1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÍNH CHỐNG CHỊU BỆNH CHÁY lá và BỆNH THỐI cổ BÔNG của các GIỐNG lúa MTL TRIỂN VỌNG vụ hè THU 2006

81 192 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 4,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ THUY TÍNH CHỐNG CHỊU BỆNH CHÁY LÁ VÀ BỆNH THỐI CỔ BÔNG CỦA CÁC GIỐNG LÚA MTL TRIỂN VỌNG... TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TR

Trang 1

NGUYỄN THỊ THUY

TÍNH CHỐNG CHỊU BỆNH CHÁY LÁ VÀ BỆNH THỐI CỔ BÔNG CỦA CÁC GIỐNG LÚA MTL TRIỂN VỌNG

Trang 2

NGUYỄN THỊ THUY

TÍNH CHỐNG CHỊU BỆNH CHÁY LÁ VÀ BỆNH THỐI CỔ BÔNG CỦA CÁC GIỐNG LÚA MTL TRIỂN VỌNG

VỤ HÈ THU 2006

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT

(2002 - 2007)

Giáo viên hướng dẫn

Ths Ông Huỳnh Nguyệt Ánh

Cần Thơ, 2007

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL

Bộ môn Tài nguyên Cây trồng

Chúng tôi đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:

TÍNH CHỐNG CHỊU BỆNH CHÁY LÁ VÀ BỆNH THỐI CỔ BÔNG CỦA CÁC GIỐNG LÚA MTL TRIỂN VỌNG

VỤ HÈ THU 2006

Do sinh viên: Nguyễn Thị Thuy thực hiện và đề nạp

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày tháng năm 2007

Cán Bộ Hướng Dẫn:

Ông Huỳnh Nguyệt Ánh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL

Bộ môn Tài nguyên Cây trồng

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt đính kèm với đề tài:

TÍNH CHỐNG CHỊU BỆNH CHÁY LÁ VÀ BỆNH THỐI CỔ BÔNG CỦA CÁC GIỐNG LÚA MTL TRIỂN VỌNG

VỤ HÈ THU 2006

Do sinh viên: Nguyễn Thị Thuy thực hiện và bảo vệ trước hội đồng tốt nghiệp ngày

tháng năm 2007

Khoá luận tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức:………

Ý KIẾN HỘI ĐỒNG: ………

………

………

………

Cần Thơ, ngày tháng năm 2007 KHOA DUYỆT Chủ Tịch Hội Đồng: Trưởng Khoa Nông Nghiệp

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

Kính dâng Cha Mẹ:

Suốt đời tận tụy vì con

Chân thành biết ơn:

Cô Ông Huỳnh Nguyệt Ánh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Chân thành cảm ơn:

Quí thầy cô và cán bộ thuộc Bộ môn Tài nguyên Cây trồng, Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL-ĐHCT đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp

Quý thầy cô Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báo cho em trong suốt thời gian em học

ở trường

Thầy cố vấn học tập Phạm Văn Phượng, các bạn sinh viên lớp Trồng Trọt khoá

28 và các bạn phòng 12C2 đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt khoá học

Gởi lời thân ái đến tất cả các bạn sinh viên khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng những lời chúc tốt đẹp nhất

Trang 6

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Họ và tên: NGUYỄN THỊ THUY

Ngày sinh: 06/12/1983

Nơi sinh: Nông Trường Sông Hậu-Xã Thới Hưng-Huyện Cờ Đỏ-Thành phố Cần Thơ

Là con thứ 5 của gia đình ông Nguyễn Văn Quân và bà Nguyễn Thị Sử

Đã tốt nghiệp phổ thông trung học năm 2002 tại trường Trần Ngọc Hoằng-Xã Thới Hưng Huyện Cờ Đỏ

Năm 2002-2007 học tại trường Đại Học Cần Thơ, thuộc Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, lớp Trồng Trọt khóa 28

Tốt nghiệp đại học năm 2007

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

Nghiên cứu giống chống chịu bệnh cháy lá nhằm ứng dụng kết quả trong công tác chọn giống và quản lý bệnh hại cây trồng Đánh giá phản ứng của những giống/dòng lúa MTL được thực hiện tại nông trại khu II, Đại Học Cần Thơ vụ Hè Thu

2006 Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp nương mạ khô, có 115 giống được thử nghiệm: bộ Hậu kỳ A1, bộ Hậu kỳ A0, bộ So sánh năng suất A1, bộ Sản xuất thử A1, bộ Phẩm chất và bộ Phèn mặn, bố trí thí nghiệm theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, 2 lần lặp lại, sử dụng giống chuẩn nhiễm là OM1490, giống chuẩn kháng

là Tẻ Tép, áp dụng công thức bón phân 300-0-0 được chia làm 3 lần bón Ghi nhận chỉ tiêu bệnh cháy lá hai lần vào 25 và 30 ngày sau khi gieo khi giống chuẩn nhiễm đạt cấp 9, giống chuẩn kháng cấp 0 và chỉ tiêu bệnh thối cổ bông được ghi nhận bảy ngày trước khi thu hoạch

Kết quả thí nghiệm cho thấy có đến 92 giống/dòng rất mẫn cảm với bệnh, 23 giống/dòng chống chịu được với bệnh, không có giống kháng và rất kháng Trong 23 giống/dòng chống chịu có giống MTL480, MTL520 vừa chống chịu bệnh cháy lá, chống chịu thối cổ bông, vừa cho năng suất cao Bệnh thối cổ bông được đánh giá vào giai đoạn sau trổ cho thấy có 28 giống kháng, 59 giống chống chịu, 4 giống nhiễm trên tổng 91 giống được quan sát ở nông trại khu II, Đại Học Cần Thơ

Bệnh cháy lá trong vụ này thể hiện khác nhau ở năm địa điểm ở đồng bằng sông Cửu Long Các tỉnh Cần Thơ, An Giang, Bến Tre có bệnh cháy lá tấn công mạnh lên các giống thử nghiệm từ 85% đến 99%, trong lúc Tiền Giang và Sóc Trăng

có giống nhiễm bệnh ít hơn, 6,25% đến 40% Các giống chống chịu được bệnh ở nhiều địa điểm là MTL480, MTL494, MTL497, MTL499, MTL500, MTL520, MTL425, MTL455, MTL508 và MTL530 Riêng giống MTL480, MTL520 chống chịu tốt nhất ở Cần Thơ, Sóc Trăng, Tiền Giang, giống MTL494, MTL499 chống chịu với bệnh cháy lá tốt ở Sóc Trăng, Tiền Giang, MTL497 chống chịu tốt ở An Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang

Việc biểu hiện mức độ kháng lại bệnh thay đổi theo giống và theo điều kiện môi trường Giống chống chịu được bệnh là nhờ đa gen nhưng tính kháng bệnh của các giống lúa không bền, có thể bị nhiễm bởi các dòng gây bệnh mới của nấm Do

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

lá khi sản xuất cần chú ý biện pháp canh tác thích hợp ở mỗi mùa vụ để hạn chế bệnh cháy lá

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

Trang

Tóm lược i

Mục lục iii

Danh sách bảng v

Danh sách hình vi

Phụ chương vii

Chương I: MỞ ĐẦU 1

Chương II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 Bệnh cháy lá và sự phân bố bệnh 3

2.2 Thiệt hại của bệnh lên giống lúa 4

2.3 Triệu chứng, tác nhân gây bệnh cháy lá và nguồn lưu tồn nấm bệnh 6

2.3.1 Triệu chứng 6

2.3.2 Tác nhân gây bệnh 8

2.3.3 Nguồn lưu tồn và phát triển mầm bệnh 10

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển bệnh cháy lá 11

2.4.1 Ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu 11

2.4.2 Điều kiện đất đai 15

2.4.3 Giống lúa 15

2.4.4 Kỹ thuật canh tác 17

Chương III: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 20

3.1 Thời gian và địa điểm 20

3.2 Vật liệu thí nghiệm 20

3.2.1 Giống thử nghiệm 20

3.2.2 Giống định dòng (chuẩn nòi) và giống đối chứng 20

3.2.3 Nguồn bệnh 20

3.2.4 Phân bón 21

3.3 Phương pháp thí nhiệm 21

3.3.1 Thí nghiệm cháy lá trên nương mạ 21

3.3.2 Đánh giá bệnh thối cổ bông 25

3.4 Phương pháp lấy chỉ tiêu và đánh giá kết quả 25

3.4.1 Phương pháp lấy chỉ tiêu bệnh cháy lá 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

4.1 Tình hình tổng quát 30

4.2 Kết quả thí nghiệm 32

4.2.1 Phản ứng của các bộ giống lúa đối với bệnh cháy lá tại Nông trại Khu II- Đại học Cần Thơ 32

4.2.2 Phản ứng của các bộ giống lúa đối với bệnh cháy lá ở các địa điểm thí nghiệm khác nhau 39

4.2.3 Phản ứng của các bộ giống lúa đối với bệnh thối cổ bông 43

4.3 Thảo luận chung 46

4.3.1 Nòi nấm 46

4.3.2 Tính ổn định của các giống lúa đối với bệnh cháy lá 48

Chương V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ CHƯƠNG 56

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

Bảng 1: Lịch canh tác trong thời gian thí nghiệm 25

Bảng 2: Bảng phân cấp và mô tả vết bệnh cháy lá của IRRI (1996) 26

Bảng 3: Bảng phân cấp vết bệnh thối cổ bông (1996) 27

Bảng 4: Nhiệt độ, ẩm độ không khí và lượng mưa ở Cần Thơ

trong thời gian thí nghiệm 30

Bảng 5: Phản ứng đối với bệnh cháy lá của các bộ giống trắc nghiệm tại Nông trại Khu II- Đại học Cần Thơ 33

Bảng 6: Phản ứng của bộ giống lúa So sánh năng suất A1 đối với bệnh cháy lá và thối cổ bông tại Cần Thơ 35

Bảng 7: Phản ứng của bộ giống lúa Sản xuất thử A1 đối với bệnh cháy lá và thối cổ bông tại Cần Thơ 37

Bảng 8: Phản ứng của bộ giống lúa Phẩm chất đối với bệnh cháy lá và thối cổ bông tại Cần Thơ 38

Bảng 9: Phản ứng với bệnh thối cổ bông của ba giống lúa So sánh năng suất, bộ giống lúa Sản xuất thử và bộ giống lúa Phẩm chất 45

Bảng 10: Phản ứng của bộ giống lúa định dòng đối với nòi nấm Pyricularia oryzae 47

Bảng 11: Tính ổn định của bệnh cháy lá qua các địa điểm thí nghiệm 48

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

Hình 1: Sơ đồ thí nghiệm 22

Hình 2: Lô thí nhiệm bệnh cháy lá 23

Hình 3: Bố trí giống trên nương mạ 23

Hình 4: Mô tả vết bệnh cháy lá 28

Hình 5: Mô tả vết bệnh thối cổ bông 28

Hình 6: Giống chuẩn nhiễm cháy lá cấp 9 31

Hình 7: Nương mạ thí nghiệm thời điểm đánh giá bệnh 31

Hình 8: Tỷ lệ của các bộ giống lúa MTL phản ứng đối với bệnh cháy lá 32

Hình 9: Tỷ lệ các giống lúa So sánh năng suất A1 và Sản xuất thử A1 phản ứng đối với bệnh cháy lá tại năm địa điểm 40

Hình 10: Tỷ lệ giống lúa Phèn mặn phản ứng đối với bệnh cháy lá tại ba địa điểm thí nghiệm 41

Hình 11: Tỷ lệ giống lúa Phẩm chấtphản ứng đối với bệnh cháy lá tại bốn địa điểm thí nghiệm 42

Hình 12: Tỷ lệ của các bộ giống lúaphản ứng đối với bệnh thối cổ bông tai Cần Thơ 43

Hình 13: Tỷ lệ của các giống lúa So sánh năng suất A1, Sản xuất thử và Phẩm chất phản ứng đối với bệnh thối cổ bông 44

Hình 14: Phản ứng đối với bệnh cháy lá của bộ giống định dòng 47

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

Bảng 1: Tính chống chịu bệnh cháy lá của bộ Hậu kỳ A1 tại Cần Thơ 56 Bảng 2: Tính chống chịu bệnh cháy lá của bộ Hậu kỳ A0 tại Cần Thơ 57 Bảng 3: Tính chống chịu bệnh cháy lá của bộ giống So sánh năng suất A1

tại Cần Thơ 57 Bảng 4: Tính chống chịu bệnh cháy lá của bộ giống Sản xuất thử A1

tại Cần Thơ 58 Bảng 5: Tính chống chịu bệnh cháy lá của bộ giống Phèn mặn

tại Cần Thơ 58 Bảng 6: Tính chống chịu bệnh cháy lá của bộ giống Phẩm chất

tại Cần Thơ 59 Bảng 7: Tính chống chịu bệnh thối cổ bông của bộ Hậu kỳ A0

tại Cần Thơ 59 Bảng 8: Tính chống chịu bệnh thối cổ bông của bộ Hậu kỳ A1

tại Cần Thơ 60 Bảng 9: Tính chống chịu bệnh thối cổ bông của bộ giống So sánh năng suất A1

tại Cần Thơ 61 Bảng 10: Tính chống chịu bệnh thối cổ bông của bộ giống Sản xuất thử A1

tại Cần Thơ 61 Bảng 11: Tính chống chịu bệnh thối cổ bông của bộ giống Phẩm chất

tại Cần Thơ 62 Bảng 12: Tính chống chịu bệnh cháy lá của bộ giống So sánh năng suất A1

tại các địa điểm 62 Bảng 13: Tính chống chịu bệnh cháy lá của bộ giống Sản xuất thử A1

tại các địa điểm 63 Bảng 14: Tính chống chịu bệnh cháy lá của bộ Hậu kỳ A0

tại các địa điểm 63 Bảng 15: Tính chống chịu bệnh cháy lá của bộ giống Phẩm chất

tại các địa điểm 64 Bảng 16: Tính chống chịu bệnh cháy lá của bộ giống Phèn mặn

tại các địa điểm 64 Bảng 17: Tính chống chịu bệnh thối cổ bông của bộ giống Sản xuất thử A1

tại các địa điểm 65

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

tại các địa điểm 66 Bảng 20: Tính chống chịu bệnh thối cổ bông của bộ giống So sánh năng suất A1 tại các địa điểm 66 Bảng 21: Tính chống chịu bệnh thối cổ bông của bộ Hậu kỳ A1

tại các địa điểm 67

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

CHƯƠNG I

MỞ ĐẦU

Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có diện tích gieo trồng lúa gần 4 triệu ha/năm, đóng góp hơn 50% tổng sản lượng cả nước và hơn 80% lượng gạo xuất khẩu ở Việt Nam Do điều kiện thâm canh cao tăng năng suất nên sâu bệnh thường xuyên phát triển thành dịch gây thất thu hàng năm với số lượng đáng kể, chỉ riêng đối với bệnh cháy lá, thiệt hại đôi khi lên đến 40% năng suất do thối cổ bông (Phạm Văn Dư, 1997) Đặc biệt vụ Đông Xuân 2002-2003 đã có 189 ngàn hecta bị nhiễm bệnh trên tổng số 1,6 triệu hecta canh tác lúa (Cục Bảo Vệ Thực Vật phía Nam trích từ Phạm Văn Dư và ctv, 2004)

Cháy lá do nấm Pyricularia oryzae gây ra, là một trong những bệnh gây hại

nghiêm trọng, chúng tấn công cây lúa ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng và cũng là bệnh phổ biển ở các nước trồng lúa trên thế giới (Ou,1983) Việc phòng trừ bệnh một cách bền vững phải là tổng hợp các yếu tố hầu giảm áp lực phát sinh và phát triển bệnh Nhưng để đối phó với bệnh này thì nông dân thường xuyên sử dụng lượng thuốc hoá học rất lớn, lượng thuốc được người nông dân đồng bằng sông Cửu Long

sử dụng cho lúa vào những năm 2000 tăng gấp 8 lần so với năm 1991 (Nguyễn Đăng Hào, 2004 trích dẫn từ Ông Huỳnh Nguyệt Ánh, 2004) Nếu sử dụng thuốc hoá học trong thời gian dài để phòng trị bệnh sẽ dễ gây ra hiện tượng nấm bệnh kháng thuốc, gây độc cho người và cho gia súc, ảnh hưởng đến phẩm chất của nông sản đồng thời cũng chính là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường Còn sử dụng chất kích kháng trong công tác quản lý bệnh cháy lá trên lúa cũng góp phần giảm đi sử dụng các hoá chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường, giá thành chất kích kháng lại thấp Nhưng chất kích kháng lưu dẫn chống bệnh cháy lá như salicilic acid, CuCl2, benozic acid (Ngô Phương Đại và ctv, 2004), oxilic acid (Phạm Văn Dư, 2004) vẫn chưa được

sử dụng rộng rãi Vì sử dụng chất kích kháng đòi hỏi phải có hiểu biết có kiến thức về cách sử dụng nồng độ, liều lượng hoá chất, phải có kỹ thuật canh tác phù hợp thì chất kích kháng mới có hiệu lực và không gặp rủi ro trong sản xuất Giống kháng góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm trong sản xuất, đồng thời hạn chế sử dụng thuốc hoá học gây ô nhiễm môi trường và tất cả nông dân có thể áp dụng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

được, không đòi hỏi nông dân hiểu biết rộng.Vì vậy, giống kháng vẫn là biện pháp hữu hiệu nhất để hạn chế dịch bệnh cháy lá

Để tìm phản ứng của giống đối với bệnh cháy lá, đề tài “ Tính chống chịu bệnh cháy lá và bệnh thối cổ bông của các giống lúa MTL triển vọng vụ Hè Thu 2006” được tiến hành nhằm mục đích chọn giống thích nghi với điều kiện canh tác vụ Hè Thu ở đồng bằng sông Cửu Long để đáp ứng nhu cầu sản xuất ở từng địa phương, giúp cho việc ứng dụng giống chống chịu trong công tác quản lý bệnh cháy lá, đồng thời góp phần giảm đi sử dụng thuốc bảo vệ thực vât, giảm giá thành sản xuất

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

CHƯƠNG II

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 BỆNH CHÁY LÁ VÀ SỰ PHÂN BỐ BỆNH

Bệnh cháy lá lúa hay còn gọi là bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia oryzae gây ra

Theo Võ Thanh Hoàng (1993) thì bệnh được ghi nhận và mô tả ở Trung Quốc vào

1637, sau đó được báo cáo có ở nhiều quốc gia khác nhau như Nhật (1704), Ý (1828), Hoa kỳ (1876) và Ấn Độ (1913) Như vậy, bệnh cháy lá có lịch sử lâu đời nhất trong các bệnh hại lúa và là một trong những bệnh phân bố rộng, có mặt hầu hết ở các nước trồng lúa trên thế giới và phá hại trên các vùng trồng lúa của hơn 80 quốc gia khác nhau từ Trung Đông đến Tây Bán Cầu, từ vùng nhiệt đới đến vùng ôn đới (Ou, 1983)

Ở Việt Nam, bệnh phổ biến khắp các vùng từ Bắc đến Nam Trong những năm 1955-1961, bệnh phát sinh và phá hại nghiêm trọng ở nhiều nơi trên miền bắc như Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Bắc Giang, Hà Đông do Roger phát hiện (Lê Hữu Thuận, 1981; Võ Thị Tuý Phượng, 1984) Năm 1955, nước ta mới bắt đầu nghiên cứu bệnh này

Năm 1983, bệnh cháy lá lúa phát sinh và gây hại ở tất cả các vùng trồng lúa trong cả nước, gây hại nặng ở đồng bằng sông Cửu Long, ven biển Miền Trung và đồng bằng Bắc Bộ (Dương Chí Linh, 2001)

Bệnh hình thành và tập trung nhiều ổ dịch ở Tiền Giang (Chợ Gạo, Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè), nam Hậu Giang (Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, Mỹ Tú và thị xã Sóc Trăng) Bệnh nặng ở Trà Cú, Long Hồ (Cửu Long), Long Phú (Hậu Giang), Năm Căn (Minh Hải) (Lê Hữu Thuận, 1981) Đến năm 1993, Võ Thanh Hoàng cũng cho rằng hàng năm bệnh gây hại ở các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Chợ Gạo Tiền Giang; Phú Tân, Chợ Mới An Giang; Thạnh Trị, Cần Thơ Điều trên chứng tỏ bệnh xuất hiện nhiều ở Tiền Giang, An Giang, Sóc Trăng

Theo Ou (1983) và Võ Thanh Hoàng (1993) thì bệnh cháy lá bộc phát cao điểm từ tháng 5 đến tháng 6 và từ tháng 11 đến tháng 12. Bệnh thường bộc phát trong thời gian có sương mù hoặc mưa nhẹ nhất là ruộng thiếu nước (Ngô Văn Phiếu, 1998) Cùng với ý kiến trên theo Phạm văn Kim (2002) cho rằng bệnh bộc phát cao

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

điểm sau các dịp trời trở lạnh về đêm và hơi yên gió, sau thời kỳ có nhiều mây, sương

mù dầy về đêm và sáng sớm Mức độ sương mù, giống lúa, phân đạm quyết định sự tàn phá của bệnh ở những cao điểm

Những khảo sát bước đầu về sự phân bố dòng nòi sinh lý gây bệnh cháy lá lúa

ở Việt Nam cho thấy có sự phân hoá nòi sinh lý ở Bắc và Nam (Võ Thị Tuý Phượng,

1984) Theo Phạm Văn Kim (2002) nòi sinh lý nấm Pyricularia oryzae tại đồng bằng

sông Cửu Long thường biến động phức tạp và rất nhanh, nấm thay đổi tính độc và gây hại cho giống, do đó giải pháp sử dụng giống kháng bệnh cháy lá ở nơi dịch bệnh chắc chắn gặp khó khăn Các giống kháng chỉ giữ được tính kháng bệnh trong 5 năm

Từ sự thay đổi nòi nấm liên tục nên năm 1963 một mạng lưới quốc tế nghiên cứu bệnh này được hình thành Cũng từ đó, các trung tâm lai tạo giống lúa trên thế giới lần lượt đưa ra các giống lúa mới kháng bệnh cháy lá (Lê Hữu Thuận, 1981) Riêng đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh cháy lá hàng năm và mỗi vụ để tìm ra giống kháng với sự biến động của nòi nấm Nhưng do

sự biến đổi nòi nấm liên tục này nên việc tìm giống kháng và phòng ngừa bệnh cháy

lá gây khó khăn và gây không ít những thiệt hại nặng về năng suất và phẩm chất lúa gạo

2.2 THIỆT HẠI CỦA BỆNH CHÁY LÁ TRÊN LÚA

Bệnh cháy lá có thể làm lúa bị cháy rụi hoàn toàn nếu bị nhiễm bệnh sớm ở giai đoạn mạ, hay giai đoạn nhảy chồi, nhất là khi có điều kiện thời tiết thuận lợi Nếu nhiễm trễ ở giai đoạn trổ, bệnh sẽ làm thối đốt thân, thối cổ bông nên làm đổ gãy bông, làm hạt lép hay làm giảm trọng lượng hạt (Võ Thanh Hoàng, 1993; Nguyễn Bé Sáu, 2006) Bên cạnh đó, Phạm Văn Kim (2002) cũng cho rằng khi bệnh nặng cả lá lúa bị cháy khô, có thể làm chết cả bụi lúa, nếu nấm gây hại ở cổ bông làm cho cả bông lúa bị gãy gục hoặc bông lúa bị lép trắng

Ở các nước Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, bệnh gây hại thành dịch và làm giảm năng suất đáng kể Ở Nhật, số liệu từ năm 1953-1960, cho thấy sản lượng thất thu hàng năm từ 1,4-7,3%, trung bình là 2,98% Tính riêng năm 1960, thất thu do bệnh cháy lá chiếm 24,8% trong tổng thất thu do sâu bệnh, bão lụt… Riêng bệnh thối

cổ bông, người ta ước tính cứ 10% bông bị nhiễm bệnh thì năng suất thất thu 6% và tỷ

lệ hạt kém phẩm chất gia tăng 5% (Võ Thanh Hoàng, 1993) Theo Vũ Triệu Mân, Lê Lương Tề (1998) và Ou (1983) cho biết Padmanabhan (1965) khi lúa bị đạo ôn cổ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

bông 1% thì năng suất có thể giảm từ 0,7% đến 17,4% tuỳ thuộc các nhân tố có liên quan khác

Năm 1960-1961, ở Ấn Độ có 0,8% bị thất thu hoàn toàn năng suất trên tổng diện tích canh tác lúa Ở Philipin hơn 10 ngàn hecta bị thất thu 50% năng suất lúa (Ou, 1983; Nguyễn Bé Sáu, 2006)

Theo Nguyễn Đăng Long (1984) thì năm 1979, chính phủ Triều Tiên đã chi khoảng 350 triệu đôla để nhập thuốc phòng trị bệnh cháy lá lúa (trích từ Dương Chí Linh, 2001)

Ở Việt Nam, bệnh cháy lá lúa xuất hiện trên tất cả các vùng trồng lúa trên hai

vụ chính Đông Xuân và Hè Thu Năm 1990, Miền Bắc nhiễm bệnh cháy lá lên đến

632 ngàn hecta Miền Nam hầu như tỉnh nào cũng xuất hiện bệnh, nặng nhất là tỉnh Long An 33 ngàn hecta, và An Giang 88,98 hecta (Nguyễn Bé Sáu, 2006) Vụ Đông Xuân 1991-1992, ở Miền Bắc diện tích lúa bị bệnh đạo ôn là 292 ngàn hecta trong đó

có tới 214 ngàn hecta bị đạo ôn cổ bông Ở Miền Nam diện tích lúa bị đạo ôn năm

1992 là 165 ngàn (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Đến năm 2002-2003, đã có

189 ngàn hecta bị nhiễm bệnh trên tổng số 1,6 triệu hecta canh tác lúa (Cục Bảo Vệ Thực Vật phía Nam trích từ Phạm Văn Dư và ctv, 2004)

Tại đồng bằng sông Cửu Long, dịch cháy lá lúa đã gây hại nặng ở huyện Thạnh Trị (Sóc Trăng) vào năm 1978 Trong những năm 1980-1982, dịch cháy lá xuất hiện

ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Cửu Long, Đồng Tháp, An Giang thiệt hại về năng suất ước tính khoảng 40% Năm 1992, khoảng 10 ngàn hecta lúa ở các tỉnh Long An, Tiền Giang, Hậu Giang bị thiệt hại Năm 1994, dịch bộc phát trên diện rộng với hơn

77 ngàn hecta lúa đã bị nhiễm cháy lá Năm 1995, hơn 200 ngàn hecta lúa ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm cháy lá, mức độ thiệt hại 10-15% (kết quả nghiên cứu khoa học 1977-1997, trích dẫn từ Dương chí Linh, 2002) Riêng bệnh thối cổ bông giảm 40% năng suất (Phạm Văn Dư và ctv, 2002)

Theo Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen (1993) cho rằng bệnh cháy lá lúa gây hại nghiêm trọng ít hơn bệnh thối cổ bông vì khi lúa bị cháy lá thì có thể phun trị kịp thời, còn thối cổ bông thì khi phun thuốc cũng không có hiệu quả, chỉ có thể phòng ngừa trước, do đó dẫn đến gây tổn thất nặng nề về năng suất và phẩm chất như bông bị gãy

đổ, bông bị lép và bạc trắng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

2.3 TRIỆU CHỨNG, TÁC NHÂN GÂY BỆNH CHÁY LÁ VÀ NGUỒN LƯU TỒN NẤM BỆNH

2.3.1 Triệu chứng

Bệnh cháy lá có thể phát sinh từ giai đoạn mạ đến lúa chín và có thể phá hại ở

lá, bẹ lá, nách lá, đốt thân, cổ bông và hạt

Bệnh trên lá ở giai đọan mạ

Triệu chứng của cháy lá tại một số vùng phụ thuộc vào các điều kiện khí hậu

Ở vùng nhiệt đới, mạ thường hay bị bệnh nhưng sau khi cấy hiếm thấy lúa bị bệnh nặng (Ou,1983) Trên lá mạ vết bệnh lúc đầu thường có hình thon nhỏ, màu nâu hồng hay nâu vàng Khi bệnh nặng từng đám vết bệnh kế tiếp nhau làm cây mạ có thể héo khô hoặc chết (Mai Quốc Việt, 1984; Đinh Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh,

1986; Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

Nấm tấn công ở mọi bộ phận của lúa nhưng nhiều nhất là ở phiến lá (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Bệnh xâm nhập khi lá lúa vừa xoè Trên lá, đặc điểm của vết bệnh

có thể thay đổi theo tuổi, điều kiện thời tiết và mức độ mẫn cảm của giống lúa Thông thường vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ màu xanh da trời hoặc xám nhạt, dạng thấm nước, sau đó phát triển thành vết bệnh điển hình, hai đầu nhọn ít hoặc nhiều, giữa phình ra Trung tâm vết bệnh thường màu xám hay trắng nhạt, và mép viền thường nâu hoặc nâu đỏ nhạt Sự phát triển tiếp tục của triệu chứng bệnh thể hiện khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ phản ứng của cây:

+ Trên giống lúa mẫn cảm: vết bệnh to hình thoi, dạng hình mắt én, dài 1,5cm, rộng 0,3-0,5cm Nếu điều kiện ẩm ướt và bóng râm, giống có tính nhiễm cao vết bệnh sẽ có màu xám xanh và bào tử nấm phát triển trên đó, rất ít mép viền nâu thay vào đó đôi khi có một quầng vàng xung quanh vết bệnh (Ou, 1983)

+ Trên giống chống chịu cao: đốm bệnh là những đốm nhỏ li ti bằng đầu đinh ghim 1-2mm hay hình dạng không đặc trưng (Ou, 1983; Vũ Triệu Mân và Lê Lương

Tề, 1998)

+ Trên giống phản ứng trung gian: các vết bệnh tròn nhỏ hoặc hình bầu dục nhỏ, xung quanh vết bệnh có viền màu nâu (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Theo Agrios (1997) (trích dẫn từ Trần Thị Thu Thuỷ, 2006) kích thước vết bệnh phụ thuộc vào tính kháng của cây, giống càng kháng thì vết bệnh càng nhỏ Đa

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

số vết bệnh thay đổi trong khoảng 0,2 - 4 x 0,5 - 22mm Lá thứ 3-4 bị bệnh nhiều nhất (Lê Hữu Thuận, 1981) và theo Ou (1983) thì bào tử nấm rơi vào lá thứ 3 nhiều hơn so với lá thứ 2 và trên lá đỉnh lại càng ít hơn Cùng với ý kiến trên thì Võ Thanh Hoàng (1993) trên cây lúa những lá mọc ngang từ lá thứ 3 trở xuống hay những giống lúa có lá mọc ngang dễ bắt bào tử hơn

Nhìn chung, vết bệnh trên lá non và giống nhiễm bệnh thường to, vết bệnh trên

lá già và giống chống chịu bệnh thường nhỏ Trường hợp bệnh nặng các vết bệnh thường nối liền nhau tạo thành vết bệnh lớn làm cả lá bị cháy khô (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Ou (1983) cho rằng ở vùng ôn đới thường có thời kỳ dài mưa phùn hoặc mưa nhẹ, bệnh đạo ôn trên lá vào lúc đẻ nhánh thường nghiêm trọng và có thể làm chết cây hoàn toàn

Bệnh trên cổ bông

Bệnh tấn công ở phần cổ bông lúa, có vết nâu sậm hoặc đen, thắt lại và lõm vào, vết bệnh lan ra hai phía dài 1-2cm ở phía trên và dưới của mắt thân Vết bệnh có thể ở bất cứ nơi nào trên cổ bông hoặc ở các đốt của cổ bông Vết bệnh cũng có thể xảy ra ở các nhánh bông con Khi cổ bông lúa bị bệnh, nấm tấn công và chận ngang

cổ bông làm tắt nghẽn mạch dẫn nhựa nên chất dinh dưỡng từ lá không lên được đến hạt lúa và làm cho hạt lúa bị hại

Triệu chứng trầm trọng nhất là bông lúa bị bạc trắng, toàn bông lúa bị lép, đó là

do bệnh tấn công sớm sau khi lúa trổ bông Có thể phân biệt bông bạc do thối cổ bông và bông bạc do sâu ống bằng cách nắm bông lúa bị bạc kéo nhẹ lên, nếu do sâu ống thì bông lúa bị tụt ra dễ dàng Còn nếu bông lúa không bị tụt ra, đó là do bệnh thối cổ bông gây nên Nếu bệnh xuất hiện sau khi bông lúa đã sang giai đoạn vào chắc, do trọng lượng của các hạt lúa, bông lúa có thể bị gãy cổ Nơi vết gãy cuống

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

bông lúa có màu nâu sậm và bị thối mục đi Bệnh nhẹ hơn thì bông lúa bị lép một số

hạt, số còn lại bị lửng Trên hạt có các đốm màu nâu, tâm xám trắng

Bệnh trên hạt

Thông thường sau khi bệnh phát triển mạnh trên cổ bông thì vết bệnh cũng bắt đầu xuất hiện trên hạt thóc Theo Võ Thanh Hoàng (1993), vết bệnh là những đốm tròn, viền nâu, tâm màu xám trắng, đường kính 1-2mm Nhưng Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) cho rằng vết bệnh ở hạt không định hình, có màu nâu xám hoặc nâu đen Nấm ký sinh ở vỏ trấu và có thể tấn công bên trong hạt Hạt giống bị bệnh là nguồn bệnh truyền từ vụ này qua vụ khác

2.3.2 Tác nhân gây bệnh

Bệnh cháy lá là do nấm Pyricularia oryzae gây ra, nấm thuộc họ Moniliaceae,

bộ Moniliales, lớp Seuteromycetes (lớp nấm bất toàn) ( Phạm Văn Kim, 2000)

Đặc điểm hình thái của nấm Pyricularia oryzae

Bào tử nấm gây bệnh rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy được có rất nhiều trong không khí, theo gió bay đi khắp nơi và làm lây lan bệnh (Phạm văn Kim và Lê Thị Sen, 1993)

Đính bào tử thường mọc thành từng chùm ở khí khổng có hình quả lê, hai vách ngăn, đôi khi có từ 1-3 vách ngăn, phần chân hơi phòng to và nhỏ dần về phía ngọn, không màu hay có màu xanh hơi vàng hay màu xám nâu, nhạt màu dần về phía ngọn, mang một hay nhiều bào tử, 1-20 bào tử, kích thước 19-23 x 7-9 µ Kích thước bào tử tùy chủng nấm và điều kiện môi trường (Võ Thanh Hoàng, 1993; Ou, 1983)

Đặc điểm sinh lý và gây hại của nấm

Nấm bắt đầu sinh bào tử vào 6 ngày sau khi chủng Một vết bệnh điển hình (mắt én) có thể sinh ra 2000 – 6000 bào tử/ ngày, trong thời gian 14 ngày, cao điểm ở ngày 3-8 sau khi lộ vết bệnh ở lá và 10-12 ngày sau khi xuất hiện vết bệnh trên nhánh bông (Ou,1983; Võ Thanh Hoàng, 1993; Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen, 1993)

Bào tử nảy mầm đã tạo đĩa bám và vòi xâm nhiễm, sẽ xâm nhiễm trực tiếp qua cutin và biểu bì, khuẩn ty nấm cũng có thể xâm nhiễm qua khí khổng Vòi xâm nhiễm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

phát triển từ đĩa bám, sau khi xâm nhập vào tế bào sẽ thành lập một túi và từ đó phát triển khuẩn ty lan vào tế bào cây (Võ Thanh Hoàng, 1993)

Howard và Valent (1996) nghiên cứu được rằng trong quá trình gây bệnh, nấm tiết ra các enzym để phân hủy vách tế bào biểu bì của lá như cutinase, cellulase hay xylanases (trích từ Võ Thị Tuý Phượng, 1984) Một số độc tố khác như Acid-α- picolinic (C6H5NO2) và piricularin (C18H14N2O3) có tác dụng kìm hãm sự hô hấp và phân hủy các enzym chứa kim loại của cây, kìm hãm sự sinh trưởng của cây, làm cho cây bị nhiễm bệnh (Võ Thanh Hoàng, 1993; Vũ Triệu Luân và Lê Lương Tề, 1998)

Nòi nấm:

Các nghiên cứu gần đây (IRRI,1968; Ou,1970) cho thấy 20 tháng thu thập mẫu

ở ruộng mạ thí nghiệm tại IRRI, đã phát hiện thấy 60 nòi Philipin, hay 34 nòi quốc tế Thành phần và tần số xuất hiện của các nòi phát hiện được trong mỗi tháng đều không giống nhau Một số nòi có mặt trong hầu hết thời gian, một số khác xuất hiện có tính chất định kì và có những nòi chỉ thấy một lần (Ou, 1983)

Theo Võ Thanh Hoàng (1998) thì Sasaki (1922) là người đầu tiên chú ý đến sự

tồn tại của các dòng Pyricularia oryzae với nòi gây bệnh khác nhau khi ông thấy có

những giống lúa kháng với dòng A lại rất nhiễm với dòng B Tuy nhiên, phải cho đến năm 1950, khi một vài giống lai như Futaba, được biết kháng bệnh hơn 10 năm, lại bất ngờ nhiễm bệnh một cách nghiêm trọng, do đó, các nghiên cứu về nòi gây bệnh bắt đầu được đẩy mạnh ở Nhật Vào khoảng năm 1960, dựa trên phản ứng của 12 giống lúa gồm 2 giống có nguồn gốc nhiệt đới, 4 giống có nguồn gốc ở Trung Quốc

và 6 giống có nguồn gốc của Nhật; các nghiên cứu đã xác định được 13 nòi bệnh và xếp thành 3 nhóm với tên gọi là nhóm T, C, N

Mỹ và Nhật, qua chương trình hợp tác đã thử nghiệm hàng năm chủng nấm trên 39 giống lúa khác nhau đã được dùng để định nòi ở Nhật, Mỹ, Taiwan và sau cùng đã chọn ra được 8 giống và 32 nhóm gây bệnh Các nòi này được gọi là nòi quốc tế và cho mang kí hiệu IA, IB,…………,IH, chỉ nhóm và theo sau là các con số

để chỉ số nòi Tám giống lúa quốc tế dùng để định nòi bệnh là: Raminad Str.3, Zenith, NP- 125, Usen, Dular, Kanto 51, Sho-tiao-tsao (CI 8970-Caroto)

Các giống lúa có phản ứng rất khác nhau đối với bệnh cháy lá lúa, thường các giống kháng không duy trì được tính kháng lâu dài, mà rất dễ nhiễm bệnh trở lại sau thời gian gieo trồng Nguyên nhân quan trọng là do sự phát triển các nòi mới của nấm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

bệnh cháy lá lúa ( Ou,1983) Các dòng nấm Pyricularia oryzae rất dễ bị biến dị và

tạo ra nòi nấm mới, sinh ra các độc tính và khả năng xâm nhiễm khác trên cây lúa (Lê Xuân Cuộc, 1994) (trích dẫn từ Hoàng Đình Định, 1998)

Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) cho rằng các vùng trồng lúa trên thế giới đã có tới 256 nòi xuất hiện Ở nước ta xác định trên bộ giống chỉ thị nòi quốc

tế đã thấy xuất hiện của nhiều nhóm nòi đạo ôn ký hiệu là IA, IB, IC, ID, IE, IF, và IG phân bố từ Quãng Nam- Đà Nẵng đến các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Các nhóm nòi có sức gây bệnh cao ở tỉnh Miền Bắc là IB, IE, IF,IC-1, IA-71, IC-23 Các nhóm IA, ID,

IG có khả năng gây bệnh cao ở đồng bằng sông Cửu Long

Và theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Xuân (2003) đã xác định được một số chủng nấm thuộc những nòi nấm khác nhau: chủng nấm OM được xác định thuộc nòi 122,6 là nòi tương đối độc vì tấn công được 5 gen kháng: Pi-a, Pi-m, Pi-ta, Pi-b và Pi-t trong 12 gen kháng của bộ giống định nòi của Nhật Bản, đồng thời gây hại trên nhiều giống lúa đang sản xuất và nặng nhất là giống OMCS2000; chủng nấm S82 được xác định thuộc nòi 102,6 cũng là nòi khá độc vì tấn công được 4 gen kháng Pi-a, Pi-ta, Pi-b, và Pi-t, của bộ giống định nòi này; chủng CT được xác định thuộc nòi 44,4 là nòi yếu vì chỉ tấn công được ba gen kháng Pi-i, Pi-z, Pi-t, của bộ giống định nòi của Nhật Bản;và chủng S118 được xác định thuộc nòi 103,4 chỉ tấn công được 4 gen kháng Pi-k, Pi-a, Pi-ta và Pi-t của bộ giống định nòi

Nhiều kết quả nghiên cứu di truyền về bệnh cháy lá cho thấy, có nhiều cặp gen kiểm soát tính kháng cháy lá và hầu hết tính kháng là tính trội Những nghiên cứu này đã kết luận: sự phân ly của tính kháng hoàn toàn phù hợp với thuyết “gen đối gen” của Flor (1956) (Ou, 1983;Võ Thanh Hoàng, 1998; Bùi Chí Bửu, 2002)

Theo Võ Thanh Hoàng (1998) cho rằng đến nay người ta đã xác định được 13 gen kháng bệnh cháy lá Bùi Chí Bửu (2002) cho rằng người ta đã tìm thấy 20 gen kháng bệnh cháy lá lúa và đặt tên Pi-1 đến Pi-20 Mỗi gen kháng như vậy sẽ giúp cho cây kháng với tất cả các nòi sinh lý gây bệnh chứa gen tương ứng không gây bệnh

2.3.3 Nguồn lưu tồn và phát tán mầm bệnh

Nguồn bệnh lưu tồn chủ yếu là trong rơm lúa và hạt bị nhiễm bệnh, nấm có khả

năng lưu tồn rất cao, theo Kuribayashi (1923) trong điều kiện khô bào tử có khả năng sống hơn 1 năm và sợi nấm có khả năng sống được gần 3 năm, nhưng trong điều kiện

ẩm ướt, chúng không sống được sang vụ sau (Ou, 1983; Vũ Triệu Mân và Lê Lương

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

Tề, 1998) Và theo trích dẫn từ Dương Chí Linh (2001) thì Sundararam và Thomas cho rằng đính bào tử có thể sống từ vụ này sang vụ khác trong điều kiện môi trường khô

Ở vùng nhiệt đới, bào tử có thể tồn tại quanh năm đồng thời nấm cũng chuyển

ký chủ từ cây lúa bị bệnh sang các ký chủ phụ sinh trưởng phát triển quanh năm Khi trên đồng ruộng không có lúa, thì nấm này sẽ sống trên các loài cỏ lồng vực, cỏ đuôi phụng, cỏ môi, cỏ túc bình (Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen, 1993) Từ kết quả nghiên cứu, Nguyễn Thanh Hoàng (1979), Trần Thị Thu Thủy (1980), Nguyễn Bá Hoài (1981) cho biết ngoài cây lúa, nấm gây bệnh cháy lá lúa còn có 10 loài ký chủ phụ Các loài ký chủ phụ này giúp cho nấm có khả năng lưu tồn cao

Bào tử nấm yêu cầu giọt nước tự do để mọc mầm và độ ẩm tương đối cao gần bão hòa để gây bệnh, càng có nhiều giọt nước mưa trên lá bệnh hay khi thời gian sương mù kéo dài thì lượng bào tử được phóng thích càng cao (Võ Thanh Hoàng, 1993) Nghiên cứu Kuribayashi và Ichikawa (1934 - 1949) cho rằng bào tử nấm phát tán vào ban đêm (từ 6 giờ chiều đến 7 giờ sáng) lớn hơn vào ban ngày (6 giờ sáng đến

7 giờ chiều) (trích từ Võ Thị Tuý Phượng, 1984) Thời gian phát tán lớn nhất là từ nửa đêm đến sáng, đặc biệt là từ 2 giờ đến 6 giờ sáng Vùng nhiệt đới, cao điểm thứ hai giải phóng bào tử là vào buổi chiều sau cơn mưa rào mùa hè (Ou, 1983)

Bào tử nấm có thể phát tán và bay cao đến 24 m, thậm chí đến 10000 m để lây lan, nhưng khi không có gió, phần lớn bào tử ở gần mặt đất (Ou, 1983; Trần Văn Hai, 2006) Gió càng mạnh bào tử bay càng xa (Ou, 1983)

2.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT SINH VÀ PHÁT TRIỂN BỆNH CHÁY LÁ

2.4.1 Ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu

Nhiệt độ

Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự gây bệnh và sự phát tán của bệnh đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu

Nghiên cứu của Kuribayashi (1928) nhiệt độ thích hợp cho sự hình thành bào

tử ở 15-300C và tối hảo là 25-280C Bào tử phát tán lớn nhất ở 20-220C Nhiệt độ tối hảo của bào tử nảy mầm và hình thành ống mầm là 22 - 280C Nấm có thể tăng trưởng ở nhiệt độ 30-370C nhưng thích hợp nhất ở 25-280C Nhiệt độ tối hảo cho nấm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

phát triển bên trong ký chủ là 24-280C Ở nhiệt độ cao hơn nấm phát triển kém dần và không phát triển được ở 350C (Võ Thi Tuý Phượng, 1984)

Henry và Anderson (1948) cho rằng ở 280C cường độ sinh bào tử nhanh và mạnh nhưng sức sinh sản giảm dần sau 9 ngày, trong khi đó ở 16, 20 và 240C sự sinh sản bào tử tăng và kéo dài tới 15 ngày sau đó mới giảm xuống (trích từ Vũ Triệu Mân

và Lê Lương Tề, 1998) Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh hưởng đến kích thước vết bệnh, vết bệnh có kích thước to nhất ở 250C (Võ Thanh Hoàng, 1993)

Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen (1993) cho biết bào tử xâm nhập vào trong lá nhanh hay chậm tuỳ thuộc nhiệt độ Nhiệt độ càng cao thì thời gian xâm nhập của bào tử càng kéo dài và ngược lại, thời gian xâm nhập của bào tử ngắn lại ở nhiệt độ thấp Ở nhiệt độ 240C thì chỉ cần 6 giờ thì bào tử đã xâm nhập vào bên trong lá lúa Còn ở nhiệt độ nóng hơn, 280C hoặc 300C thì nấm cần đến 8 giờ hoặc 10 giờ để xâm nhập vào lá lúa

Bệnh sẽ nghiêm trọng khi biên độ nhiệt độ ngày đêm cao, khả năng chống chịu của cây lúa cao nhất khi nhiệt độ không khí ở 320C và thấp nhất khi nhiệt độ không khí 20 - 230C (Đường Hồng Dật, 1963)

Nhiệt độ đất cũng liên quan đến bệnh cháy lá Nhiệt độ đất khoảng 200C thì bệnh rất nghiêm trọng, bệnh giảm dần khi nhiệt độ đất gia tăng Nếu nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí từ 18 - 20 0C thì bệnh cũng phát triển nặng do tính nhiễm của cây tăng (Võ Thanh Hoàng, 1993) Ou (1983) có những thí nghiệm cho rằng mối liên hệ giữa nhiệt độ và nhiễm bệnh của lúa thay đổi tuỳ thuộc vào thời gian xử lý nhiệt, với phức hợp giữa nhiệt độ đất, nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước; với tuổi cây và giống lúa sử dụng Mạ và cây con sẽ trở nên mẫn cảm khi nhiệt độ không khí 170C

và nhiệt độ nước 230C (Tasuga và Yoshii, 1959; 1960) Nhìn chung, giống lúa ở vùng

ôn đới dễ nhiễm bệnh cháy lá ở nhiệt độ thấp hơn ở vùng nhiệt đới (Hashioka, 1944) (trích dẫn từ Ou, 1983)

Thời gian nhiễm bệnh cũng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, theo Ou (1983) ở nhiệt

độ 9 -100C thời gian ủ bệnh là 13 - 18 ngày, 17 - 190C là 7 - 9 ngày, 24 - 250C là 5 - 6 ngày và 26 - 280C là 4 - 5 ngày

Mặc dù quá trình xâm nhập của nấm vào cây phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ,

ẩm độ không khí và ánh sáng nhưng ở vùng nhiệt đới, sự biến động của nhiệt độ không lớn nên ít gây ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của bệnh cháy lá lúa

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

Vì vậy, nhân tố chính điều khiển quá trình phát sinh và phát triển của bệnh là ẩm độ không khí và sương mù (Ou, 1983)

Ẩm độ

Ẩm độ không khí và ẩm độ đất có tác động rất lớn đến tính mẫn cảm của cây

và đến sự lây lan và phát triển của bệnh Tính nhiễm của cây tỷ lệ nghịch với ẩm độ của đất Trái lại ẩm độ không khí càng cao, càng thuận lợi cho bệnh cháy lá phát triển (Ou, 1983; Võ Thanh Hoàng, 1993; Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

Theo Hemimi, Abe (1932) cùng với Kahn và Libby (1958) cho rằng ẩm độ không khí và độ ướt của đất ảnh hưởng rất lớn đến tính nhạy cảm của lúa đối với sự tấn công cũng như sự phát triển của bệnh Cây lúa trở nên mẫn cảm khi mọc ở đất khô, chống chịu trung bình ở đất ẩm và chống bệnh ở các điều kiện úng ngập (Ou, 1983)

Theo Võ Thị Tuý Phượng (1983) cho biết Hemimi và Imura (1939) có mối tương quan chặt chẽ giữa khả năng sinh bào tử và ẩm độ không khí Nấm tạo bào tử tốt ở ẩm độ tương đối là 93%, ẩm độ càng cao, bào tử sinh ra càng nhiều Theo Kuribayashi và Ichikawa (1952) nấm tạo bào tử ít ở ẩm độ tương đối 89% - 90% và không tạo bào tử ở 88% Theo Abe (1936) nấm không mọc lan tràn khi ẩm độ không khí tương đối nhỏ hơn 92% Bào tử bị thiệt hại và ít lây lan khi ẩm độ quá ẩm ướt hoặc quá khô (Hashioka,1980)

Sương mù

Nghiên cứu mới đây của IRRI cho thấy rằng bào tử của nấm gây bệnh cháy lá được phóng thích từ vết bệnh dưới sự hiện diện của sương mù và mưa nhẹ Giọt sương đã đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu bộc phát bệnh và cung cấp nước

tự do cho bào tử nảy mầm một cách thuận lợi (Võ Thị Tuý Phượng, 1984)

Bào tử muốn phóng thích được phải có nước hay có sương, khi thời gian sương

mù kéo dài hay có nhiều nước trên bề mặt lá thì lượng bào tử được phóng thích càng cao, khi được xử lý bằng nước, hầu hết bào tử được phóng thích trong phạm vi 2 phút, nhất là trong 30 giây đầu tiên (Ou, 1983) Khoảng thời gian có sương dài bào tử được phóng thích sớm và phóng thích với số lượng nhiều (Võ Thị Tuý Phượng, 1984)

Nhiều nhà nghiên cứu cho thấy khoảng thời gian lá bị ướt càng dài (trên 23 giờ) số vết bệnh càng lớn Trong ruộng, sương là nhân tố làm lá ướt nhưng mưa

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

thường rửa trôi bào tử đi Kawamura và Ono (1968) cho biết giọt sương trên lá cây lúa thu nhiều đạm sẽ kích thích bào tử nảy mầm và hình thành ống mầm (Võ Thị Tuý Phượng, 1984)

Mưa

Ở vùng nhiệt đới, mưa thường làm giảm nhiệt độ còn khoảng 26-280C Theo Đường Hồng Dật (1963) mưa nhiều thiếu ánh sáng môi trường tạo ẩm độ cao làm cho bệnh lan mạnh Cùng với ý kiến trên theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) mưa thường xuyên kéo dài tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh gây hại nghiêm trọng Ou (1983) và Võ Thanh Hoàng (1998) cho rằng điều kiện 24 - 280C thì từ 16 - 24 giờ ướt liên tục lúa sẽ bệnh rất nặng

Abumiya, Kobayashi (1953) và Võ Thanh Hoàng (1993) cho rằng khi không

có đủ ánh sáng do mây mù, lá lúa sẽ tập trung nhiều asparagine, glutamine và nhiều amino acid khác, nên sẽ tăng tính nhiễm bệnh cho cây

Gió

Dưới ảnh hưởng của gió, không khí trở nên khô và ngăn cản sự hình thành bào

tử Sự tạo thành bào tử cần nơi lặng gió và tốt nhất về đêm Bào tử tách ra từ vết bệnh và thường được đưa đi xa bởi gió, vận tốc gió càng lớn thì sự phát tán càng rộng (Võ Thị Tuý Phượng, 1984) Gió lúc sáng sớm làm sương tan và ngăn cản sự phát triển của bệnh cháy lá

Kikawa (1900) cho rằng gió gia tăng tính mẫn cảm của lúa đối với bệnh cháy

lá (trích dẫn từ Ou, 1983)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 29

2.4.2 Điều kiện đất đai

Bệnh phát sinh trong điều kiện độ ẩm đất thấp, ruộng bị khô nhất là khi chuyển tiếp cuối mùa mưa sang mùa khô (Đặng Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh, 1986)

Theo Đường Hồng Dật (1963), bệnh phát triển nhiều ở chân ruộng trũng khó thoát nước, lớp đất mặt có nhiều mùn, ở vùng khí hậu ấm áp bệnh phát triển nhiều trên lá ở các chân ruộng trũng có lớp sét nông, còn hiện tượng thối cổ bông phát sinh nhiều ở chân đất cát pha

Điều kiện khô hạn, làm cây lúa thiếu nước, quá trình trao đổi chất kém, khả năng hấp thu dinh dưỡng yếu, cây lúa không chống chịu được bệnh Ở những vùng cao nguyên, điều kiện khô hạn thiếu nước kết hợp với đêm sương mù nhiều, biên độ nhiệt lớn sẽ làm cho bệnh ngày càng dễ phát sinh bệnh (Trần Văn Hai, 2006)

2.4.3 Giống lúa

Ngoài các yếu tố khí hậu thời tiết, đất đai, phân bón, đặc tính của giống có ảnh hưởng rất lớn tới mức độ phát triển của bệnh ở trên đồng ruộng Những giống nhiễm nặng không những là điểm bệnh phát sinh ban đầu mà còn là điều kiện cho bệnh dễ dàng lây lan hàng loạt, hình thành nên dịch bệnh trên đồng ruộng

Đặc tính chống bệnh của cây lúa tăng khi tỷ số SiO2/N tăng (Sakomoto và Abe, 1933) Giống lúa chống bệnh chứa nhiều polyphenol hơn ở giống nhiễm bệnh (Wakimoto và Yoshii, 1958) Trong giống lúa chống bệnh sẽ sản sinh ra hàm lượng lớn hợp chất Fitoalexin có tác dụng ngăn cản sự phát triển của nấm trong cây Tính chống bệnh của cây còn phụ thuộc vào đặc điểm cấu tạo của giống (Vũ Triệu Mân và

1935 và Norin 8 tạo ra năm 1936 chống chịu bệnh cháy lá nhưng về sau người ta phát hiện thấy Norin 6 chống chịu với đạo ôn cổ bông nhưng lại mẫn cảm với đạo ôn lá và ngược lại Norin 8 chống chịu đạo ôn lá nhưng lại mẫn cảm với đạo ôn cổ bông Vì vậy, người ta đã tiến hành lai Norin 6 và Norin 8 đã tạo ra Norin 22 và Norin 23 chống chịu với cả hai đạo ôn lá và đạo ôn cổ bông (trích dẫn từ Ou, 1983)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

Qua những năm tiến hành thí nghiệm chọn giống chống chịu bệnh cháy lá ở các địa điểm, ở các nước khác nhau thì Ou (1966) và IRRI (1968) đã xác định được một số kết quả, một số giống có phổ chống bệnh rộng, mặc dù không có một số giống nào tỏ ra chống chịu trong toàn bộ các thí nghiệm nhưng những giống đó đã đạt kỷ lục

về tính chống bệnh như Tẻ Tép vì có phản ứng mẫn cảm ở 2 trong số 159 thí nghiệm

đã được tiến hành ở tất cả các trạm trong vòng 5 năm Giống Tẻ Tép được dùng làm giống phân biệt ở Nhật và trong chương trình nghiên cứu Nhật – USA về các nòi sinh

lý của Pyricularia oryzae (Atkins và CTV,1967)

Một số nghiên cứu chi tiết hơn về giống Tẻ Tép cho thấy 35 isolat phân lập từ giống đó, trung bình chỉ gây 3 vết bệnh trên một cây ở giống Tẻ Tép Và khảo sát các khuẩn lạc do nuôi cấy từng bào tử đơn lẻ của một số isolat cho thấy đa số khuẩn lạc không gây bệnh cho Tẻ Tép, từ giống chúng đã được phân lập ra Sự biến động nhanh chống đó của tính gây bệnh trong nấm và phổ chống chịu rộng trong Tẻ Tép là

sự chống chịu ổn định và có triển vọng đối với bệnh (IRRI, 1969; Ou và CTV, 1971)

Theo Sakurai và Toriyama (1967) cho rằng các giống St1 và Chugoku 31 tỏ ra chống bệnh đạo ôn Nhưng đã có thông báo rằng St1 bị bệnh nặng ở các địa phương khác của Nhật và ở Triều Tiên

Theo kết quả thí nghiệm ở Long An của Nguyễn Thị Ngọc Chánh (HT 1980)

và Long Phú (Sóc Trăng) cùng vụ HT 1980 thì giống chuẩn kháng HT19 nhiễm bệnh cấp 5, là giống hơi nhiễm khác với kết quả trắc nghiệm giống kháng bệnh cháy lá ở Tiền Giang của Ngô Hồng Phương và Trần Văn Vệ (ĐX 1978-1979), và kết quả điều tra cơ bản bệnh cây trồng của Phan Nhật Ái (ĐX 1978-1979) ở Tiền Giang thì cho giống HT19 là giống kháng bệnh cháy lá Điều này chứng tỏ có sự xuất hiện dòng sinh lý mới của nấm cháy lá ở những khu vực, những mùa vụ khác nhau làm cho giống thay đổi tính kháng

Theo Hoàng Đình Định (1998) giống NN3A, NN7A, MTL32, MTL36 bị bệnh cháy lá gây thiệt haị nặng về năng suất Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) cho biết những giống lúa khảo nghiệm và được đánh giá là những giống có năng suất cao

và chống chịu bệnh đạo ôn như IR1820, IR17494, C70, C71, RSB13, Xuân số 2, Xuân số 5, X20, X21, V14, V15 và đã được gieo cấy rộng rãi ở Miền Trung và vùng đồng bằng Sông Hồng Bên cạnh đó, một số giống lúa nếp hoặc NN8, CR203 là giống mẫn cảm bệnh đạo ôn

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 31

Kết quả nghiên cứu của Ông Huỳnh Nguyệt Ánh (2004) đã chọn được một số giống lúa triển vọng chống chịu bệnh cháy lá như: MTL384, MTL366, MTL367, MTL368, MTL371, MTL352, MTL409, MTL216, MTL216, MTL83, MTL378 Và một số giống mẫn cảm với bệnh như MTL372, Jasmine, MTL250, IR64, MTL119

2.4.5 Kỹ thuật canh tác

Phân bón đóng vai trò quan trọng trong sự phát sinh phát triển bệnh Nếu bón phân không cân đối sẽ làm cho sự phá hại nghiệm trọng dù điều kiện ngoại cảnh không thuận cho bệnh phát triển và ngược lại, nhưng mỗi loại phân sẽ có tác dụng riêng đối với bệnh Đồng thời mật độ gieo lúa cũng ảnh hưởng không kém đến sự phát sinh và phát triển bệnh

* Phân bón

Phân đạm

Bón nhiều đạm không dùng lân và kali bao giờ cũng làm bệnh cháy lá nghiêm trọng (Ikata và ctv., 1938) (trích từ Võ Thị Thiên Kim, 1991) Mức độ ảnh hưởng này thay đổi tùy đất, điều kiện khí hậu và cách sử dụng phân bón Khi sử dụng dạng đạm tác dụng nhanh như Amonium sunfat quá nhiều quá muộn hoặc bón vào lúc nhiệt độ không khí thấp và cây còn non đều làm tăng tỷ lệ bệnh và mức độ gây hại của bệnh (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

Bón phân đạm thái quá và tập trung tất cả cho một lần bón thì ảnh hưởng sẽ lớn hơn khi chia ra nhiều lần bón (Võ Thanh Hoàng, 1993)

Bón trễ bón thúc nhiều cũng gây bệnh nặng (Kuribayashi và Kawai, 1933; Ito

và Sakamoto, 1973, 1974; Okamoto, 1950) Bón nhiều phân xanh cũng làm cho bệnh nặng (Nisikado, 1926; Murata, Kuribayashi và Kawai, 1933) Theo Thomas đạm dạng NO3 làm cho bệnh nặng hơn NH4+ Kawaki (1933) bón nhiều phân nuôi dưỡng

lá cũng làm cho bệnh nặng Savada cho rằng phân đạm quá nhiều làm cho thân cây lúa mềm, vỏ tế bào yếu, số lượng và kích thước khí khổng rất lớn, kéo dài thời gian sinh truởng làm cho cây lúa dễ nhiễm bệnh (Ou, 1983)

Ito, Sakamoto (1939 – 1943) và Sakamoto (1948) cho biết tính kháng bệnh giảm là do tính thấm của màng tế bào tăng khi bón nhiều đạm, các tác giả giải thích hiện tượng đó là do ảnh hưởng tiêu cực của sự tích lũy amonium trong các tế bào của cây bón nhiều đạm Otani (1948, 1950, 1952) cho thấy hàm lượng đạm hòa tan nhất là amino axit và amin đã tăng lên đáng kể ở cây nhận được nhiều đạm, hòa tan tích lũy

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 32

trong cây có thể là thức ăn thích hợp cho nấm Ngoài ra, lượng đạm trong đất có ảnh hưởng đến khả năng hấp thu Si của cây Kawamura và One (1948) thông báo rằng các giọt sương trên lá của cây được bón nhiều đạm kích thích sự nảy mầm và hình thành vòi bám của bào tử (Ou, 1983)

Phân lân và phân kali

Phân lân ảnh hưởng ít đến mức độ nhiễm bệnh của cây (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Tuy nhiên, bón phân lân mà kết hợp với lượng đạm cao thì làm tăng bệnh một cách đáng kể Theo Kawai (1933), nhiều thí nghiệm ngoài đồng ở Nhật cho thấy khi tăng đạm cùng gia tăng lân thì bệnh cũng gia tăng (theo trích dẫn của Ou, 1983)

Các thí nghiệm của Ikata và ctv.(1938) và Okamoto (1933) cho rằng đất thiếu lân, bón một lượng lớn lân trong chừng mực nào đó sẽ làm giảm sự phát triển của bệnh Theo Kozaka (1965) trong đất thiếu lân tới thời điểm mà sự sinh trưởng của cây chậm hoặc ngừng hẳn, bón lân lúc này giúp cây sinh trưỏng bình thường và giảm được bệnh ở mức thấp, còn nếu bón tiếp lân thì bệnh cháy lá sẽ tăng (Ou, 1983)

Kết quả nghiên cứu của Sako và Takamori (1958) khi bón kali kết hợp với đạm

và lân với liều lượng thích hợp thì sẽ làm giảm được bệnh, bón kali riêng rẽ làm tăng bệnh, nhưng bệnh cháy lá lúa sẽ giảm nếu có bón thêm Magie (Ou, 1983)

Yamashita (1957) cho rằng bón nhiều kali trên cây đã bón nhiều đạm thì bệnh cũng không giảm Toyodava và Tsuchiya (1941) báo cáo rằng trong những chậu thí nghiệm bón nhiều kali lại bị bệnh nặng hơn những chậu bón ít kali; bón nhiều kali trên nền đạm cao bệnh sẽ nặng hơn so với nền đạm thấp Ảnh hưởng của kali và bệnh cháy lá thì rất phức tạp, do ảnh hưởng qua lại với đạm Ở ngoài đồng, tỷ lệ giữa kali

và đạm thay đổi tùy theo sự phát triển của cây

Cơ chế của viện bón nhiều phân kali làm tăng bệnh thì chưa được rõ, nhưng theo Võ Thanh Hoàng (1993) lúa được bón nhiều kali từ khi có sương đọng sẽ kích thích sự nảy mầm và thành lập đĩa bám của bào tử

Trong điều kiện đồng bằng sông Cửu Long, ở một số nơi khi ruộng lúa có bón tro bếp bênh cháy lá thường không nặng so với các ruộng không có bón tro Trong khi đó, Nguyễn Văn Thụy cho rằng bón kali cho ruộng lúa trong điều kiện ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ làm gia tăng bệnh thay vì giảm bệnh (trích từ Mai Quốc Việt, 1984)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 33

Phân Silic

Phân silic có tác dụng làm giảm độ nhiễm bệnh của cây Mức độ nhiễm bệnh của cây tỷ lệ nghịch với hàm lương silic trong cây (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Bón phân silic làm tế bào biểu bì được silic hoá, ngăn cản sự xâm nhập của nấm bệnh, đồng thời khi cây hấp thụ nhiều silic sẽ giảm khả năng hấp thụ đạm, nên giảm tính nhiễm bệnh (Võ Thanh Hoàng, 1993)

* Mật độ gieo trồng

Mật độ gieo sạ cũng có liện quan đến khả năng phát triển của bệnh Gieo sạ càng dầy, tán lá lúa càng nhiều, khả năng che khuất càng lớn, ẩm độ dưới tán lá càng cao, điều kiện vi khí hậu càng thuận lợi cho nấm cháy lá phát triển (Trần Văn Hai, 2006)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 34

CHƯƠNG III

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.1.THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM

Thí nghiệm được thực hiện tại Nông trại Khu II-Đại học Cần Thơ từ tháng 19/06/2006 đến tháng 21/07/2006

3.2 VẬT LIỆU THÍ NGHIỆM

3.2.1 Giống thử nghiệm

Trong vụ Hè Thu 2006, tổng cộng có 115 giống/dòng lúa được thử nghiệm, gồm có các bộ sau đây:

- Bộ Hậu kỳ A0 gồm 14 giống/dòng, có thời gian sinh trưởng 85-90 ngày

- Bộ Hậu kỳ A1 gồm 36 giống/dòng, có thời gian sinh trưởng 90-100 ngày

- Bộ Sản xuất thử A1 gồm 12 giống và bộ So sánh năng suất A1 gồm 20 giống,

có cùng thời gian sinh trưởng 90-100 ngày

- Bộ Phẩm chất gồm 9 giống, bao gồm các giống có phẩm chất gạo tốt

- Bộ Phèn mặn gồm 24 giống gồm các giống chống chịu điều kiện đất khắc nghiệt

3.2.2 Giống định dòng (chuẩn nòi) và giống đối chứng

- Giống định dòng

Sử dụng bộ giống định dòng của Nhật gồm có 12 giống là K60, Yashiromochi, Shin2, Kanto51, Fukurishiki, Pino4, Aichiasha, Ishikarishiroke, Toridel, BL1, K59, Tsuyvake

- Giống đối chứng + Giống chuẩn kháng quốc tế: Tẻ tép + Giống chuẩn nhiễm địa phương: OM1490

3.2.3 Nguồn bệnh

Sử dụng mầm bệnh cháy lá tại Cần Thơ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 35

3.2.4 Phân bón

Sử dụng phân urea với công thức 300-0-0, không sử dụng phân lân, kali

3.3 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHỆM

Thí nghiệm gồm hai giai đoạn: trắc nghiệm tính kháng cháy lá trên nương mạ

và đánh giá bệnh thối cổ bông ngoài đồng

3.3.1 Thí nghiệm cháy lá trên nương mạ

 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên theo bộ giống, 2 lần lặp lại, theo phương pháp nương mạ khô IRRI

Diện tích đất thí nghiệm 100 m2, được làm sạch cỏ, sau đó được xới lên tơi xốp

và chia thành những liếp nhỏ Lô thí nghiệm được chia thành 6 liếp hình chữ nhật, kích thước của mỗi liếp 4(m) x 0.8(m), trên mỗi liếp nhỏ rạch hàng khoảng cách 7 cm

Giống chuẩn kháng và chuẩn nhiễm được gieo xen vào bộ giống thử nghiệm Xung quanh mỗi liếp được bao bọc bởi hai hàng giống chuẩn nhiễm OM1490, quanh khu thí nghiệm được bao nilon tránh chuột, khi gieo xong đậy lưới trên hàng tránh chim

Các thí nghiệm được bố trí vuông góc với hướng gió để đảm bảo sự phát tán của bào tử được tối ưu

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 36

SƠ ĐỒ THÍ NGHIỆM

Hướng gió

Hình 1: Sơ đồ thí nghiệm

SSNS: So sánh năng suất, SXT: Sản xuất thử, PC: Phẩm chất, ĐD: Định dòng, PM: Phèn mặn,

HKA1: Hậu kỳ A1, HKA0: Hậu kỳ A0

Trang 37

Hình 2: Lô thí nghiệm bệnh cháy lá

Hình 3: Bố trí giống trên nương mạ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 38

 Chăm sóc quản lý thí nghiệm cháy lá trên nương mạ

- Quản lý nước Nước được tưới mỗi ngày 2 lần sáng và chiều bằng thùng vòi sen, tưới đẫm nương mạ sao cho đảm bảo đủ ẩm độ khu vực thí nghiệm để tạo điều kiện cho sự sản sinh và lây lan của bào tử nấm bệnh

- Bón phân

Sử dụng phân ure và công thức phân 300-0-0 Phân bón được chia làm ba đợt tưới là 9, 15, 20 ngày sau khi gieo Cung cấp lượng phân đạm cao nhằm tạo điều kiện cho cây mạ tăng nhanh về số lượng và kích thước tế bào, vách tế bào mỏng và mềm, nấm bệnh dễ tấn công Phân được hòa vào nước, tưới đều trên nương mạ vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối

- Làm cỏ Các liếp mạ trước khi đánh giá cấp bệnh không làm cỏ nhằm mục đích giữ ẩm

độ tốt cho lúa đồng thời cỏ cũng là nơi cư trú phát triển và lây lan của mầm bệnh khi điều kiện thích hợp Tiến hành làm cỏ lúc lúa được 25 ngày sau khi gieo Không sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh trên nương mạ

 Phương pháp chủng bệnh

Bệnh được chủng vào các liếp mạ lúc lúa được 15 ngày sau khi gieo Lá lúa bị bệnh cháy lá (mầm bệnh) được cắt thành các đoạn ngắn 4-5 cm, rải đều trên các hàng giống chuẩn nhiễm của lô thí nghiệm nhằm cung cấp mầm bệnh để chúng tự phát triển

và sau đó tấn công và gây bệnh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 39

 Lịch công việc

Bảng 1: Lịch canh tác trong thời gian thí nghiệm

Thời gian Ngày sau khi gieo Công việc thực hiện

Bón phân lần thứ ba Đánh giá bệnh cháy lá lần thứ nhất Đánh giá bệnh cháy lá lần thứ hai Đánh giá bệnh thối cổ bông ngoài đồng

3.3.2 Đánh giá bệnh thối cổ bông

Đánh giá bệnh thối cổ bông được thực hiện tại ba địa điểm Cần Thơ, An Giang

và Long Phú

Vật liệu thử nghiệm:

Bộ giống lúa So sánh năng suất: 20 giống

Bộ giống lúa sản xuất thử: 12 giống

Bộ giống lúa Phẩm chất: 9 giống

Bộ Hậu kỳ A0: 14 giống/giống

Bộ Hậu kỳ A1: 36 giống/dòng Ruộng thí nghiệm được cấy một tép khoảng cách 15 x 20 cm , công thức phân bón 80-60-50

3.4 PHƯƠNG PHÁP LẤY CHỈ TIÊU VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

3.4.1 Phương pháp lấy chỉ tiêu bệnh cháy lá

Đánh giá mức độ chống chịu đối với bệnh cháy lá của các bộ giống thử nghiệm vào 10 ngày sau khi chủng bệnh, khi giống chuẩn nhiễm đã nhiễm bệnh cấp 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 40

Định dòng dựa theo phương pháp chuẩn nòi của Nhật

Chỉ tiêu bệnh trên giống thử nghiệm được ghi nhận 2 lần:

- Lần thứ nhất: 25 ngày sau khi gieo, tương đương lúc giống chuẩn nhiễm cháy cấp 9

- Lần thứ hai: 30 ngày sau khi gieo, đánh giá khả năng phục hồi của giống Lấy cấp bệnh cao nhất của những lần lặp lại và của hai lần đánh giá Đánh giá phản ứng của các giống lúa được căn cứ vào Bảng phân cấp của IRRI (1996)

Bảng 2: Bảng phân cấp và mô tả vết bệnh cháy lá của IRRI (1996)

1 Các vết bệnh màu nâu hình kim châm ở giữa, chưa xuất hiện

vùng sản sinh bào tử

Kháng

2 Vết bệnh nhỏ, tròn hoặc hơi dài, đường kính 1-2mm, có viền

nâu rõ rệt Thường xuất hiện vết bệnh ở các lá dưới

Kháng

3 Dạng hình vết bệnh như ở cấp 2, nhưng vết bệnh xuất hiện

đáng kể ở các lá trên

Hơi kháng

4 Vết bệnh điển hình cho các giống nhiễm, dài 3mm hoặc dài

hơn, diện tích vết bệnh trên lá dưới 4% diện tích lá

Hơi kháng

5 Vết bệnh điển hình chiếm 4-10% diện tích trên lá Hơi nhiễm

6 Vết bệnh điển hình chiếm 11-25% diện tích trên lá Nhiễm

7 Vết bệnh điển hình chiếm 26-50% diện tích trên lá Nhiễm

8 Vết bệnh điển hình chiếm 51-75% diện tích trên lá Rất nhiễm

9 Hơn 75% diện tích lá bị bệnh, giống cháy rụi Rất nhiễm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm