1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (Luận án tiến sĩ)

240 454 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 240
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (Luận án tiến sĩ)

Trang 1

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG THỊ THÙY MAI

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ TRONG TIẾNG ANH - TIẾNG VIỆT CHUYÊN NGÀNH KĨ THUẬT ĐIỆN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI 2018

Trang 2

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG THỊ THÙY MAI

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ TRONG TIẾNG ANH - TIẾNG VIỆT CHUYÊN NGÀNH KĨ THUẬT ĐIỆN

Chuyên ngành:Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Mã số: 9222024

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN ĐỨC TỒN

HÀ NỘI 2018

HÀ NỘI-năm

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ TRONG TIẾNG ANH - TIẾNG VIỆT CHUYÊN NGÀNH KĨ THUẬT ĐIỆN là công trình nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện Các số liệu và kết quả được được thể hiện trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa từng được các tác giả khác công bố ở đâu và trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào

Tác giả

Dương Thị Thùy Mai

Trang 4

đỡ tôi hoàn thành luận án

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đã luôn tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ, động viên trong quá trình thực hiện luận án

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Dương Thị Thùy Mai

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng, tư liệu và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Cái mới của luận án 5

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài 6

7 Bố cục của luận án 7

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUẬT NGỮ, THUẬT NGỮ KĨ THUẬT ĐIỆN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam 8

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới 8

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ ở Việt Nam 12

1.2 Tình hình nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ kĩ thuật điện trên thế giới và ở Việt Nam 16

1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ kĩ thuật điện trên thế giới 16

1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ kĩ thuật điện ở Việt Nam 19

1.3 Cơ sở lí luận 22

1.3.1 Khái niệm “thuật ngữ” 22

1.3.2 Xác định khái niệm “thuật ngữ kĩ thuật điện” 25

1.3.3 Phân biệt thuật ngữ với danh pháp, từ thông thường và từ nghề nghiệp 27 1.3.4 Những tiêu chuẩn cần thiết của thuật ngữ 30

1.3.5 Các phương thức đặt thuật ngữ 34

1.3.6 Lí thuyết điển mẫu với việc chuẩn hóa thuật ngữ kĩ thuật điện 42

1.3.7 Về nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ 48

1.4 Tiểu kết chương 1 50

Chương 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ KĨ THUẬT ĐIỆN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 52

2.1 Hệ thuật ngữ kĩ thuật điện và thành tố cấu tạo thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt 53

2.2 Đối chiếu thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt xét theo số lượng thuật tố và từ loại 54

Trang 6

2.2.2 TNKTĐ có cấu tạo hai thuật tố 59

2.2.3 TNKTĐ có cấu tạo ba thuật tố 61

2.2.4 TNKTĐ có cấu tạo bốn thuật tố 63

2.2.5 TNKTĐ có cấu tạo năm thuật tố 64

2.2.6 TNKTĐ là từ viết tắt 65

2.3 Đối chiếu thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt xét theo mô hình cấu tạo 68

2.3.1 Mô hình cấu tạo 1 69

2.3.2 Mô hình cấu tạo 2 70

2.3.3 Mô hình cấu tạo 3 71

2.3.4 Mô hình cấu tạo 4 73

2.3.5 Mô hình cấu tạo 5 74

2.3.6 Mô hình cấu tạo 6 76

2.3.7 Mô hình cấu tạo 7 77

2.3.8 Mô hình cấu tạo 8 78

2.3.9 Mô hình cấu tạo 9 79

2.3.10 Mô hình cấu tạo 10 80

2.3.11 Mô hình cấu tạo 11 81

2.3.12 Mô hình cấu tạo 12 81

2.3.13 Mô hình cấu tạo 13 82

2.4 Tiểu kết chương 2 84

Chương 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA THUẬT NGỮ KĨ THUẬT ĐIỆN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 87

3.1 Cơ chế định danh ngôn ngữ 87

3.2 Đối chiếu đặc điểm định danh của thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt theo nguồn gốc của thuật ngữ 89

3.2.1 Các TNKTĐ được tạo bằng cách thuật ngữ hóa từ toàn dân 90

3.2.2 Các TNKTĐ được tạo theo cơ chế định danh 91

3.2.3 Các TNKTĐ được vay mượn nước ngoài 93

3.3 Đối chiếu đặc điểm định danh của thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt theo kiểu ngữ nghĩa của thuật ngữ 97

3.4 Đối chiếu đặc điểm định danh của thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt theo cách thức biểu thị của thuật ngữ 98

Trang 7

theo mức độ rõ lí do và mức độ cố kết về hình thức 983.4.2 Đối chiếu đặc điểm định danh TNKTĐ trong tiếng Anh và tiếng Việt theo đặc trưng khu biệt làm cơ sở định danh 1003.4.3 Đặc điểm hệ TNKTĐ tiếng Anh và tiếng Việt trong sự so sánh, đối chiếu với một số hệ thuật ngữ khác 121

3.5 Tiểu kết chương 3 142 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 149 PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 2.1 Số liệu về TNKTĐ tiếng Anh và tiếng Việt theo số lượng thuật tố 55

Bảng 2.2 Thống kê TNKTĐ tiếng Anh 1 thuật tố theo từ loại 57

Bảng 2.3 Thống kê TNKTĐ tiếng Việt 1 thuật tố theo cấu tạo và từ loại 58

Bảng 2.4 Thống kê TNKTĐ tiếng Anh có 2 thuật tố theo từ loại 60

Bảng 2.5 Thống kê TNKTĐ tiếng Việt 2 thuật tố theo từ loại 61

Bảng 2.6 Thống kê TNKTĐ TA& TV ba thuật tố theo từ loại 63

Bảng 2.7 Thống kê từ loại của TNKTĐ TA&TV bốn thuật tố 64

Bảng 2.8 Thống kê từ loại của TNKTĐ TA&TV năm thuật tố 64

Bảng 2.9 Tổng hợp về từ loại của hệ TNKTĐ trong tiếng Anh và tiếng Việt 67

Bảng 2.10 Thống kê Mô hình cấu tạo TNKTĐ tiếng Việt và tiếng Anh 83

Bảng 3.1 Các mô hình định danh của thuật ngữ về chủ thể/cơ quan tổ chức tham gia hoạt động sản xuất, phân phối và tiêu thụ điện năng 102

Bảng 3.2 Các mô hình định danh của thuật ngữ về thiết bị cơ bản: Thiết bị điện – thiết bị từ, máy điện, rơle điện và tụ điện trong tiếng Anh và tiếng Việt 104

Bảng 3.3 Các mô hình định danh của thuật ngữ về thiết bị/ dụng cụ đo điện 107

Bảng 3.4 Các mô hình định danh của thuật ngữ về vật liệu/ vật cách điện 109

Bảng 3.5 Các mô hình định danh của thuật ngữ vềhệ thống và thiết bị phát – cấp điện 111

Bảng 3.6 Các mô hình định danh của thuật ngữ về thiết bị truyền dẫn - cáp 113

Bảng 3.7 Các mô hình định doanh thuật ngữ vềthiết bị tiêu thụ điện: chiếu sáng115 Bảng 3.8 Thuật ngữ về hoạt động sản xuất và vận hành hệ thống điện 117

Bảng 3.9 Thuật ngữ về hoạt động qui hoạch và quản lý hệ thống điện 118

Bảng 3.10 Thuật ngữ về hoạt động an toàn điện, cách điện và sự cố điện 120

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuật ngữ là bộ phận quan trọng trong từ vựng của mọi ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng Trong mỗi lĩnh vực khoa học hay lĩnh vực chuyên môn, các thuật ngữ có mối liên hệ hữu cơ với nhau làm thành hệ thống thuật ngữ

được gọi là hệ thuật ngữ Đối với các ngôn ngữ đã phát triển, các thuật ngữ

chiếm một tỉ lệ rất lớn trong vốn từ So với các loại từ ngữ khác, thuật ngữ là bộ phận phát triển nhanh nhạy nhất, nhất là trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ trên thế giới đang phát triển với tốc độ vũ bão Thuật ngữ có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của khoa học công nghệ và do đó góp phần to lớn thúc đẩy sự phát triển xã hội Vì vậy thuật ngữ là đề tài hấp dẫn, có tầm quan trọng và mang ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

Kĩ thuật điện là lĩnh vực vô cùng quan trọng gắn với quá trình phát triển văn minh nhân loại Luận án nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ kĩ thuật điện (TNKTĐ) tiếng Anh với tiếng Việt góp phần cung cấp kiến thức cơ bản nhất về thuật ngữ trong lĩnh vực này, tạo điều kiện thuận lợi và phục vụ đắc lực cho không chỉ các chuyên gia, kĩ sư, kĩ thuật viên mà còn cho công nhân và tất cả những ai đang công tác trong ngành điện, đồng thời giúp cho học sinh, sinh viên, độc giả khi đọc, biên phiên dịch sách báo về chuyên ngành điện

Trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng hiện nay của đất nước, ngành điện có nhu cầu cấp bách cần hoàn thiện, chuẩn hóa và phát triển hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng Việt sao cho phù hợp với những chuẩn mực chung của thuật ngữ học thế giới Do hoàn cảnh lịch sử, TNKTĐ tiếng Việt được cho là chịu ảnh hưởng không nhỏ của TNKTĐ tiếng Pháp và tiếng Nga Ngày nay, do

sự thúc đẩy nhiều quan hệ hợp tác song phương và đa phương, trong lĩnh vực kĩ thuật điện, Ngành điện đang trong giai đoạn phát triển mới Việt Nam đang tích cực xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận với sự hợp tác giúp đỡ của các chuyên gia Nga, Nhật và các tổ chức quốc tế về điện hạt nhân Xu thế hợp tác

Trang 10

quốc tế này cũng đặt ra yêu cầu phải chuẩn hóa hệ TNKTĐ tiếng Việt cho phù hợp, tương thích với hệ TNKTĐ bằng tiếng Anh (ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp quốc tế trong thời đại hiện nay) Do vậy, việc nghiên cứu để xây dựng, chuẩn hóa hệ TNKTĐ tiếng Việt nhằm đáp ứng tình hình hoạt động của ngành điện nói riêng, đồng thời thúc đẩy và phát triển hơn nữa quá trình hội nhập với ngành điện thế giới nói chung là một nhiệm vụ cấp bách và có tính thời

sự đặc biệt

Hiện nay, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về thuật ngữ trong các ngành khoa học công nghệ và các lĩnh vực chuyên môn chưa thực sự đầy đủ và rộng khắp Nói riêng, trong chuyên ngành kĩ thuật điện, cho đến nay vẫn chưa có những công trình nghiên cứu đối chiếu hệ TNKTĐ tiếng Anh với tiếng Việt Việc vay mượn từ ngữ tiếng Anh nói chung, vay mượn thuật ngữ, trong đó có các TNKTĐ tiếng Anh nói riêng, đang còn nhiều vấn đề tranh luận, chưa có sự thống nhất ý kiến Chẳng hạn, khi có một khái niệm hoặc đối tượng mới ra đời, nên vay mượn thuật ngữ nước ngoài hay tự cấu tạo thuật ngữ bằng tiếng Việt để biểu hiện? Nếu như phải vay mượn thì cần giữ nguyên dạng hay phải phiên âm, chuyển tự thuật ngữ nước ngoài? v.v Tất cả những vấn đề này rất cần có giải pháp hợp lí và nhất quán Điều đó không chỉ phục vụ cho hoạt động giao tiếp có hiệu quả giữa các chuyên gia mà còn để phục vụ cho hoạt động giao tiếp giữa con người và máy tính điện tử, cũng như hoạt động quản lí và điều hành bằng computer

Có thể thấy những vấn đề nổi lên cần được tiếp tục giải quyết đối với các TNKTĐ trong tiếng Việt và các TNKTĐ tiếng Anh được sử dụng tại Việt Nam là:

- Nhiều trường hợp các khái niệm được diễn đạt bằng những cụm từ mang sắc thái miêu tả, giải thích khái niệm hay đối tượng chứ chưa có tính chất định

danh như một thuật ngữ chân chính (ví dụ: dụng cụ đo một chức năng, bộ ngắt mạch khi phóng điện hồ quang, máy biến áp làm nguội bằng không khí, giá trị trở về theo chiều ngược lại, đèn xuyên sương mù phía trước,v.v )

Trang 11

- Một số TNKTĐ tiếng Việt chưa biểu đạt được chính xác khái niệm, chưa chuyển tải hết ý nghĩa của thuật ngữ tương đương trong tiếng Anh Đặc biệt, đối với các trường hợp cần biểu hiện khái niệm mới mà chưa có thuật ngữ, các nhà chuyên môn thường chọn phương án vay mượn thuật ngữ nước ngoài (ví dụ:

Thiết bị bảo vệ – phiên âm thuật ngữ tiếng Pháp đọc là rơle, tiếng Anh viết là relay, đọc là [ri’lei]; công tắc khởi động – phiên âm thuật ngữ tiếng Pháp đọc là tắcte, thuật ngữ tiếng Anh viết là starter, đọc là [‘sta:tơ]); v.v

Đặc biệt, hiện nay việc khảo sát về các phương diện cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa của TNKTĐ là vấn đề chưa được nghiên cứu chuyên sâu một cách toàn diện và có hệ thống Vì vậy, luận án tập trung vào khảo sát, nghiên cứu đối chiếu hệ thống TNKTĐ tiếng Anh và tiếng Việt trên các phương diện cấu tạo, định danh để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt của hệ TNKTĐ trong hai ngôn ngữ, góp phần bổ sung, hoàn thiện và chuẩn hóa hệ thống TNKTĐ tiếng Việt, từ đó có thể góp phần hoàn chỉnh lí thuyết chung về thuật ngữ học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án nhằm góp phần bổ sung, hoàn thiện hóa hệ TNKTĐ tiếng Việt thông qua việc xác định một số phương hướng xây dựng và chuẩn hóa TNKTĐ tiếng Việt, nhờ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và việc đào tạo chuyên ngành kĩ thuạt điện ở Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án cần giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu về thuật ngữ và TNKTĐ trên thế giới và ở Việt Nam, xác lập cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu của luận án;

- Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của TNKTĐ trong tiếng Anh và tiếng Việt; xác định những kiểu loại mô hình cấu tạo phổ biến nhất của TNKTĐ ở từng ngôn ngữ;

Trang 12

- Đối chiểu để chỉ ra những điểm giống và khác nhau về đặc điểm định danh của TNKTĐ trong hai ngôn ngữ Anh và Việt theo các phương diện sau: Những con đường hình thành, kiểu ngữ nghĩa và đặc điểm cách thức biểu thị của TNKTĐ;

- Kiến nghị phương hướng xây dựng và chuẩn hóa TNKTĐ tiếng Việt

3 Đối tượng, tư liệu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng và tư liệu nghiên cứu

Chúng tôi đã thu thập trên 2.000 thuật ngữ kĩ thuật điện tiếng Anh được tổng hợp từ bộ từ vựng – thuật ngữ kĩ thuật điện quốc tế do Ủy ban kĩ thuật điện quốc tế (IEC) ban hành và trên 2.000 thuật ngữ kĩ thuật điện tiếng Việt tương ứng được thu thập từ bộ từ vựng - thuật ngữ kĩ thuật điện Việt Nam - TCVN

8095 do Tổng cục Đo lường Chất lượng Việt Nam ban hành Ngoài ra, các TNKTĐ còn được thu thập từ các cuốn từ điển giải thích Anh - Việt và từ điển giải thích Anh – Anh và các giáo trình, sách báo, tạp chí chuyên ngành về điện bằng tiếng Việt và tiếng Anh (xem Phụ lục 1)

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là 1700 TNKTĐ tiếng Anh và tiếng Việt tiêu biểu, nằm ở trung tâm hệ thống TNKTĐ Các thuật ngữ vay mượn các lĩnh vực hữu quan nằm ở biên và một số TNKTĐ có dạng là biểu thức mang tính giải thích, miêu tả, hoặc là biến thể cách viết khi phiên âm TNKTĐ nước noài được thu thập trong các từ điển giải thích, đối chiếu tạm loại khỏi sự phân tích, chúng sẽ được đề

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ là những thuật ngữ điển hình (được luận án xác định là điển mẫu) của riêng hai chuyên ngành hẹp thuôc kĩ thuật điện là Thiết bị điện và Hệ thống điện

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng chủ yếu những phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây

Trang 13

4.1 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Phương pháp so sánh - đối chiếu được áp dụng để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ TNKTĐ tiếng Anh và tiếng Việt theo các bình diện đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh Khi sử dụng phương pháp này, tiếng Anh được chọn làm ngôn ngữ mẫu, còn tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu

4.2 Phương pháp miêu tả

Phương pháp miêu tả được dùng để mô tả đặc điểm cấu tạo của từng thuật ngữ theo các phương diện như: các thành tố cấu tạo nên mỗi thuật ngữ, đặc điểm nguồn gốc và từ loại của các thành tố, các mô hình kết hợp cụ thể, các bậc và mối quan hệ giữa các thành tố để tạo nên thuật ngữ Phương pháp này giúp hình dung được cụ thể, rõ nét, đầy đủ đặc điểm của TNKTĐ về cấu tạo, định danh, những vấn đề còn tồn tại và cách chỉnh lí, cũng như định hướng cấu tạo TNKTĐ mới

4.3 Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp

Luận án áp dụng phương pháp phân tích thành tố trực tiếp trong Ngữ pháp học, theo đó mỗi thuật ngữ được phân tích ra hai đại thành tố trực tiếp, sau đó mỗi đại thành tố trực tiếp này lại được phân đôi ra thành hai thành tố trực tiếp nhỏ hơn cho đến khi không thể phân đôi được nữa Đơn vị giới hạn cuối cùng là từ

được gọi là thuật tố Bằng phương pháp này, có thể chỉ ra được một thuật ngữ

được cấu tạo theo mô hình mấy bậc, mối quan hệ giữa các thành tố trực tiếp thuộc mỗi bậc cũng như mối quan hệ giữa các đại thành tố trực tiếp tạo nên thuật ngữ

4.4 Thủ pháp thống kê

Thủ pháp thống kê được sử dụng để chỉ ra mức độ phổ biến của từng hiện tượng được nghiên cứu, từ đó có cơ sở rút ra những nhận xét, đánh giá mang tính định chất về từng phương diện đối chiếu (chẳng hạn, về từ loại, các thành tố và

mô hình cấu tạo, các đặc trưng định danh,…) của TNKTĐ trong hai ngôn ngữ Anh và Việt

5 Cái mới của luận án

Có thể nói đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đối chiếu một cách hệ thống và toàn diện những đặc điểm cơ bản của hệ TNKTĐ tiếng Anh và tiếng Việt trên các bình diện cấu tạo và định danh

Trang 14

Luận án chỉ ra hiện trạng của thuật ngữ kĩ thuật điện tiếng Việt nhìn từ đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh trong sự so sánh, đối chiếu với TNKTĐ tiếng Anh; xác định được các mô hình phổ biến để cấu tạo TNKTĐ, nhờ đó tạo nên tính hệ thống về cấu trúc của TNKTĐ trong hai ngôn ngữ; làm rõ những phương thức xây dựng TNKTĐ trong tiếng Anh và tiếng Việt, tính có lí do của các thuật ngữ này dựa trên các đặc trưng khu biệt được lựa chọn làm cơ sở định danh trong quá trình tạo ra thuật ngữ

Luận án đề xuất kiến nghị phương hướng và biện pháp khả thi nhằm xây dựng và chuẩn hóa các TNKTĐ trong tiếng Việt

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

Luận án có ý nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn như sau

6.1 Ý nghĩa lí luận

Luận án làm rõ được những điểm giống và khác nhau về phương thức cấu tạo và định danh của TNKTĐ trong hai ngôn ngữ Anh và Việt; kiến nghị phương hướng và biện pháp xây dựng, chuẩn hóa hệ TNKTĐ tiếng Việt Kết quả nghiên cứu góp phần vào việc xây dựng lí thuyết chung về thuật ngữ học và chuẩn hóa ngôn ngữ nói chung, chuẩn hoá thuật ngữ nói riêng, từ đó có thể góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xây dựng bộ luật ngôn ngữ ở Việt Nam trong thời kì hội nhập và toàn cầu hoá

Ngoài ra, qua nghiên cứu đối chiếu hệ TNKTĐ của hai ngôn ngữ Việt, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm luận điểm đại cương về vấn đề tính quốc tế của thuật ngữ trong các ngành khoa học nói chung

Anh-6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các kết quả nghiên cứu của luận án cho phép đề xuất được phương hướng, biện pháp khả thi để chuẩn hoá hệ thống TNKTĐ hiện có của tiếng Việt, đặc biệt chú ý tới bộ tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8095 về TNKTĐ, đồng thời theo đó có thể cấu tạo được những TNKTĐ mà tiếng Việt hiện chưa có hoặc tuy

đã có nhưng chưa phù hợp với những tiêu chuẩn quốc tế của TNKTĐ thế giới

Trang 15

Đây cũng là cơ sở để chỉnh lí các từ điển TNKTĐ tiếng Việt đã có hoặc biên soạn các bộ từ điển, sách cẩm nang mới về TNKTĐ phục vụ cho sự phát triển ngành điện nước ta

Luận án có thể phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy và biên soạn giáo trình, biên phiên dịch sách báo thuộc chuyên ngành kĩ thuật điện

Ngoài ra, luận án còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu

thuật ngữ học

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận

án gồm 3 chương được bố cục như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ, thuật ngữ kĩ thuật điện và

cơ sở lí luận

TNKTĐ nói riêng, ở trong nước và trên thế giới; Những cơ sở lí luận có liên quan để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng tiếng Anh và tiếng Việt

Chương này tiến hành đối chiếu thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt trên các bình diện: số lượng thành tố cấu tạo, đặc điểm từ loại, mô hình cấu tạo của TNKTĐ trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 3: Đối chiếu đặc điểm định danh của thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt

Nội dung trình bày vấn đề nguyên lí định danh, các phương thức cụ thể tạo nên TNKTĐ; Đối chiếu đặc điểm định danh của hệ TNKTĐ Anh - Việt theo các tham tố: nguồn gốc của thuật ngữ, kiểu ngữ nghĩa của thuật ngữ, cách thức biểu thị của thuật ngữ Chương 3 tập trung đối chiếu mô hình định danh TNKTĐ trong hai ngôn ngữ theo mức độ rõ lí do và mức độ cố kết về hình thức, theo đặc trưng khu biệt làm cơ sở định danh; đồng thời cũng nêu rõ đặc điểm của hệ TNKTĐ trong sự so sánh – đối chiếu với một số hệ thuật ngữ khác; và cuối cùng

là đề xuất kiến nghị về việc xây dựng và chuẩn hóa TNKTĐ trong tiếng Việt

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUẬT NGỮ, THUẬT NGỮ KĨ THUẬT ĐIỆN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới

Hoạt động nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới bắt đầu vào những thời điểm khác nhau Những tiếp cận đầu tiên nhằm xây dựng hệ thống thuật ngữ cho từng lĩnh vực khoa học cụ thể có thể xem đã bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước với các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Dürer (1471-1528) về Toán học, Vesalius (1514-1564) về Giải phẫu, Lavoisier (1743-1793) và Berthollet (1748-1822) về Hóa học, Von Linne (1707-1778) về Thực vật và Động vật học Tuy nhiên, thuật ngữ học hiện đại, theo Cabré, được xem là chính thức khởi sắc vào những năm 1930 với công trình nghiên cứu của Vjuster [125,5] Các hoạt động nghiên cứu tiên phong ở châu Âu và Nga đã xây dựng nền tảng lí thuyết và phương pháp cho phần lớn các nghiên cứu về thuật ngữ trên cơ cở những nghiên cứu của Vjuster (1898-1977) and Drezen (1892-1937)

Đặc biệt Vjuster có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển của thuật ngữ học hiện đại Theo Cabré, Vjuster được xem là cha đẻ của thuật ngữ học hiện đại [125,5] Trong khi đó, cũng theo Cabré, bản thân ông lại coi các nhà khoa học sau đây là những người cha tinh thần của lí thuyết thuật ngữ gồm: Alfred Schlomann, người đầu tiên xem xét bản chất hệ thống của thuật ngữ chuyên ngành; nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ Ferdinand de Saussure, người đầu tiên quan tâm tới bản chất hệ thống của ngôn ngữ; Dresen, người tiên phong nhấn mạnh tầm quan trọng của chuẩn hóa; và Holmstrom, người đã phổ biến và nâng tầm thuật ngữ rộng ra qui mô quốc tế [125,5] Vjuster là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu góp phần vào việc xây dựng thuật ngữ học hiện đại mà đóng góp lớn nhất của ông là xây dựng lí thuyết chung về thuật ngữ Nghiên cứu của Vjuster là

Trang 17

khởi điểm cho nhiều nội dung của bộ môn thuật ngữ học hiện đại, như các nguyên tắc thuật ngữ, phương pháp học về nghiên cứu thuật ngữ, chuẩn hóa và

kế hoạch hóa ngôn ngữ và nhiều nội dung quan trọng khác Trong luận án tiến sĩ bảo vệ năm 1930, ông đã tranh luận về việc hệ thống hóa phương pháp làm việc trong thuật ngữ học, thiết lập các nguyên tắc nghiên cứu thuật ngữ và vạch ra những điểm trọng yếu của phương pháp học xử lí dữ liệu thuật ngữ

Nói tới Vjuster và bàn về thuật ngữ, chúng tôi cũng xin đề cập đến ngôn ngữ Esperanto Là một ngôn ngữ nhân tạo, Esperanto có liên quan đến các ngôn ngữ kĩ thuật đặc biệt và liên quan tới công tác chuẩn hóa thuật ngữ Nguồn gốc

và kết quả của nó được tìm thấy trong nghiên cứu giao tiếp khoa học quốc tế Thực chất, việc sử dụng tiếng Esperanto được xây dựng ban đầu cho các văn bản khoa học thông dụng ngắn trong lĩnh vực chiêm tinh học, sinh học, toán học, y học và một số lĩnh vực khoa học khác Năm 1924, một số học giả là thành viên của Viện Khoa học Pháp đã tuyên bố rằng việc sử dụng tiếng Esperanto là một phương thức giao tiếp khoa học quốc tế, theo Janton and Tonkin [134,82] Việc

sử dụng tiếng Esperanto trong các lĩnh vực khoa học khác nhau làm giàu thêm lượng từ vựng với rất nhiều thuật ngữ khoa học mới Theo Blanke, dự án Esperanto thất bại là do thời gian xây dựng và phát triển dự án ngắn Hơn nữa, vào thời điểm đó chưa có lượng từ vựng thuật ngữ kĩ thuật phát triển đầy đủ và không đáp ứng được về số lượng và chất lượng cho nhu cầu của mục tiêu này [122] Vì vậy bên cạnh những cái chưa làm được và bị giới nghiên cứu khoa học phê bình, ngôn ngữ Esperanto thực sự cần được chú ý vì những mối liên quan tới việc xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ, đặc biệt là thuật ngữ khoa học kĩ thuật Bởi thực chất công trình nghiên cứu thuật ngữ quan trọng nhất (luận án tiến sĩ) của nhà nghiên cứu được xem là cha đẻ thuật ngữ học hiện đại Vjuster có từ thời hình thành ngôn ngữ Esperanto và nghiên cứu này cũng như nhiều nghiên cứu về sau của ông liên quan đến thuật ngữ cũng ít nhiều ảnh hưởng và tác động qua lại với ngôn ngữ này mà nhiều nhà nghiên cứu đã thừa nhận

Trang 18

Từ sau công trình nghiên cứu của Vjuster những năm 1930, ba trường phái nghiên cứu về thuật ngữ ở các nước thuộc châu Âu gồm Áo (Vienna), Liên bang

Xô viết, Tiệp Khắc (Praha) đồng thời xuất hiện [125,7] Từ ba trung tâm này, thuật ngữ phát triển sang phương Tây (Pháp, Canada, Quebec) và phương Bắc (Bỉ và các nước Bắc Âu) và gần đây là tới phía Nam (Bắc Phi, Tiểu Xa-ha-ra Africa, Trung và Nam Mỹ, Bồ Đào Nha, và Tây Ban Nha) và gần đây hơn nữa là tới phía Đông (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước châu Á khác) Năm 1917 các ủy ban kĩ thuật của Hiệp hội tiêu chuẩn Đức (DNA, về sau gọi là DIN) thành lập các tiểu ban về thuật ngữ Năm 1926 Hiệp hội tiêu chuẩn quốc tế ISA (về sau đổi thành ISO) cũng đã thành lập các tiểu ban về thuật ngữ ở quy mô quốc tế Sau này nhiều quốc gia khác cũng thành lập các ban/tiểu ban thuật ngữ quốc gia như: Trung tâm thuật ngữ kĩ thuật HISPANOTERM ở Tây Ban Nha, Hiệp hội thuật ngữ AFTERM ở Pháp, Trung tâm thông tin quốc tế về thuật ngữ INFOTERM, các tổ chức thuật ngữ TERMAR ở Ác-hen-ti-na, COLTERM ở Cô-lôm-bi-a, PARATERM ở Pa-ra-guay, URUTERM ở U-ru-guay và VENTERM ở Venezuela

Tóm lại, các tổ chức nghiên cứu thuật ngữ hiện đã có mặt ở tất cả các châu lục, ở châu Mỹ La tinh, châu Phi cũng đã hình thành nhiều tổ chức nghiên cứu thuật ngữ Các tổ chức nghiên cứu thuật ngữ ở các nước châu Á cũng được xây dựng và phát triển mạnh trong nhiều thập kỷ gần đây

Hoạt động nghiên cứu thuật ngữ ở mỗi quốc gia có những khuynh hướng và mục đích khác nhau Auger (dẫn theo [126, 69]) đã đưa ra ba khuynh hướng cơ bản trong nghiên cứu thuật ngữ dựa theo mục tiêu: thuật ngữ gắn với hệ thống ngôn ngữ, thuật ngữ dành cho dịch thuật, và thuật ngữ với kế hoạch hóa ngôn ngữ Ba trường phái đại diện cho hướng nghiên cứu thứ nhất là Viên, Praha và Moskva Đặc điểm nổi bật của Trường phái Viên là tập trung vào khái niệm, và hướng nghiên cứu thuật ngữ theo hướng chuẩn hóa thuật ngữ và khái niệm Các nhà nghiên cứu thuộc Trường phái thuật ngữ Praha lại đặc biệt quan tâm tới sự

mô tả cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ chuyên ngành, trong đó thuật ngữ

Trang 19

đóng vai trò quan trọng Trường phái thuật ngữ Moskva dựa trên nghiên cứu của Chaplygin, Lotte và cộng sự Các nhà nghiên cứu này chủ yếu quan tâm tới chuẩn hóa khái niệm, thuật ngữ dưới ánh sáng của chủ nghĩa đa ngôn ngữ của Liên bang Xô viết Ba trường phái thuật ngữ này cùng có chung hướng nghiên cứu dựa trên ngôn ngữ (tất cả đều xem thuật ngữ là phương tiện biểu hiện và giao tiếp) Khuynh hướng thứ hai nghiên cứu về thuật ngữ nhằm hỗ trợ dịch thuật Khuynh hướng này phát triển mạnh trong các vùng miền và quốc gia song ngữ hoặc đa ngữ như Quebec - Candada, Walloon - Bỉ, và tạo thành cơ sở cho các hoạt động thuật ngữ được các cơ quan quốc tế đa ngữ triển khai (như UN, UNESCO, EU, FAO) Khuynh hướng này tạo lập các đơn vị thuật ngữ tương đương trong các ngôn ngữ và được các nhà phiên dịch sử dụng để tham khảo, bổ trợ cho chất lượng bản dịch Khuynh hướng thứ ba là nghiên cứu thuật ngữ theo hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ Đại diện cho khuynh hướng này là công tác ngôn ngữ ở Quebec và những vùng nói tiếng Pháp ở Canada Họ khuyến khích việc tạo từ ngữ mới trong ngôn ngữ quốc gia thay cho việc du nhập các thuật ngữ từ ngôn ngữ bên ngoài

Có thể thấy rằng mối quan tâm tới thuật ngữ bắt đầu từ rất sớm Đặc biệt công tác nghiên cức thuật ngữ được đặc biệt chú trọng trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XX Chúng tôi đồng ý với Cabré [125,5] đã tổng hợp quá trình phát triển thuật ngữ học hiện đại qua 4 giai đoạn cơ bản: Giai đoạn hình thành (1930 - 1960), Giai đoạn xác lập các chuyên ngành, lĩnh vực (1960 - 1975); Giai đoạn bùng nổ (1975 - 1985); và Giai đoạn mở rộng (1985 đến nay) Cũng theo Cabré, Giai đoạn hình thành được đặc trưng bởi sự xác lập các phương pháp để hình thành hệ thống các thuật ngữ Những cơ sở lí thuyết đầu tiên của Vjuster, Lotte được ra đời trong giai đoạn này, đặc biệt luận án tiến sĩ của Vjuster năm 1930 là

cơ sở, nền tảng cho thuật ngữ học hiện đại Vjuster đã hệ thống hóa phương pháp làm việc trong thuật ngữ học, thiết lập các nguyên tắc nghiên cứu thuật ngữ và vạch ra những điểm trọng yếu của phương pháp học xử lídữ liệu thuật ngữ [125,5] Trong giai đoạn phát triển thứ hai (1960 – 1975), đổi mới quan trọng

Trang 20

nhất trong thuật ngữ học bắt nguồn từ sự phát triển của máy vi tính có bộ nhớ dung lượng lớn và các kĩ thuật thu thập và lưu trữ tư liệu Đồng thời ngân hàng

dữ liệu đầu tiên cũng xuất hiện, và công việc điều phối trên cấp độ quốc tế các nguyên tắc của công việc xử lí thuật ngữ học cũng bắt đầu Trong giai đoạn này các đường hướng tiếp cận đầu tiên cũng được đưa ra nhằm chuẩn hóa thuật ngữ học trong ngôn ngữ Giai đoạn phát triển thứ ba (1975 – 1985), được đánh dấu bằng sự nở rộ các chính sách hoạch định ngôn ngữ và thuật ngữ học với những

ví dụ điển hình là các chính sách ngôn ngữ ở Liên Xô và Israel Tầm quan trọng của thuật ngữ trong sự hiện đại hóa ngôn ngữ được nâng tầm ở giai đoạn này Trong giai đoạn mở rộng (1985 đến nay) khoa học công nghệ máy tính là một trong những xung lực quan trọng nhất đứng đằng sau những thay đổi trong thuật ngữ học Sự thông dụng của máy tính cá nhân mang lại thay đổi lớn trong xử lí

dữ liệu thuật ngữ [125,6]

Thuật ngữ không phải là lĩnh vực nghiên cứu hoàn toàn mới Nó đã và đang phát triển từ nhu cầu tất yếu của con người trong việc đặt tên và xác định sự vật, hiện tượng trong một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn Trong những thập kỷ gần đây, lí thuyết về thuật ngữ được tranh luận nhiều trong nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên gần đây, thuật ngữ trên thế giới được xem là đã phát triển một cách có hệ thống Có thể coi công tác nghiên cứu thuật ngữ đã phát triển từ mức độ không chuyên trở thành một khoa học thực thụ

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ ở Việt Nam

Những năm đầu của thế kỷ XX, ở Việt Nam, vấn đề thuật ngữ còn rất ít được quan tâm Người đầu tiên có sự quan tâm đến thuật ngữ là Dương Quảng Hàm Tiếp sau ông là các nhà nghiên cứu khác như Vũ Công Nghi, Nguyễn Ứng Các học giả này đều chủ trương dựa vào tiếng Hán để đặt thuật ngữ tiếng Việt trong một số lĩnh vực Nguyễn Văn Thịnh lại chủ trương mượn tiếng Latinhh hay Hi Lạp để phiên âm và đề xuất sử dụng “ngôn ngữ cội nguồn”, tức

Trang 21

ngôn ngữ gốc, chứ không khuyến khích phiên âm qua tiếng Pháp, vì ông cho rằng tiếng Pháp cũng vay mượn từ các thứ tiếng trên

Những năm 30 của thế kỉ XX, ở nước ta bắt đầu xuất hiện những thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt Ban đầu là các thuật ngữ khoa học xã hội, sau đó mới phát triển các thuật ngữ thuộc những ngành khoa học kĩ thuật Khuynh hướng chủ yếu lúc này là tiếp nhận dưới dạng phiên âm một số ít thuật ngữ của tiếng Hán và tiếng Pháp Nổi lên trong giai đoạn này là ý kiến của các học giả Lê Văn Kim, Đặng Phúc Thông, Nguyễn Duy Thành, Đặng Văn Dư, Hồng Đạo Nguyên bàn về việc xây dựng thuật ngữ nên bằng cách nào Đặc biệt trong số các học giả

thời kỳ này, đáng chú ý nhất là Hoàng Xuân Hãn Trong tác phẩm Danh từ khoa học (1948) của mình, Hoàng Xuân Hãn đã nêu lên vấn đề xây dựng thuật ngữ

khoa học và nghiên cứu thuật ngữ một cách khá công phu, có hệ thống nhất tính tới thời điểm đó Hoàng Xuân Hãn đã đưa ra 3 phương sách đặt thuật ngữ khoa học, gồm phương sách dùng tiếng thông thường, phương sách phiên âm và phương sách lấy gốc chữ nho Với việc áp dụng 3 phương sách này, Hoàng Xuân Hãn đã cho ra đời cuốn thuật ngữ đối chiếu Pháp - Việt đầu tiên về các môn toán, lí, cơ và thiên văn, dùng cho bậc trung học Sau đó một số tập thuật ngữ đối chiếu khác đã được xuất bản

Đặc biệt là từ sau ngày hoà bình được lập lại (1954), rồi đất nước thống nhất (4/1975) đến nay, công tác nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt đã phát triển hết sức mạnh mẽ Nhiều hội nghị về chuẩn mực hoá chính tả và thuật ngữ khoa học đã được tổ chức tại Hà Nội (tháng 7 năm 1978), Huế (tháng 8 năm 1978), Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 10 năm 1978) và Hà Nội (tháng 6 năm 1979), với sự tham gia của nhiều nhà văn hoá, giáo dục và khoa học trong cả nước Nhiều công trình nghiên cứu lí thuyết về thuật ngữ tiếng Việt đã được công bố gắn với những tên tuổi các nhà Việt ngữ học, như: Nguyễn Văn Tu, Lưu Vân Lăng, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Như Ý, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Lê Khả Kế, Nguyễn Thiện Giáp, Vương Toàn, Lê Quang Thiêm, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Tồn, Hà Quang Năng Ý kiến của các nhà

Trang 22

Việt ngữ học đều tập trung vào thảo luận một số vấn đề lí luận chung sau đây về thuật ngữ:

Thứ nhất, khái niệm thuật ngữ là gì;

Thứ hai, các yêu cầu hay các tiêu chuẩn của thuật ngữ cần phải như thế nào; Thứ ba, có những phương thức nào để đặt thuật ngữ;

Thứ tư, vấn đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài nên như thế nào - phiên

âm, chuyển tự hay giữ nguyên dang;

Thứ năm, vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ nên như thế nào

Đáng chú ý là năm 2012, có công trình tập hợp các bài viết do Hà Quang

Năng chủ biên với nhan đề Thuật ngữ học - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Đây là công trình có tính chất tổng kết một số vấn đề lí luận về thuật ngữ học,

có đề cập đến những vấn đề lí luận và thực tiễn của từ điển học thuật ngữ ở Việt Nam và nước ngoài

Đặc biệt năm 2016, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã ấn hành công trình

nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn xây dựng thuật ngữ tiếng Việt có nhan đề Thuật ngữ học tiếng Việt hiện đại (403 tr) do Nguyễn Đức Tồn chủ biên Chuyên khảo

này gồm ba phần chia thành 8 chương Từ góc độ bản thể và nhận thức, Nguyễn

Đức Tồn đã đưa nhiều ý kiến đáng chú ý về những vấn đề lí luận chung của

thuật ngữ học, như thuật ngữ là gì, các tiêu chuẩn cần và đủ thuộc bản thể của thuật ngữ, các phương thức đặt thuật ngữ; vấn đề ứng dụng lí thuyết điển mẫu để chuẩn hóa thuật ngữ Công trình này cũng khảo sát thực trạng xây dựng và sử dụng thuật ngữ hiện nay qua một số ngành khoa học và chuyên môn, từ đó đưa

ra những kiến nghị giải pháp có giá trị đối với việc xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế để làm cơ sở xây dựng luật ngôn ngữ

Ngoài ra, trong sự đóng góp đáng kể cho công tác nghiên cứu thuật ngữ tiếng Việt, hai thập kỷ gần đây còn có các luận văn cao học, luận án tiến sĩ nghiên cứu thuật ngữ ở một lĩnh vực chuyên ngành cụ thể, như: Vũ Quang Hào -

Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt, đặc điểm cấu tạo thuật ngữ quân sự (1991),

Trang 23

Luận án Phó Tiến sĩ, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; Nguyễn Thị Bích Hà –

So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại (2000), Luận án tiến sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, Hà Nội; Vương Thị Thu Minh, Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt (2005), Luận án tiến sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, Hà Nội; Nguyễn Thị Kim Thanh (2005), Khảo sát hệ thuật ngữ tin học Viễn thông tiếng Việt, Luận án tiến sĩ Trường Đại học KHXH&NV, Hà Nội; Mai Thị Loan (2011), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt (2011), Luận án tiến sĩ, Học viện KHXH ; Nguyễn Thị Như Quỳnh, Vấn đề xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ vật lí tiếng Việt (2012), Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Thái Nguyên; Vũ Thị Thu Huyền – Thuật ngữ khoa học kĩ thuật xây dựng trong tiếng Việt (2013), Luận án tiến sĩ, Học viện KHXH ; Ngô Phi Hùng– Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt (trên tư liệu thuật ngữ Toán- Cơ -Tin học, Vật lí) (2013), Luận án tiến sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, TP Hồ Chí Minh; Lê Thanh Hà- Đối chiếu thuật ngữ du lịch Việt - Anh (2014), Luận án tiến sĩ, Học viện KHXH; Quách Thị Gấm - Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt (2015), Luận án tiến sĩ, Học viện KHXH; Nguyễn Tiến Dũng, Nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng

(2016), Luận văn thạc sĩ, Học viện KHXH, v.v

Điểm chung của nội dung hầu hết những luận án tiến sĩ nói trên là đã phân tích đặc điểm cấu tạo và định danh của một hệ thuật ngữ cụ thể được nêu rõ trên nhan đề của mỗi luận án, mô hình hóa các kiểu cấu tạo của hệ thuật ngữ đó, đồng thời đề xuất định hướng chuẩn hóa hệ thuật ngữ cụ thể đã được khảo sát

Bên cạnh sự phát triển của thuật ngữ học tiếng Việt về lí thuyết, lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng về thuật ngữ (từ điển thuật ngữ) cũng đạt được những thành tựu to lớn Về mặt số lượng, chúng ta chứng kiến sự bùng nổ của lượng từ điển thuật ngữ chuyên ngành trong những năm gần đây Trong giai đoạn này, các

từ điển thuật ngữ phát triển rầm rộ, đặc biệt là thuật ngữ của những ngành kinh

tế mũi nhọn, ngành công nghệ mới phát triển như tin học, điện tử viễn thông

Trang 24

Với những ngành khoa học công nghệ mới phát triển như tin học, số lượng các

từ điển đối chiếu tăng lên nhanh chóng trong một khoảng thời gian rất ngắn Tóm lại, có thể thấy các nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm nhiều tới các tiêu chuẩn của thuật ngữ, phương thức đặt thuật ngữ, vấn đề vay mượn thuật ngữ, đặc biệt là việc phiên âm các thuật ngữ ở nước ngoài và vấn đề thống nhất thuật ngữ Bên cạnh sự gia tăng về số lượng các luận án tiến sĩ nghiên cứu về thuật ngữ chuyên ngành tiếng Việt cũng như đối chiếu thuật ngữ chuyên ngành tiếng Việt với thuật ngữ của các thứ tiếng nước ngoài, có thể thấy rõ sự phát triển đáng kể số lượng các từ điển chuyên ngành, từ điển đối chiếu thuật ngữ ở Việt Nam Công tác nghiên cứu thuật ngữ cả về lí thuyết và ứng dụng ở Việt Nam đang thực sự khởi sắc và chắc hẳn sẽ có nhiều triển vọng tốt đẹp cho lĩnh vực nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam trong tương lai

1.2 Tình hình nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ kĩ thuật điện trên thế giới

và ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ kĩ thuật điện trên thế giới

Song song với những phát minh đầu tiên về điện là sự ra đời của các khái niệm, các định luật và thuật ngữ về điện Người đầu tiên đưa ra các thuật ngữ về điện mà đến nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi là nhà vật lí học người Anh William Gilbert (1544-1603) Ông được coi là người khai sinh ra các thuật ngữ

kĩ thuật điện cơ bản đầu tiên của nhân loại

Công tác nghiên cứu TNKTĐ được tiến hành rất sớm Công trình nghiên cứu có thể nói là quan trọng bậc nhất phải kể đến, như đã nêu trên đây, là luận án tiến sĩ thực hiện năm 1930 của Vjuster, người được mệnh danh là cha đẻ của

thuật ngữ học hiện đại, với đề tài Chuẩn hóa thuật ngữ quốc tế về kĩ thuật, đặc biệt thuật ngữ kĩ thuật điện Luận án được xem là mô hình có hệ thống đầu tiên

về thuật ngữ và là sự miêu tả đầu tiên về ngôn ngữ chuyên ngành tập trung vào chuẩn hóa ngôn ngữ kĩ thuật Vjuster miêu tả ngôn ngữ kĩ thuật (ngôn ngữ chuyên ngành) từ góc nhìn của chuyên gia kĩ thuật Ông chỉ ra lí do cần hệ

Trang 25

thống hóa nghiên cứu thuật ngữ, thiết lập các nguyên tắc cần thực hiện khi nghiên cứu thuật ngữ và đưa ra phương pháp xử lí dữ liệu thuật ngữ Theo Felber [130], Vjuster đã đặt nền móng cho thuật ngữ học như một lĩnh vực nghiên cứu độc lập và sau đó xây dựng khoa học thuật ngữ Trong lĩnh vực ngôn ngữ nhân tạo, luận án cũng được xem là tư liệu chuẩn về khoa học thuật ngữ và là nghiên cứu khoa học toàn diện và hay nhất về ngôn ngữ nhân tạo trong giai đoạn đó [123] Nghiên cứu cũng được xem là khởi đầu cho việc thành lập Liên hiệp quốc

tế các hiệp hội tiêu chuẩn quốc gia (ISA), cơ quan chuẩn hóa thuật ngữ kĩ thuật

và ngày nay được biết đến với tên gọi Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO)

Ngoài luận án tiến sĩ, Vjuster còn đóng góp nhiều công trình nghiên cứu khác cho công tác xây dựng thuật ngữ kĩ thuật điện quốc tế Theo Kingscott, Vjuster là người xây dựng chính một trong những bộ thuật ngữ cổ nhất với số lượng từ vựng lớn cho Ủy ban kĩ thuật điện quốc tế (IEC) (Kingscott, 1998) Vjuster cho rằng mỗi ngôn ngữ chỉ có vài ngàn hình vị để mô tả hàng triệu khái niệm Vì vậy vấn đề chuẩn hóa khái niệm và hệ thống khái niệm là khi mô tả khái niệm mới không cần sử dụng các yếu tố từ mới mà là kết hợp các hình vị đã

có hoặc tạo nghĩa mới cho những từ đã có Ngoài những công trình nghiên cứu dành cho Liên hiệp quốc tế các hiệp hội tiêu chuẩn quốc gia (ISA) ISA 37 và ISO/TC37, Vjuster tiếp tục nghiên cứu về thuật ngữ kĩ thuật điện cho IEC, đặc biệt trong tiểu ban IEC1 về Từ vựng Tiểu ban này đã xây dựng Bộ từ vựng kĩ thuật điện quốc tế (IEV), phát hành 01 ấn bản trước Chiến tranh và 01 ấn bản sau

Chiến tranh thế giới thứ 2 Một cống hiến khác của Vjuster là xây dựng Từ điển công cụ máy cho Ủy ban kinh tế Châu Âu (ECE) Hơn 1.400 khái niệm trong Từ điển công cụ máy được sắp xếp theo hệ thống phân loại UDC, đưa ra các thuật

ngữ và định nghĩa bằng các ngôn ngữ Anh, Pháp và Đức (riêng tiếng Đức chỉ có thuật ngữ) Các thuật ngữ và định nghĩa được lấy chủ yếu từ các nguồn tài liệu tiêu chuẩn

Liên quan đến nghiên cứu thuật ngữ kĩ thuật điện phải nói đến sự thành lập

Ủy ban kĩ thuật điện quốc tế - IEC Ủy ban này được thành lập tại St Louis,

Trang 26

Missouri năm 1904 Năm 1906 tổ chức này bắt đầu thống nhất các phương pháp

và xây dựng những qui tắc điều phối sản xuất kĩ thuật điện quốc tế Ngày nay IEC là cơ quan quốc tế dành riêng cho kĩ thuật điện và điện tử, cho đến nay đã ban hành hơn 1.500 tiêu chuẩn quốc tế

Ngoài IEC, ở châu Âu còn có CENELEC, một tổ chức gồm 15 nước thành viên phát triển các tiêu chuẩn về kĩ thuật điện thống nhất với các nguyên tắc của IEC Bên cạnh đó còn có Viện kĩ nghệ điện-điện tử IEEE, một tổ chức phát huy đổi mới công nghệ, sáng tạo, phát triển với hơn 350 ngàn thành viên khắp nơi trên thế giới Viện kĩ nghệ điện-điện tử IEEE đã đưa ra nhiều tiêu chuẩn, thuật ngữ được các chuyên gia, kĩ sư sử dụng

Sự phát triển không ngừng của lĩnh vực kĩ thuật điện đã thúc đẩy công tác nghiên cứu thuật ngữ và các vấn đề liên quan đến ngành điện Công tác biên soạn từ điển có thể nói được thực hiện từ rất sớm Như trên đã trình bày, cùng với những phát minh đầu tiên của Gilbert về điện ở thế kỷ thứ XVII, các thuật ngữ điện đã được hình thành và rất nhiều cuốn từ điển giải thích thuật ngữ kĩ thuật điện được xuất bản Đáng kể nhất là cuốn từ điển của O'Conor [139] xuất bản năm 1892 và tái bản lần 2 năm 1897 với nhiều hình ảnh minh họa sống động Năm 1983, Ủy ban về thuật ngữ (Ủy ban số 1) của IEC đã xuất bản cuốn

Từ điển kĩ thuật điện lần thứ nhất năm 1938 với 50 phần, mỗi phần là một lĩnh

vực nhỏ trực thuộc Theo Cabré cho biết, ấn bản đầu tiên này bao gồm 2.000 thuật ngữ được định nghĩa bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, có chuyển dịch tương đương sang các thứ tiếng: Đức, Tây Ban Nha, Italia và Esperanto Năm 1970,

IEC tái bản lần 2 cuốn Từ điển kĩ thuật điện gồm 24 phần bằng tiếng Anh và

tiếng Pháp bao gồm 8.100 khái niệm và tương đương trong 6 ngôn ngữ Năm

1960 tiếng Nga trở thành ngôn ngữ thứ 3 của IEC Tính đến năm 2000, cuốn từ điển này có 34 tập tách thành 321 phần gồm 10.000 mục từ và 11.000 thuật ngữ trong 9 thứ tiếng [125,197]

Bên cạnh đó, cho đến nay hàng loạt từ điển chuyên ngành kĩ thuật điện – điện tử đã được ra đời Đó chính là thành tựu của cả các công trình nghiên cứu lí

Trang 27

thuyết lẫn ứng dụng về từ điển học và thuật ngữ học Từ điển chuyên ngành kĩ thuật điện xuất hiện từ rất sớm, được tái bản nhiều lần Một số công trình từ điển quan trọng cần phải nhắc đến là 11 cuốn từ điển được nêu trong Phụ lục 1

Ngoài những cuốn từ điển, bách khoa thư, liên quan đến thuật ngữ kĩ thuật

điện đáng chú ý nhất là Bộ tiêu chuẩn kĩ thuật điện quốc tế IEC 60050, trong đó

bao gồm các tiêu chuẩn liên quan đến từ vựng – thuật ngữ trong từng lĩnh vực kĩ thuật điện Đây là Bộ tiêu chuẩn quốc tế do Tổ chức Kĩ thuật điện quốc tế IEC ban hành nhằm thống nhất các phương pháp và xây dựng qui tắc điều phối sản

xuất kĩ thuật điện quốc tế Hiện nay bộ tiêu chuẩn này đã được tích hợp trong Từ điển Electropedia – Từ điển từ vựng thuật ngữ kĩ thuật điện – điện tử trực tuyến

lớn nhất hiện nay

1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ kĩ thuật điện ở Việt Nam

Điện có mặt tại Việt Nam cùng với sự xuất hiện của người Pháp ở Đông Dương Nhà máy điện đầu tiên được xây dựng ở Hải Phòng năm 1892 Sau 80 năm kể từ ngày đặt chân đến Việt Nam, người Pháp đã xây dựng 5 nhà máy nhiệt điện công suất nhỏ với mạng lưới phân phối thô sơ Năm 1964, Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng nhà máy thủy điện Thác Bà, đến năm 1971 đưa vào vận hành Năm 1965, cũng với sự giúp đỡ của Liên Xô, ngành Điện đã xây lắp và đưa vào vận hành nhà máy điện Uông Bí có tổng công suất gần 50 MW Đầu thập kỷ 80, ngành điện bắt đầu thực hiện tổng sơ đồ phát triển điện lực giai đoạn

1 Trong những giai đoạn tiếp theo, các công trình lớn mang tầm cỡ chiến lược quốc gia như nhiệt điện Phả Lại, thủy điện Hòa Bình, Trị An, sau này là Yaly, Phú Mỹ lần lượt được xây dựng và đưa vào vận hành Đặc biệt là các công trình

có quy mô lớn như thủy điện Hòa Bình, đường dây siêu cao áp 500 kV, thủy điện Sơn La và gần đây nhất là công trình nhà máy điện hạt nhân Ninh thuận đã được Quốc hội thông qua năm 2009 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể đến năm 2020

Trang 28

Trước yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Nhà nước đã và đang xây dựng, dần hoàn thiện Bộ tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến từ vựng – thuật ngữ kĩ thuật điện TCVN 8095 tương thích với Bộ Tiêu chuẩn quốc tế về thuật ngữ kĩ thuật điện do Tổ chức Tiêu chuẩn Kĩ thuật điện quốc tế IEC ban hành

IEC 60050 Bộ tiêu chuẩn TCVN 8095 thay thế cho các tiêu chuẩn về từ vựng và

thuật ngữ kĩ thuật điện ban hành sau khi đất nước thống nhất, trong các năm từ

năm 1975 đến 1987, cụ thể các bộ TCVN 1688-75 , TCVN 3179-79, TCVN 81; TCVN 3686-81, TCVN 3685-81, TCVN 3682-81, TCVN 3681-81, TCVN 3674-81, TCVN 3684-81, TCVN 3677-81, TCVN 3787-83, TCVN 3788-83, TCVN 4167-85, TCVN 4168-85, TCVN 4274-86, TCVN 4273-86, TCVN 4400-

3676-87, TCVN 4471-87 Bộ tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8095 hiện đã có 14 tiêu chuẩn gồm: TCVN 8095-151: 2010 về từ vựng – thuật ngữ liên quan đến thiết bị điện và thiết bị từ, TCVN 8095-212: 2009 về từ vựng- thuật ngữ liên quan đến chất rắn, chất lỏng và chất khí cách điện, TCVN 8095-221: 2010 về từ vựng liên quan đến vật liệu từ, TCVN 8095-300: 2010 về từ vựng liên quan đến phép đo và dụng cụ đo điện và điện tử, TCVN 8095-411: 2010 về từ vựng liên quan đến máy

điện quay, TCVN 8095-436:2009 về từ vựng liên quan đến tụ điện công suất,

TCVN 8095-446: 2010 về từ liên quan đến Rơle điện, TCVN 8095-461: 2009 về

từ vựng liên quan đến cáp điện, TCVN 8095-466: 2009 về từ vựng liên quan đến đường dây trên không, TCVN 8095-471: 2009 về từ vựng liên quan đến thiết bị cách điện, TCVN 8095-521: 2009 về từ vựng liên quan đến linh kiện bán dẫn và mạch tích hợp, TCVN 8095-602: 2010 về từ vựng liên quan đến phát, truyền dẫn

và phân phối điện - Phát điện, TCVN 8095-811: 2010 về từ vựng liên quan đến

hệ thống kéo bằng điện, TCVN 8095-845:2009 về từ vựng liên quan đến chiếu sáng Có thể thấy rằng 16 bộ tiêu chuẩn cũ được xuất bản tập trung ngay sau khi đất nước thống nhất Đặc điểm của các bộ tiêu chuẩn này là có phần ghi chú tiếng Nga, tiếng Anh, được Việt hóa và xây dựng trên cơ sở tham khảo từ tài liệu

tiếng Nga Bộ tiêu chuẩn TCVN 8095 hiện có 14 tiêu chuẩn thay thế cho 16 tiêu

chuẩn trên và trùng với 14 tiêu chuẩn quốc tế đang tiếp tục được xây dựng, hoàn

Trang 29

thiện để phù hợp với Bộ tiêu chuẩn quốc tế IEC 60050 14 tiêu chuẩn TCVN

8095 hiện có được xây dựng tập trung trong các năm 2009 và 2010 trên cơ sở

các tiêu chuẩn của IEC 60050 phát hành rải rác từ các năm 1983 đến 2007 Bộ tiêu chuẩn TCVN 8095 chắc chắn sẽ còn tiếp tục được phát triển mở rộng trên cơ

sở các tiêu chuẩn IEC 60050 trong thời gian tới Vì vậy, việc nghiên cứu về TNKTĐ trong sự đối chiếu với tiếng Anh hy vọng sẽ đóng góp phần nào vào công tác tiếp tục xây dựng bộ TCVN 8095

Về công tác nghiên cứu chuyên sâu hệ thuật ngữ kĩ thuật điện, có thể nói ở Việt Nam hiện nay, hầu như chưa có công trình chuyên luận hoặc luận án nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về hệ TNKTĐ, đặc biệt là có sự đối chiếu với TNKTĐ tiếng Anh Hiện mới chỉ có một vài luận văn cao học, luận án tiến sĩ nghiên cứu thuật ngữ các chuyên ngành có liên quan đến chuyên ngành kĩ

thuật điện, như luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thanh Thúy (2008) Đối chiếu hệ thống thuật ngữ điện - điện tử trong tiếng Anh và tiếng Việt hiện nay, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Thanh (2005) Khảo sát Hệ thuật ngữ điện tử - viễn thông tiếng Việt và gần đây là luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Như Quỳnh (2012) về Vấn đề xây dựng và chuẩn hoá thuật ngữ Vật lí

Có thể thấy, trên thực tế TNKTĐ trong tiếng Việt vẫn còn là hệ thuật ngữ chưa được nghiên cứu chuyên sâu Ngoài bộ tiêu chuẩn quốc gia về từ vựng – thuật ngữ kĩ thuật điện TCVN 8095 đang tiếp tục hoàn thiện, hiện nay chỉ mới xuất hiện một số cuốn từ điển thuật ngữ kĩ thuật điện tiếng Việt dưới dạng đối chiếu với tiếng Anh, như đã nêu trên đây (xem mục Đối tượng và phạm vi nghiên cứu trong Phần mở đầu)

Bên cạnh đó, hệ thuật ngữ được sử dụng trong các học liệu phục vụ đào tạo

về kĩ thuật điện, nhất là hệ thuật ngữ đối chiếu Anh - Việt trong đào tạo tiếng Anh chuyên ngành kĩ thuật điện, vẫn còn có những khoảng trống Đó là trách nhiệm của nhiều lĩnh vực và tổ chức hữu quan Chính vì thế, chúng tôi chọn vấn

đề về TNKTĐ có đối chiếu Anh - Việt cho luận án của mình

Trang 30

1.3 Cơ sở lí luận

1.3.1 Khái niệm “thuật ngữ”

Cho đến nay đang tồn tại khá nhiều quan điểm khi tiến hành định nghĩa về

đơn vị ngôn ngữ được gọi là thuật ngữ Các nhà ngôn ngữ học Xô viết trước đây

đã đi sâu phân tích chức năng, bản chất của vấn đề và đưa ra một số định nghĩa

về thuật ngữ như sau: Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng-ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa; ở thuật ngữ không có hiện tượng đồng nghĩa hay đồng âm trong phạm vi của một khoa học hoặc một lĩnh vực tri thức cụ thể [23,3] Theo Kapanadze, thuật ngữ không gọi tên khái niệm như từ toàn dân mà là khái niệm được gán cho nó, giống như định nghĩa về nó Ý nghĩa của thuật ngữ là định nghĩa khái niệm, là cái định nghĩa được gán cho nó [42,136] V.V.Vinogradov

cho rằng thuật ngữ không chỉ đảm nhận chức năng định danh mà quan trọng là đảm nhận chức năng định nghĩa (dẫn theo [67,12-13]) Gần đây, các nhà ngôn ngữ học Anh –Mỹ cũng dành nhiều sự quan tâm đến thuật ngữ, đưa ra nhiều định nghĩa về thuật ngữ và các khuynh hướng tiếp cận thuật ngữ khác nhau Nói

chung, các nhà ngôn ngữ học này đều cho rằng thuật ngữ là những từ ngữ của ngôn ngữ chuyên môn để biểu thị các khái niệm chuyên môn và chỉ tên các đối tượng, sự vật, hiện tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn (dẫn theo [62,15])

Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng rất quan tâm đến vấn đề thuật ngữ và

đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Chẳng hạn, Nguyễn Văn Tu định nghĩa:

“Thuật ngữ là những từ và cụm từ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào đó”, đồng thời ông cũng chỉ ra một số đặc điểm của thuật ngữ như sau: “Đặc điểm của thuật ngữ là từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm,

có thể có tính chất quốc tế” [103,114]

Năm 1962, Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một

Trang 31

ngành kĩ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật lí, ngành hoá học, toán học, thương mại, ngoại giao, v.v ” [9,167] Ông cũng chỉ ra rằng đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kĩ thuật nhất định Năm 1981, trong công trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt Đỗ Hữu Châu chỉ ra cụ thể hơn về

ngoại diên của khái niệm “thuật ngữ” và đặc điểm ý nghĩa của thuật ngữ như

sau: "Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật bao gồm các đơn vị từ vựng được dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm trong những ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự nhiên hay xã hội Khác với

từ thông thường, thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng có thực trong thực tế, đối tượng của ngành kĩ thuật và ngành khoa học tương ứng Ý nghĩa biểu niệm của chúng cũng là những khái niệm về các sự vật, hiện tượng này đúng như chúng tồn tại trong tư duy Về mặt nội dung, ở các thuật ngữ không xảy ra sự chia cắt thực tế khách quan theo cách riêng của ngôn ngữ Mỗi thuật ngữ như là một cái “nhãn" dán vào đối tượng này (cùng với khái

Các tác giả Vân Lăng và Như Ý (1977) định nghĩa:" Thuật ngữ là bộ phận ngôn ngữ (từ vựng) biểu đạt các khái niệm khoa học, là thuộc tính của khoa học,

kĩ thuật, chính trị, tức là những lĩnh vực của hiện thực xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ."[58,44]

Nguyễn Thiện Giáp (1978, 1985, 1998) đã đưa ra định nghĩa ngắn gọn về

thuật ngữ, trong đó bao hàm được những đặc trưng cần yếu của nó: “Thuật ngữ

là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người.”[24,270]

Hoàng Văn Hành (1983) đã đưa ra định nghĩa thuật ngữ, trong đó có thể thấy rõ hơn tính xác định của khái niệm được thuật ngữ biểu đạt trong hệ thống

khái niệm của một ngành khoa học: “Thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa

Trang 32

học nhất định Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ.”[35,26]

Các đồng tác giả Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân và Vương Toàn (1986)

định nghĩa thuật ngữ là: "Từ hoặc cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm của một lĩnh vực chuyên môn nào đó.”[73,64] Các ông cũng chi rõ “Thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựng chung của ngôn ngữ, nhưng chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ cụ thể, nghĩa là nó chỉ được dùng trong ngôn ngữ chuyên môn Toàn bộ các thuật ngữ của một lĩnh vực sản xuất, hoạt động, tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt tạo thành một hệ thống thuật ngữ." [73,64]

Gần đây (2014, 2016), Nguyễn Đức Tồn quan niệm rằng định nghĩa thuật ngữ chỉ cần chỉ ra những đặc trưng bản chất nhất thuộc bản thể thuật ngữ Đó là những đặc trưng nào có tác dụng khu biệt thuật ngữ với các lớp từ vị (tức đơn vị

từ vựng) phi thuật ngữ (như từ vị toàn dân, từ vị nghề nghiệp, tiếng lóng ) Những đặc điểm nào mà có cả ở các lớp từ vựng phi thuật ngữ thì chỉ là thứ yếu, nên không đủ sức khu biệt thuật ngữ với các lớp từ vị này, hoặc những thuộc tính không thuộc bản thể thuật ngữ mà do nhận thức chủ quan hoặc sự áp đặt của người nghiên cứu, sử dụng thuật ngữ thì không nên đưa vào nội dung định nghĩa thuật ngữ Trên cơ sở quan niệm như vậy, ông định nghĩa thuật ngữ như sau:

“Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện khái niệm hoặc biểu thị đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học, công nghệ hoặc chuyên môn” [101,342]; [102,47]

Định nghĩa trên chúng tôi thấy đã bao hàm một số đặc trưng bản thể của

thuật ngữ Về cấu tạo, mỗi thuật ngữ là một từ ngữ (từ hoặc cụm từ cố định -

hiện nay ông dùng thuật ngữ từ vị để thay thế cho rõ hơn- DTTM) Về nội dung,

mỗi thuật ngữ biểu hiện một khái niệm hoặc một đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học, công nghệ hoặc lĩnh vực chuyên môn Các khái niệm hoặc đối tượng thuộc các lĩnh vực không phải là khoa học hoặc chuyên môn thì đều không phải là nội dung biểu hiện của thuật ngữ

Như vậy, dù định nghĩa về thuật ngữ theo hướng nào, thì điểm cốt yếu không thể bỏ qua vẫn là quan hệ giữa thuật ngữ với khái niệm mà nó biểu hiện,

Trang 33

đồng thời nói đến thuật ngữ là nói đến chức năng định danh Xuất phát từ nhận

thức như vậy, chúng tôi quan niệm thuật ngữ là những từ hoặc cụm từ cố định biểu hiện khái niệm hay đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học, công nghệ hoặc chuyên môn

1.3.2 Xác định khái niệm “thuật ngữ kĩ thuật điện”

Để làm rõ khái niệm TNKTĐ là gì, TNKTĐ thuộc những phạm vi nào trong lĩnh vực chuyên ngành kĩ thuật điện, trước hết cần phân biệt các khái niệm

“kĩ thuật điện” và “điện”; phân biệt các ngành Vật lí – Điện – Điện tử và các chuyên ngành hẹp của kĩ thuật điện

1.3.2.1 Phân biệt các khái niệm “kĩ thuật điện” và “điện”

Với đề tài “Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành

kĩ thuật điện” trước hết luận án cần phân biệt các khái niệm kĩ thuật điện và điện Luận án sử dụng thuật ngữ kĩ thuật điện chứ không phải thuật ngữ điện Để làm

rõ hai khái niệm này, có thể phân biệt thêm 2 khái niệm là "ngành điện" và

"ngành kĩ thuật điện" Thuật ngữ ngành điện được sử dụng để chỉ ngành điện lực - cơ quan sản xuất, phân phối điện, còn thuật ngữ kĩ thuật điện chỉ ngành

khoa học nghiên cứu, đào tạo trong lĩnh vực chuyên môn về điện ở các trường

đại học, các viện nghiên cứu Vì vậy luận án sử dụng thuật ngữ kĩ thuật điện

trong quá trình triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu

1.3.2.2 Phân biệt các ngành Vật lí – Điện – Điện tử

Kĩ thuật điện là một lĩnh vực kĩ thuật nghiên cứu và ứng dụng liên quan đến điện, điện tử và điện từ Vì vậy, 2 lĩnh vực gần nhất liên quan với kĩ thuật điện cần phải đề cập tới là vật lí và điện tử Trong phạm vi luận án này, các lĩnh vực vật lí và điện tử sẽ không được nghiên cứu, tuy nhiên để xác định rõ phạm vi nghiên cứu, cũng cần đề cập đến 2 lĩnh vực này để thấy mối quan hệ gần gũi giữa chúng mà đôi khi rất khó xác định ranh giới

Điện học là một ngành của vật lí chuyên nghiên cứu các hiện tượng về điện Bên cạnh điện học, vật lí học còn bao gồm cơ học, nhiệt học, quang học, từ

Trang 34

trường, thiên văn học, hạt nhân và nguyên tử Các nhà vật lí học đã tìm ra các định luật cơ bản đầu tiên cho sự phát triển của lĩnh vực kĩ thuật điện phải kể đến

là William Gilbert (1544-1603), Charles-Augustin de Coulomb 1806), James Watt (1736-1819), Alessandro Volta (1745-1827), André-Marie Ampère (1775-1836), Carl Friedrich Gauss (1777-1853), Georg Ohm (1789-1854), James Clerk Maxwell (1831-1879) Đó là những nhà vật lí học được đặt tên cho các định luật, đơn vị đo lường, thiết bị, hiện tượng… của lĩnh vực điện học

(1736-Trong mối liên quan với điện tử, có thể nói, nếu điện xuất phát từ vật lí học thì điện tử xuất phát từ điện học Để phân biệt rõ hơn, kĩ thuật điện giải quyết các vấn đề ở các hệ thống điện vĩ mô như truyền tải điện, tự động hóa, đo lường

và điều khiển và thiết bị điện, trong khi kĩ thuật điện tử nghiên cứu các hệ thống điện nhỏ hơn nhiều như máy tính và mạch tích hợp Hay nói cách khác, các kĩ sư điện thường làm việc với vấn đề truyền tải điện năng, trong khi các kĩ sư điện tử nghiên cứu các vấn đề sử dụng điện để truyền dẫn và xử lí thông tin

1.3.2.3 Các chuyên ngành hẹp của Kĩ thuật điện

Cùng với quá trình phát triển và hiện đại hóa, nhiều lĩnh vực kĩ thuật ra đời

từ sau khi phát minh ra điện như điện tử, máy tính, viễn thông và nhiều ngành kĩ thuật khác Tất cả các lĩnh vực trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến điện có thể được coi là thuộc lĩnh vực kĩ thuật điện Ví dụ dễ thấy cho quan niệm này là việc phân khoa ngành ở các trường đại học trên thế giới Ở một số trường đại học danh tiếng trong khu vực và quốc tế, khoa hoặc viện kĩ thuật điện có thể bao gồm một phần hoặc toàn bộ các bộ môn/ngành kĩ thuật điện tử, viễn thông, tự động hóa, đo lường và điều khiển, vật lí, nhiệt lạnh, khoa học máy tính, hệ thống điện, thiết bị điện

Để xác định phạm vi nghiên cứu, luận án sẽ dựa theo sự phân ngành chuyên môn của Trường Đại học Bách khoa Hà Nôi – đơn vị đào tạo và nghiên cứu khoa học kĩ thuật hàng đầu ở Việt Nam về kĩ thuật điện Theo đó, ngành kĩ thuật

Trang 35

điện truyền thống bao gồm hai chuyên ngành hẹp cốt lõi là Hệ thống điện và Thiết bị điện

Về khái niệm “hệ thống điện”, theo Trần Bách [3,11], bao gồm các nhà máy điện, trạm biến áp, các đường dây tải điện và các thiết bị khác (như thiết bị điều khiển, tụ bù, thiết bị bảo vệ,…) được nối liền với nhau thành hệ thống làm nhiệm

vụ sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng

Về khái niệm “thiết bị điện”, theo Lê Thành Bắc [5,5], là các loại thiết bị làm nhiệm vụ đóng cắt, điều khiển, điều chỉnh, bảo vệ, chuyển đổi, khống chế và kiểm tra mọi sự hoạt động của hệ thống lưới điện và các loại máy điện Ngoài ra thiết bị điện còn được sử dụng để kiểm tra, điều chỉnh và biến đổi đo lường nhiều quá trình không điện khác

Từ sự trình bày trên về định nghĩa chung về thuật ngữ và việc phân tích các nội dung, khái niệm liên quan để xác định rõ đối tượng nghiên cứu, có thể xác

định cụ thể hơn khái niệm “thuật ngữ kĩ thuật điện” như sau: TNKTĐ là những

từ hoặc cụm từ cố định biểu hiện các khái niệm hoặc đối tượng thuộc lĩnh vực kĩ thuật điện

Như vậy cũng có thể xác định hệ TNKTĐ được nghiên cứu trong luận án này là hệ thống các TNKTĐ thuộc hai chuyên ngành chính, cơ bản nhất của

ngành điện: Hệ thống điện và Thiết bị điện

1.3.3 Phân biệt thuật ngữ với danh pháp, từ thông thường và từ nghề nghiệp

1.3.3.1 Phân biệt thuật ngữ với danh pháp

Nhà ngôn ngữ học Xô viết G.O Vinokur là người đầu tiên đề xuất sự phân

biệt này Theo G.O Vinokur, “danh pháp chỉ là một hệ thống các phù hiệu hoàn toàn trừu tượng và ước lệ, mà mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta cái phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tượng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tư duy lí luận hoạt động với những sự vật này.” (dẫn theo [102,34])

Trang 36

A.A Reformatxki cũng tán thành với quan điểm của G O Vinokur, ông

chỉ rõ “hệ thuật ngữ trước hết gắn với một hệ thống khái niệm của một khoa học

cụ thể, còn danh pháp chỉ “dán nhãn” cho đối tượng của nó” và “danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học.” (dẫn theo [102,34]) Danh pháp, như vậy, chỉ là tên riêng (nhãn) của sự vật trong một ngành khoa học hoặc

chuyên môn

Chẳng hạn, trong địa lí học, các từ như biển, sông, núi, sa mạc ,v.v là những thuật ngữ, còn các tên biển, tên sông, tên hồ, v.v cụ thể như: sông Hồng, sông Cửu Long, sông Đà, núi Ba Vì, vịnh Hạ Long, hồ Núi Cốc ,v.v là

danh pháp

Trong thực vật học, các từ cây, hoa, lá, cành ,v.v là những thuật ngữ, còn

tên các cây, các loại hoa, loại quả cụ thể là danh pháp (Dẫn theo [102,34])

Ở Việt Nam, Nguyễn Thiện Giáp cũng đã chú ý đến sự phân biệt này Theo ông, thuật ngữ có thể được cấu tạo dựa trên cơ sở các từ hoặc hình vị có ý nghĩa

sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng Còn danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ (Vitamin A, Vitamin B, v.v ), là một chuỗi các con số (MA65,

Trong lĩnh vực kĩ thuật điện, tên riêng của các nhà khoa học là danh pháp,

song được thuật ngữ hóa sẽ thành các thuật ngữ khoa học, ví dụ: cu lông (đơn vị đo điện tích ), am pe (đơn vị cơ bản đo cường độ dòng điện), ôm (đơn vị điện trở), von (đơn vị đo hiệu thế, ),v.v

1.3.3.2 Phân biệt thuật ngữ với từ thông thường, từ nghề nghiệp

Theo Nguyễn Đức Tồn [102, 84-86], thuật ngữ phân biệt với các đơn vị từ vựng phi thuật ngữ nói chung, trong đó có từ thông thường (hay còn gọi là từ toàn dân) và từ nghề nghiệp ở những điểm sau đây

Về hình thức, "Cái biểu hiện" (hay hình thức cấu tạo) của thuật ngữ là từ hoặc cụm từ cố định Hình thức của thuật ngữ cần phải có tính hệ thống về mặt

Trang 37

cấu tạo Đối với hình thức các từ thông thường và từ nghề nghiệp thì tính hệ thống về mặt cấu tạo này nói chung không phải bắt buộc

Về nội dung, "Cái được biểu hiện" của thuật ngữ là khái niệm khoa học hoặc đối tượng trong một lĩnh vực khoa học, phản ánh những đặc trưng bản chất

và mối liên hệ có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng vốn là ngoại diên của khái niệm ấy Các từ thông thường và từ nghề nghiệp biểu hiện những khái niệm phi khoa học hay phi chuyên môn (tức khái niệm đời sống hoặc có tính nghề nghiệp )

Các khái niệm được thuật ngữ biểu hiện phải có tính quốc tế, nghĩa là các nhà hoạt động trong cùng lĩnh vực khoa học ở các nước, các dân tộc khác nhau

thì đều hiểu giống nhau, ví dụ: cáp điện, máy biến thế, nhiệt điện, thủy điện, điện hạt nhân, v.v

Còn các khái niệm được từ thông thường hay từ nghề nghiệp biểu hiện thì

sẽ được hiểu khác nhau tuỳ theo mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, nên mang tính dân tộc, chẳng hạn, khái niệm “nhà” đối với người Việt chỉ là “công trình xây dựng

có mái để ở” bất kể quy mô lớn nhỏ thế nào Một túp lều dùng làm nơi cư trú

thường ngày của một người cũng có thể được gọi là nhà Trong khi đó từ house

trong tiếng Anh có nghĩa tương ứng thì khác Công trình xây dựng để làm nơi ở

này phải có quy mô lớn đến mức độ nào đó thì mới được gọi là house Nhà trong tiếng Việt có thể dùng để chỉ người vợ hoặc người chồng, từ house thì không thể

dùng được như vậy

Thậm chí có những khái niệm hay đối tượng do các từ thông thường hoặc

từ nghề nghiệp biểu thị chỉ có ở dân tộc này mà không có ở dân tộc khác, ví dụ: các khái niệm, hay đối tượng được biểu thị bằng các từ ngữ thông thường trong

tiếng Việt, như: tóc rễ tre, râu quai nón, chân bàn cuốc, hay tên các giống lúa,

v.v hay được biểu hiện bằng các từ nghề nghiệp sau:

- Xa, ống, suốt, thoi, cữ, go, trục, guồng cửi, hồ sợi, …(nghề dệt);

- Nạo da, văng da, néo, sảm, chạy mực, khẳng, lại rủ,…(nghề làm trống);

v.v

Trang 38

Sự khác biệt giữa từ toàn dân, từ nghề nghiệp và thuật ngữ còn được thể hiện ở việc lựa chọn đặc trưng bản chất hay không bản chất, đặc trưng căn bản hay không căn bản để làm cơ sở định danh Thông thường, do tính chất "ngây thơ" hay dân gian của khái niệm được biểu hiện nên các từ toàn dân thường chọn các đặc trưng bên ngoài, không căn bản để làm cơ sở định danh khái niệm / đối tượng Do vậy các từ toàn dân thường có thể không phản ánh bản chất của sự vật được định danh, hoặc nếu có phản ánh thì cũng phản ánh các đặc trưng thứ yếu, không căn bản, trừ phi có sự ảnh hưởng của khoa học Cho nên người Việt mới

gọi là hạt thóc, củ lạc trong khi theo sinh vật học đây là các quả Còn đối với

thuật ngữ thì do chúng là các từ ngữ của khoa học nên các nhà khoa học thường chọn đặc trưng căn bản nhất của khái niệm hoặc đối tượng trong một lĩnh vực khoa học hay chuyên môn để làm cơ sở định danh Do vậy thuật ngữ thường phản ánh các đặc trưng bản chất nhất, đặc trưng căn bản nhất của khái niệm hoặc đối tượng trong lĩnh vực khoa học hay chuyên môn này Ví dụ: chất khí được

biểu thị bằng thuật ngữ clor vốn được định danh dựa trên màu sắc của nó, clor

có nghĩa là “màu xanh lá cây”; hay thuật ngữ hydrogen chỉ khí hydrô được dựa

trên đặc trưng định danh “tạo ra nước”, v.v (vấn đề này sẽ được trình bày kĩ hơn ở mục 1.3.5.2 tr.40 dưới đây)

Trường hợp thuật ngữ không phản ánh đặc trưng bản chất, đặc trưng căn bản của khái niệm hoặc đối tượng trong lĩnh vực khoa học hay chuyên môn thường xảy ra đối với các thuật ngữ là tên riêng được đặt theo lí do chủ quan của

người đặt thuật ngữ Ví dụ: am pe (đơn vị cơ bản đo cường độ dòng điện), von

(đơn vị đo hiệu thế, điện thế, thế điện động) - vốn là tên riêng của các nhà phát minh)

1.3.4 Những tiêu chuẩn cần thiết của thuật ngữ

Về các tiêu chuẩn của thuật ngữ, cho đến vẫn còn khá nhiều ý kiến tranh luận cả ở trong và ngoài nước Chẳng hạn, các nhà nghiên cứu Liên Xô trước đây nhấn mạnh đến tính chính xác, tính ngắn gọn, tính hệ thống và tính đơn

Trang 39

nghĩa của thuật ngữ, coi đó là những đặc điểm tiêu biểu của thuật ngữ .(Dẫn theo [60,420])

Trong khi đó ở Việt Nam, các ý kiến bàn thảo về tiêu chuẩn của thuật ngữ khá đa dạng Hoàng Xuân Hãn là người đầu tiên đưa ra các tiêu chuẩn của thuật ngữ như sau:

1.Mỗi ý phải có một danh từ để gọi;

2 Danh từ ấy phải dùng riêng về ý ấy;

3 Mỗi ý đừng có nhiều danh từ;

4 Danh từ phải làm cho dễ nhớ đến ý;

5 Danh từ trong các môn phải thành một toàn thể duy nhất và liên lạc;

6 Danh từ phải gọn;

7 Danh từ phải có âm hưởng Việt Nam;

8 Danh từ phải đặt theo lối đặt các tiếng thường và phải có tính chất quốc gia [34,11]

Tại hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ do Uỷ ban khoa học Nhà nước tổ chức năm 1964 ở Hà Nội, nhiều nhà khoa học đã tán thành với ý kiến được nêu trong bản báo cáo chính về các tiêu chuẩn của thuật ngữ như sau:

1) Tính khoa học, cụ thể phải chính xác, có hệ thống, ngắn gọn;

2) Tính dân tộc, nghĩa là có màu sắc ngôn ngữ dân tộc, phù hợp với đặc

điểm tiếng Việt;

3) Tính đại chúng, nghĩa là quần chúng dễ dùng (dễ hiểu, dễ nhớ, dễ nói, dễ viết, dễ đọc), tuy rằng mức độ nhất trí ở điểm này, điểm khác còn có chỗ khác nhau [57]

Lê Khả Kế quan niệm thuật ngữ vừa phải khoa học, nghĩa là chính xác và

có hệ thống, vừa phải có tính dân tộc và đại chúng, phải đặt sao cho ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ.[43,110-114]

Lê Văn Thới đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể của thuật ngữ như sau: “Về nội dung:

1) Danh từ phải chỉ riêng một ý mà thôi;

Trang 40

2) Một ý không nên có nhiều danh từ;

3) Danh từ trong một bộ môn phải nằm trong một hệ thống chung;

4) Danh từ phải gợi đến ý chính Về hình thức:

5) Danh từ phải đặt gọn chừng nào tốt chừng ấy;

Tác giả Như Ý cho rằng: “ Có thể khẳng định những yêu cầu cơ bản của thuật ngữ là:1.Tính định danh; 2.Tính chính xác; 3 Tính hệ thống; 4.Tính bản ngữ”.[117,117]

Theo ý kiến của Lưu Vân Lăng:“Thuật ngữ tiếng Việt phải:

Từ quan điểm phân biệt nhận thức và bản thể trong nghiên cứu ngôn ngữ học, Nguyên Đức Tồn đã chỉ ra rằng trong số 8 phẩm chất hay tiêu chuẩn do các nhà khoa học đưa ra đã được chúng tôi dẫn ra ở trên, có những tiêu chuẩn mang

nội dung trùng lặp nhau hoặc bao hàm lẫn nhau (chẳng hạn tính chính xác đã bao hàm tính đơn nghĩa; tính ngắn gọn và tính chặt chẽ cũng mang nội dung bao

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm