hướng Dẫn

GS.TS Ngô Ngọc Hưng

Trang 7

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

-XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư chuyên ngành Nông Nghiệp Sạch với đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA BÓN ĐẠM THEO BẢNG SO MÀU LÁ LÊN NĂNG SUẤT MÍA TẠI CÙ LAO DUNG VÀ LONG MỸ Do sinh viên Huỳnh Mạch Trà My thực hiện từ 05/2012 – 09/2012 Xác nhận của Bộ Môn

Đánh Giá

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012

Bộ Môn

Trang 8

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

-XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Nghiệp Sạch với đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA BÓN ĐẠM THEO BẢNG SO MÀU LÁ LÊN NĂNG SUẤT MÍA TẠI CÙ LAO DUNG VÀ LONG MỸ Do sinh viên Huỳnh Mạch Trà My thực hiện từ 05/2012 – 09/2012 và bảo vệ trước hội đồng Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:

Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:

Cần Thơ, ngày… tháng … năm 2012

Chủ tịch Hội đồng

Trang 9

MỤC LỤC

Danh sách hình xi

Danh sách bảng xii

Danh sách chữ viết tắt xiii

Tóm lược xiv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tình hình trồng mía ở huyện Cù Lao Dung - Sóc Trăng 2

1.1.1 Vị trí địa lý 2

1.1.2 Khí hậu, thủy văn và đất đai 2

1.1.3 Tình hình sản xuất mía đường tại Sóc Trăng 3

1.2 Khái quát về vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên-kinh tế-xã hội tỉnh Hậu Giang 4 1.2.1 Vị trí địa lí 4

1.2.2 Điều kiện tự nhiên 4

1.3 Giá trị kinh tế của cây mía 8

1.4 Đặc điểm thực vật học của mía 9

1.4.1 Phân loại 9

1.4.2 Rễ mía 9

1.4.3 Thân mía 9

1.4.4 Lá mía 10

1.4.5 Hoa và hạt mía 10

1.5 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của mía 11

1.5.1 Nẩy mầm 11

1.5.2 Thời kỳ cây con 11

1.5.3 Thời kì đẻ nhánh (nhảy bụi hoặc đâm chồi) 12

1.5.4 Thời kì vươn cao (vươn lóng) 12

1.5.5 Thời kì chín của mía và trổ cờ 13

1.6 Nguồn gốc và đặc điểm của giống mía thí nghiệm 16

1.7 Điều kiện sinh thái cho mía 17

Trang 10

1.7.1 Khí hậu 17

1.7.2 Đất đai 18

1.8 Kỹ thuật trồng mía 19

1.8.1 Chuẩn bị đất 19

1.8.2 Chuẩn bị hom giống 20

1.8.3 Mật độ khoảng cách và phương pháp trồng 21

1.9 Bón phân 22

1.9.1 Nhu cầu dinh dưỡng của cây mía 23

1.9.2 Vai trò của đạm đối với mía 24

1.9.3 Chẩn đoán đạm trong cây bằng bảng so màu lá (LCC) 27

1.9.4 Kỹ thuật bón phân cho mía 28

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 30

2.1 Phương tiện 30

2.1.1 Địa điểm bố trí thí nghiệm 30

2.1.2 Thời gian bố trí thí nghiệm 30

2.1.3 Nguyên, vật liệu thí nghiệm 30

2.2 Phương pháp 31

2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 31

2.2.2 Chỉ tiêu theo dõi 31

2.2.3 Bố trí thí nghiệm 31

2.3 Chỉ tiêu theo dõi, phương pháp lấy mẫu và t hời gian thu mẫu 33

2.4 Phương pháp tính toán và xử lí số liệu 33

2.4.1 Phương pháp tính hàm lượng đạm 33

2.4.2 Phương pháp tính năng suất 34

2.4.3 Xử lý số liệu 34

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Ảnh hưởng của 3 mức độ phân đạm và 4 phương pháp bón phân lên sự sinh trưởng và phát triển của mía 35

3.1.1 Chiều cao cây 35

Trang 11

3.1.3 Đường kính thân 37

3.1.4 Mật độ cây 39

3.1.5 Sự tích lũy chất khô 40

3.2 Ảnh hưởng của 3 mức độ phân đạm và 4 phương pháp bón phân lên sự hút thu đạm của mía 41

3.2.1 Hàm lượng đạm trong thân và lá mía tại thời điểm thu hoạch 41

3.2.2 Tổng lượng đạm hút thu trên toàn bộ cây trong ruộng mía tại thời điểm thu hoạch 43

3.3 Ảnh hưởng của 3 mức độ phân đạm và 4 phương pháp bón phân lên năng suất mía 45

3.4 Ảnh hưởng của 3 mức độ đạm và 4 phương pháp bón phân lên độ Brix của mía 47

3.5 Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng đạm v à phương pháp bón trên đặc tính sinh trưởng và năng suất mía ở Cù Lao Dung và Long Mỹ 48

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC 54

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH

3.1 Ảnh hưởng của phương pháp bón đạm lên năng suất mía (tấn/ha) ở

Cù Lao Dung và Long Mỹ (Vụ mía 2011-2012)

46

3.2 Ảnh hưởng của phương pháp bón đạm lên năng suất mía (t ấn/ha) ở

Cù Lao Dung và Long Mỹ (Vụ mía 2011-2012)

47

Trang 13

1.2 Lượng dinh dưỡng lấy đi và nhu cầu phân bón để đạt nă ng suất 100

tấn mía cây trên 1 ha

23

3.1 Chiều cao cây (cm) dưới ảnh hưởng của các mức đạm và phương

3.8 Ảnh hưởng của 3 mức độ phân đạm và 4 phương pháp bón phân lên

năng suất mía

45

3.9 Ảnh hưởng của 3 mức độ phân đạm và 4 phương pháp bón phân lên

độ Brix của mía

48

3.10 Bảng tổng kết các điều kiện bón đạm để cây mía đạt năng suất tối

hảo ở hai địa điểm

49

Trang 14

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tiếng Việt

NSKT: Ngày sau khi trồng

PPB: Phương pháp bón

Từ viết tắt Tiếng Anh

LCC: Leaf Colour Chart

Trang 15

Huỳnh Mạch Trà My (2012), “Ảnh hưởng của bón đạm theo bảng so màu lá lênnăng suất mía tại Cù Lao Dung và Long Mỹ” Luận văn kỹ sư chuyên ngành NôngNghiệp Sạch, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụ ng, Trường Đại học Cần Thơ,

61 trang, Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Ngô Ngọc Hưng

TÓM LƯỢC

Đề tài được thực hiện từ tháng 1/2011 đến tháng 9/2012 nhằm xác định

liều lượng phân đạm và thời điểm bón thông qua bảng so màu lá Giống mía sử dụng trong thí nghiệm là K88-92 Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên theo kiểu thừa số 2 nhân tố là liều lượ ng đạm và phương pháp bón.

Kết quả thí nghiệm cho thấy, giai đoạn thu hoạch (330 NSKT), nhìn chung các chỉ tiêu như chiều cao cây, chiều cao lóng, mật độ, trọng lượng khô

và hàm lượng đạm tích lũy trong thân tỉ lệ thuận với mức độ đạm Năng suất

tối hảo đạt được khi bón 300 kg N/ha cho cả Cù Lao Dung và Long Mỹ Tuy nhiên, ở cả hai địa điểm thì đường kính thân và độ Brix trong thân thì không khác biệt giữa 3 mức đạm Về phương pháp bón, PPB -4 tỏ ra hiệu quả vì các chỉ tiêu như chiều cao cây, chiều cao lóng, mật độ, hàm lượng đạm tích lũy

trong cây, năng suất thu hoạch và tổng trọng lượng khô đều đạt giá trị cao hơn

so với các phương pháp còn lại Đ ường kính thân và độ Brix thì không khác biệt giữa các phương pháp bón phân Sự biểu hiện ảnh hưởng từ phương pháp bón lên mía ở hai địa điểm là giống nhau, q ua đó cho thấy bón phân đạm cho

mía theo phương pháp so màu lá hàng tuần có hiệu quả cao Cần tiếp tục nghiên

cứu khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất kết hợp chẩn đoán màu lá để đánh giá tốt hơn về liều lượng và thời điểm bón đạm thích hợp cho cây mía trên từng loại

đất.

Từ khóa: mía đường, bón N theo so màu lá, độ Brix, Cù Lao Dung, Long Mỹ.

Trang 16

MỞ ĐẦU

Có thể nói, trong các loại cây trồng hiện nay ở khu vực ĐBSCL thì cây míanguyên liệu đã trở thành cây chủ lực giúp cho bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc.Cây mía đã đem lại hiệu quả kinh tế cao trong cơ cấu cây trồng, về mặt kinh tế, sảnphẩm thu được là đường, phụ phẩm giàu giá trị, về mặt sinh học là sự tiết kiệmgiống mà sinh khối thu được lại lớn Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của côngnghiệp phân bón, đặc biệt là nhận thấy vai trò cực kì quan trọng của phân đạm đốivới việc tăng sinh khối cây trồng, người nông dân lại luôn nhìn tới cái hiệu quả nhấtthời khi bón đạm là cây cao nhanh, lá xanh tốt mà thường không chú ý đến quátrình lâu dài, dẫn đến việc bản thân nông hộ chưa đạt hiệu quả kinh tế do chi phíphân bón thường cao mà giá đầu ra sản phẩm lại không tăng nhiều, về lâu dài còngây ra ô nhiễm môi trường, tăng phát thải khí nhà kính do lượng tồn dư phân bón

mà cây trồng không cần thiết, thậm chí gây giảm năng suất do sâu bệnh, đổ ngã

Bên cạnh đó, một trong những phương pháp nghiên cứu dinh dưỡng câytrồng tiêu biểu đã được nhiều nghiên cứu trước thực hiện đó là kiểm tra tình trạngdinh dưỡng cây trồng qua màu sắc lá Đo màu xanh lá của cây bằng bảng so màu lá

là một phương pháp đơn giản, dễ làm, đã được ứng dụng có kết quả tốt đối với câylúa và cây bắp Màu xanh của các sắc tố, chủ yếu là diệp lục tố Diệp lục tố cần thiếtcho quang hợp của cây trồng Khi hàm lượng đạm trong lá cao thì hàm lượng diệplục tố gia tăng và màu lá trở nên xanh đậm Ngược lại, nếu hàm lượng đạm của câythấp thì màu xanh lá nhạt

Đề tài: “Ảnh hưởng của bón đạm theo bảng so màu lá lên năng suất mía tại

Cù Lao Dung và Long Mỹ” được thực hiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sửdụng phương pháp bón phân đạm cho mía theo bảng so màu lá trên đất phù sa vàđất phèn Từ đó đưa ra được phương pháp bón phân đạm hiệu quả nhất mà ngườidân lại có thể dễ dàng áp dụng và đem lại hiệu quả cao trong sản xuất

Trang 17

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tình hình trồng mía ở huyện

Cù Lao Dung-Sóc Trăng

1.1.1 Vị trí địa lý

Theo Hoàng Đức Nhuận và Phạm Thị Hương Giang (2007), Sóc Trăng làtỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, nằm cuối lưu vực sông MêKông (ở đoạn cuối củasông Hậu)

1, An Thạnh Tây, An Thạnh Đông, An Thạnh Nam, có hai nông trường 30/4 và

416 Có hai cửa Định An và Trần Đề - nơi sông Hậu đổ ra biển Đông Là vùng CùLao lớn nhất của sông Hậu, nằm sát biển Đông, bốn mặt được bao bọc bởi sôngnước:

1.1.2 Khí hậu, thủy văn và đất đai

Nằm trong vùng nhiệt đới cận xích đạo, điều kiện khí tượng thủy văn trongvùng có những đặc trưng chính như sau: Nắng nhiều (trung bình 6,5 giờ/ngày),năng lượng bức xạ mặt trời dồi dào (150-160 kcal/cm2/năm), nhiệt độ cao đều trongnăm (trung bình từ 25,2 đến 27,20C) rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp theohướng thâm canh tăng vụ Mùa mưa tương đối dài, thường bắt đầu t ừ đầu tháng 5kết thúc cuối tháng 11, nếu có biện pháp giữ nước trên đồng ruộng tốt có thể kéo dàithời gian canh tác từ 1-2 tháng

Vùng Cù Lao chịu ảnh hưởng trực tiếp của triều biển Đông với chế độ bánnhật triều, nước mặn quanh năm và truyền vào trong nội đồng theo hai cửa biểnĐịnh An và Trần Đề Hệ thống kênh rạch trong vùng khá chằng chịt, địa hình bịchia cắt, chế độ thủy văn diễn biến khá phức tạp đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc

bố trí sản xuất trong vùng Toàn vùng bao gồm nhiều Cù Lao nhỏ và chưa thật ổnđịnh Hầu hết các nhóm đất tại vùng Cù Lao đều có tầng chứa vật liệu sinh phènnằm bên dưới, đất có thành phần cơ giới nặng (hàm lượng sét cao), thoát nước kém,vẫn còn bồi tụ khi ngập triều nên độ phì khá cao (Lê Quang Trí et al., 2004) Theo

số liệu khí tượng thủy văn tỉnh Sóc Trăng cho thấy thời tiết trong giai đoạn thuhoạch mía là rất thuận lợi, lượng mưa giảm sau tháng 10 hàng năm, độ ẩm cũng có

xu hướng giảm như lượng mưa, nhiệt độ thì hầu như thay đổi không lớn giữa các

Trang 18

tháng trong năm, số giờ nắng thì tăng dần sau tháng 10 hàng năm Điều này chothấy thời điểm thu hoạch mía nguyên liệu ở Cù Lao Dung rơi vào đầu mùa khô, rấtthuận lợi cho cây mía tăng chữ đường, thu hoạch và vận chuyển mía cũng dễ dànghơn (Nguyễn Văn Đắc, 2010).

Tiềm năng đất đai và thổ nhưỡng

Hầu hết các nhóm đất tại vùng Cù Lao đều có tầng chứa vật liệu sinh phènnằm bên dưới, đất có thành phần cơ giới nặng (hàm lượng sét cao), thoát nước kém,vẫn còn bồi tụ khi ngập triều nên độ phì khá cao (Lê Quang Trí et al., 2004)

1.1.3 Tình hình sản xuất mía đường tại Sóc Trăng

Cù Lao Dung có diện tích đất tự nhiên là 25.488,44 ha (2002), trong đó đấtnông nghiệp là 13.295,09 ha, chiếm tỷ lệ 52,16% diện tích đất tự nhiên (NguyễnVăn Đắc, 2010)

Theo Hứa Thanh Xuân (2008), Sóc Trăng là tỉnh có diện tích trồng mía khálớn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Phần lớn diện tích tập trung ở vùng đất ven biểnnhiễm mặn thuộc huyện Cù Lao Dung, Long Phú và đất thấp nhiễm mặn của huyện

Mỹ Tú Với một nhà máy đường công nghiệp công suất 2.000 tấn mía cây/ngày, dovậy đã tạo điều kiện khá tốt cho cây mía Sóc Trăng phát huy tiềm năng năng suất vàcải thiện chất lượng trong những năm tiếp theo Năm 2005, toàn tỉnh có 10.975 hamía với năng suất trung bình là 74 tấn/ha, tương đương với sản lượng là 954 381tấn Đến năm 2006, toàn tỉnh đạt được 12.973 ha mía với năng suất trung bình là82,16 tấn/ha, tương đương với sản lượng là 1.165.008 tấn

Riêng tại vùng nguyên liệu huyện Cù Lao Dung thì trong giai đoạn từ năm

2005 đến 2008 diện tích mía không ngừng tăng lên từ 6.296 ha năm 2005 đến 7.214

ha năm 2008 Cùng với diện tích thì năng suất mía vùng Cù Lao này nhiều năm liềndẫn đầu cả nước và luôn duy trì ở mức cao như năm 2005 là 96 tấn/ha đến 2008 là96.8 tấn/ha Hiện nay năng suất mía của Cù Lao Dung đã cao hơn năng suất bìnhquân của thế giới (Nguyễn Văn Đắc, 2010)

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng mía của huyện Cù Lao Dung giai đoạn 2005-2008

Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)

Trang 19

1.2 Khái quát về vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên-kinh tế-xã hội tỉnh Hậu Giang 1.2.1 Vị trí địa lí

Vị trí: tỉnh Hậu Giang nằm về phía Tây sông Hậu thuộc vùng trung tâm củaĐồng bằng Sông Cửu Long

Tọa độ địa lí:

 Từ 9030’35’’ đến 10019’17’’ vĩ Bắc

 Từ 105014’03’’ đến 106017’57’’ kinh Đông

Địa giới hành chính tiếp giáp 6 tỉnh:

 Phía Bắc giáp Thành phố Cần Thơ

 Phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Bạc Liêu

 Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang

 Phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Long

Tỉnh Hậu Giang được thành lập với diện tích tự nhiên là 1601.1 km2, chiếmkhoảng 4% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long và chiếm khoảng 0,4% tổngdiện tích tự nhiên nước Việt Nam Hậu Giang có dân số 756,625 người (1/4/2009)với mật độ dân số 505 người/ km2 Số dân sống dựa vào nông nghiệp chiếm 41,4%.Dân số sống bằng nghề phi nông nghiệp là 58,6% (Cổng thông tin điện tử Bộ Kếhoạch và Đầu tư tỉnh Hậu Giang)

1.2.2 Điều kiện tự nhiên

1.2.2.1 Địa hình

Tỉnh Hậu Giang có độ cao mặt đất trung bình so với toàn vùng và không thayđổi nhiều qua các năm Địa hình của tỉnh thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đôngsang Tây Có thể chia thành ba vùng như sau:

Vùng triều: là vùng tiếp giáp sông Hậu về hướng Tây Bắc Diện tích 19200

ha, phát triển mạnh kinh tế vườn và kinh tế công nghiệp, dịch vụ

Vùng úng triều: tiếp giáp với vùng triều, diện tích khoảng 16800 ha, pháttriển mạnh cây lúa, có tiềm năng công nghiệp và dịch vụ

Vùng úng: nằm sâu trong nội đồng, phát triển nông nghiệp đa dạng (lúa, mía,khóm,…) Có khả năng phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ

Trang 20

1.2.2.2 Khí hậu

Tỉnh Hậu Giang nằm trong vành đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, gần xích đạo

có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa có gió Tây Nam từtháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.Các đặc trưng của khí hậu:

Nhiệt độ trung bình: 270C, không có sự chênh lệch quá lớn qua các năm.Tháng có nhiệt độ cao nhất (350C) là tháng 4 và thấp nhất vào tháng 12 (20,30C)

Mưa: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, chiếm từ 92 đến 97%lượng mưa cả năm Lượng mưa ở Hậu Giang thuộc loại trung bình, khoảng 1800mm/năm, lượng mưa cao nhất vào tháng 9 (250,1 mm)

Ẩm độ tương đối trung bình trong năm Ẩm độ phân hóa theo mùa tương đối

rõ rệt, chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít ẩm nhất khoảng11% Độ ẩm trung bình thấp nhất vào tháng 3 và tháng 4 (77%) Giá trị độ ẩm trungbình tronh năm là 82%

1.2.2.3 Đất đai

Hậu Giang nằm trong vùng trũng của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.Xét về lý tính, đây là vùng đất còn mềm yếu, thành phần cơ giới từ trung bình đếnnặng, chia thành hai tầng rõ rệt: tầng trên là sét pha thịt có độ dẻo cao, tầng dưới làsét dẻo với độ sâu vài chục mét Do đó, khả năng chịu lực rất kém Xét về hoá tính,đất Hậu Giang có tỷ lệ mùn cao, nhất là trong các tầng đất than bùn và phèn Về cơbản, đất Hậu Giang có thể chia thành các nhóm chính sau đây:

Đất phù sa chủ yếu nằm trong phạ m vi tác động mạnh của sông Hậu, loại đấtnày được khai thác sớm, lại được bồi đắp hằng năm nên đã có biến đổi đáng kể

Đất phèn chiếm diện tích lớn nhất, tập trung ở phần trung tâm và phần phíaTây của tỉnh, có 2 loại là đất phèn hoạt động và đất phèn t iềm tàng Vào mùa khô,thường có hiện tượng dậy phèn Giữ nước ém phèn hoặc chọn những cây trồng ưaphèn là nhân tố quan trọng để cải tạo đất, bảo vệ cây trồng

Đất mặn diện tích khoảng 5000 ha, tập trung ở Tây Nam Long Mỹ, Nam VịThanh, thường xuyên bị n hiễm mặn do ảnh hưởng của biển theo hệ thống sông CáiLớn đưa vào Tỉnh phải xây dựng các hệ thống đê và cống đập để điều phối nước

Trang 21

*Đặc tính bất lợi của đất phèn

Đối với đất phèn hoạt động :

Các yếu tố bất lợi chính của đất phèn là pH thấp, n hôm và sắt hoà tan trongdung dịch đất cao, ảnh hưởng bất lợi đến sinh trưởng và năng suất cây trồng

Nồng độ H2S cao gây độc cho cây: Tình trạng nhập nước, khử kéo dài, pHtăng trên 5 và hàm lượng Fe2+ thấp là điều kiện đưa đến hiện tượng ngộ độc H2Scho cây trồng do sự khử SO42- cho ra H2S gia tăng trong điều kiện đất ngập nước vàhàm lượng Fe2+không đủ để kết tủa thành FeS H2S có thể gây độc cho cây ở nồng

độ rất thấp 0,1 ppm và có thể xúc tiến sự ngộ độc Fe

Đối với đất phèn tiềm tàng:

Độ mặn cao

Khi đất không ngập cao, đất bị oxi hóa và gây chua

Đất không có cấu trúc, chịu dựng cơ giới thấp

Khả năng thấm rút cao

*Các biện pháp cải tạo đất phèn

Ở đồng bằng Sông Cửu Long, diện tích đất phèn các loại có đến khoảng 1.5triệu hecta, phân bố chủ yếu ở Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, Tây SôngHậu và lác đác ở một số vùng khác Ở Hậu Giang, đất phèn tập trung chủ yếu ở cáchuyện Phụng Hiệp, Long Mỹ, Vị Thanh,

Theo Phan Thanh Sĩ (1991) cải tạo đất phèn có những biện pháp:

Biện pháp thủy lợi:

Nhóm đất phèn tiềm tàng: Đặc điểm của loại đất này là có chứa tầng pyrite,đất và nước không bị chua nhưng trong đất chứa nhiều H2S, CH4 Vì vậy biện phápquan trọng nhất được sử dụng là luôn giữ được nước ngập trên mặt ruộng hoặc ítnhất giữ được nước ngập t rên tầng sinh phèn (FeS2) Trong điều kiện đó, đất luôn ởtrạng thái khử nên không chua Nhưng nếu giữ ngập nước lâu ngày thì các ion Fe2+

và các chất H2S, CH4 tăng dần đến mức độ cao sẽ gây độc cho cây, nếu chủ độngđược lượng nước thì tiêu bỏ ngay lượng nước cũ lấy lượng nước khác

Nhóm đất phèn hoạt động: Có nhiều đặc tính bất lợi như: pH rất thấp, độc tốrất cao, biện pháp tốt nhất là tạo mương rãnh rửa phèn để đưa các ion Al 3+, Fe2+,

SO42- thoát ra mương, từ đó thoát ra sông rạch Hiệu quả của việc rửa phèn này tùythuộc vào khoảng cách các mương rãnh và tính thấm của loại đất, độ sâu mương

Trang 22

phèn, tùy thuộc vào độ sâu xuất hiện jarosite, ở nơi chủ động được thủy triều đưanước vào mương rãnh để khống chế sự tạo thành acid.

Biện pháp canh tác:

Cày ải vào mùa khô là biện pháp làm đất có hiệu quả tốt nhất, cày ải nhằmmục đích cắt đứt mao dẫn của các chất sinh phèn, cày ải giúp đất thoáng khí, quátrình oxy hóa xảy ra mãnh liệt, sau đó nhờ nước mưa đầu mùa hòa tan và rửa trôiđộc chất (Võ Đức Nguyên, 19 82)

Biện pháp hóa học: Vôi có khả năng cải tạo lý tính của đất làm cho đất cócấu trúc tốt hơn, bón vôi có tác dụng nâng cao pH đất làm giảm độc chất Fe, Al.Trong đất phèn, khi bón lân vào đất sẽ bị cố định ngay bởi Fe và Al, do đó trước khibón lân nên tiến hành bón vôi trước (Võ Đức Nguyên, 1982)

Biện pháp bố trí cây trồng hợp lí:

Đặc điểm của đất phèn là pH thấp (pH từ 3 -4,5 thậm chí có nơi chỉ có 2,5),

độ độc Fe, Al cao, hàm lượng lân, nhất là lân dễ tiêu thiếu nghiêm trọng Nếu nhưlai tạo được giống cây trồng nào đó nói chung nó có khả năng chống chịu phèn cao

sẽ tốt cho việc cải tạo bằng biện pháp hóa học nhưng thường rất tốn kém

Hiện nay, ngành công nghiệp đang cố gắng tìm kiếm những loại cây trồng cókhả năng thích nghi được trong diều kiện đất phèn như: khóm, mía, khoai mì, bạchđàn, tràm, có thể cho năng suất nào đó mà trong điều kiện trước mắt chưa có khảnăng đầu tư, cải tạo

Trong điều kiện đất quá chua chưa sử dụng được trong nông nghiệp, người ta

đề nghị dùng đất này trồng tràm hoặ c lên liếp trồng khóm, mía, nước mưa sẽ rửaphèn làm ngọt dần (Võ Đức Nguyên, 1982)

Ngoài ra, theo Trần Văn Sỏi (1988) muốn trồng mía trên đất phèn cần chú ýcác biện pháp sau:

Xây dựng hệ thống mương thoát nước tốt để chủ động rút thoát nước chuaphèn một cách thõa đáng

Liên tục tháo chua, rửa phèn đúng kĩ thuật Kết hợp với bón vôi để tăng pHtrong đất cao hơn 4,5 trước khi trồng mía

Không bón các loại phân chua, chú ý bón đủ lân và cân đối giữa N, P, K.Dùng biện pháp tưới nước hoặc xới ải, cắ t đứt mao quản để hạn chế lượngphèn ở tầng dưới đi lên tầng đất mặt

Trang 23

1.3 Giá trị kinh tế của cây mía

Đường có vai trò rất quan trọng trong khẩu phần ăn hằng ngày của conngười, là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội Cây mía là nguyên liệuquan trọng của ngành công nghiệp chế biến đường trên thế giới và là nguồn nguyênliệu duy nhấtcủa nước ta So sánh với một số cây công nghiệp khác, cây mía là câytrồng có nhiều ưu điểm

Xét về mặt công nghiệp:

Ngoài sản phẩm chính là đường, các phụ phẩ m của mía gồm:

 Bã mía: chiếm 25-30% trọng lượng mía đem ép Bã mía chứa trung bình49% nước, 48,5% xơ (chứa 45 -55% xenlulô), 2,5% chất hòa tan (đường) Bã mía

có thể dùng ngay làm nhiên liệu đốt lò hoặc làm bột giấy, ép thành ván dùng trongkiến trúc Cao hơn nữa từ bã mía làm ra furfural là nguyên liệu của nhiều ngành sợitổng hợp

 Mật gỉ: chiếm 3-5% trọng lượng mía đem ép Thành phần mật gỉ trung bìnhchứa 10% nước, đường saccaro 35%, đường khử 25%, tro 15%, tỷ trọng 1,4 -1,5

Từ mật gỉ cho lên men, chưng cất để sản xuất rượu Rhums và cồn công nghiệp; sảnxuất men các loại (1 tấn mật gỉ cho 1 tấn men khô) hoặc các loại axit (axit axetic,axit citric) Từ 1 tấn mật gỉ có thể sản xuất được 300 lít cồn và 3.800 lít rượu Mía

là cây năng lượng của thế kỉ 21 Ngoài ra còn có thể tạo ra các sản phẩm khác nhưbột ngọt, hóa chất khác

 Bùn lọc: chiếm 1,5-3% trọng lượng mía đem ép, là sản phẩm cặn bã còn lạisau khi chế biến đường Bùn lọc chứa 0,5% N; 1,6% P2O5; 0,4% K2O; 3% proteinthô và một lượng lớn chất hữu cơ Từ bùn lọc có thể rút ra sáp mía để sản xuấtnhựa xêrêzin làm sơn, xi đánh giày Sau khi lấy sáp, bùn làm phân bón có hiệuquả khá cao

 Ngoài ra còn tận dụng phụ phẩm để sản xuất dược phẩm, thức ăn gia súc,v.v Tính giá trị của các phụ phẩm nói trên còn cao hơn 2-3 lần sản phẩm chính làđường

- Xét về mặt sinh học:

 Khả năng tạo ra sinh khối lớn: Nhờ đặc điểm có chỉ số diện tích lá lớn (7 lần

> diện tích đất) và khả năng lợi dụng cao ánh sáng mặt trời (tối đa 6 -7 % trong khicác cây trồng khác chỉ đạt 1-2%), trong vòng 10 - 12 tháng, 1 hecta mía có thể chonăng suất hàng trăm t ấn mía cây và một khối lượng lớ n lá xanh, gốc, rễ vùi lạ itrong đất

 Khả năng tái sinh mạnh: Mía là cây có khả năng để gốc được nhiều năm, tức

Trang 24

xử lý, chăm sóc, các mầm gốc lại tiếp tục tái sinh, phát triển Năng suất mía cây ở

vụ gốc đầu nhiều hơn cả vụ mía tơ Ruộng mía để được nhiều vụ gốc, giá trị kinh tếcàng cao (giảm được chi phí sản xuất)

 Khả năng thích ứng rộng: Cây mía có thể trồng trê n nhiều vùng sinh tháikhác nhau, chống chịu tốt với các điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên và môitrường, dễ thích nghi với các trình độ sản xuất từ thô sơ đến hiện đại

1.4 Đặc điểm thực vật học của mía

1.4.1 Phân loại

Trong phân loại, cây mía (Saccharum spp), thuộc họ Gramineae, chi

Andropogoneae, loại Saccharum.

Các loài mía : Trong loại Saccharum có trên 30 loài mía, phần lớn ở vùng

nhiệt đới và á nhiệt đới Các loài mía này phân biệt giữa chúng với nhau bằng cácđặc điểm thực vật, hoa tự, mầm, sự phân bố lông ở lá

Theo Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi (1997), đặc điểm thực vật họccủa mía được mô tả như sau

1.4.2 Rễ mía

Mía có bộ rễ sinh trưởng khỏe, có khả năng chống chịu sâu bệnh ở đất vàbệnh rễ, do đó có thể trồng lại cùng một ruộng mà không bị giảm sản lượng nhiều.Mía trồng bằng rễ hom có 2 loại rễ: rễ hom mọc từ nốt rễ của hom giống và rễ câymọc từ nốt rễ của đốt thân ở góc cây con Rễ hom bé, phân nhánh nhiều, ăn nông

Rễ cây lớn, phân nhánh ít, ăn sâu Rễ hom chỉ có tác dụng đối với cây mía trongthời gian ngắn từ một đến ba tháng sau trồng, vì vậy hay còn gọi là rễ tạm thời hay

rễ sơ sinh

Rễ cây có thời gian sống dài hơn (gọi là rễ thứ sinh hay rễ chính thức) có hainhiệm vụ: hút nước, din h dưỡng nuôi cây và giữ cho cây khỏi đổ ngã Rễ cây có baloại rễ: rễ mặt phân nhánh nhiều, sức hấp thu lớn; rễ giữ ăn sâu hơn; rễ thường cóthể ăn sâu tới 6 m trong điều kiện thuận lợi Mười phần trăm bộ rễ nằm ở lớp đất 20

cm và 90% rễ phân bố ở tầng đất 60 cm Rễ mía rất nhạy cảm với đất quá ẩm, thiếukhông khí và nhiệt độ thấp Rễ mía phát triển tốt nhất ở nhiệt độ đất là 300C, thấpnhất là từ 6-120C

Trang 25

dưỡng và giống) Chiều cao cây mía đạt từ 1,5 -4 m, trung bình là 2-3 m với đườngkính 2-4 cm, trọng lượng cây biến đổi từ 0,5-2 kg.

Lóng có hình dạng, màu sắc thay đổi tùy giống, là đặc điểm để phân biệt cácgiống với nhau Hình dạng có thể là hình trụ, hình ống chỉ, hình trống, hình chópđuôi cụt hoặc ngược, hình cong,… Màu sắc thay đổi từ vàng, đỏ, xanh đến tím

Đốt bao gồm vòng sinh trưởng, vòng rễ, nốt rễ, sẹo lá và mầm

Mầm (hoặc mắt) nằm trong vòng rễ, ở sát hoặc xa sẹo lá Hình dạng mầm làmột đặc trưng để phân biệt giống Mầm có thể hình trứng, trứng ngược, bầu dục,tròn, tam giác, ngũ giác, mỏ chim, chữ nhật,… Khi quan sát mầm để nhận dạnggiống phải chọn mầm sinh trưởng 10 tháng tuồi mới biểu lộ rõ đặc tính giống

Thân mía mọc thành bụi (kết quả của sự đẻ nhánh, có từ 15 -20 cây khi cònnon), những thân mía này (có kích thước, tuổi, đường kính khác nhau) có dáng mọckhác nhau tùy giống, tuổi cây và điều kiện trồng trọt Hàm lượng đường trong câymía cùng một bụi thay đổi khác nhau (những nhánh đẻ muộn nhiều nước, tỷ lệđường ít) Hàm lượng đường trong một cây mía thay đổi từ gốc tới ngọn, thường ởngọn có hàm lượng thấp hơn

1.4.4 Lá mía

Lá mía mọc cách nhau, mỗi đốt mang một lá Lá mía bao gồm phiến lá, bẹ lá

và gối lá Hình dạng, kích thước và số lượng lá thay đổi tùy theo giống

Phiến lá là bộ phận có diện tích tiếp xúc tối đa với môi trường, thường códạng mũi mác Lá thường có chiều rộng từ 2 -10 cm, chiều dài từ 60 -150 cm, trongthời kì sinh trư ởng mạnh nhất mỗi cây mía có khoảng 10 lá xanh

Gối lá là bộ phận nối liền bẹ lá và phiến lá, gồm hai mảnh ghép lại với nhau.Hình dạng và màu sắc gối lá cũng là những đặc trưng phân biệt các giống khácnhau

Bẹ lá ôm chặt thân mía, có màu xanh hoặc xan h đốm đỏ, tím Mặt ngoài cósáp bao bọc và tùy giống bẹ lá có lông hay không

1.4.5 Hoa và hạt mía

Khi mía kết thúc thời kì sinh trưởng, mầm hoa được hình thành ở điểm trêncùng của thân cây (điểm sinh trưởng) và phát triển thành hoa, được bao bọc bởi lácuối cùng của bộ lá (lá cụt) Khi trổ, bung xòe ra nên còn được gọi là cờ mía, gồmmột trục thẳng đứng, phân nhánh nhiều và dày đặc

Tổ chức sinh sản của hoa: là loại hoa có tổ chức sinh sản ngầm (hypogina).Hoa lưỡng tính, có 3 nhị đực, một bầu noãn và 2 đầu nhụy cái Mía sẽ ra hoa trongđiều kiện ngày dài (thời gian chiếu sáng khoảng 12 giờ) và liên tục nhiều ngày (24 -

50 ngày) Mía trổ hoa sẽ làm giảm lượng đường trong thân Có thể điều khiển sự rahoa của mía bằng ánh sáng nhân tạo, hóa chất, thời vụ trồng, giống mía,

Trang 26

Hạt mía rất bé, thuộc loại quả thóc, có bề dày 1 -1,5 mm, bề rộng 0,5 mm,trọng lượng 0,15-0,25 mg Bên trong chứa albumin, tinh bột và một mầm nhỏ Hạtchưa chín có màu trắng, khi chín màu nâu sẫm Hạt mía có tỉ lệ kết hạt và nảy mầmthấp, sức sống ngắn (cất giữ sau 3 tháng sẽ mất sức nẩy mầm).

Trổ cờ (ra hoa) hay không (thời kì, tỉ lệ và thời gian ra hoa) là một đặc tínhrất quan trọng đối với công tác lai tạo giống mía cũng như sản xuất mía làm đường

Khi ra hoa cây mía bị rỗng ruột làm giảm năng suất và hàm lượng đường.Trong sản suất người ta thường không thích trồng các giống mía ra hoa và tìm cáchhạn chế ra hoa

1.5 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của mía

Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn và ctv (1996), chu kỳ sinh trưởng của cây mía

tính từ lúc trồng bằng hom đến thu hoạch (mía tơ) hoặc từ lúc để gốc đến thu hoạch(mía gốc) thường kéo dài một năm nhưng chu kỳ khai thác của một ruộng mía cóthể kéo dài 3-10 năm tùy điều kiện của từng nước

Dù là mía tơ hay mía gốc, chu kỳ sinh trưởng của mía có thể chia ra làm nămthời kỳ

1.5.1 Nẩy mầm

Thời kỳ nẩy mầm tính từ khi đặt hom trồng cho tới lúc mía nẩy thành câycon (4 – 5 lá thật), mở đầu cho hoạt động sống của cây mía Mầm mía mọc lênthành cây là nhờ vào chất dự trữ chứa trong hom và nước trong đất Đồng thời rểhom phát triển cung cấp một phần thức ăn và nước cho cây non Nẩy mầm tốt đặt

cơ sở cho sự sinh trưởng của cây con và liên quan mật thiết với số cây hữu hiệu,chiều cao, đường kính thân mía và sản lượng mía khi thu hoạc h Thời kỳ này kéodài khoảng 30 ngày

1.5.2 Thời kỳ cây con

Bắt đầu từ khi cây có lá thật thứ nhất cho đến khi phần lớn số cây trongruộng mía có năm lá thật Rễ cây bắt đầu phát triển khi cây con có hai lá thật, nhưvậy thời gian đầu của cây con, mía sống dựa vào rễ hom Sau khi rễ cây phát triểnmạnh thì nhiệm vụ dinh dưỡng chủ yếu do rễ cây đảm nhiệm Bởi vậy, chú ý làmcho lá thật sinh trưởng thật tốt để cây quang hợp đồng thời thúc đẩy rễ cây pháttriển nhanh là một khâu kỹ thuật quan trọng trong thời kì cây con

Yêu cầu nhiệt độ thời kì cây con cao hơn thời kì nẩy mầm tối thiểu trên

150C Thời kì này cây sinh trưởng chậm, thoát hơi nước ít nên yêu cầu dinh dưởngkhông cao (60% độ ẩm đồng ruộng) Khô hạn hoặc úng nước điều ảnh hưởng xấuđến sự phát triển của bộ rễ thời kì cây con Thời kì này mía sợ cỏ dại tranh chấpnước và ánh sáng, cần chú ý xới cỏ, trừ cỏ

Trang 27

1.5.3 Thời kì đẻ nhánh (nhảy bụi hoặc đâm chồi)

Khi cây mía có từ 6-7 lá thật, các mầm ở gốc nằm ở dưới đất bắt đầu nảythành nhánh Từ thân mẹ đẻ ra nhánh cấp 1, nhánh cấp 1 đẻ ra nhánh cấp 2 và tiếptục thành một bụi mía

Thời kì đẻ nhánh có vị trí quan trọng vì nó quyết định số cây hữu hiệu khithu hoạch Tùy theo mật độ trồng, tỉ lệ nhánh con so với tổng số cây mía khi thuhoạch từ 30-50%

Thời gian đẻ nhánh thường kéo dài 3-4 tháng tùy thuộc giống mía, thời vụtrồng, kỹ thuật chăm sóc

Mía dại đẻ nhánh khỏe hơn mía trồng, loài nhiệt đới đẻ nhánh ít hơn loài Ấn

Độ Giống mía nhỏ cây thường đẻ nhánh khỏe hơn giống mía to cây

Đẻ nhánh thực chất là sự nẩy mầm của những mầm ở phần góc vì vậy đòi hỏicần đầy đủ các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm không khí như nẩy mầm

Nhiệt độ thấp nhất cho mía đẻ nhánh là 200C, thích hợp nhất là 300C

Độ ẩm đất vào khoảng 70-80% sức giữ nước tối đa

Bón đạm sớm làm mía đẻ nhánh sớm, số nhánh hữu hiệu tăng theo lượngđạm bón tăng, nhưng vượt quá mức thích hợp nhất không còn tác dụng nữa

Khoảng cách hàng rộng làm mía đẻ nhanh hơn khoảng cách hàng hẹp Trồngcạn mía đẻ nhanh hơn trồng sâu Vun mỏng và sớm xúc tiến mía đẻ nhánh, vun cao

và muộn hạn chế đẻ nhánh

1.5.4 Thời kì vươn cao (vươn lóng)

Cuối thời kì đẻ nhánh, cây mía bước vào thời kì làm lóng, vươn cao Đặctrưng của thời kì vươn cao như sau:

 Ngọn phát triển, số lá tăng thêm và đổi mới không ngừng

 Rễ phát triển mạnh

 Thân vươn cao nhanh, đường kính thân tăng mạnh Giữa chiều cao cây vàđường kính thân có sự tương quan chặt chẽ, nên thường lấy tốc độ vươn cao củathân (tốc độ sinh trưởng hàng tháng) để biểu thị tốc độ tăng trưởng thể tích của câytrong thời kì vươn cao

 Chất khô tích lũy nhanh

Trong các thời kì trước mía sinh trưởng chậm vì quang hợp của lá và hấp thucủa rễ còn yếu, sản phẩm quang hợp tạo ra có hạn và môt phần quan trọng phảidùng tạo nên thân, lá, rễ Trong thời kì vươn cao những cơ sở bộ lá và bộ rễ pháttriển hoàn chỉnh Các quá trình sinh lý của cây đạt đến đỉnh cao, hiệu lực sử dụng

độ phì nhiêu đất đai, phân bón, năng lượng ánh sáng, môi trường tăng lên Trongthời kì này mía tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng chiều cao đạt từ 1 0 cm/thángđến 50 cm/tháng Trong các tháng 7, 8, 9 cây mía ở miền bắc có thể mọc cao thêm

Trang 28

60-80 cm mỗi tháng, trực tiếp tạo ra sản phẩm cuối cùng là thân mía khi thu hoạch.

Do đó thời kì vươn cao lóng là thời kì quyết định trọng lượng thân, tức là thời kìquyết định năng suất cây mía

Đứng trên gốc độ người trồng mía có thể nói rằng, chăm sóc chu đáo trongthời kì nảy mầm, cây con, đẻ nhánh là tạo tiền đề cho môt năng suất cao, nhưng tácđộng đúng trong thời kì vươn cao mới là khâu có ý nghĩa quan trọng q uyết định đếnnăng suất của ruộng mía

1.5.5 Thời kì chín của mía và trổ cờ

1.5.5.1 Phân biệt độ chín của mía:

Độ chín của cây mái có hai khái niệm: chín sinh lý và chín nguyên liệu (chíncông nghiệp)

 Chín sinh lý là cây mía đã già, hàm lượng đường trên mía đạt mức tối đa nhưbản chất của giống

 Chín công nghiệp là ở một thời điểm nào đó hàm lượng đường trên mía đạttiêu chuẩn làm nguyên liệu có thể thu hoạch để chế biến, mặc dù cây mía vẫn chưađạt độ chín cao nhất (chín sinh lý) như bản chất của giống

Vào cuối thời kì vươn lóng nhiệt độ và lượng mưa giảm dần (ở nước tathường từ tháng 11 trở đi), cây mía sinh trưởng chậm và bước vào thời kì tích lũyđường mạnh mẽ

Lúc cây mía đang sinh trưởng hàm lượng đường saccaroza trong cây thấp,khi mía sinh trưởng chậm lại phần lớn các sản phẩm đồng hóa do toàn bộ lá mía tạothành chuyển sang dạng đường tích lũy trong thân, hàm lượng đường trong cây tănglên nhanh chóng

 Sự hình thành và tích lũy đường trong thân cây mía trải qua 2 giai đoạn

 Giai đoạn 1 là sự kết hợp của CO2 và H2O thành đường glucose (C6H12O6)với sự có mặt của diệp lục và ánh sáng

 Giai đoạn 2 là quá trình chuyển hóa đường đơn thành đường saccaroza vàcác đường đa khác, giai đoạn này không cần ánh sáng cũng như diệp lục tố

Quá trình tích lũy đường diễn ra từ dưới lên trên, lần lượt từ lóng này đếnlóng khác, lóng dưới chín trước lóng trên Lúc mía sắp chín, tốc độ tăng hàm lượngđường ở những lóng phía trên nhanh hơn lóng phía dưới Do đó, ngọn đuổi kịp gốccho tới lúc bằng nhau

Đánh giá độ chín của mía người ta dựa vào những căn cứ sau:

 Dựa vào ngoại quan của cây mía:

+ Độ lớn của cây mía chậm dần, các lóng phía trên nhặt lại

+ Lá mía khô vàng, lá xanh còn lại khoảng 6-7 lá, độ dài của lá mía giảm, lá

Trang 29

+ Bề mặt lóng mía nhẵn, ít bột phấn và bột phấn dễ rơi.

+ Mặt cắt lóng mía trong, sáng còn khi mía chưa chín thì mặt cắt có màu đục

 Phương pháp xác định hàm lượng đường tại ruộng:

Đo độ Brix trực tiếp: sử dụng máy khúc xạ kế cầm tay (Refractomet), mộtdụng cụ đo đơn giản, đo độ Brix mía ngay tại ruộng Khi hàm lượng đường ở phầnthân ngọn tương đương với phần thân gốc là đúng độ chín công nghiệp

Ngọn được tính từ lá khô trên cùng trở lên

Gốc được tính là lóng mía thứ nhất trên mặt đất

1.5.5.2 Các chỉ số công nghiệp của mía

Theo Viện Khoa Học Kĩ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam (2006) tùy vào điềukiện canh tác từng vùng mà yêu cầu mía phải đạt được các mức về độ Brix và chữđường CCS Đầu vụ ép thì độ Brix phải đạt trên 17 và CCS trên 8, giữa vụ độ Brixtrên 19 và CCS trên 10, cuối vụ độ Brix trên 18 và CCS trên 9 Theo Nguyễn HuyƯớc (2001) ở thời điểm mía chín phải đạt các tiêu chuẩn mía nguyên liệu như: hàmlượng đường đạt yêu cầu tại thời điểm chế biến, độ lớn cây, độ sạch ( bệnh, tạpchất, sạch rễ, ngọn và lá) Hai chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng míađường là độ Brix và chữ đường CCS

và tạp chất chiếm 1-3% nên độ Brix cao hơn lượng đường kết tinh 1 -3% Khi míachín tỉ lệ này giảm còn 0,2 -0,6%, độ Brix lúc này xấp xỉ hàm lượng đường kết tinh

Độ Brix tuy chưa phản ánh chính xác chất lượng mía nhưng đây là thông số dễ làm,nhanh và có thể đo ngay ngoài đồng ruộng nên thường được dùng rất phổ biến(Trần Văn Sỏi, 2001)

Năng suất công nghiệp (CCS: Commercial Cane Sugar)

Chỉ lượng đường thương phẩm là hàm lượng (%) đường saccaroza có trongnước mía Muốn mía đạt chất lượng cao không nên bón phân đạm cũng như tướinước muộn, càng gần lúc thu hoạch thì càng ảnh hưởng đến phẩm chất mía CCS

Trang 30

trữ trong cây chuyển sang cung cấp cho chồi mới, thân mía chín càng ngày càng bịkhô (Lê Song Dự & Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997) CCS cũng là cơ sơ để nhà máythu mua mía nguyên liệu, mức độ CCS sẽ quyết định giá bán, khi CCS cao thì giámía sẽ cao (Cao Anh Đương, 2007).

Để tìm ra chữ đường người ta dùng ba chỉ tiêu độ Brix, độ Pol, F (tỉ lệ chấtxơ) sau đó tra bảng tính sẵn sẽ được giá trị % CCS, khái niệm này do các nhà máy

chế biến Úc xây dựng và áp dụng (Nguyễn Thị Bạch Mai et al., 2009) Việc ước

lượng chữ đường còn được thực hiện thông qua việc đo độ Brix ngoài đồng, độ Brixtương quan thuận với hàm lượng đường CCS, thể hiện tổng chất rắn hoà tan trongdung dịch nước mía và phản ánh hàm lượng đường tích lũy trong cây mía một cáchtương đối với công thức CCS = (Độ Brix * 0,66) – 3,5, ruộng mía 7 tháng tuổi có

độ Brix 13 và tương đương 7,3 CCS (Nguyễn Minh Chơn et al., 2009).

Ngoài ra còn một số chỉ tiêu chất lượng mía khác như: đ ộ Pol: là độ quangcực của nước mía quan sát bởi máy Polarimet, phản ánh trị số của hàm lượng đườngsacaroza có trong nước mía RS: lượng các chất đường khử (fructoza, glucoza)trong nước mía, khi chín RS chỉ chiếm 1% Tỉ lệ xơ: là tỉ lệ % xơ bã (cellulose )trong thân mía

Chất lượng mía luôn thay đổi theo các yếu tố như tuổi mía (mía 12 tháng tuổithì lượng đường sẽ cao hơn, mía càng non hoặc quá già thì chất lượng càng thấp).Thời gian bảo quản mía sau thu hoạch cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng mía nêncần phải chế biến sau khi thu hoạch tối đa là 24 giờ, vì trung bình mỗi ngày sau khithu hoạch lượng đường kết tinh sẽ giảm 0,21%, cá biệt lên đến 0,57% Chế độ phânbón cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng mía, bón thừa đạm hoặc kết thúc bón đạmquá muộn sẽ làm giảm chất lượng mía, bón P, K quá ít hoặc không cân đối với Ncũng dẫn đến kém chất lượng và một yếu tố quan trọng nữa là chế độ tưới và nướctưới cho từng giai đoạn phát triển nếu quá thừa nước trong giai đoạn mía chín vàtích lũy đường thì mía chín chậm, lượng đường giảm, chất lượng mía sẽ giảm đáng

kể (Trần Văn Sỏi, 2001)

1.5.5.3 Giai đoạn chín sinh lý

Sau thời điểm chín công nghiệp, mía sẽ chuyển nhanh sang giai đoạn chínsinh lý, lúc này tuy hiệu quả chữ đường cao nhưng năng suất bắt đầu giảm và rấtkhó khăn trong việc bảo quản mía nguyên liệu Trong thực tiễn sản xuất không đợitới mía chín hoàn toàn (đạt tỉ lệ đường cao nhất) để thu hoạch cùng một lúc mà phảithu hoạch khi mía bắt đầu chín, tức là nguyên liệu đạt tới những trị số cho phép, sửdụng mía để ép đường có hiệu quả kinh tế

Trang 31

Thời kì chín của mía chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như giống, thời tiết,khí hậu và các biện pháp kĩ thuật.

Thời kì chín sớm muộn khác nhau tùy loại giống Căn cứ vào hàm lượngđường saccaroza hoặc độ Brix tăng lên sớm hay muộn, có thể chia giống mía rathành 3 nhóm chín khác nhau: sớm, trung bình, muộn Trong một vùng trồng míacần phối hợp các giống có thời kì chín khác nhau với tỉ lệ thích đáng để kéo dài thờigian cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp đường

Trổ cờ tức là thời kì chín sinh lý của mía Trổ cờ thường không trùng vớithời kì chín công nghiệp và có ảnh hưởng không tốt đến nguyên liệu cây mía phục

vụ cho nhà máy đường Vì vậy trong sản xuất mía thường tìm cách hạn chế sự rahoa kết hạt Ngược lại trong công tác lai tạo giống cần đến sự phát dục của cơ quansinh dục thực

Mía là cây phản ánh ánh sáng ngắn ngày, trong điều kiện 12 giờ số mía rahoa thuận lợi, khi mía có 3-4 lóng phát triển hoàn chỉnh (khoảng 6 tháng tuổi) gặpđiều kiện ngày ngắn mầm hoa sẽ phân hóa, hình thành hoa và trổ cờ Mía ra hoathích hợp ở nhiệt độ 150C-260C, dưới 100C ảnh hưởng đến phát dục của hoa Cácyếu tố phân bón, nước, thời vụ trồng, giống đều ảnh hưởng đến tỉ lệ trổ cờ của mía

Ở nước ta mía thường trổ cờ vào tháng m ười (Miền Nam) đến tháng mườihai (Miền Bắc) Khi mía trổ cờ, thân ngừng sinh trưởng, tỉ lệ đường giảm, tỉ lệ xơtăng Khi rụng cờ, độ tinh khiết của mía có tăng chút ít nhưng do tỉ lệ xơ tăng nên

số lượng đường ép vẫn thấp so với mía không trổ cờ

1.6 Nguồn gốc và đặc điểm của giống mía thí nghiệm

Nguồn gốc

Theo Cao Anh Đương (2010), giống mía K88-92 có nguồn gốc như sau

- Nguồn gốc: lai tạo và tuyển chọn tại tỉnh Suphanburi, Thái Lan từ năm

1988 Được Trung tâm nghiên cứu và phát triển mía đường nhậ p nội vào Việt Namnăm 2005 Đây là một trong những giống mía đang trồng tại Thái Lan

- Bố mẹ: U-thong 1 x PL310

Đặc điểm hình thái

Theo Trại giống Casuco (2010), giống mía K88-92 có đặc điểm hình tháinhư sau

- Lá màu xanh nhạt Phiến lá rộng, dài và cứng

- Bẹ lá không có lông, ôm sát thân Tai lá trong hình ngọn giáo, tai ngoàihình răng cưa, dễ bóc lá

- Thân rất to, thẳng, trước khi bóc bẹ có màu trắng ẩn vàng, phơi ra nắng cómàu tím nâu, phủ một lớp sáp muội

- Lóng dài, hình trụ, đai sinh trưởng rộng, có hai hàng điểm rễ thẳng đều

Trang 32

- Mầm hình tròn, lớn, nằm sát sẹo lá, cánh mầm rộng.

- Không có rãnh mầm

Đặc điểm công-nông nghiệp

- Nẩy mầm khá, tập trung, đẻ nhánh trung bình, ít trổ cờ

- Khả năng tái sinh, lưu gốc kém, thích hợp trồng rãi vụ

- Thời gian thu hoạch trên 12 tháng

- Năng suất có thể đạt từ 100-120 tấn/ ha, có nơi >120 tấn/ha

- Chữ đường 10 -12

- Mật độ cây hữu hiệu cuối vụ khá cao (~70.000 cây/ha)

- Kháng bệnh thối đỏ thân, bệnh than và bệnh đốm vàng, kháng sâu đục t hântrung bình, chịu hạn trung bình Thích hợp trồng trên chân đất sét pha cát, giàu mùn

1.7 Điều kiện sinh thái cho mía

1.7.1 Khí hậu

Mía là loại cây nhiệt đới, ưa nhiệt độ cao, ánh sáng đầy đủ, mưa nhiều.Trong những điều kiện khí hậu thích hợp, về phương diện tổng sinh khối tạo racũng như sản phẩm cuối cùng, mía là một trong những cây có hiệu quả nhất

* Nhiệt độ

Theo Chu Thị Thơm và ctv (2005), mỗi giống mía cần một lượng nhiệt độ

nhất định trong suốt cả chu kì sinh trưởng của nó và ở mỗi thời kì sinh trưởng câymía cũng cần những nhiệt độ thích hợp riêng Nhiệt độ ảnh hưởng tới quang hợp,vận chuyển dưỡng chất và quá trình tích lũy đường

Nhiệt độ bình quân thích hợp cho sinh trưởng của cây mía là 25 -260C Yêucầu nhiệt độ thay đổi tùy theo thời kì sinh trưởng , phát triển Mía nảy mầm rấtchậm khi nhiệt độ dưới 200C, tốt nhất là 28-300C, trên 400C nảy mầm kém, lúc đócần lấp hom dày Điều quan trọng là biên độ nhiệt giữa ngày và đêm tức là chênhlệch giữa nhiệt độ tối cao trung bình và tối thiểu trung bình hàng tháng càng caocàng có lợi cho tích lũy đường (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997)

* Ánh sáng

Cùng với nhiệt độ ánh sáng giữ một vai trò quan trọng trong các hoạt độngsinh lý của cây trồng Mía là cây ưa ánh sáng Quang hợp của cây m ía tỉ lệ thuậnvới cường độ và độ dài chiếu sáng Sự hút nước hút phân của bộ rễ cũng chịu tácđộng của ánh sáng, mây che làm giảm sự hút nước, thiếu ánh sáng cây hút phânkém, do đó bón phân đạm, kali cũng như lân chỉ có hiệu quả khi ánh sáng đầy đủ

Theo Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi (1997), cây mía đòi hỏi ít nhất

1200 giờ nắng trong năm, tốt nhất là trên 2000 giờ

Theo Trần Thùy (1996), trong cả chu kì sinh trưởng của cây mía cần khoảng

Trang 33

dụng tích cực đến thời kì sinh trưởng vươn cao, vì vậy ở vùng nhiệt đới và ở nhiệtđới mía vươn cao mạnh nhất khi bắt đầu mùa hè có độ dài ngày tăng lên.

* Lượng mưa

Mía là cây cần nhiều nước nhưng sợ úng nước Mía yêu cầu lượng mưa hữuhiệu trong năm là 1500 mm tổng lượng mưa phải từ 2000 -2500 mm Ở giai đọansinh trưởng mía yêu cầu 100-170 mm/tháng, nhưng khi chín yêu cầu khô ráo Míathu hoạch sau một thời gian khô ráo khoảng 2 tháng sẽ có tỉ lệ đường cao Vì vậy ởvùng có lượng mưa lớ n tới 3000 mm kéo dài trong năm cây mía sẽ gặp khó khăntrong thời kì trên

Để tạo thành 1kg mía cần 86-210 lít nước (bình quân 150 lít) như vậy để đạtđược một tấn mía cần 15 mm nước/ha tức 150 m3 nước

Mía bị úng, bộ rễ thối không hút được nước và phân , cây sinh trưởng kémdẩn đến năng suất giảm, ngoài ra những thân mọc rễ ảnh hưởng xấu đến phẩm chấtcủa mía

Tóm lại mía luôn cần ánh sáng, đòi hỏi hơi nước và nhiệt để sinh trưởng tốt

và ngược lại yêu cầu khô ráo và lạnh để chín.

1.7.2 Đất đai

Theo Trần Văn Sỏi (2001), cây mía thuộc loại cây không kén đất, có thểtrồng trên các loại đất khác nhau như đất chua phèn (Tây Nam Bộ), đất cao, đất gò(Đông Nam Bộ, Trung Du Bắc Bộ)

Mía là loại cây trồng có tính chống chịu cao với điều kiện đất đai, nó thíchứng với nhiều loại đất khác nhau (từ 70% sét đến 75% cát) Người ta trồng mía kếtquả ngay ở cả những vùng đất sét rất nặng cũng như trên đất than bùn tinh hoặc đấtcát (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997)

Tính chất hóa học của đất (bao gồm cả nguyên tố thiếu) có thể dể dàng điềuchỉnh, vì vậy tính chất lý học của đất quan trọng hơn những yêu cầu tối thiểu về lýtính đất trồng mía là có một độ sâu, độ thoáng nhất định, độ thấm nước, khả nănggiữ nước khá và mật độ pH không vượt quá nhiều giới hạn, quá lớn (cây mía có thểchịu đựng được pH thấp tới 4 hoặc cao tới 10) (Lê Song Dự và Nguyễn Thị QuýMùi, 1997) Theo Trần Văn Sỏi (2001), pH tốt cho cây mía từ 4-9

Tiêu chuẩn đất trồng mía như sau:

- Đất thịt, thịt pha cát, kết cấu tơi xốp, giữ nước tốt

-Tầng đất canh tác dày 0,7-0,8m, dày hơn càng tốt

- Thoát nước tốt(mức nước ngầm ở độ sâu từ 1,5 -2m)

- Độ pH là 5,5-8

- Hàm lượng chất hữu cơ, dự trữ N và các nguyên tố khoáng dể tan tương đối

Trang 34

- Địa hình bằng phẳng, không có đá ngầm, đá lồi đầu, độ dốc tối đa 70 (chothu hoạch bằng cơ giới) và 150(thu hoạch bán cơ giới) (Lê Song Dự và Nguyễn ThịQuý Mùi, 1997).

Năng suất nông nghiệp tiềm năng của một điều kiện sinh thái nào đó là năngsuất mía cây tối đa mà người ta có thể đạt được trên một diện tích nhỏ được chămsóc tốt trong chu kì sinh trưởng là 12 tháng Một vườn mía khai thác tốt phải đạtnăng suất trung bình tương đương một nữa tiềm năng trên Nếu kết quả rỏ rệt kémhơn phần tiềm năng (khoảng 30% năng suất tối đa) thì việc đầu tư thâm canh tăngnăng suất sẽ dễ dàng thực hiện và mang lại hiệu quả kinh tế cao Trái lại khi đã đạt60-70% tiềm năng cần phải cân nhắc, tính toán kỹ càng nếu như đầu tư thêm khôngmang lại hiệu quả kinh tế

1.8 Kỹ thuật trồng mía

Theo Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi (1997), trồng mía là khâu đầutiên trong quá trình canh tác cần phải thực hiện với chất lượng cao, nhằm đảm bảocho vùng mía sau khi trồng nẩy mầm nhanh, đều với mật độ đông đặc, yếu tố có ýnghĩa quyết định năng suất cuối cùng của vùng trồng mía

1.8.1 Chuẩn bị đất

Mía là cây trồng hàng năm nhưng có thể để gốc nhiều năm Mía có bộ rễphát triển mạnh, có khả năng ăn rất sâu Vì vậy chuẩn bị đất trồng là khâu kĩ thuậtđầu tiên quan trọng Làm đất sâu, đúng yê u cầu kỹ thuật không những tác động tốtđến mía tơ năm đầu tiên mà còn ảnh hưởng có lợi đến các mía gốc năm sau

Đối với đất mới khai hoang để trồng mía lần đầu tiên, sau khi chặt cây, đàogốc cần nhặt hết đá cục, sử dụng máy rà rễ có độ sâu 45 -55 cm, khoảng cách lưỡi rà

50 cm rà sạch gốc, rễ cây còn sót lại Sau đó bừa sang phẳng đất (có thể dùng càychảo 20-25 cm)

Phải chú ý khâu thiết kế đồng ruộng từ đầu nhằm đảm bảo sử dụng tốt đấtđai, duy trì độ phì của đất, chống xói mòn, tiện cho việc canh tác Ở vùng đất caovới trình độ canh tác thâm canh là chủ yếu (chỉ mới làm đất bằng máy) mỗi khutrồng mía nên thiết kế cứ 10 ha, chia làm 4 lô, mỗi lô 2,5 ha, trồng 100 hàng mía vớikhoảng cách 1,2-1,3 m, ở giữa và chung quanh có đường chia lô và có bờ bao qu anhcác lô rộng 4 m Nếu sử dụng cơ giới cao hơn (làm đất, chăm sóc) khu trồng rộnghơn khoảng 30 ha, cũng chia làm 4 lô và khoảng cách hàng mía rộng hơn từ 1,4 -1,5

m, đường chia lô rộng 6 m Khi có điều kiện thu hoạch bằng máy, diện tích tăng lên

100 ha, chia làm 12 lô, khoảng cách hàng mía rộng 1,5 -1,6 m, giữa khu có đườngrộng 10 m, xung quanh đường rộng 20 m tiện cho cơ giới hoạt động

Trang 35

Đối với vùng đất thấp miền Tây Nam Bộ khâu thiết kế đồng ruộng quantrọng nhất là phải lên liếp cao 30 -40 cm, rộng 5-6 m Chú ý khi lên liếp không đảotầng sinh phèn màu vàng lên mặt ruộng Đất mới khai hoang sau khi lên líp cần phảirửa phèn qua 1 vụ mưa hoặc trồng cây họ đậu qua 1 -2 vụ hãy trồng mía Diện tíchmỗi khu trồng ở vùng đất phèn mặn có thể từ 10 ha trở lên, x ung quanh phải có bờbao rộng 3-5 m để ngăn nước triều cao nhất là 50 cm Bên trong bờ bao phủ phải cómương thoát nước sâu 80-100 cm, rộng 1,2-1,5 m, đặt ống thoát nước có nắp đóng

mở để dẫn hoặc thoát nước ra sông khi cần thiết Trong khu chia thành lô r ộng 100

m, đất trong lô chia thành nhiều liếp

Làm đất trồng mía có 2 bước: cày bừa và làm rãnh trồng Đối với đất mớichuyển từ cây trồng khác sang trồng mía hoặc đất luân canh sau 1 chu kì dài hayngắn (mía tơ và mía gốc) đều phải làm đất đạt các yêu cầ u kĩ thuật sau: cày sâu, bừa

kĩ, tơi xốp, giữ ẩm, sạch cỏ, bằng phẳng

Cày sâu có lớp đất canh tác dày thêm, cải thiện lí tính đất làm cho đất tơixốp, có cấu tượng, đẩy mạnh hoạt động của vi sinh vật đất, tăng chất dinh dưỡng dễtiêu, tạo điều kiện cho rễ ăn sâu và rộng Đối với đất sau chu kì luân canh phải cày2-3 lần, hướng cày lần sau vuông góc với lần trước để tránh lõi và đạt độ sâu cầnthiết (cày máy 25-30 cm, cày trâu bò 14-18 cm) Sau mỗi lần cày là 1 lần bừa hoặctăng them số lần bừa để đảm bảo đất nhỏ Thời gian làm đất đến lúc trồng khoảng45-60 ngày để đất có thời gian phơi ải

Rãnh trồng mía phải sâu 20-25 cm Đáy rãnh có lớp đất xốp dày 5-10 cm

1.8.2 Chuẩn bị hom giống

Chất lượng hom giống ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ nẩy mầm Thông thườ ngnông dân sử dụng phần ngọn non của cây mía khi thu hoạch để làm giống Đây làcách làm truyền thống, tận dụng được phần ngọn non, rẽ tiền, nhưng có nhược điểm

là chất lượng hom giống không tốt, dễ lẫn tạp, hệ số nhân giống thấp Để khắc phụcđược nhược điểm này nên áp dụng cách chọn 4 tốt như sau:

- Chọn ruộng mía sinh trưởng tốt

- Chọn cây to, khỏe, không sâu bệnh, đổ ngã, không trổ cờ

- Chọn hom tốt, thẳng không lẩn giống

- Chọn mầm tốt, không bị xây xát

Chọn hom tốt phải đạt các tiêu chuẩn sau:

- Đạt độ lớn cần thiết (tùy giống)

- Thuần giống

Trang 36

Tiến bộ kỹ thuật được sử dụng rộng rãi ở các nước trồng mía trên thế giới vàbắt đầu tiến hành ở nước ta là làm ruộng giống riêng, sử dụng toàn bộ cây mía làmgiống vào 6-8 tháng tuổi, phương pháp này đảm bảo chất lượng giống, độ đồng đều,

độ thuần cao, kiểm tra được sâu bệnh, hệ số nhân lớn đáp ứng số lượng lớn khi cóyêu cầu Ví dụ: cần phát triển nhanh diện tích giống mới, làm giảm cây trồng (trồng

cả cây, chặt hom ngay tại rãnh trồng)

Trường hợp chưa có điều kiện làm ruộng giống riêng chú ý chỉ sử dụng homgiống ở các ruộng mía tơ, không lấy giống ở ruộng mía gốc vụ 2 và thực hiện chọn

4 tốt như trên

Hom nên chặt dài 20-30 cm, có 3-4 mầm là vừa

Hom giống sau khi chuẩn bị xong nên trồng ngay khi còn tươi, chỉ xử lýngâm ủ đối với vùng có nhiệt độ thấp (đối với mía vụ Đông Xuân ở miền Bắc) hoặc

xử lý nước nóng đối với một số bệnh nguy hiểm

Trước khi ngâm hom trong nước sạch hoặc với vôi 10% trong 8-24 phút, nếukhông ngâm trong nước vôi thì ngâm 5 -15 phút một trong các dung dịch sau:

Trên nguyên tắc chung, nơi có điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp, thời giansinh trưởng cho cây mía dài, cây nhánh có đủ thời gian sinh trưởng để thành câyhữu hiệu, cây cao to chiếm một thời gian tương đối lớn nên trồng thưa Ngược lại, ởvùng mía có thời gian sinh trưởng ngắn, số nhánh trở thành cây hữu hiệu ít, câythấp bé, chiếm một khoảng không gian hẹp cần trồng dày hơn để có số cây thuhoạch nhiều Đất tốt trồng thưa, đất xấu trồng dày Giống to cây trồng thưa hơngiống nhỏ cây Nơi có đủ điều kiện thâm canh (bón phân, tưới nước đầy đủ) míasinh trưởng khỏe, cây cao to nên trồng thưa hơn nơi không có điều kiện thâm canh

Trang 37

Ở nước ta tùy điều kiện khác nhau của từng vùng mía mà mật độ trồng vàkhoảng cách hàng thay đổi như sau:

Khoảng cách hàng trung bình thường áp dụng phổ biến ở các tỉnh phía bắc,chủ yếu vùng đồng bằng Vùng mía đồi ở Trung Du Thanh Hóa chuẩn bị đ ất, chămsóc bằng máy áp dụng khoảng cách 1,3-1,4 m

Khoảng cách hàng rộng 1,4-1,8 m áp dụng cho những người từng trồng míalớn có điều kiện canh tác cơ giới từ khâu làm đất , chăm sóc cho đến khi thu hoạchbằng máy gom.Lượng hom trồng cho một ha thay đổi tùy theo khoảng cách trồng vàcác yếu tố khác (thời vụ, giống, đất đai) biến động từ 100000-600000 hom Lượnghom trồng hợp lý là 25000 -35000 hom/ha (hom có 3-4 mầm), thường với khoảngcách hẹp phải sử dụng 34000-36000 hom 3 mầm cho 1 ha, khoảng cách trung bìnhcần 30000-32000 hom cho 1 ha

Vùng mía Đông Nam Bộ nơi canh tác thủ công làm rãnh sâu 25 -30 cm, nơicanh tác cơ giới rãnh trồng sâu 25-30 cm

Vùng mía lên liếp ở Tây Nam Bộ làm rãnh sâu 15-20 cm Chú ý cần làm cholớp đất ở đáy rãnh trồng tơi xốp và sâu khoảng 8-10 cm tạo điều kiện cho hom trồng

dể tiếp xúc với đất, rễ hom chóng phát triển

Đặt hom theo phương pháp trồng bằng, nén chặt hom tiếp xúc với đất Rãihom ở rãnh trồng tùy lượng hom giống sử dụng cơ thể đặt một hàng nối tiếp nhau,hai hàng nanh sấu hoặc hai hàng song song

Trồng xong lấp đất ngay, không để hom phơi ra nắng chỉ cần lấp kín hom vớimột lớp đất nhỏ mịn có độ dày khoảng 2-4 cm, không nên lấp sâu quá 5-6 cm, nơi

có điều kiện, nếu đất trồng không bị ẩm, cần tưới ngay một lượng nước nhỏ đủ làm

ẩm lớp mặt đất 10-15 cm đảm bảo cho mía mọc nhanh đều

1.9 Bón phân

Theo Trần Văn Sỏi (2001), trong quá trình sinh trưởng điều kiện dinh dưỡng

có ảnh hưởng rất quyết định đến các yếu tố cấu thành năng suất như mật độ cây hữuhiệu, chiều cao cây, đường kính thân, trọng lượng cây và từ đó ảnh hưởng tới năngsuất Đến thời kì thành thục, dinh dưỡng có tác dụng chi phối đáng kể đến thời gian

Trang 38

năm sau Chính vì vậy bón phân đầy đủ, cân đối và đúng lúc sẽ giúp cây mía sinhtrưởng và phát triển tốt; đạt ba mục tiêu mà người trồng mía mong muốn là tăngnăng suất, tăng hàm lượng đường, nâng cao độ phì nhiêu đất, đồng thời đạt đượchiệu quả kinh tế trước mắt vừa đảm bảo được hiệu quả kinh tế lâu dài.

1.9.1 Nhu cầu dinh dưỡng của cây mía

Theo Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi (1997), Mía là cây trồng có sinhkhối lớn, riêng sản phẩm thu hoạch đã đạt từ 70 -80 tấn thậm chí 100 tấn mía câytrên 1 ha trong 1 năm Do đó nên cần nhiều chất dinh dưỡng hơn các loại cây trồnghàng năm khác Ở mỗi chu kì sinh trưởng nhu cầu về chất dinh dưỡng có khác nhau.Giai đoạn đầu ở thời kì nẩy mầm cây con sống nhờ chất dinh dưỡng có trong hommía Khi rễ cây (rễ chính thức) phát triển, cây hút chất dinh dưỡng từ đất, nhu cầudinh dưỡng tăng dần Khi cây mía bước vào thời kì vươn lóng, cây hút chất dinhdưỡng mạnh nhất, cho đến thời kì chín, cây tích lũy đường, cây vẫn hấp thu các chấtdinh dưỡng

Theo Trần Văn Sỏi (2001), mía thuộc loại cây trồng cao sản, mỗi hecta 1năm có thể cho từ 150-200 tấn năng suất sinh học, nên yêu cầu dinh dưỡng của câymía cao hơn những loại cây trồng khác Mía cần nhiều nhất là N, P, K kế đến là Ca

và các vi lượng khác Thời kì cây con (từ 1 đến 5 lá thật) mía cần nh iều nhất là Nrồi đến K và P; thời kì đẻ nhánh và đầu thời kì vươn cao mía cần nhiều nhất là K rồiđến P và N; thời kì mía chín thì nhu cầu N cao hơn rồi đến P và K

Ở đây ta có thể tham khảo lượng dinh dưỡng và nhu cầu phân bón trong bảng 1.2

Bảng 1.2 Lượng dinh dưỡng lấy đi và nhu cầu phân bón để đạt năng suất 100 tấn mía cây trên 1 ha

Ngày đăng: 12/04/2018, 17:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm