1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS) THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN

113 378 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiên địch của rầy mềm (Aphididae) trên cây có múi (Citrus) : thành phần loài, đặc điểm hình thái và sinh học của các loài phổ biến
Tác giả Phạm Quốc Việt
Người hướng dẫn PGs.Ts. Nguyễn Thị Thu Cúc, Th.s Nguyễn Trọng Nhâm
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Trồng Trọt
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ o PHẠM QUỐC VIỆT THIÊN ĐỊCH CỦA RẦY MỀM APHIDIDAE TRÊN CÂY CÓ MÚI CITRUS : THÀNH PHẦN LOÀI, ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC C

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ



    o     

PHẠM QUỐC VIỆT

THIÊN ĐỊCH CỦA RẦY MỀM (APHIDIDAE) TRÊN

CÂY CÓ MÚI (CITRUS) : THÀNH PHẦN LOÀI, ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI

VÀ SINH HỌC CỦA CÁC

LOÀI PHỔ BIẾN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT

Giáo viên hướng dẫn:

PGs.Ts NGUYỄN THỊ THU CÚC Th.s NGUYỄN TRỌNG NHÂM

Cần Thơ - 2007

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

-

Chứng nhận đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp với đề tài :

“ Thiên địch của rầy mềm (Aphididae) trên cây có múi (Citrus) : thành phần loài, đặc

điểm hình thái và sinh học của các loài phổ biến”

Do sinh viên : Phạm Quốc Việt thực hiện và đề nạp

Kính trình hội đồng chấm Luận Văn Tốt Nghiệp xem xét

Cần Thơ, ngày tháng năm Cán bộ hướng dẫn

PGs Ts Nguyễn Thị Thu Cúc

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

-

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với tên đề tài : “Thiên địch của rầy mềm (Aphididae) trên cây có múi (Citrus) : thành phần loài, đặc điểm hình thái và sinh học của các loài phổ biến” Do sinh viên Phạm Quốc Việt thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Ngày …… tháng ….…năm 2007 Luận văn được hội đồng đánh giá ở mức ………

Ý kiến hội đồng :

Cần Thơ, ngày …… tháng …… năm 2007 Duyệt Khoa Nông nghiệp CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG & Sinh Học Ứng Dụng

Chủ Nhiệm Khoa

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

Thành kính biết ơn !

- Cô Nguyễn Thị Thu Cúc, cán bộ hướng dẫn, đã hết lòng hướng dẫn, động viên và giúp đỡ chúng em trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp cũng như thời gian học tập tại trường

- Quý thầy cô thuộc bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, đã truyền đạt nhiều kiến thức vô giá cho chúng em trong những ngày ở giảng đường Đại Học và đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Chân thành biết ơn

- Anh Nguyễn Trọng Nhâm, các bạn Trần Nguyễn Thanh Tâm, Nguyễn Hữu Tho, Nguyễn Trí Thanh, Trương Huỳnh Ngọc, Nguyễn Văn Tràng, Trần Minh Trung, Trần Thị Ngọc Quyên, Võ Thị Thu, Võ Thị Thanh Dung đã tận tình giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp

- Thân gởi các bạn lớp Trồng Trọt khóa 28 đã hết lòng ủng hộ, động viên và giúp đở tôi trong thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp

PHẠM QUỐC VIỆT

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

Phạm Quốc Việt, 2007 Thiên địch của rầy mềm (Aphidiae) trên cây có múi (Citrus) : thành phần loài, đặc điểm hình thái và sinh học của các loài phổ biến Luận văn tốt nghiệp ngành Trồng Trọt, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ

TÓM LƯỢC Nhằm tìm hiểu rõ hơn về sự phong phú của thành phần loài, các đặc điểm về hình thái, sinh học của thiên địch của rầy mềm trên cây có múi (Citrus), tạo cơ sở cho việc xây dựng và ứng dụng hiệu quả qui trình IPM trên nhóm cây có múi (Citrus), chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài : “Thiên địch của rầy mềm (Aphidiae) trên cây có múi (Citrus) : thành phần loài, đặc điểm hình thái và sinh học của các loài phổ biến” Đề tài thực hiện từ tháng 07/2006 – 02/2007 trên ba địa bàn chính của tp Cần Thơ (Mỹ Khánh, Long Tuyền, Nhơn Nghĩa) Với phương pháp điều tra nông dân, điều tra trực tiếp ngoài vườn, khảo sát trong điều kiện nhà lưới và phòng thí nghiệm Công tác điều tra trực tiếp ngoài vườn được thực hiện định kỳ 15 – 20 ngày/lần, quan sát, thu mẫu thiên địch bằng vợt hoặc bằng tay, sau đó đem về phòng thí nghiệm nuôi, quan sát các giai đoạn phát triển, hình thái, xác định loài và khả năng ăn mồi của các loài thiên địch phổ biến Kết quả khảo sát trên các vườn cây có múi (Citrus) của nông dân ghi nhận được như sau : thành phần thiên địch của rầy mềm trên cây có múi (Citrus) trong điều kiện tự nhiên rất phong phú, đã phát hiện được 16 loài, với 6 loài bọ cánh lưới thuộc bộ Neuroptera, 5 loài bọ rùa (Coccinellidae) thuộc bộ Coleoptera, 4 loài ruồi ăn rầy (Syrphidae) thuộc bộ Diptera và 1 loài ong ký sinh thuộc bộ Hymenoptera Trong các

loài phát hiện thì bọ cánh lưới nâu Micromus subanticus và bọ rùa Scymnus sp là phổ biến nhất, kế đến là các loài Suarius sp.2, Mallada sp.1, Ischiodon scutellaris, Paragus crenulatus, Dideopsis aegrotus , Menochilus sexmaculatus, các loài còn lại

xuất hiện rải rác, không đáng kể Về đặc điểm sinh học có liên quan đến sự phát triển, kết quả ghi nhận cả bốn loài thiên địch khảo sát đều có chu kỳ sinh trưởng ngắn, dưới

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

một tháng Hai loài M subanticus và Suarius sp.2 có khả năng ăn mồi rất cao, hai loài

này tỏ ra có tiềm năng sử dụng tốt trong qui trình IPM để phòng trừ rầy mềm trên cây trên cây có múi (Citrus)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

1.1 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG

1.1.1 Vị trí phân loại, phân bố và ký chủ 2 1.1.2 Đặc điểm hình thái, sinh học của rầy mềm (họ Aphididae) 2 1.1.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của rầy mềm

phổ biến trên cây có múi (Citrus) 3 1.1.3.1 Một số đặc điểm hình thái của rầy mềm

gây hại trên cây có múi (Citrus) 3 1.1.3.2 Một số đặc điểm sinh học của rầy mềm

trên nhóm cây có múi (Citrus) 4 1.2 THIÊN ĐỊCH CỦA RẦY MỀM TRÊN CÂY CÓ MÚI (CITRUS) 5

1.2.1.1 Một số đặc điểm hình thái và sinh học của

bọ cánh lưới họ Hemerobiidae 6 1.2.1.2 Một số đặc điểm hình thái và sinh học của

bọ cánh lưới họ Chrysopidae 9 1.2.1.3 Một số đặc điểm hình thái và sinh học

của Bọ rùa (Coccinellidae) 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

1.2.1.4 Một số đặc điểm hình thái và sinh học của ruồi Syrphidae 14

1.3 NGUỒN GỐC VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY CÓ MÚI (CITRUS) 17

1.3.2 Sơ lược về sự sinh trưởng và phát triển của cây có múi (Citrus) 18

2.2.2 Điều tra trực tiếp trên các vườn cây có múi 21 2.2.3 Khảo sát nghiên cứu trong điều kiện nhà lưới 21 2.2.4 Khảo sát trong phòng thí nghiệm: 22 2.2.4.1 Khảo sát một số đặc điểm sinh học của

các loài thiên địch hiện diện phổ biến 22 2.2.4.2 Khảo sát khả năng ăn mồi của một số loài thiên địch phổ biến 23

3.1.2 Côn trùng và nhện gây hại theo cánh đánh giá của nông dân 29 3.1.3 Hoá chất bảo vệ thực vật được nông dân

3.2.1 Ghi nhận chung về RM trên các vườn điều tra 30 3.2.2 Thành phần thiên địch của RM trên các vườn điều tra 32

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

3.2.3.1 Thành phần loài và sự phổ biến của các loài BCL

các vườn cây có múi (Citrus) 33

3.2.3.2 Bọ cánh lưới nâu Micromus subanticus ( họ Hemerobiidae) 35

3.2.3.8 Thiên địch của bọ cánh lưới xanh (họ Chrysopidae) 66

3.2.5.1 Ruồi ăn rầy Ischiodon scutellaris 77

Trang 10

đánh giá của nông dân tại một số địa bàn tp Cần Thơ, 2006 29 3.4 Các hoá chất bảo vệ thực vật được nông dân sử dụng trong

phòng trừ sâu hại và nhện 30 3.5 Thành phần các loài thiên địch của rầy mềm trên

cây có múi (Citrus) trên các địa bàn thuộc tp Cần Thơ, 2006 32

3.6 Chu kỳ sinh trưởng của M subanticus

trong điều kiện phòng thí nghiệm 41

3.7 Tỷ lệ trứng nở của bọ cánh lưới M subanticus

trong điều kiện phòng thí nghiệm 42

3.8 Khả năng ăn mồi của bọ cánh lưới M subanticus trên

hai loại rầy mềm trong điều kiện phòng thí nghiệm 43

3.9 Sự phát triển của bọ cánh lưới Suarius sp.2

trong điều kiện phòng thí nghiệm 49

3.10 Tỷ lệ nở trứng của bọ cánh lưới Suarius sp.2

trong điều kiện phòng thí nghiệm 49

3.11 Khả năng ăn mồi của bọ cánh lưới xanh Suarius sp.2

trên hai loại rầy mềm trong điều kiện phòng thí nghiệm 50

3.12 Sự phát triển của bọ cánh lưới Suarius sp.1

trong điều kiện phòng thí nghiệm 57

3.13 Giai đoạn phát triển của bọ rùa Scymnus sp

trong điều kiện phòng thí nghiệm 72

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

3.14 Tỷ lệ trứng nở của BR Scymnus sp

trong điều kiện phòng thí nghiệm 72

3.15 Khả năng ăn mồi của bọ rùa Scymnus sp trên

2 loại rầy mềm trong điều kiện phòng thí nghiệm 73 3.16 Thời gian các giai đoạn phát triển của BR Pseudapspidimerus sp

trong điều kiện phòng thí nghiệm 76

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH

Hình Tựa Trang

1.1 Các đặc điểm trên vỏ đầu bọ cánh lưới xanh họ Chrysopidae 11

3.1 Rầy mềm Toxoptera trên cây có múi (Citrus) 31

3.2 Ấu trùng bọ cánh lưới nâu họ Hemerobiidae 3.3 Hình dạng ấu trùng các loài bọ cánh lưới xanh (họ Chrysopidae)

ghi nhận được trên các vườn có múi (Citrus) 34

3.4 Đặc điểm khác nhau giữa hai giống Mallada và Suarius 34

3.5 Trứng của loài Micromus subanticus

3.7 Bộ phận sinh dục đực của

bọ cánh lưới nâu Micromus subanticus 38

3.8 Các giai đoạn phát triển của

bọ cánh lưới nâu Micromus subanticus 39

3.9 Các đặc điểm hình thái của ấu trùng

bọ cánh lưới xanh Suarius sp.2 44

3.10 Các giai đoạn phát triển của bọ cánh lưới xanh Suarius sp.2 47

3.11 Các đặc điểm hình thái của ấu trùng

bọ cánh lưới xanh Suarius sp.1 52

3.12 Các giai đoạn phát triển của bọ cánh lưới xanh Suarius sp.1 55

3.13 Các đặc điểm hình thái của ấu trùng

bọ cánh lưới xanh Mallada sp.1 58

3.14 Các giai đoạn phát triển của bọ cánh lưới xanh Mallada sp.1 60

3.15 Các đặc điểm hình thái của ấu trùng

bọ cánh lưới xanh Mallada sp.2 61

3.16 Các giai đoạn phát triển của bọ cánh lưới xanh Mallada sp.2 63

3.17 Các đặc điểm hình thái của ấu trùng

bọ cánh lưới xanh Mallada sp.3 64

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

3.18 Các giai đoạn phát triển của bọ cánh lưới xanh Mallada sp.3 66

3.20 Các giai đoạn phát triển của bọ rùa Scymnus sp 70 3.21 Các giai đoạn phát triển của bọ rùa Pseudaspidimerus sp 75 3.22 Ấu trùng tuổi 3 của ruồi Ischiodon scutellaris 77 3.23 Thành trùng ruồi Ischiodon scutellaris 78 3.24 Ấu trùng tuổi 3 của Paragus crennulatus 79

3.26 Các giai đoạn phát triển của ruồi Dideopsis aegrotus 81

3.28 A: Ong ký sinh rầy mềm; B: Rầy mềm bị ký sinh 84

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

Danh sách từ viết tắt

BCLN Bọ cánh lưới nâu BCLX Bọ cánh lưới xanh

Trang 15

MỞ ĐẦU

Xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống con người không ngừng được nâng cao, ngoài việc ăn no, còn phải ăn ngon và đủ chất Để đáp ứng nhu cầu này, diện tích trồng cây ăn trái không ngừng tăng lên, đặc biệt là cây có múi có giá trị dinh dưỡng cao như bưởi, cam, quýt Theo Nguyễn Minh Châu (1998) dự kiến đến năm 2010, tổng diện tích trồng cây có múi (Citrus) ở Việt Nam là 200.000 ha Bên cạnh đó việc trồng cây có múi (Citrus) cũng đem lại thu nhập cao cho nhà vườn Diện tích trồng không ngừng

tăng cũng là điều kiện thuận lợi cho rầy mềm (Aphididae) phát triển mạnh, rầy mềm

gây hại bằng cách trực tiếp chính hút nhựa đọt non, làm cho lá bị biến dạng, rầy mềm còn tiết ra nhiều dịch ngọt tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển Ngoài ra, rầy mềm cũng là môi giới truyền bệnh Tristeza, gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002)

Để hạn chế sự gây hại của rầy mềm và sản xuất ra các loại sản phẩm có mẫu mã đẹp, sạch, an toàn, hạn chế tối đa việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật thì việc quản

lý rầy mềm gây hại cây trên cây trồng không ngừng được nghiên cứu, nhất là khi Việt Nam chúng ta đang bước trên con đường hội nhập vào nền kinh tế thế giới và hướng đến một nền nông nghiệp bền vững Do đó đề tài : “Thiên địch của rầy mềm (Aphidiae) trên cây có múi (citrus) : thành phần loài, đặc điểm hình thái, sinh học của các loài phổ biến” được thực hiện nhằm hiểu rõ hơn thành phần, vai trò của thiên địch của Rầy mềmtrong điều kiện tự nhiên, nhằm có biện pháp bảo tồn và phát huy một cánh hiệu quả nhất nhóm sinh vật có ích này trong công tác quản lý tổng hợp dịch hại trên cây có múi (Citrus)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

CHƯƠNG I

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG

GÂY HẠI CỦA RẦY MỀM

1.1.1 Vị trí phân loại, phân bố và ký chủ

Rầy mềm hay còn gọi là “rệp muội” (họ Aphididae), Aphididae là một họ lớn trong

bộ cánh đều (Homoptera) Theo Ghosh (1976) trên thế giới có hơn 4000 loài rầy mềm được mô tả và chia làm 8 phụ họ, trong đó ở vùng Đông Nam Á có hơn 1000 loài Aphididae là họ lớn nhất trong tổng họ Aphidoidae Ở Việt Nam, kết quả điều tra của Quách Thị Ngọ từ năm 1994 - 1999 ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và vùng phụ cận đã thu thập được 45 loài rầy mềm và xác định được tên 30 loài thuộc 4 họ phụ Kết quả điều tra 1986 - 1987 ở đồng bằng sông Cửu Long đã xác định được 10 loài rầy mềm Rầy mềm phân bố mọi nơi trên thế giới và gây hại trên nhiều loại cây trồng (Quách Thị Ngọ, 2000)

Ký chủ chính của các loài rầy mềm rất phong phú, bao gồm các cây lương thực như lúa, ngô, đậu đổ các loại, thuốc lá, mía, bông, cam chanh, cây dược liệu, cây cảnh (Quách Thị Ngọ, 2000)

1.1.2 Đặc điểm hình thái, sinh học của rầy mềm (họ Aphididae)

Rầy mềm là côn trùng có kích thước nhỏ, mềm yếu, chích hút phổ biến trên lá, thân, trái bông non của thực vật Cơ thể dạng hình trái lê, trên phần lưng của phía đuôi có mang một đôi ống bụng Râu đầu dài gồm nhiều đốt Thành trùng có 2 dạng: có cánh

và không có cánh, phần nhiều con đực có cánh Cấu tạo mạch cánh đơn giản, cánh trước thường khá lớn so với cánh sau, ở trạng thái nghỉ, cánh thường dựng thẳng trên

cơ thể Đôi ống bụng thường xuất phát từ phía lưng bụng của đốt bụng thứ 5 hoặc thứ

6, bộ phận này tiết ra dịch để tự vệ Ở một số loài, cơ thể rầy được bao phủ bởi những

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

sợi sáp trắng, những chất sáp này được tiết ra từ các tuyến da Rầy mềm cũng tiết dịch ngọt (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2003)

Theo Borror và ctv (1976), chu kỳ sống của nhiều loài rầy mềm là vô cùng phức tạp, chịu ảnh hưởng lớn bởi điều kiện khí hậu Ở những vùng có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông khá rõ rệt thì có sự sinh sản hữu tính và vô tính Mùa xuân đến thì những trứng đẻ trong mùa đông sẽ nở ra thành con cái không cánh Thông qua hình thức sinh sản đơn tính, cho ra những thế hệ con cái không cánh, tiếp tục sinh ra những thế hệ con cái có cánh Từ mùa xuân đến mùa hè, có sự di trú đến những cây ký chủ khác và sinh ra nhiều thế hệ con cái không cánh sống chung nhau Mùa hè đến mùa thu, khi mật độ quần thể cao, xuất hiện những cá thể đực và cái đều có cánh, những thế hệ này lại tiếp tục di trú về cây ký chủ chính Đây là những thế hệ có khả năng sinh sản hữu tính, sau

đó sẽ đẻ trứng Những trứng này sẽ vượt qua mùa đông lạnh giá cho đến mùa xuân lại

nở, và tiếp tục chu kỳ mới Nhưng ở vùng nhiệt đới nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, rầy mềm chủ yếu sinh sản đơn tính, đẻ con, và ghi nhận chủ yếu con cái, ít có sự hiện diện của con đực (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Rầy mềm có thể sinh ra 25 – 30 thế hệ trong một năm do vòng đời khá ngắn có khi chỉ

có một tuần (Dan Smith và ctv, 1997)

1.1.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của rầy mềm phổ biến

trên cây có múi (citrus)

1.1.3.1 Một số đặc điểm hình thái của rầy mềm gây hại trên cây có múi

Theo Quách Thị Ngọ (2000), có 6 loài rầy mềm gây hại trên cây có múi (Citrus)

Nhưng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thì chủ yếu có hai loài rầy mềm Toxoptera aurantii và Toxoptera citricidus gây hại phổ biến (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

* Toxoptera aurantii Boyer de Fonscolombe

Thành trùng có hai dạng như các loài rầy mềm khác

Dạng có cánh : chân và râu đầu màu vàng nâu hơi nhạt, cuối mỗi đốt màu nâu Râu đầu 6 đốt, ngắn hơn cơ thể Cơ thể dài từ 1,44 – 1,8 mm Vòi chích hút kéo dài đến đốt

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

chậu chân sau Ống bụng dài màu nâu đến nâu đỏ gần như nâu sẫm (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003) Phần đuôi có 8 – 19 lông nhỏ (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Dạng không cánh: cơ thể dài từ 1,7 – 1,8 mm, màu nâu đỏ Râu đầu 6 đốt (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003)

* Toxoptera citricidus Kyrkaldy

Thành trùng có 2 dạng :

Dạng có cánh: cơ thể từ màu nâu đỏ đến đen, nhưng ngực đậm hơn Râu đầu ngắn hơn cơ thể, màu nâu đỏ, chân và đoạn cuối của râu màu trắng, các đoạn cuối của râu màu trắng, các đoạn nối các đốt râu cũng màu trắng Chiều dài cơ thể từ 1,6 – 2,1 rộng

từ 0,8 – 1,0 mm Vòi chính hút kéo dài khỏi đốt chậu chân sau, đốt cuối vòi nhọn và hẹp Các chân màu sậm, riêng đốt chày màu nhạt Bụng màu nhạt, có nhiều đốm đậm nằm rải rác Ống bụng dạng trụ màu đậm (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003)

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) thì phần đuôi của T citricidus có từ 25 – 40 lông

nhỏ

Dạng không cánh: cơ thể màu nâu đỏ, lớn hơn dạng có cánh, chiều dài từ 1,7 – 2,1

mm, rộng từ 1,1 – 1,35 mm Trên cơ thể có nhiều lông dài và nhiều đốm màu rải rác (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003)

1.1.3.2 Một số đặc điểm sinh học của rầy mềm

trên nhóm cây có múi (Citrus)

Cả ấu trùng và thành trùng đều gây hại cho cây bằng cách chích hút nhựa lá và cành non làm giảm khả năng tăng trưởng của cây Lá non bị cong và biến dạng Đồng thời

sự gây hại của rầy mềm cũng làm cho trái bị chín sớm và giảm phẩm chất (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003) Bên cạnh rầy mềm gây hại cho cây thì chất thải ra có

vị ngọt nên hấp dẫn kiến hôi, kiến lửa, kiến cao cẳng … đến sống cộng sinh và bảo vệ chúng, xua đuổi các loài thiên địch Song song với sự hiện diện của các loài kiến, thì dịch ngọt do rầy mềm tiết ra thu hút nấm bồ hóng đến tấn công, thường là nấm bồ hóng

Capnodium citri (Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng, 1997)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

Ngoài việc gây hại trực tiếp cho cây trên các đọt non, rầy mềm còn là tác nhân truyền bệnh “Tristera” (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002) Khi chích hút cây bệnh, rầy chỉ cần khoảng một phút để chích hút virus vào cơ thể và cần khoảng

ba phút là có thể truyền bệnh sang cây mạnh Chỉ cần 3 rầy mềm đủ để gây hại 100% cho cây Tuy nhiên, virus này không có khả năng lưu tồn lâu trong cơ thể rầy và có thể mất khả năng truyền bệnh sau 24 giờ (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003) Tại

một số nước thì T aurantii còn là tác nhân truyền bệnh “Lá nhỏ Spiroplasma citri” trên

cam quýt (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Rầy mềm gây hại được trên nhiều loại cây, đặc biệt là T aurantii được ghi nhận gây

hại trên 120 loài thực vật thuộc các họ Anacardiaceae, Anonaceae, Aralinaceae, Euphiorbiaceae, Lauraceae, Moraceae, Rubiaceae, Sterculiaceae và Theaceae Ký chủ chính bao gồm cam, quýt, chanh, cà phê, trà, ca cao, xoài Rầy mềm có sức sinh sản cao, một thành trùng cái không cánh đẻ được bình quân từ 8,9 – 13,4 con và tuổi thọ của thành trùng từ 7,3 – 10,3 ngày trong khi đó vòng đời khá ngắn từ 5,1 – 10,8 ngày (T=22,1 – 29,30C, H= 69,4 – 79,4 %) (Quách Thị Ngọ và Nguyễn Thị Hoa, 2002) Qua

đó cho thấy vòng đời ngắn, sức sinh sản cao nên khả năng gây hại của rầy mềm là rất lớn trên các vườn cây có múi (Citrus)

1.2 THIÊN ĐỊCH CỦA RẦY MỀM TRÊN CÂY CÓ MÚI (CITRUS)

Thành phần thiên địch của rầy mềm trong điều kiện tự nhiên rất phong phú, có thể khống chế đến 95% mật số rầy mềm gây hại (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Phạm Văn Lầm (2005), cũng ghi nhận thiên địch của rầy mềm trong điều kiện tự nhiên vô cùng đa dạng, đã phát hiện được 52 loài Các loài này thuộc 4 bộ: bộ cánh cứng (Coleoptera),

bộ hai cánh (Diptera), bộ cánh màng (Hymenoptera), bộ cánh mạch (Neuroptera) Bên cạnh những côn trùng thiên địch đã phát hiện thì nấm ký sinh rầy mềm cũng có vai trò

vô cùng quan trọng trong việc làm giảm mật số rầy mềm gây hại (Sherpard và ctv, 1999)

1.2.1 Bộ cách mạch (Neuroptera)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

Bộ cánh mạch có nhiều họ là thiên địch của nhiều loài dịch hại Tuy nhiên, các loài thuộc hai Hemerobiidae và Chrysopidae có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc quản

lý dịch hại trên cây trồng Hầu hết chúng là thiên địch bắt mồi của nhiều loài dịch hại

và xuất hiện phổ biến trên nhiều loại cây trồng (McEwen và ctv, 2001)

1.2.1.1 Một số đặc điểm hình thái và sinh học

của bọ cánh lưới họ Hemerobiidae

* Sự đa dạng và phong phú của bọ cánh lưới họ Hemerobiidae

Bọ cánh lưới thuộc họ Hemerobiidae có khoảng 550 loài được xếp vào 27 giống và 10 phân họ (Monserrat,1990; Oswald,1994) Ở Bắc Mỹ, có 58 loài đã được mô tả, riêng vùng Floria đã phát hiện được 10 loài thuộc 4 giống (MacLeod và Stange, 2001) Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Viện Bảo Vệ Thực Vật (2005) chỉ ghi nhận được 1 loài Bọ cánh lưới nâu có sự phân bố khắp nơi trên thế giới

* Một số đặc điểm hình thái của bọ cánh lưới họ Hemerobiidae

Bọ cánh lưới thuộc họ Hemerobiidae được gọi là bọ cánh lưới nâu do thành trùng của hầu hết các loài đều có màu nâu Theo Borror và ctv (1976), thành trùng được phân biệt với thành trùng của các loài thuộc họ khác trong bộ cách mạch (Neuroptera) là ở gân cánh Costal, gân này chia ra làm 2 hoặc nhiều nhánh Theo MacLeod and Stange (2001), dựa vào gân cánh và bộ phận sinh dục đực có thể định danh đến loài Thành trùng hoạt động mạnh về đêm và một thành trùng cái có thể đẻ rất nhiều trứng Trứng được đẻ trên mặt lá không có sợi tơ nâng trứng như hầu hết các loài thuộc họ Chrysopidae, thường có màu trắng hoặc màu kem Trứng trông giống như trứng của một số loài thuộc họ Syrphidae, nhưng trứng có một nốt nhỏ ở cuối trứng, trơn và không có những đường sọc ở bề mặt (McEwen và ctv, 2001) Ấu trùng vừa nở ra có màu nhạt, khoảng 3 – 4 giờ là nhanh chóng tìm con mồi, ấu trùng hoạt động rất mạnh

Ấu trùng khi lột xác sang tuổi mới có nhiều thay đổi về hình dạng và màu sắc Cơ thể

ấu trùng tuổi 1 có lông cứng đơn giản và đặc biệt được xác định rõ bởi chân có sự hiện

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

diện của móng có dạng hình loa kèn ở giữa và 2 móng có hình móc bên ngoài Ấu trùng tuổi 2 tương tự như ấu trùng tuổi 3 nhưng kích thước nhỏ hơn và lông cứng ngắn,

ít Ấu trùng tuổi 3 có kích thước lớn nhất và có nhiều lông cứng ngắn Chân ấu trùng tuổi 3 giống như ấu trùng tuổi 2, được gắn với hai móng dạng hình móc, và khác biệt

so với ấu trùng tuổi 1 Theo McEwen và ctv (2001), dựa vào sự khác biệt về đặc điểm hình thái thì ấu trùng được chia ra làm 2 dạng; dạng thứ 1: cơ thể mảnh, dài, đốt bụng vuốt nhọn, đầu không thụt vào bên trong đốt ngực thứ 1, và đốt ngực 2, 3 dễ thấy, đốt ngực thứ 3 có mảnh cứng (sclerites), dạng thứ 2 : cơ thể căng ra, đốt bụng có nhiều dạng thùy, đầu thụt vào được (từ mức độ nhiều cho đến mức độ ít) ở đốt ngực thứ 1, và mảnh cứng ở đốt ngực 2 và 3 không hiện diện Ấu trùng cuối tuổi 3 thường tìm nơi kín đan tơ làm kén hoá nhộng Nhộng có dạng hình chữ “C” nằm bên trong hai lớp tơ màu trắng bao phủ, lớp tơ bên ngoài dán chặt vào lá hoặc thân cây và lớp tơ bên trong có dạng hình elip

* Một số đặc điểm sinh học của bọ cánh lưới họ Hemerobiidae

Bọ cách lưới nâu thuộc nhóm côn trùng có kiểu biến thái hoàn toàn Chu kỳ sống trải qua bốn giai đoạn : trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành Và giai đoạn ấu trùng gồm

có 3 tuổi (McEwen và ctv, 2001)

Theo MacLeod và Stange (2001), thành trùng và ấu trùng đều ăn mồi Các loài thuộc

các giống Hemerobius, Micromus, Sympherobius, Drepanacra, Megalomus, Psectra, Nusalala, Wesmaelius, Megalomus, Drepanepteryx, Drepanacra đều tấn công con mồi

Các loài thuộc giống Micromus, Hemerobius có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc

quản lý dịch hại trên các vườn cây ăn trái, trong nông nghiệp cũng như các khu rừng (McEwen và ctv, 2001) Thức ăn chủ yếu của bọ cánh lưới nâu là rầy mềm (họ Aphididae) Tuy nhiên, thành trùng không chỉ ăn thức ăn là rầy mềm mà còn ăn những côn trùng chân đốt khác Phần lớn con mồi thuộc bộ cánh đều (Homoptera) và một số

loài nhện nhỏ đã được xác định chắc chắn là thức ăn của các loài Brauerobius marginatus, Hemerobius humulinus, Hemerobius lutescens, Hemerobius micans, Hemerobius perelegans, Hemerobius pini, Hemerobius stigma, Hemerobius pini,

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

Micromus variegatus và Sympherobius pygmaeus. Cũng có một vài trường hợp đặc biệt thành trùng của một số loài vừa ăn mồi vừa ăn thức ăn có nguồn gốc thực vật Các

loài Drepanepteryx phalaenoides, Hemerobius lutescens, Hemerobius nitidulus, và Micromus lanosus ngoài ăn mồi ra còn ăn thêm phấn hoa và mật ngọt Khối lượng con mồi được tiêu thụ luôn luôn cao Có nhiều ghi nhận khác nhau về khả năng ăn mồi Đối

với con mồi nhỏ, ấu trùng Hemerobius stigma tiêu thụ trung bình khoảng 300 trứng,

thành trùng đực và cái có sự tiêu thụ tương đối giống nhau, khoảng 13000 – 17000 trứng trong suốt 2 tháng (Laidlaw, 1936) Theo McEwen và ctv (2001) ấu trùng của

loài Hemerobius pacificus cần khoảng 350 con rầy mềm để hoàn tất giai đoạn ấu trùng, khi đó ấu trùng loài Nusalala uruguaya cần khoảng 135 con Dactynotus sp để phát

triển và thành trùng ăn trung bình 4,7 con rầy mềm/ngày cho việc sinh sản Ấu trùng

loài Wesmaelius subnebulosus tiêu thụ khoảng 160 – 190 con rầy mềm Myzus persicae, hoặc 57 – 72 con Aphis fabae (phụ thuộc vào giới tính đực hay cái); thành trùng đực và cái tiêu thụ khoảng 9,5 hoặc 17,2 Aphis fabae Hemerobiidae nitidulus tiêu thụ khoảng

80 con Aphis rumicis, đối với Micromus posticus thì trong suốt giai đoạn ấu trùng chỉ

tiêu thụ khoảng 40 rầy mềm và thành trùng tiêu thụ trung bình khoảng 10 con rầy

mềm/ngày Thành trùng đực và cái của Sympherobius maculipennis tiêu thụ 5 – 15 nhộng rệp sáp Phenacoccus manihoti /ngày Trong các giống thuộc họ Hemerobiidae, ghi nhận chỉ có giống Sympherobius là tấn công rệp sáp trên cây có múi Theo Marakami (1963) thì Sympherobius domesticus tấn công con mồi là Pseudoccus comstocki trên cây có múi Qua đó cho thấy bọ cánh lưới nâu tấn công được trên nhiều loài dịch hại khác nhau Tuy nhiên có sự chuyên tính hơn cho từng loài thuộc các giống

khác nhau, theo McEwen và ctv (2001) bọ cánh lưới nâu thuộc giống Hemerobius và Micromus tấn công chủ yếu là rầy mềm, không tấn công rệp sáp Trong khi các loài

thuộc giống Sympherobius lại tấn công chủ yếu là rệp sáp Với một số loài, thức ăn có

ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hoàn thành các giai đoạn phát triển, đối với loài

Nusulala uruguaya không thể hoàn thành các giai đoạn phát triển của ấu trùng với việc

ăn thức ăn thức là rầy mềm T citricidus và không làm kén được với thức ăn là

Brevicoryne brassicae

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

Khi ấu trùng tấn công con mồi xong, theo Borror và ctv (1976) ấu trùng thường thường mang xác con mồi trên lưng để ngụy trang, nhưng theo MacLeod và Stange (2001) ấu trùng không mang xác con mồi để ngụy trang như nhiều công bố trước đó Giữa các ấu trùng thuộc các giống khác nhau cũng có cánh bắt mồi khác nhau Ấu trùng loại 1 thường hoạt động mạnh tìm con mồi, còn ấu trùng loại 2 ít hoạt động hơn, di chuyển chậm, “nằm và đợi” con mồi (McEwen và ctv, 2001)

1.2.1.2 Một số đặc điểm hình thái và sinh học

của bọ cánh lưới họ Chrysopidae

* Sự đa dạng và phong phú của bọ cánh lưới họ Chrysopidae

Bọ cánh lưới họ Chrysopidae là một trong những họ lớn nhất và có ý nghĩa quan trọng nhất trong công tác phòng trừ sinh học Có khoảng 1300 loài được ghi nhận thuộc 87 giống và 3 phân họ được phân bố nhiều nơi trên thế giới (Brooks và Bernard, 1990) Riêng ở vùng Florida ghi nhận có 22 loài thuộc 9 giống (Penny, 1997) Còn ở Âu Châu ghi nhận có 63 loài hiện diện, được xếp vào 13 giống và 2 phân họ (McEwen, 2001) (Trích dẫn từ Apock,1992; Monserrat và Rodrigo, 1992) Ở Việt Nam, Viện Bảo Vệ Thực Vật (2005) ghi nhận chỉ có một loài

* Một số đặc điểm hình thái của bọ cánh lưới họ Chrysopidae

Bọ cánh lưới thuộc họ Chrysopidae thường được gọi là “bọ cánh lưới xanh” vì đa số thành trùng thuộc họ này đều có màu xanh (có vài nhóm cá biệt là thành trùng có màu hơi nâu) (Stange, 2000) Ngoài ra còn có tên gọi khác là “bọ mắt vàng” vì phần lớn đôi mắt ánh ra màu vàng và tên gọi này cũng phù hợp với tên gọi như ở các nước Liên Xô

cũ, Bungari, Tiệp Khắc cũ…(Phạm Thị Thùy, 2004)

Thành trùng bọ cánh lưới màu xanh có màu xanh nhạt hoặc vàng nhạt, dài khoảng 12 –

20 mm, râu dài, mắt sáng Thân mình mỏng mảnh Hai đôi cánh rộng, trong suốt, có

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

nhiều gân cánh (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002) Thành trùng thường hoạt động mạnh về đêm, hoạt động đẻ trứng của thành trùng cái cũng diễn ra

trong đêm Ngoại trừ giống Anomalochrysa, tất cả các giống thuộc họ Chrysopidae đẻ

trứng, trứng được đặt trên đầu một sợi tơ dài Khi trứng mới đẻ ra có thể có màu trắng, màu kem, màu xanh xanh hoặc màu xanh Màu sắc và cánh đặt trứng cũng là đặc điểm đặc trưng cho hầu hết các loài (McEwen và ctv, 2001) Ấu trùng sau khi nở khoảng vài giờ sẽ nhanh chóng tìm con mồi Màu sắc cũng như hình dạng có nhiều thay đổi khi sang tuổi mới, ấu trùng có 3 tuổi với hai lần lột xác Ấu trùng cũng dễ dàng được xác định rõ với các ấu trùng của các họ khác thuộc bộ cánh mạch (Neuroptera) bởi đầu lớn, thường thường dài, không có răng, có hàm hình dạng như lưỡi liềm, đôi râu dài, đốt bụng đầu tiên có sự giảm bớt, thường mang nhiều ống (tubercles) phát triển trên lưng ở đốt ngực và đốt bụng , và ở chân, móng ngay giữa có dạng hình loa kèn, còn 2 móng bên ngoài có dạng hình móc (đặc điểm này các tuổi ấu trùng đều không thay đổi) Ấu trùng tuổi 1 được xác định rõ bởi kích thước nhỏ, cơ thể nhợt nhạt và lông cứng đơn

giản, thường thường có ít số lượng lông cứng chính Ngoại trừ Italochrysa mang nhiều

ống bên hông gần lưng, nhiều nhất 2 lông cứng trên ngực và 3 lông cứng trên đốt ngực thứ 2 và 3 Trong những dạng phổ biến, mỗi ống trên lưng gần hông ở đốt bụng II – VII mang 2 lông cứng Âu trùng tuổi 2 và 3 có nhiều lông cứng chính và lông cứng phụ

và mỗi ống mang nhiều lông cứng (thường nhiều hơn 2 và 3) Trong họ Chrysopidae

có 2 dạng ấu trùng cơ bản, mỗi dạng có một số hình thái khác nhau cũng như những nét đặc trưng về hành vi Loại 1: ấu trùng có bụng “gù” (humped) lên với những hàng lông cứng hình móc, có nhiều ống dài trên lưng ở đốt ngực và đốt bụng, trên mỗi ống mang nhiều lông cứng dài Loại 2 : ấu trùng có đốt bụng tương đối bằng phẳng (không

bị “gù”), ngắn, lông cứng thẳng, những ống trên ngực của chúng có kích thước giảm và mang nhiều lông cứng ngắn Trong một vài trường hợp đặc biệt, những ống trên lưng không hiện diện

Ấu trùng cuối tuổi 3 thường tìm nơi có lá hoặc thân cây tương đối bằng phẳng để làm nhộng, nhộng có dạng hình cầu, khối tơ đan kén làm nhộng thường có màu trắng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

Đặc điểm hình thái của ấu trùng tuổi 3 rất quan trọng trong việc định danh đến giống Một số đặc điểm hình thái của ấu trùng như : kích thước hàm so với kích thước đầu, đốt bụng có “gù” lên hay không, các điểm FC (Frontoclypeal) và EC (Epicramial) trên vỏ đầu cùng với sự hiện diện của lông cứng S12 (S = seta) hay không, cùng với một số đặc điểm phụ khác cũng như những hành vi của ấu trùng (McEwen và ctv, 2001)

A B

Hình 1.1: A: Lông cứng S12 (S = seta); B: điểm FC (Frontoclypeal), EC

(Epicramial) trên đầu bọ cánh lưới xanh họ Chrysopidae

* Một số đặc điểm sinh học của bọ cánh lưới họ Chrysopidae

Bọ cách lưới xanh thuộc nhóm côn trùng có kiểu biến thái hoàn toàn Chu kỳ sống trải qua bốn giai đoạn : trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành Giai đoạn ấu trùng gồm có

3 tuổi (McEwen và ctv, 2001)

Dựa vào nguồn thức ăn, thành trùng của bọ cánh lưới xanh được chia làm 2 nhóm :

1 Nhóm ăn mồi : Theo ghi nhận của Brooks và Barnard (1990), giữa 75 giống của bọ

cánh lưới xanh thì chỉ có 3 giống Chrysopini là nhóm ăn sâu bọ: 1 Giống

Anomalochrysa spp thường hiện diện trên những đảo ở Hawaiian 2 Giống

Atlantochrysa spp. thường hiện diện ở những đảo thuộc Đại Tây Dương 3 Giống

Chrysopa spp. có sự phân bố rộng ở nhiều nơi hơn hai giống trước Con mồi của thành trùng bọ cách lưới xanh là rầy mềm, côn trùng thân mềm thuộc bộ cánh vảy, rệp dính

Riêng đối với giống Chrysopa thì con mồi ưa thích chủ yếu là rầy mềm Tuy nhiên, ở

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

giống này thành trùng không chỉ tấn công con mồi mà còn ăn thức ăn có nguồn gốc từ thực vật Những thức ăn có nguồn gốc từ thực vật bao gồm phấn hoa của rất nhiều loài thực vật, nhiều loại men (yeast), bào tử của nhiều loài nấm Mức độ ăn thực vật cũng

khác nhau giữa các loài Như loài Chrysopa pallens ăn thức ăn có nguồn gốc thực vật nhiều hơn loài Chrysopa perla, và ngược lại

2 Nhóm ăn thức ăn có nguồn gốc thực vật : chỉ ăn thức ăn là phấn hoa của nhiều

loài thực vật (Brooks và Barnard, 1990) Các giống ăn thực vật như Hypochrysa, Kimochrysa, và Pamochrysa thường hiện diện ở nam châu Phi Bọ cách lưới có màu nâu hoặc đen thuộc giống Pimachrysa hiện diện ở vùng tây nam của Bắc Mỹ (McEwen

và ctv, 2001)

Thành trùng hoạt động mạnh về đêm, hoạt động đẻ trứng thường diễn ra vào thời gian này.Trứng được đặt ở vị trí mặt trên hoặc mặt dưới của lá hoặc thân cây Tùy theo từng loài khác nhau mà cách đẻ trứng có thể khác nhau Trứng có thể hiện diện ở các dạng như sau : 1 Trứng được đẻ đơn lẻ từng chiếc Có khi chỉ một trứng hoặc nhóm nhỏ từ 2 – 6 trứng 2 Trứng được đẻ với số lượng nhiều từ 20 – 40 trứng 3 Trứng được đẻ có dạng “cụm”, nhiều trứng được đặt lại thành “bó” và những sợi tơ nâng trứng rất gần nhau hoặc quấn vào với nhau Trứng sau khi đẻ 3 – 4 ngày sẽ nở, sau khi

nở, ấu trùng thường ở lại trên vỏ trứng khá lâu, sau đó mới di chuyển xuống tìm con mồi Ấu trùng tấn công được nhiều loại con mồi khác nhau, sau khi ăn con mồi xong, tuỳ theo từng loài khác nhau mà ấu trùng có mang xác con mồi trên lưng để ngụy trang hay không Theo McEwen và ctv (2001) ấu trùng loại 1 mang xác con mồi trên lưng, tập hợp lại và mang như gói nhỏ bên ngoài mặt lưng Những vật mang trên lưng bao gồm: bộ phận của cây, xác đã lột, chất thải, xác con mồi, và xác của những con mồi thường che chở ngụy trang cho ấu trùng khỏi sự tấn công của con kiến và những kẻ thù khác trong tự nhiên (Eister và ctv, 1978) Ấu trùng loại 2 thì trơ trụi ( không mang xác con mồi)

Trong điều kiện tự nhiên kiến được xem là kẻ thù cùa một số loài nhưng đối với những

loài thuộc nhóm Belonopterygini thì ấu trùng lại sống trong tổ kiến Khi quần thể ấu

trùng có mật số cao sẽ xảy ra hiện tượng: các ấu trùng tấn công lẫn nhau và ấu trùng nở

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

trước sẽ ăn trứng chưa nở (ấu trùng nở trước sẽ leo lên những sợi tơ hút dịch từ trứng chưa nở)

1.2.1.3 Một số đặc điểm hình thái và sinh học của Bọ rùa (Coccinellidae)

* Sự phong phú và phân bố của Bọ rùa (BR)

Bọ rùa thuộc họ Coccinellidae, bộ Coleoptera Họ này là một họ phổ biến khắp thế giới Ba mươi sáu loài đầu tiên thuộc họ BR được miêu tả vào năm 1758 và xếp vào giống Coccinella Số lượng loài được phát hiện ngày càng nhiều Sau gần hai thế kỷ số loài đã lên tới vài ngàn: 25000, rồi 3500 và hiện nay đã biết khoảng 4500-5000 loài (Liu, 1965; Sasaj, 1971; Hodek, 1973) Riêng ở Việt Nam, theo Hoàng Đức Nhuận (1982) đã phát hiện được 222 loài thuộc 65 giống, được biết số loài có ích lên đến 165 loài, thuộc 5 phân họ, 60 giống và có sự phân bố khắp mọi nơi trên nhiều loại cây trồng Kết quả điều tra của Phạm Văn Lầm trong thời gian từ 1996 – 2000 tại một số tỉnh phía Bắc thì thành phần thiên địch trên nhóm cây đậu ăn quả bao gồm các loài :

Menochilus sexmaculatus, Micraspis discolor, Coccinella transversalis, Harmonia octomaculata, Scymnus hoffmanni (Weise), Lemnia biplagiata (Swar.), Stethorus sp., Propylea japonica (Thunb.) Kết quả điều tra của Nguyễn Trọng Nhâm (2006) tại một

số địa bàn thuộc tp Cần Thơ ghi nhận sự hiện diện của Bọ rùa thiên địch trên các ruộng Đậu bao gồm Menochilus sexmaculatus, Micraspis discolor, Coccinella transversalis,

Harmonia octomaculata, Coeleophora saucia, Scymnus sp.1, Scymnus sp.2 và Cryptogenus sp

* Một số đặc điểm hình thái của Bọ rùa

Đa số thành trùng Bọ rùa có hình bầu dục, dài từ 1 mm đến trên 10 mm tuỳ loài, thường con cái có kích thước lớn hơn con đực Thành trùng thường có màu sắc tươi sáng, miệng thuộc nhóm miệng nhai gậm Bàn chân có 4 đốt, đốt thứ 3 nhỏ, mảnh lưng ngực trước phủ hết đầu, râu đầu hình chùy hay dùi đục, ngắn có từ 7 – 11 đốt (Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh, 2002) Trứng có dạng hình trứng ngắn hoặc dài, màu

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

vàng nhạt hoặc vàng cam Đôi khi màu sắc trứng cũng phụ thuộc vào con mồi mà thành trùng cái ăn được (Hoàng Đức Nhuận, 1982) Theo Sasaji (1971), ấu trùng bọ rùa tạm xếp vào 7 kiểu : Kiểu 1: Cơ thể dài hình con thoi Kiểu 2: Cơ thể hình trụ hoặc hình trứng Kiểu 3: Cơ thể hỉnh thoi và có sáp bao phủ Kiểu 4: Cơ thể hình elip và gồ vừa phải Kiểu 5: Cơ thể hình trứng ngắn, rất dẹp Kiểu 6: Cơ thể hình thoi hoặc trứng dài Kiểu 7: cũng tương tự như ấu trùng Scymnini có sáp trắng bao phủ cơ thể, nhưng cấu tạo lưng lại hoàn toàn khác hẳn, có những gồ lồi to mềm, hình núm vú Ấu trùng khi gần hoá nhộng thường di chuyển chậm lại, đa số ấu trùng hoá nhộng ngay ở nơi nó thường sống (Hoàng Đức Nhuận, 1982) Theo Sasaji (1971), bọ rùa có khi tập trung

thành từng đám ở các cành cây chủ, như loài Chilocorus circumdatus hoá nhộng hàng chục con trên thân cây xoan Melia azedarach, gần tập đoàn rệp vảy

* Một số đặc điểm sinh học của Bọ rùa (Coccinellidae)

Bọ rùa thuộc nhóm côn trùng có kiểu biến thái hoàn toàn Chu kỳ sống trải qua bốn giai đoạn : trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành Giai đoạn ấu trùng gồm có 4 tuổi Nhịp điệu của chu kỳ sống phụ thuộc vào điều kiện môi trường sống Tùy theo khu nóng hoặc lạnh khác nhau mà có một hoặc nhiều thế hệ tiếp diễn liên tục trong một năm (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

Theo Frank và Russell (2004) phân chia tính ăn của bọ rùa hiện diện tại Florida thành nhiều nhóm ăn mồi khác nhau :

1 Nhóm ăn thực vật gồm bọ rùa thuộc phân họ Epilachninae

2 Nhóm ăn nấm gồm bọ rùa thuộc tộc Halyziini (phân họ Coccinellinae)

3 Nhóm ăn mồi : có nhiều nhóm ăn mồi khác nhau như nhóm ăn rầy phấn trắng, rệp sáp giả, rệp dính, rầy mềm…

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 29

Nhóm bọ rùa ăn rầy mềm có sự phân bố rộng rãi ở nhiều vùng, trên nhiều loại cây

trồng khác nhau (Hoàng Đức Nhuận, 1982) Đặc biệt là Menochilus sexmaculatus, Micraspis discolor, Coccinella transversalis tấn công vào nhiều loại rầy mềm khác nhau và làm giảm mật số rầy gây hại trong một thời gian ngắn (Phạm Văn Lầm, 2005) Theo Nguyễn Trọng Nhâm (2006) giai đoạn ấu trùng tuổi 4 của ba loài bọ rùa trên có sức ăn cao hơn hoặc bằng với sức ăn của thành trùng đực, tuỳ theo loại thức ăn

1.2.1.4 Một số đặc điểm hình thái và sinh học của ruồi Syrphidae

* Sự phong phú và phân bố của ruồi Syrphidae

Ruồi ăn rầy họ Syrphidae là một họ lớn thuộc bộ hai cánh (Diptera) Theo Bugg và Rober (1992) ruồi thuộc họ Syrphidae được chia làm 3 họ phụ (Syrphinae, Milesiinae

và Microdontinae), 180 giống và khoảng 6000 loài được mô tả Riêng ở Bắc Mỹ có khoảng 950 loài (Borror và ctv, 1976) Ở Việt Nam theo kết quả điều tra của Quách Thị Ngọ và Nguyễn Thị Hoa (2005) ở miền Bắc đã phát hiện được 7 loài và kết quả điều tra của Phan Văn Biết (2005) tại một số địa bàn thuộc tp Cần Thơ đã phát hiện được 18 loài

* Đặc điểm hình thái và phân loại của ruồi họ Syrphidae

Các loài ruồi họ Syrphidae thường có màu sắc tươi sáng chủ yếu gồm màu vàng và đen xen kẻ nhau ở phần bụng, một số loài khác lại hoàn toàn có màu nâu hoặc đen Thành trùng thường trông giống như con ong Theo Shorter và Drew (2000) thành trùng ruồi Syrphidae có kích thước hình thái khác nhau, nhỏ từ (3 – 8 mm), trung bình (8 – 15 mm) và lớn 15 mm Thành trùng có đôi mắt kép to và 3 mắt đơn nhỏ xếp thành hình tam giác thường hiện diện ở đỉnh đầu Râu đầu ngắn hoặc thon thon dài, râu thường có

3 đốt, thường đốt thứ 3 dài hơn hơn đốt thứ nhất và thứ hai và thường có một sợi lông cứng Thành trùng có miệng chích hút Ngực thường cò màu đen, khá lớn, chắc, cong vừa và ít có những sợi lông cứng Mảnh mai (scutellum) lớn, ít khi ở viền ngoài có gai Cánh tương đối rộng, mạch cánh R1 thường mở hoặc đóng Hầu hết chúng đều có gân

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

cánh giả spv (spurious vein), đây cũng là gân cách rất đặc trưng cho cho ruồi họ Syrphidae Gân cách này chạy dài giữa mạch thứ 3 của R (R4+5) và mạch thứ 4 của M (M1+2) Trường hợp đặc biệt, ở một vài giống gần như không có sự hiện diện gân giả spv hoặc có nhưng không rõ lắm Bụng trông giống như con ong, bụng có nhiều hình dạng thay đổi, thường có 5 hoặc 6 đốt, hiếm khi có 4 đốt, thường có phủ một lớp lông mỏng, với những sọc màu vàng và đen xen kẻ nhau rất điển hình Bụng trông dẹp, mỏng và chắc Thành trùng đực và cái thường bị hấp dẫn bởi các loài hoa, tìm đến nhau để bắt cặp Sau đó thành trùng cái đẻ trứng, trứng có kích thước nhỏ khoảng 1

mm (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002) và được đẻ trên mặt lá, có dạng hình trụ hoặc bầu dục, bề mặt bên ngoài có nhiều đường dài chạy cắt nhau Ấu trùng khi mới nở có màu trắng sữa, có sự thay đổi khi sang tuổi mới sẽ có màu xanh hoặc nâu Ấu trùng không có chân di chuyển trông giống như con ốc sên (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2003) Đầu ấu trùng không rõ ràng, thường thon nhỏ hướng về phía trước giống như cái vòi Ấu trùng tuổi cuối có kích thước khá lớn: chiều dài 8 – 9 mm, rộng khoảng 2 mm Ấu trùng gần hoá nhộng thường tìm nơi kín để lẫn tránh kẻ thù Nhộng

có dạng bọc, hình dạng trông giống như giọt nước (Nguyễn Công Thuật, 1995)

* Một số đặc điểm sinh học của ruồi thuộc họ Syrphidae

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2006), thành trùng sinh sống trên phấn hoa và thường thấy trên hoa của nhiều loài thực vật Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho thành trùng cái và đực gặp nhau để bắt cặp Thành trùng cái thường đẻ trứng riêng rẽ trên lá hoặc thân cây hoặc sát bên cạnh các quần thể rầy mềm Con cái có thể đẻ hàng trăm trứng, sau 2 – 3 ngày trứng nở Giai đoạn ấu trùng kéo dài trong khoảng 2 tuần Âu trùng cũng linh hoạt trong việc tìm kiếm thức ăn Ấu trùng được chia làm hai nhóm chính : Nhóm 1 :

ăn mồi, tấn công được nhiều loài gây hại như rầy mềm, một số loại sâu nhỏ, đôi khi tấn công trên cả bù lạch Trong các loại con mồi thì rầy mềm là thức ăn chủ yếu Theo Quách Thị Ngọ và Nguyễn Thị Hoa (2005) (trích dẫn từ Sharma và Bhalla, 1988) các

loài như Metasyrphus confrater, Scaeva pyrastri, Macrosyphus sp., Episyrphus balteatus, Metasyrphus corollae và Ischiodon scutellaris (F) có khả năng ăn được số

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 31

mồi tương ứng như sau 418,8 : 384,9 : 268,2 : 252 : 235,1 : 222,8 con rầy mềm Dòi

thường sống thành nhóm nhỏ trong quần thể rầy mềm Nếu mật số ấu trùng (của dòi E baltetus và Ischiodon scutellaris ) là 2 -3 con/khóm trên quần thể rầy mềm là 166 – 167

con, sau 5 ngày mật độ rầy mềm chỉ còn 57 – 58 con/khóm, sau 7 ngày mật độ rầy mềm chỉ còn 5 – 6 con Nhóm 2: thức ăn chủ yếu có nguồn gốc thực vật hay phân động vật Khi gần hoá nhộng ấu trùng ít ăn lại và di chuyển chậm Khi hóa nhộng, đa số ấu trùng của các loài bám vào lá hoặc thân cây, trong khi một số loài khác lại xuống đất hoá nhộng Giai đoạn nhộng có thể kéo dài 1 – 2 tuần

1.2.1.5 Ong ký sinh

Bên cạnh các loài côn trùng bắt mồi ăn thịt thì nhóm ong ký sinh thuộc bộ cánh màng (Hymenoptera) cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc sử dụng biện pháp sinh học để quản lý dịch hại cây trồng Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2002) trên các vườn trồng cây có múi (Citrus), nhóm ong ký sinh vô cùng phong phú

và đa dạng gồm rất nhiều loài khác nhau, phổ biến nhất là các loài thuộc các họ như Braconidae, Encyrtidae, Ichneumonidae, Scelionidae, Trichogrammatidae, Aphilinidae,

Eulophidae Nhóm côn trùng ký sinh thường có kích thước rất nhỏ so với ký chủ, phần

lớn côn trùng ký sinh có tính chuyên biệt cao và thường chỉ tấn công ở một giai đoạn phát triển nhất định của ký chủ như trứng, ấu trùng, hoặc nhộng Côn trùng ký sinh thường có chu kỳ sinh trưởng rất ngắn và có thể gia tăng mật số rất nhanh so với nhiều nhóm ăn mồi

Riêng các loài thuộc họ Aphilinidae lại tấn công mạnh trên nhóm chích hút, đặc biệt là nhóm rầy mềm Nhóm này ký sinh ở tất cả các giai đoạn phát triển của rầy mềm Khi

bị ký sinh, ký chủ trở nên khô lại và sậm màu trước khi thành trùng ong ký sinh cắt một cái lỗ đục hình tròn chui ra ngoài, các loài này thường có kích thước dưới 1,5 mm

1.2.1.6 Nấm ký sinh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 32

Bên cạnh những côn trùng ăn mồi và ký sinh thì nhóm nấm cũng không kém phần quan trọng, tấn công quần thể rầy mềm và làm giảm mật số rầy trong một thời gian ngắn

Có nhiều nhóm nấm ký sinh trên rầy mềm, một số loài nấm có tính chuyên biệt cao, tấn

công rầy mềm là chủ yếu Nấm Zoophora radicans là nấm phổ biến, ký sinh trên rầy mềm Ngoài ra nấm Verticillium sp cũng gây bệnh phổ biến trên mềm Nấm có sợi

nấm và bào tử đính màu trắng Cơ thể rầy mềm bị bao phủ kín hoàn toàn bởi một lớp các sợi nấm và các bào tử đính màu trắng kết lại nhau thành các quả cầu nhỏ trên bề mặt lớp sợi nấm này (Sherpard và ctv, 1999)

1.3.1 Nguồn gốc và sự phân bố

Hầu hết cây có múi (Citrus) xuất phát từ các quốc gia ở Á Châu Một số loài cam quít

có nguồn gốc ở Đông Nam Á Châu, trong đó sự phát sinh của một vài loài cam quýt cũng như những loài cùng họ được phân bố từ biên giới đông bắc của Ấn Độ qua Miến Điện và một vùng phía nam của đảo Hải Nam Những loài cây này bao gồm : chanh tây, chanh ta, chanh yên, bưởi, cam ngọt, cam chua (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Tuy cam quít xuất phát từ vùng Đông Nam Á Châu thế nhưng do hiệu quả kinh tế cao nên được trồng ở nhiều vùng trên thế giới, tổng số hơn 100 quốc gia đang sản xuất Hai quốc gia trồng cam quýt lớn nhất thế giới là Brazin và Mỹ Kế đến Trung Quốc, Mexico, Tây Ban Nha Riêng ở Việt Nam, diện tích trồng cây có múi (Citrus) cũng khá lớn khoảng 63,364 m2 (Cục bảo vệ thực vật, 2006)

1.3.2 Sơ lược về sự sinh trưởng và phát triển của cây có múi (Citrus)

Cây có múi (Citrus) được trồng nhiều ở vùng nhiệt đới hay bán nhiệt đới (Nguyễn Bảo

Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Theo Trần Thế Tục (1998) nhiệt độ cần thiết cho sự sinh trưởng là 12 – 39 0C, nhưng thích hợp nhất là 23 – 29 0C và ẩm độ không khí 70 –

80 % Ánh sáng thích hợp là 10000 – 15000 lux (tương đương ánh sáng khoảng 8 giờ sáng và 4 – 5 giờ chiều mùa hè) Cây có múi có thể được trồng trên nhiều loại đất: đất

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 33

phù sa ven sông, đất phù sa cổ, badan, phiến thạch, dốc tụ …tầng canh tác dày trên 1

m Đất thoát nước tốt mùa mưa, có mực nước ngầm thấp pH = 4 – 8, nhưng tốt nhất 5,5 – 6,5 Vũ lượng hàng năm cần ít nhất 875 mm trong trường hợp không tưới Cây cần một lượng nước nhất định để sinh trưởng và phát triển tốt, nhưng cây ăn trái lại mẫn cảm với điều kiện ngập nước Như cam mật bị chết toàn bộ sau 18 ngày ngập nước (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)

Ngoài những điều kiện cần thiết cho cây phát triển tốt thì kỹ thuật canh tác, trồng và chăm sóc cũng không kém phần quan trọng góp phần nâng cao năng suất Kích thước mương líp tùy theo địa hình mà quyết định cho phù hợp Thiết kế mặt líp rộng từ 6 – 8

m (trung bình 7 m) thích hợp cho cánh bố trí trồng 2 hàng, nếu chiều rộng mặt líp quá hẹp hạn chế sự phát triển bộ rễ, còn líp quá rộng dễ bị ngập úng nước trong mùa mưa,

và thiếu nước trong mùa nắng Tùy theo kích thước líp và loại cây mà chọn cách trồng hợp lý, có một số cách trồng phổ biến như sau: kiểu hình vuông, hình chữ nhật, kiểu nanh sấu, kiểu chữ ngũ, tam giác Với kiểu trồng đó thì có thể có các khoảng cách trồng như sau: cam mật, cam dây, các loại quýt và chanh là 4 x 4 m ; cam sành là 3 x 3 m; bưởi là 6 x 6 m, đó là khoảng trồng tương đối phù hợp với các loại cây có múi (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)

Tùy theo từng loại cây có múi khác nhau mà có thời gian sinh trưởng khác nhau và sẽ

có trái vào những thời điểm không giống nhau

* Các giống cam: Với cam mật thời gian từ khi trổ hoa đến khi trái chín khoảng 7 tháng, trong khi đó cam sành lại khá dài, khoảng 10 tháng

* Các giống quýt: So với cam mật thì các giống quýt lại có thời gian từ khi trổ hoa đến khi trái chín thì dài hơn Quýt xiêm và quýt tiều đều có thời gian khoảng 9 tháng, nhưng để cho trái quýt tiều có màu sắc đẹp phải mất đến 10 tháng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 34

* Các giống chanh và hạnh: như chanh tàu, chanh ta có thời gian khi trổ hoa đến khi trái chín là khoảng 6 tháng, trong khi đó hạnh lại có thời gian là khoảng 7 tháng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 35

CHƯƠNG II:

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Phương tiện

2.1.1 Thời gian và địa điểm

Địa điểm khảo sát điều tra : Khu II Trường Đại Học Cần Thơ, xã Mỹ Khánh, xã Nhơn Nghĩa thuộc huyện Phong Điền và phường Long Tuyền thuộc quận Bình Thủy,

tp Cần Thơ

Thí nghiệm được thực hiện tại nhà lưới và phòng thí nghiệm thuộc Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp Và Sinh Học Ứng Dụng, ĐHCT từ tháng 08/2006 đến tháng 02/2007

2.1.2 Vật liệu

- Vợt có cán dài 100 cm, đường kính miệng vợt 50 cm, độ sâu vợt 70 cm để tiện cho việc thu thành trùng của bọ rùa, ruồi ăn rầy, bọ cánh lưới Hoặc sử dụng tay để thu trứng, ấu trùng, nhộng

- Lọ nhựa để đựng mẫu, dán nhãn ghi ngày và địa điểm điểu tra

- Hóa chất CCL4 để giết thành trùng (ấu trùng) khi cần thiết để giữ mẫu

- Các vật liệu như kim mũi giáo, thước, kính hiển vi quang học để định danh

- Máy ảnh

- Chậu sành có đường kính 30 x 40 cm để trồng cây bưởi, cam trong nhà lưới để

nuôi rầy mềm làm nguồn thức ăn và thu hút các thiên địch trong tự nhiên

- Hộp nhựa có kích thước khác nhau (Tùy theo loài thiên địch mà sử dụng lọ nhựa

Trang 36

2.2 Phương Pháp

Tiến hành theo ba bước : Bước một là điều tra nông dân, bước hai khảo sát trong điều kiện nhà lưới, bước ba khảo sát trong phòng thí nghiệm

2.2.1 Điều tra nông dân

- Sử dụng phiếu điều tra (xem mục lục) và phỏng vấn trực tiếp nông dân

- Với mỗi khu vực điều tra 8 vườn, các vườn điều tra có diện tích tối thiểu 1.000m2

- Nội dung điều tra : Các yếu tố có liên quan đến kỹ thuật canh tác như giống, cách bón phân Sự hiểu biết về dịch hại, thiên địch, các biện pháp quản lý dịch hại

2.2.2 Điều tra trực tiếp trên các vườn cây có múi

Trong quá trình điều tra nông dân có kết hợp quan sát trực tiếp ngoài vườn và tiến hành hai phương pháp điều tra :

+ Điều tra tại điểm cố định: Qua điều tra nông dân và quan sát ngoài đồng ở bước

1, chọn ra 4 vườn tiêu biểu (có sử dụng kiến vàng hoặc ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật), để khảo sát về thành phần và mức độ phong phú của thiên địch

• Thời gian lấy chỉ tiêu : Định kỳ 15 ngày/đợt/vườn

• Quan sát ngẫu nhiên 10 cây, trên cây đã chọn, điều tra cả 4 hướng

+ Điều tra bổ sung theo tuyến: Để có thể phát hiện đầy đủ hơn về thành phần thiên địch của Rầy mềm Ngoài việc điều tra thường xuyên tại điểm cố định, còn tiến hành điều tra bổ sung ở các địa điểm thuộc huyện Trà Ôn - tỉnh Vĩnh Long theo giai đoạn sinh trưởng của cây như vào thời gian cây ra đọt non và ra hoa, trái non

* Mục đích điều tra : Tìm hiểu về kỹ thuật canh tác và mức độ phong phú của thiên

địch của rầy mềm trên các vườn cây có múi

2.2.3 Khảo sát nghiên cứu trong điều kiện nhà lưới

Song song với việc điều tra trên các vườn cây có múi, thì tiến hành trồng các cây Cam

và Bưởi trong nhà lưới với điều kiện thuận lợi nhất để cây phát triển mạnh, ra nhiều đọt non, để thu hút và nuôi rầy mềm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 37

* Mục đích : Thu hút thiên địch của rầy mềm trong điều kiện tự nhiên và tạo nguồn thức ăn để thử khả năng ăn mồi của một số loài thiên địch trong điều kiện phòng thí nghiệm

2.2.4 Khảo sát trong phòng thí nghiệm

2.2.4.1 Khảo sát một số đặc điểm sinh học của các loài thiên địch hiện diện phổ biến

 Thời gian của các giai đoạn phát triển

 Khả năng đẻ trứng và tuổi thọ của thành trùng

 Tỷ lệ trứng nở

 Khảo sát tính ăn, khả năng ăn mồi của bọ cánh lưới và bọ rùa

- Thời gian của các giai đoạn phát triển và vòng đời

* Phương pháp: Tiến hành thu mẫu trên các vườn cây có múi (Citrus) đã điều tra Sau đó cho từng cặp thành trùng đực và cái của cùng một loài vào trong hộp nhựa đã lót giấy thấm và thức ăn là rầy mềm hoặc mật ong 10% và bông cúc dại, quỳ dại, vạn thọ (nhằm cung cấp thức ăn là phấn hoa) Sau khi thành trùng bắt cặp và đẻ trứng, thì tách lấy trứng chuyển sang hộp nhựa khác cũng được lót giấy thấm để quan sát theo dõi từ giai đoạn trứng đến giai đoạn thành trùng của từng loài

* Chỉ tiêu theo dõi: Ghi nhận thời gian của các giai đoạn phát triển của một số loài thiên địch phổ biến

- Khả năng đẻ trứng và tuổi thọ thành trùng

 Khả năng đẻ trứng

Ấu trùng tuổi cuối được nuôi trong hộp nhựa đã được lót giấy thấm và cho thức

ăn là rầy mềm cho đến khi thành trùng (đồng nhất về tuổi)

Thành trùng tách ra từng cặp đực/cái cho vào hộp nhựa được lót giấy thấm với thức ăn là rầy mềm hoặc (và) mật ong 10% và bông cúc dại, quỳ dại, vạn thọ Để cho thành trùng bắt cặp và đẻ trứng

Đếm số trứng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 38

* Chỉ tiêu ghi nhận : Ghi nhận khả năng đẻ trứng (số lượng trứng được đẻ trong mỗi lần đẻ → tổng số trứng được đẻ) trong suốt chu kỳ sống

 Tuổi thọ thành trùng :

- Ấu trùng tuổi cuối được nuôi trong hộp nhựa đã được lót giấy thấm và cho thức

ăn là rầy mềm cho đến khi thành trùng (đồng nhất về tuổi)

- Thành trùng : Tách riêng từng thành trùng đực và cái cho vào hộp nhựa đã được lót giấy thấm với thức ăn là rầy mềm hoặc (và) mật ong 10% hoặc (và) bông cúc dại, quỳ dại, vạn thọ

* Chỉ tiêu ghi nhận : Ghi nhận được tuổi thọ của thành trùng

- Tỷ lệ trứng nở

Đếm số lượng trứng nở trên tổng số lượng trứng → tính tỷ lệ trứng nở

2.2.4.2 Khảo sát khả năng ăn mồi của một số loài thiên địch phổ biến

đực/ cái đã cho nhịn đói 24 giờ trước khi tiến hành thí nghiệm, với 10 nghiệm thức và

8 lần lập lại Các nghiệm thức bao gồm :

NT 1 : RM (T 3 và T 4) T aurantii (150 con) + 1 ấu trùng BCLN tuổi 1

NT 2 : RM (T 3 và T 4) T aurantii (150 con) + 1 ấu trùng BCLN tuổi 2

NT 3 : RM (T 3 và T 4) T aurantii (150 con) + 1 ấu trùng BCLN tuổi 3

NT 4 : RM (T 3 và T 4) T aurantii (150 con) + 1 thành trùng BCLN đực

NT 5 : RM (T 3 và T 4) T aurantii (150 con) + 1 thành trùng BCLN cái

NT 6 : RM (T 3 và T 4) T citricidus (150 con) + 1 ấu trùng BCLN tuổi 1

NT 7 : RM (T 3 và T 4) T citricidus (150 con) + 1 ấu trùng BCLN tuổi 2

NT 8 : RM (T 3 và T 4) T citricidus (150 con) + 1 ấu trùng BCLN tuổi 3

NT 9 : RM (T 3 và T 4) T citricidus (150 con) + 1 thành trùng BCLN đực NT10: RM (T 3 và T 4) T citricidus (150 con) + 1 thành trùng BCLN cái

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 39

NT11: đối chứng T aurantii (150 con) không thả thiên địch

NT12: đối chứng T citricidus (150 con) không thả thiên địch

** Chỉ tiêu ghi nhận : Khảo sát khả năng ăn từng loại thức ăn của ấu trùng và thành trùng qua số lượng thức ăn được tiêu thụ trong thời gian nhất định (sau 24, 48, 72 giờ sau khi thả bọ cánh lưới nâu)

* Thí nghiệm 2: Sự ưa thích hai loại rầy mềm khác nhau của bọ cánh lưới xanh

Suarius sp.2

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm các loại thức ăn

là 2 loại rầy mềm T aurantii và T citricidus (ấu trùng tuổi 3 và 4) Với 8 nghiệm thức

và 8 lần lập lại Các nghiệm thức bao gồm :

NT 1 : RM (T 3 và T 4) T aurantii (200 con) + 1 ấu trùng BCLX tuổi 1

NT 2 : RM (T 3 và T 4) T aurantii (200 con) + 1 ấu trùng BCLX tuổi 2

NT 3 : RM (T 3 và T 4) T aurantii (200 con) + 1 ấu trùng BCLX tuổi 3

NT 4 : RM (T 3 và T 4) T citricidus (200 con) + 1 ấu trùng BCLX tuổi 1

NT 5 : RM (T 3 và T 4) T citricidus (200 con) + 1 ấu trùng BCLX tuổi 2

NT 6 : RM (T 3 và T 4) T citricidus (200 con) + 1 ấu trùng BCLX tuổi 3

NT 7 : đối chứng T aurantii (200 con) không thả thiên địch

NT 8 : đối chứng T citricidus (200 con) không thả thiên địch

** Chỉ tiêu ghi nhận : Khảo sát sự ưa thích từng loại thức ăn của ấu trùng qua số lượng thức ăn được tiêu thụ trong thời gian nhất định (sau 24, 48, 72 giờ sau khi thả ấu trùng bọ cánh lưới xanh)

* Thí nghiệm 3: Sự ưa thích hai loại rầy mềm khác nhau của bọ rùa Scymnus sp

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm các loại thức ăn là 2

loại rầy mềm T aurantii và T citricidus (ấu trùng tuổi 3 và 4) Ở giai đoạn ấu trùng

tuổi 4 và thành trùng đã cho nhịn đói 24 giờ trước khi tiến hành thí nghiệm, với 6 nghiệm thức và 8 lần lập lại Các nghiệm thức bao gồm :

NT 1 : RM (T 3 và T 4) T aurantii (100 con) + 1 ấu trùng BR tuổi 4

NT 2 : RM (T 3 và T 4) T aurantii (100 con) + 1 thành trùng BR

NT 3 : RM (T 3 và T 4) T citricidus (100 con) + 1 ấu trùng BR tuổi 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 40

NT 4 : RM (T 3 và T 4) T citricidus (100 con) + 1 thành trùng BR

NT 5 : đối chứng T aurantii (100 con) không thả thiên địch

NT 6 : đối chứng T citricidus (100 con) không thả thiên địch

* Chỉ tiêu ghi nhận : Khảo sát sự ưa thích từng loại thức ăn của ấu trùng và thành trùng qua số lượng thức ăn được tiêu thụ trong thời gian nhất định (sau 24, 48, 72 giờ sau khi thả bọ rùa)

- Số liệu được ghi nhận từ các chỉ tiêu trên sẽ được xử lý theo phần mềm Excel và sử dụng chương trình SPSS thống kê nhằm so sánh khả năng ăn mồi của một số loài phổ biến

2.2.4.3 Phân loại

Thiên địch của rầy mềm được phân loại dựa vào nhiều khoá phân loại Sử dụng khoá phân loại của McEwen và ctv (2001); khoá phân loại của MacLeod and Stange (2001) để phân loại bọ cánh lưới (bộ Neuroptera) Bọ rùa (Coccinellidae) được định danh dựa vào khoá phân loại của Hoàng Đức Nhuận (1982) Sử dụng khoá phân loại của Shoter và Drew (2000); Veen (2002); Thompson (2003) và tham khảo một số mẫu hình được định danh trên mạng Internet để định danh ruồi họ Syrphidae

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng                                  Tựa                                                  trang - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
ng Tựa trang (Trang 10)
Hình 1.1: A: Lông cứng S12 (S = seta); B: điểm FC (Frontoclypeal), EC - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
Hình 1.1 A: Lông cứng S12 (S = seta); B: điểm FC (Frontoclypeal), EC (Trang 25)
Bảng 3.2:  Kỹ thuật canh tác cây có múi (Citrus) của các nhà vườn - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
Bảng 3.2 Kỹ thuật canh tác cây có múi (Citrus) của các nhà vườn (Trang 42)
Bảng 3.4: Các hoá chất bảo vệ thực vật được nông dân sử dụng trong phòng trừ - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
Bảng 3.4 Các hoá chất bảo vệ thực vật được nông dân sử dụng trong phòng trừ (Trang 46)
Hình 3.2: Ấu trùng BCLN họ Hemerobiidae - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
Hình 3.2 Ấu trùng BCLN họ Hemerobiidae (Trang 50)
Hình 3.4: Đặc điểm khác nhau giữa hai giống Mallada và Suarius - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
Hình 3.4 Đặc điểm khác nhau giữa hai giống Mallada và Suarius (Trang 51)
Bảng 3.6: Chu kỳ sinh trưởng của M. subanticus trong điều kiện phòng thí - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
Bảng 3.6 Chu kỳ sinh trưởng của M. subanticus trong điều kiện phòng thí (Trang 57)
Bảng 3.10: Tỷ lệ nở trứng của BCLX Suarius sp.2  trong điều kiện phòng - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
Bảng 3.10 Tỷ lệ nở trứng của BCLX Suarius sp.2 trong điều kiện phòng (Trang 64)
Bảng 3.14: Tỷ lệ trứng nở của BR Scymnus sp. trong điều kiện phòng thí nghiệm - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
Bảng 3.14 Tỷ lệ trứng nở của BR Scymnus sp. trong điều kiện phòng thí nghiệm (Trang 83)
Bảng 3.15: Khả năng ăn mồi của BR Scymnus sp. trên 2 loại RM trong điều kiện                             nhiệt độ T = 29 - 30,5 0 C và ẩm độ H% = 78 - 86 - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
Bảng 3.15 Khả năng ăn mồi của BR Scymnus sp. trên 2 loại RM trong điều kiện nhiệt độ T = 29 - 30,5 0 C và ẩm độ H% = 78 - 86 (Trang 84)
Hình 1: Cánh trước  Micromus subanticus (Walker).  Hình 2 : Cánh trước Micromus posticus (Walker) - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
Hình 1 Cánh trước Micromus subanticus (Walker). Hình 2 : Cánh trước Micromus posticus (Walker) (Trang 106)
- Bảng 3. Bảng phân tích ANOVA: Khả năng ăn mồi của ấu trùng BCLX Suarius sp.2  đối với rầy mềm Toxoptera aurantii tuổi 3 và 4 trong điều kiện phòng thí nghiệm - THIÊN ĐỊCH của rầy mềm (APHIDIDAE) TRÊN cây có múi (CITRUS)  THÀNH PHẦN LOÀI, đặc điểm HÌNH THÁI và SINH học của các LOÀI PHỔ BIẾN
Bảng 3. Bảng phân tích ANOVA: Khả năng ăn mồi của ấu trùng BCLX Suarius sp.2 đối với rầy mềm Toxoptera aurantii tuổi 3 và 4 trong điều kiện phòng thí nghiệm (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm