1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN gây đổ NGÃ TRÊN lúa, ẢNH HƯỞNG của CANXI và SILIC lên TÍNH CHỐNG CHỊU đổ NGÃ TRÊN GIỐNG lúa OM2514 vụ hè THU tại PHƯỜNG 8 THÀNH PHỐ sóc TRĂNG

80 276 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu ruộng quá nhiều nước, sạ quá dày, thiếu ánh sáng, bón thừa phân đạm thì lóng lúa có khuynh hướng vươn dài và mếm yếu làm cho cây lúa dể đổ ngã, lúa bị đổ ngã thì sự hút dinh dưỡng và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

TRẦN THANH TÙNG

TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN GÂY ĐỔ NGÃ TRÊN LÚA, ẢNH HƯỞNG CỦA CANXI VÀ SILIC LÊN TÍNH CHỐNG CHỊU ĐỔ NGÃ TRÊN GIỐNG LÚA

OM2514 VỤ HÈ THU TẠI PHƯỜNG 8

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Cần Thơ, 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Ngành: TRỒNG TRỌT

Mã số 310

TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN GÂY ĐỔ NGÃ TRÊN

LÚA, ẢNH HƯỞNG CỦA CANXI VÀ SILIC LÊN

TÍNH CHỐNG CHỊU ĐỔ NGÃ TRÊN GIỐNG LÚA

OM2514 VỤ HÈ THU TẠI PHƯỜNG 8

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

PGs.Ts NGUYỄN MINH CHƠN TRẦN THANH TÙNG

Th.S NGUYỄN TRỌNG CẦN MSSV: 3073114

Lớp: Trồng Trọt

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ Cần Thơ, 2010

Trang 3

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với đề tài:

“TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN GÂY ĐỔ NGÃ TRÊN LÚA, ẢNH HƯỞNG CỦA CANXI VÀ SILIC LÊN TÍNH CHỐNG CHỊU ĐỔ NGÃ TRÊN

GIỐNG LÚA OM2514 VỤ HÈ THU TẠI PHƯỜNG 8

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG”

Do sinh viên Trần Thanh Tùng thực hiện và đề nạp

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét

Cần Thơ, ngày … tháng năm 2010

Cán bộ hướng dẫn

PGs.Ts Nguyễn Minh Chơn

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:

“TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN GÂY ĐỔ NGÃ TRÊN LÚA, ẢNH HƯỞNG CỦA CANXI VÀ SILIC LÊN TÍNH CHỐNG CHỊU ĐỔ NGÃ TRÊN

GIỐNG LÚA OM2514 VỤ HÈ THU TẠI PHƯỜNG 8

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG”

Do sinh viên: Trần Thanh Tùng thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày…

tháng… năm 2010 Luận văn đã được hội đồng chấp thuận và đánh giá ở mức:………

Ý kiến hội đồng: ………

………

………

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2010 Chủ tịch hội đồng

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn (ký tên)

Trần Thanh Tùng

Trang 6

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Sinh viên: Trần Thanh Tùng Sinh năm 1987

Tại xã Long Trị A huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang

Con Ông: Trần Văn Tôn

Trang 7

Chân thành cảm tạ thầy cố vấn học tập Thầy Trần Văn Hâu, cùng toàn thể quý Thầy

Cô khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng vì những kiến thức mà quý Thầy Cô

đã truyền dạy cho em trong suốt thời gian học tập tại trường Đây sẽ là hành trang vững chắc giúp em bước vào đời

Gởi lời cảm ơn đến các anh chị và các bạn sinh viên làm đề tài ở Bộ môn Sinh Sinh Hóa, cùng các Anh Binh, Anh Nam, bạn An, bạn Nhàn, bạn Trung và các bạn Trồng Trọt K33 đã đóng góp, động viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập

Lý-và thực hiện đề tài

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan iii

Lý lịch cá nhân iv

Cảm tạ v

Mục lục vi

Danh sách bảng x

Danh sách hình xi

Tóm lược xii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 NHỮNG TRỞ NGẠI CHÍNH LÀM GIẢM NĂNG SUẤT LÚA TRÊN ĐỒNG RUỘNG 2

1.2 HÌNH THÁI CÂY LÚA LIÊN QUAN ĐẾN HIỆN TƯỢNG ĐỔ NGÃ 3

1.2.1 Rễ lúa 3

1.2.2 Thân lúa 3

1.2.3 Lá lúa 4

1.2.4 Bông lúa 4

1.3 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ SỰ VƯƠN LÓNG CỦA CÂY LÚA 5

1.4 SỰ ĐỔ NGÃ TRÊN LÚA 5

1.4.1 Các dạng đổ ngã trên lúa 5

1.4.2 Vị trí lóng gãy của cây lúa bị đổ ngã 6

1.4.3 Những bất lợi của lúa bị đổ ngã 6

1.4.3.1 Ảnh hưởng đến năng suất 6

1.4.3.2 Ảnh hưởng đến thu hoạch 6

Trang 9

1.4.3.3 Ảnh hưởng đến phẩm chất hạt 7

1.4.4 Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng lúa bị đổ ngã 7

1.4.4.1 Ảnh hưởng của dạng hình lóng thân cây lúa đến đổ ngã 7

1.4.4.2 Ảnh hưởng của chiều dài lóng thân cây lúa đến sự đổ ngã 8

1.4.4.3 Ảnh hưởng của bẹ lá cây lúa đến đổ ngã 9

1.4.4.4 Ảnh hưởng của đạm và kali đến đổ ngã 9

1.4.4.5 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến đổ ngã 10

1.4.4.6 Ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất 10

1.4.5 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến đổ ngã 11

1.4.5.1 Ảnh hưởng của mưa bảo đến đổ ngã 11

1.4.5.2 Ảnh hưởng của mực nước sâu đến đổ ngã 11

1.4.5.3 Ảnh hưởng của bóng rợp 12

1.5 ỨNG DỤNG CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG LÀM GIẢM ĐỔ NGÃ 12

1.6 ỨNG DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CANH TÁC LÀM HẠN CHẾ ĐỔ NGÃ 13

1.6.1 Chọn giống cứng cây 13

1.6.2 Rút nước giữa vụ 13

1.7 VAI TRÒ CỦA KALI 13

1.8 VAI TRÒ CỦA CALCIUM 14

1.9 VAI TRÒ CỦA SILICATE 15

Chương 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 16

2.1 PHƯƠNG TIỆN 16

2.1.1 Thời gian và địa điểm 16

2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 16

2.1.2.1 Thiết bị 16

2.1.2.2 Giống lúa 16

2.1.2.3 Hoá chất 16

2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 16

Trang 10

2.2.1 Điều tra đánh giá sơ bộ về nguyên nhân đổ ngã ở huyện Long Phú

của tỉnh Sóc Trăng vụ Hè Thu 2009 - 2010 16

2.2.2 Thí nghiệm ảnh hưởng của canxi và silic lên tính chống chịu đổ ngã của thân cây lúa 17

2.2.2.1 Các kỹ thuật chăm sóc cơ bản được áp dụng như sau 18

2.2.2.2 Thời điểm phun hóa chất 18

2.2.2.3 Các chỉ tiêu nông học theo dõi 18

2.2.2.4 Các thành phần năng suất và năng suất 19

2.2.2.5 Cấp đổ ngã theo IRRI 1988 20

2.2.2.6 Phân tích thống kê 20

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21

3.1 Điều tra đánh giá sơ bộ nguyên nhân đổ ngã trên lúa ở huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng vụ Hè Thu 2009 - 2010 21

3.1.1 Kỹ thuật canh tác lúa trong khu vực điều tra 21

3.1.1.1 Giống lúa canh tác 21

3.1.1.2 Diện tích trồng và lượng giống gieo sạ của các hộ nông dân 21

3.1.1.3 Tình hình cho nước vào ruộng trong khu vực điều tra 22

3.1.1.4 Tình hình tháo nước ra trong khu vực điều tra 23

3.1.2 Kỹ thuật bón phân trong khu vực điều tra 24

3.1.3 Đặc tính thực vật 25

3.1.3.1 Thời gian sinh trưởng 25

3.1.3.2 Chiều cao cây và chiều cao thân cây lúa trong khu vực điều tra 25

3.1.3.3 Chiều dài từng lóng của các giống lúa trong khu vực điều tra 27

3.1.3.4 Độ cứng lóng thân lúa trong khu vực điều tra 28

3.1.4 Đặc tính đổ ngã của các giống lúa trong khu vực điều tra 29

3.1.4.1 Thời điểm đổ ngã 29

3.1.4.2 Dạng đổ ngã trên lúa trong khu vực điều tra 29

3.1.4.3 Vị trí đổ ngã trên lúa trong khu vực điều tra 30

3.1.4.4 Phần trăm đổ ngã trong khu vực điều tra 30

Trang 11

3.1.5 Năng suất lúa ở huyện Long Phú vụ Hè Thu 31

3.1.6 Tình hình dinh dưỡng khu đất thí nghiệm 31

3.2 Kết quả thí nghiệm: “Ảnh hưởng của canxi và silic lên tính chống chịu đổ ngã trên giống lúa OM2514 vụ Hè Thu tại phường 8 thành phố Sóc Trăng” 32

3.2.1 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate đến sự sinh trưởng của cây lúa 32

3.2.2 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên chiều cao cây lúa lúc xử lý cho đến lúc thu hoạch 33

3.2.3 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên chiều cao thân cây lúa 35

3.2.4 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên chiều dài từng lóng của thân cây lúa 36

3.2.5 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên độ cứng từng lóng của cây lúa 40

3.2.6 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên đường kính lóng thân cây lúa 41

3.2.7 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên chiều dài tế của các lóng thân cây lúa 41

3.2.8 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên cấp đổ ngã 43

3.2.9 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên năng suất 45

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

4.1 KẾT LUẬN 47

4.2 ĐỀ NGHỊ 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 12

DANH SÁCH BẢNG

Bảng Tựa bảng Trang

Bảng 1.1 Tỉ lệ (%) nứt gảy trên mỗi giống (Hoshikawa và Wang, 1990) 6

Bảng 1.2 So sánh chiều dài lóng và chiều dài thân (cm) giữa cây lúa dễ đổ ngã và cây lúa không đổ ngã của giống Sasanishiki (Hoshikawa và Wang, 1990) 8

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 17

Bảng 2.2 Cấp độ đổ ngã (IRRI, 1988) 20

Bảng 3.1 Các giống lúa nông dân sử dụng trong khu vực điều tra 21

Bảng 3.2 Diện tích lúa điều tra của các hộ nông dân trong khu vực điều tra 22

Bảng 3.3 Lượng giống sạ của các hộ nông dân trong khu vực điều tra 22

Bảng 3.4 Tình hình cung cấp nước trong khu vực điều tra 23

Bảng 3.5 Tình hình tháo nước trong khu vực điều tra 23

Bảng 3.6 Lượng phân đạm và phân kali trong khu vực điều tra 24

Bảng 3.7 Thời gian sinh trưởng các giống lúa trong khu vực điều tra 25

Bảng 3.8 Chiều cao cây, cấp đổ ngã và thời điểm đổ ngã trong khu vực điều tra 26

Bảng 3.9 Chiều cao thân cây, cấp đổ ngã và thời điểm đổ ngã trong khu vực điều tra 26

Bảng 3.10 Chiều dài từng lóng và cấp đổ ngã của các giống lúa trong khu vực điều tra 27

Bảng 3.11 Độ cứng từng lóng và cấp đổ ngã của các giống lúa trong khu vực điều tra 28

Bảng 3.12 Thời điểm đổ ngã của các giống lúa trong khu vực điều tra 29

Bảng 3.13 Dạng đổ ngã trên lúa tại khu vực điều tra 29

Bảng 3.14 Vị trí đổ ngã trong khu vực điều tra 30

Bảng 3.15 Tỉ lệ hộ trồng lúa có đổ ngã trong khu vực điều tra 30

Bảng 3.16 Năng suất lúa vụ Hè Thu 31

Bảng 3.17 Kết quả phân tích thành phần các chất trong đất 31

Bảng 3.18 Chiều cao cây (cm) theo thời gian: 45, 55, 65 ngày sau khi sạ 33

Bảng 3.19 Chiều cao cây lúa (cm) ở 75 ngày sau khi sạ 34

Bảng 3.20 Chiều cao cây lúa (cm) ở 85 ngày sau khi sạ và thu hoạch 35

Bảng 3.21 Chiều cao thân (cm) cây lúa khi thu hoạch 35

Bảng 3.22 Chiều dài từng lóng của thân (cm) cây lúa khi thu hoạch 36

Bảng 3.23 Độ cứng lóng thân (mN) cây lúa khi thu hoạch 40

Trang 13

Bảng 3.24 Đường kính lóng thân (mm) cây lúa khi thu hoạch 41

Bảng 3.25 Chiều dài tế bào lóng thân (µm ) cây lúa khi thu hoạch 42

Bảng 3.26 Bảng phân cấp đổ ngã của các nghiệm thức lúc thu hoạch 44

Bảng 3.27 Các thành phần năng suất và năng suất lý thuyết (tấn/ha) lúa thu hoạch 45

Bảng 3.28 Năng suất thực tế (tấn/ha) của các nghiệm thức khi thu hoạch 46

DANH SÁCH HÌNH Hình Tựa hình Trang Hình 1.1: Khái niệm về sự sụt giảm năng suất lúa thực tế từ đồng ruộng nông dân so với năng suất tiềm năng và năng suất thí nghiệm (Gomez, 1977) 2

Hình 1.2: Các dạng nứt gãy của cây lúa ở lóng (Matsuda và ctv, 1983) 5

Hình 1.3 Dạng hình elip với hai trục lớn và trục nhỏ của phẫu diện cắt ngang của thân cây lúa (Hoshikawa và Wang, 1990) 8

Hình 2.1 Dụng cụ và phương pháp đo độ cứng (Nguyễn Minh Chơn, 2007) 19

Hình 3 1 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate đến sự sinh trưởng của cây lúa 32

Hình 3.2 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên chiều dài lóng thứ nhất của thân cây lúa 37

Hình 3.3 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên chiều dài lóng thứ hai của thân cây lúa 38

Hình 3.4 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên chiều dài lóng thứ ba của thân cây lúa 38

Hình 3.5 Ảnh hưởng của calcium chloride, nano silic và natri silicate lên chiều dài lóng thứ tư của thân cây lúa 39

Hình 3.6 Chiều dài tế bào lóng thứ tư của nghiệm thức đối chứng , calcium chloride, natri silicate và nano silic .43

Trang 14

Trần Thanh Tùng 2010 Đề tài: “Tìm hiểu nguyên nhân gây đổ ngã trên lúa, ảnh hưởng của canxi và silic lên tính chống chịu đổ ngã trên giống lúa OM2514 vụ

Hè Thu tại phường 8 thành phố Sóc Trăng” Luận văn tốt nghiệp ngành Trồng

Trọt, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ 50

do lúa được gieo sạ dầy Với mật độ gieo từ 210kg hạt giống/ha trở lên chiếm 62% Việc bón phân không cân đối như bón thừa phân đạm (trên 95kg N/ha chiếm 44% số hộ) và bón

ít kali (dưới 25kg K 2 O/ha chiếm 48% số hộ) có thể làm cho lúa dễ đổ ngã Việc không rút nước giữa mùa cũng làm cho lúa dễ đổ ngã Quan sát về hình thái cho thấy cây lúa thường

đổ ngã ở vị trí lóng thứ tư và lóng thứ năm với dạng lật gốc và gãy gập lạ chiếm 96% Những giống lúa có độ cứng của lóng thân lớn thì đổ ngã xảy ra ít hơn các giống có lóng thân yếu Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố với 7 nghiệm thức và 4 lần lặp lại Các nghiệm thức xử lý calcium chloride ở nồng độ 100ppm, 200ppm;

xử lý natri silicate ở nồng độ 200ppm, 400ppm; xử lý nano silic (Orymax SL ) ở nồng độ 4ml/L, 8 ml/L và đối chứng không xử lý Thời điểm xử lý lần 1 lúc lúa 5 - 10 ngày sau khi tượng đòng và lần 2 lúc lúa 5 - 10 ngày trước khi trổ Kết quả cho thấy phun calcium chloride cả hai nồng độ 100ppm và 200ppm đều có tác dụng gia tăng độ cứng thân cây lúa Calcium chloride 200ppm có độ cứng khác biệt ý nghĩa thống kê so với calcium chloride nồng độ 100ppm và đối chứng Phun natri silicate ở nồng độ 200ppm và 400ppm đều có tác dụng làm hạn chế chiều cao cây và chiều cao thân cây lúa Cả hai nồng độ này đều có tác dụng hạn chế chiều dài lóng thứ tư Nano silic (Orymax SL ) cũng có tác dụng hạn chế chiều cao cây Khi phun nano silic với liều lượng 8ml chế phẩm/lít thì việc gia tăng độ cứng của lóng thứ ba và lóng thứ tư hiệu quả nhất Calcium chloride, natri silicate

và nano silic đều có tác dụng nâng cao năng suất lúa Cần nghiên cứu kết hợp calcium chloride và natri silicate để điều khiển chiều cao và gia tăng độ cứng cho cây lúa nhằm hạn chế thiệt hại do đổ ngã Có thể nghiên cứu áp dụng xử lý các chất trên với những giống lúa khác để đưa vào trong thực tế sản xuất

Từ khóa: Đổ ngã, chiều cao cây, độ cứng, calcium chloride, natri silicate

Trang 15

MỞ ĐẦU

Trong canh tác lúa hiện nay nông dân vẫn gặp nhiều trở ngại từ khâu sản xuất cho đến khâu thu hoạch, trong quá trình sản xuất thì gặp rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa như kỹ thuật canh tác, giống, sâu bệnh tấn công, thời tiết… Bên cạnh

đó, đổ ngã cũng là một trong những yếu tố quan trọng làm giảm năng suất lúa và hiệu quả trồng lúa Trong thực tế cho thấy, nếu chúng ta áp dụng tốt các biện pháp làm tăng năng suất lúa, nhưng lúa bị đổ ngã thì mọi cố gắng đều trở thành vô nghĩa, năng suất lúa có thể bị giảm nghiêm trọng do đổ ngã Sự giảm năng suất ít hay nhiều tùy thuộc ruộng lúa bị đổ ngã vào các thời kỳ sinh trưởng khác nhau của cây lúa và phần trăm đổ ngã Đổ ngã thường gây ra những thất thoát lớn cả về năng suất lẫn chất lượng hạt Khi cây lúa bị đổ ngã, quá trình tạo hạt bị đình trệ do quá trình vận chuyển các chất bị trở ngại (Yoshida, 1981 và Yoshinaga, 2005) Hơn nữa khi lúa bị ngã, chúng chồng chất lên nhau gây ảnh hưởng đến quá trình quang hợp làm hạn chế sự phát triển của hạt nằm bên dưới, nên tỷ lệ hạt bị lép và lửng gia tăng (Kono, 1995), nhất là trong vụ Hè Thu thường có mưa bão nhiều Tỷ lệ thiệt hại do

đổ ngã trong vụ hè thu ở Ô Môn chiếm khoảng 11% và Cai Lậy chiếm khoảng 13,6% (Ngô Thị Lệ Thủy, 1998 trích dẫn bởi Nguyễn Thị Quế Phương, 2006) trong tổng số năng suất lúa bị thất thoát Trong vụ Hè Thu, tỷ lệ đổ ngã có thể lên đến 75% (Nguyễn Minh Chơn và Nguyễn Thị Quế Phương, 2006) Nông dân thường có tập quán bón nhiều đạm nên lúa vươn lóng cao và dễ bị đổ ngã Ngoài ra, bông lúa

bị dìm trong nước thường bị thối hư, bị nấm bệnh tấn công và nảy mầm khi chưa thu hoạch gây thất thoát năng suất và làm giảm giá trị thương phẩm Chổ lúa ngã, người ta không thể thu hoạch bằng cơ giới (Yoshinaga, 2005) và thậm chí cũng khó khăn ngay cả khi thu hoạch bằng tay Hiện nay, đổ ngã ở lúa là một trong những vấn đề đang được quan tâm khi công lao động trong nông thôn ngày một hiếm đi và yêu cầu cơ giới hoá thu hoạch ngày một tăng lên

Có nhiều phương pháp làm hạn chế đổ ngã trên lúa như tạo giống kháng đổ ngã, rút nước giữa mùa, bón phân hợp lý, sử dụng chất điều hòa sinh trưởng, khoáng vi lượng…Trong những trường hợp chưa có giống kháng đổ ngã thích hợp và không chủ động được nước thì biện pháp bón phân hợp lý và sử dụng chất gia tăng độ

cứng sẽ phát huy tác dụng Chính vì thế đề tài với tên: “Tìm hiểu nguyên nhân gây

đổ ngã trên lúa, ảnh hưởng của canxi và silic lên tính chống chịu đổ ngã trên giống lúa OM2514 vụ Hè Thu tại phường 8 thành phố Sóc Trăng” được thực

hiện nhằm mục tiêu so sánh ảnh hưởng của các dạng và nồng độ silic, canxi lên chiều cao và độ cứng của thân để chọn chất có hiệu quả cho việc xử lý làm hạn chế

đổ ngã trên lúa

Trang 16

Chương 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 NHỮNG TRỞ NGẠI CHÍNH LÀM GIẢM NĂNG SUẤT LÚA TRÊN ĐỒNG RUỘNG

Trong điều kiện thí nghiệm có kiểm soát, tất cả các yếu tố bất lợi đều được khống chế, năng suất lúa sẽ phát huy tối đa Khi đưa ra sản xuất, tiềm năng năng suất lúa

có thể đạt được, sẽ thấp hơn năng suất lúa trồng trong điều kiện thí nghiệm nguyên

Trở ngại về mặt kinh tế xã hội

 Chi phí và lợi thuận

 Chuyển giao kỹ thuật

 Môi trường khác nhau

Năng suất

thí nghiệm

Năng suất tiềm năng

Năng suất đồng ruộng

Trang 17

nhân do sự khác biệt về môi trường, ảnh hưởng của thời tiết, khí hầu và chuyển giao

kỹ thuật

Khi ứng dụng rộng rãi vào sản xuất, năng suất thực tế đạt được trên đồng ruộng của nông dân lại thấp hơn tiềm năng năng suất lúa rất nhiều do hạn chế về mặt sinh học, như sự thích nghi của giống với điều kiện đất, nước, dinh dưỡng, cỏ dại Ngoài ra điều kiện kinh tế xã hội của nông dân cũng góp phần quan trọng trong việc làm sụt giảm năng suất so với tiềm năng của nó Trong đó, kiến thức và tập quán của nông dân là hết sức quan trọng, chi phí và lợi nhuận cũng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của nông dân do đó cũng làm giảm năng suất

1.2 HÌNH THÁI CÂY LÚA LIÊN QUAN ĐẾN HIỆN TƯỢNG ĐỔ NGÃ

1.2.1 Rễ lúa

Rễ mầm là rễ đầu tiên khi hạt lúa nảy mầm Thường mỗi hạt lúa chỉ có một rễ mầm, các rễ thứ cấp có thể mọc ra khi rễ mầm bị thiệt hại Rễ mầm còn có nhiệm vụ giúp hạt lúa bám vào đất khi gieo sạ trên đồng Rễ phụ được mọc ra từ các mắt trên thân lúa Mỗi mắt có từ 5 - 25 rễ phụ Rễ phụ mọc dài, có nhiều nhánh và lông hút Tại mỗi mắt có 2 vòng rễ: vòng trên to và khỏe, vòng rễ dưới nhỏ và kém phát triển hơn Trong giai đoạn này các mắt này thường rất khít nhau và nằm dưới mặt đất, nên rễ lúa tạo thành một chùm Tầng rễ phụ đầu tiên mọc ra ở mắt đầu tiên trên trục trung diệp Ơ đất khô rễ mọc thành chùm to, số rễ mọc nhiều và ăn sâu xuống đất có thể đến 1m hay hơn nữa để tăng khả năng hút nước Ở đất ngập nước, bộ rễ ăn sâu đến 40cm bên trong có nhiều khoang trống ăn thong với thân và lá Nhờ có cấu tạo đặc biệt này mà rễ lúa có thể sống trong điều kiện thiếu oxy do ngập nước Ở giai đoạn trổ bông, rễ lúa chiếm 10% trọng lượng khô của toàn thân Rễ có nhiệm vụ hút nước và dinh dưỡng nuôi cây, giúp cây bám vào đất cho nên bộ rễ khỏe mạnh thì cây lúa mới phát triển tốt và hạn chế được đổ ngã

1.2.2 Thân lúa

Thân lúa gồm những mắt và lóng nối tiếp nhau Lóng là phần thân rỗng ở giữa hai mắt và thường được bẹ lá ôm chặt Thông thường các lóng bên dưới ít phát triển nên các mắt khít lại với nhau, chỉ có khoảng 3 - 8 lóng trên cùng vươn dài khi có đòng đòng Thiết diện của lóng có hình tròn hay hình bầu dục với thành lóng dày hay mỏng và lóng dài hay lóng ngắn tùy theo giống và điều kiện môi trường đặc biệt là nước Cây lúa nào có lóng ngắn, thành lóng dày, bẹ lá ôm sát thân thì thân cây lúa cứng chắt, khó đổ ngã Nếu ruộng quá nhiều nước, sạ quá dày, thiếu ánh sáng, bón thừa phân đạm thì lóng lúa có khuynh hướng vươn dài và mếm yếu làm cho cây lúa dể đổ ngã, lúa bị đổ ngã thì sự hút dinh dưỡng và quang hợp bị trở ngại,

sự vận chuyển các chất xơ bị cản trở, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ đưa đến

Trang 18

hạt lúa trên bông lép nhiều dẫn đến năng suất giảm, nếu sự đổ ngã càng sớm thì lúa

bị thiệt hại càng nhiều và năng suất càng giảm

1.2.3 Lá lúa

Phiến lá lúa là phần lá phơi ra ngoài ánh sáng, bộ phận quang hợp chủ yếu của cây lúa nhờ vào các tế bào nhu mô có chứa nhiều hạt diệp lục tố Lá lúa có thể quang hợp cả hai mặt lá, phiến lá lúa gồm một gân chính ở giữa và nhiều gân song song chạy từ cổ lá đến chót lá Càng chứa nhiều hạt diệp lục tố thì khả năng quang hợp càng cao, do đó lá lúa càng xanh Phân đạm tỷ lệ với độ lớn và dài của lá, nếu dư đạm thì biểu hiện lá lúa to mềm, dài, cong rủ và mỏng sẽ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp và dễ đổ ngã Điều này được giải thích do phần phiến lá càng lớn thì khả năng tiếp xúc với ánh sáng càng nhiều và lá thẳng đứng nhận cường độ ánh sáng trên một đơn vị diện tích thấp hơn nhưng cho ánh sáng mặt trời xuyên qua sâu xuống bên dưới lá Do đó tán lá đứng có chỉ số diện tích lá (LAI) lại tối hảo hơn và

ít bị đổ ngã hơn

Bẹ lá là phần ôm lấy thân lúa Bẹ lá góp phần rất ít cho sự quang hợp nhưng nó cho thấy chức năng quan trọng khác Cây lúa bắt đầu vươn lóng khi tượng khối sơ khởi, thân vẫn còn nhỏ, dài khoảng 1cm và bẹ lá làm nhiệm vụ chống đở cho toàn cây Cho đến khi lóng bắt đầu vươn dài, bẹ lá chống đở giúp cây phát triển bình thường Ngay sau khi sự phát triển của lóng hoàn thành thì bẹ lá vẫn góp phần vào độ cứng của thân khoảng 30 - 60% (Chang, 1964) Như vậy bẹ lá có chức năng chống đỡ cơ học cho toàn thân cây lúa Giống lúa nào có bẹ càng ôm sát thân cây lúa thì càng đứng vững càng khó đổ ngã hơn

Cổ lá là phần tiếp nối giữa cuốn lá và bẹ lá Cổ lá to hay nhỏ ảnh hưởng tới gốc độ của phiến lá Cổ lá càng nhỏ thì gốc độ của phiến lá càng hẹp, lá lúa càng cong rủ không thuận lợi cho ánh sáng mặt trời xuyên sâu xuống bên dưới để quang hợp và gốc độ của phiến lá càng lớn, nếu điều kiện thời tiết không thuận lợi thì khả năng làm cho khả năng đổ ngã càng cao

1.2.4 Bông lúa

Bông lúa là loại phát hoa chùm gồm trục mang nhiều nhánh gié bậc nhất, bậc hai, đôi khi có nhánh gié bậc ba Bông lúa có nhiều dạng: bông túm hoạc bông xòe, đóng thưa hạt hay đóng dày hạt, cổ hở hay cổ kín tùy thuộc vào đặc tính của giống

và điều kiện môi trường Sau khi trổ gié, trọng lượng bông tăng do hạt sinh trưởng

vì thế moment cong tăng Nếu những điều kiện khác tương tự, giống cao cây có moment cong lớn hơn giống thấp cây vì nó có chiều cao thân cao hơn (Yoshida, 1981)

Trang 19

1.3 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ SỰ VƯƠN LÓNG CỦA CÂY LÚA

Theo Yoshida (1981), sự phát triển của cây lúa chia làm ba giai đoạn chính: giai đoạn sinh dưỡng, giai đoạn sinh sản và giai đoạn chín Đối với cây lúa có thời gian sinh trưởng 120 ngày thì 60 ngày đầu là giai đoạn sinh dưỡng bao gồm sự mọc lá đâm chồi và gia tăng chiều cao cây Sự nảy chồi bắt đầu khi cây được 5-6 lá, khoảng 20 ngày sau khi mọc mầm, 30 ngày kế tiếp là giai đoạn sinh sản bao gồm sự vươn lóng, gia tăng chiều cao và sự tàn lụi của những chồi vô hiệu và 30 ngày cuối

là giai đoạn chín với sự tăng dần của trọng lượng hạt

Sự vươn lóng của cây có liên quan mật thiết với thời gian sinh trưởng Ở những giống chín sớm và chín vừa, sự vươn lóng thường bắt đầu khoảng tượng khối sơ khởi của bông và tiếp tục đến trổ gié Năm lóng ngọn kéo dài lúc trổ gié, khi đó chiều cao cây sẽ tăng lên rõ rệt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009) Ở những giống chín muộn, sự vươn lóng bắt đầu trước sự bắt đầu tượng khối sơ khởi của bông

Điều kiện bất thường, như sạ cấy dầy và nước sâu làm vươn lóng ngay ở giai đoạn sinh trưởng sớm Để hạt sâu 2cm trong đất không làm vươn lóng nhưng nếu đặt sâu hơn 3cm có thể làm lóng thứ nhất và thứ hai gần mặt đất vươn dài, cây lúa dễ ngã

1.4 SỰ ĐỔ NGÃ TRÊN LÚA

1.4.1 Các dạng đổ ngã trên lúa

Theo Nguyễn Minh Chơn (2003), đổ ngã được phân thành hai nhóm: Đổ ngã ở rễ hoặc trên bề mặt đất và đổ ngã do nứt gãy rạ Trong dạng nứt gãy rạ có 3 dạng như sau:

- Dạng thân gãy gấp khúc: ngay vị trí gãy của cây lúa thân bị gập lại

- Dạng gãy tét thân: cây lúa bị gãy và tét theo chiều dọc của lóng thân

- Dạng gãy tách rời: lóng thân chỗ vị trí gãy của cây lúa một bên bị đứt rời

A) Dạng thân gãy gấp khúc, B) Dạng gãy tét thân, C) Dạng gãy tách rời

Hình 1.2: Các dạng nứt gãy của cây lúa ở lóng (Matsuda và ctv, 1983)

Trang 20

1.4.2 Vị trí lóng gãy của cây lúa bị đổ ngã

Theo Nguyễn Minh Chơn (2003), thì Hoshikawa và Wang (1990) cho rằng: lóng thân phía dưới thường bị nứt gãy, điều này cũng tùy thuộc vào tình trạng canh tác

Sự nứt gãy lóng thân xảy ra chủ yếu ở lóng thứ tư của giống Sasanishiki (80,38%) Đối với giống Koshihikari thì sự nứt gãy lóng thân xãy ra ở lóng thân thứ tư (46,43%) và lóng thân thứ năm (53,57%) Không thấy trường hợp nứt gãy lóng thân dẫn đến đổ ngã ở lóng thứ nhất và thứ hai

Bảng 1.1 Tỷ lệ (%) nứt gảy trên mỗi giống (Hoshikawa và Wang, 1990)

1.4.3 Những bất lợi của lúa bị đổ ngã

1.4.3.1 Ảnh hưởng đến năng suất

Theo Yoshida (1981) lúa bị đổ ngã thì sự hút dưỡng chất và quang hợp không bình thường, sự vận chuyển cacbohydrate về hạt bị trở ngại, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ đưa đến hạt lép nhiều, năng suất giảm Thiệt hại do đổ ngã phụ thuộc vào mức độ đổ ngã và thời điểm xảy ra đổ ngã Sự đổ ngã làm giảm mạnh năng suất hạt, đặc biệt xảy ra ngay sau khi trổ gié và khi bông chạm mặt nước, lượng lớn tinh bột tích lũy trong thân và bẹ lá Sự đổ ngã càng sớm, năng suất lúa càng giảm nhiều (Yoshida, 1981) Sự đổ ngã làm giảm diện tích cắt ngang bó mạch, làm rối loạn sự vận chuyển chất đồng hoá và dưỡng chất hấp thu qua rễ Hiện tượng này cũng làm rối loạn sự sắp xếp lá và tăng bóng rợp làm giảm hiệu suất quang hợp (Yoshida,

1981 và Yoshinaga, 2005)

1.4.3.2 Ảnh hưởng đến thu hoạch

Khi ruộng lúa xảy ra hiện tượng đổ ngã thì việc thu hoạch gặp nhiều khó khăn Chỗ lúa ngã, không những gây khó khăn trong việc quản lý sâu bệnh hại mà còn không thể thu hoạch bằng cơ giới (Yoshinaga, 2005) và thậm chí cũng khó khăn ngay cả khi thu hoạch bằng tay Điều này làm cho chi phí thu hoạch tăng lên do chi phí thu hoạch cao nhất là trong thời điểm khan hiếm lao động Khi lúa ngã, nhất là tỷ lệ cao thì việc chạy đua với thời gian là điều rất cần thiết để giảm thất thoát và kịp thời vụ Nhiều loại máy gặt đập liên hợp chế tạo trong nước cũng như nhập ngoại đã đưa vào sử dụng trên đồng ruộng tuy nhiên chưa có máy nào ổn định nhất là các ruộng lúa có ẩm độ đất cao thì không di chuyển được và thường các ruộng có ẩm độ đất cao thì tỷ lệ đổ ngã cao Bên cạnh đó lúa ngã thì chiều cao đồng ruộng rất thấp nên các máy gặt đập gặp rất nhiều khó khăn trong khâu cắt lúa Làm cho chi phí thu hoạch cao và tăng khả năng thất thoát sau thu hoạch

Trang 21

1.4.3.3 Ảnh hưởng đến phẩm chất hạt

Khi lúa bị đổ ngã theo Yoshida (1981) và Hoshikawa (1990) thì sự hút dưỡng chất không bình thường, sự vận chuyển carbohydrate về hạt bị trở ngại, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ đưa đến hạt lép nhiều, năng suất giảm Đổ ngã làm cho hạt lúa trong quá trình thu hoạch có ẩm độ cao, nếu phơi lúa trong lúc mùa mưa nhất là

vụ Hè Thu thì môi trường nhiệt độ và ẩm độ thay đổi trong suốt quá trình này thì hạt khi dễ hình thành vết rạn nứt, gia tăng hạt gãy trong quá trình xay xát (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009) Do tập quán thu hoạch sớm nên trong lúc lúa đổ ngã, số hạt non đã

có ảnh hưởng chính đến năng suất xay xát và phẩm chất hạt gạo Bên cạnh đó trong quá trình thay đổi sinh hóa trong hạt, sự phát triển mùi và biến dạng cũng làm ảnh hưởng đến phẩm chất hạt khi lúa bị đổ ngã Ngoài ra nếu hạt lúa bị dìm lâu trong nước trước khi phơi khô làm cho hạt lúa ngã màu vàng nguyên nhân là do vi sinh vật phát triển kết hợp với hóa học làm cho hạt nóng lên và những hạt lên men như vậy thường chứa các tế bào bị hồ hóa từng phần nên ngã vàng Nó không ảnh hưởng đến năng suất xay xát nhưng nó dễ gãy vụn, giảm cấp phẩm chất hạt vì màu sắc và hình dạng kém hấp dẫn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009) Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) nếu quá trình phân hóa đồng bị trở ngại thì bông sẽ ít hạt, hạt nhỏ, nhiều hoa bị thoái hóa Lúc lúa trổ bông, phơi màu, thụ phấn xảy ra trong điều kiện không thuận lợi thì sẽ có nhiều hạt lép Trong thời kỳ ngậm sữa, nếu thời tiếp xấu lúa bị đổ ngã thì sự hút dinh dưỡng và quang hợp không bình thường, sự vận chuyển của các chất

bị trở ngại, hô hấp mạnh làm tiêu hao năng lượng dẫn đến hạt bị lép nhiều, năng suất giảm Sự đổ ngã của lúa càng sớm thì cây lúa sẽ sản sinh ra nhiều hạt lửng, năng suất của lúa bị giảm nhiều Rạ khô mềm yếu dễ bị ngã rạp, các nhánh gié bị gãy thành từng đoạn, hạt rơi rớt nhiều làm giảm năng suất và phẩm chất hạt, làm gia

tăng tỷ lệ hạt bị gãy nhiều khi xay xát

1.4.4 Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng lúa bị đổ ngã

1.4.4.1 Ảnh hưởng của dạng hình lóng thân cây lúa đến đổ ngã

Quan sát phẩu thức cắt ngang của lóng thân lúa cho thấy lóng thân có dạng hình elip chứ không thật sự là hình tròn (Hoshikawa và Wang, 1990) Tính dẹt của lóng phía dưới thì cao hơn lóng phía trên Số liệu quan sát của Hoshikawa và Wang (1990) từ hai giống lúa dễ đổ ngã của Nhật là Sasanishiki và Koshihikari cho thấy rằng lóng thứ nhất của hai giống lúa này có dạng hơi tròn và càng về các lóng phía dưới thì thân lúa càng dẹt với sự chênh lệch đường kính trục lớn và trục nhỏ của lóng thân gia tăng

Trang 22

1.4.4.2 Ảnh hưởng của chiều dài lóng thân cây lúa đến sự đổ ngã

Chiều dài của những lóng bên dưới và chiều dài cả thân lúa là những đặc tính quan trọng liên quan đến tính đổ ngã Lúa dễ đổ ngã thường có chiều dài lóng thân bên dưới và chiều dài cả thân dài hơn so với những cây không đổ ngã Như vậy, lóng phía dưới càng dài có thể là nguyên nhân quan trọng dẫn đến đổ ngã (Nguyễn Minh Chơn, 2003)

Bảng 1.2 So sánh chiều dài lóng và chiều dài thân (cm) giữa cây lúa dễ đổ ngã và cây lúa không đổ ngã của giống Sasanishiki (Hoshikawa và Wang, 1990)

*, **: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% và 1%

ns: Khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Về mặt vật lý, sự đổ ngã được khảo sát theo moment cong và độ cứng của thân và

bẹ lá Moment cong là kết quả của trọng lượng thân và chiều cao trục chính (chiều cao thân) Sau khi trổ gié, trọng lượng bông tăng do hạt sinh trưởng vì thế moment cong tăng Nếu những điều kiện khác nhau tương tự, giống cao cây có moment cong lớn hơn giống thấp cây vì nó có chiều cao thân cao hơn (Yoshida, 1981) Tuy nhiên, theo Kono (1995), moment cong là lực làm cho cây lúa bị gãy, khi lực bẻ gãy tác dụng lên thân cây lúa sinh ra lực căng bề mặt và lực nén bên trong Lực căng có xu hướng hướng ra bên ngoài và giảm về phía bên trong Lực nén hướng về phía bên trong và tăng dần Khi lực bẻ gãy tác động mạnh hơn, cây lúa bị gãy và không trở lại trạng thái ban đầu do lực nén bên trong lớn hơn sức căng bên ngoài

Các đặc tính nông học được khảo sát trong các thí nghiệm gồm chiều cao cây, chiều cao thân, chiều cao ruộng trồng Chiều cao cây là khoảng cách từ gốc đến điểm cao nhất của ngọn lá hoặc bông Chiều cao thân là chiều dài giữa gốc và mắt có bông

Trang 23

Khi khảo sát kháng đổ ngã, chiều cao thân là số đo có ý nghĩa hơn chiều cao cây Chiều cao ruộng trồng có thể xác định là chiều dài giữa mặt đất và điểm cao nhất của tán lá ruộng trồng (Yoshida, 1981)

Lúa dễ đổ ngã thường có chiều dài lóng thân bên dưới và chiều dài cả thân dài hơn

so với những cây không đổ ngã Như vậy, lóng phía dưới càng dài có thể là nguyên nhân quan trọng dẫn đến đổ ngã (Nguyễn Minh Chơn, 2003)

Đổ ngã thường do sự cong hay oằn xuống của hai lóng thấp nhất dài hơn 4cm Độ cứng của lóng dài bị ảnh hưởng bởi độ cứng cơ học, thành phần hóa học, tình trạng dinh dưỡng của cây Độ cứng cơ học liên hệ với độ dày của thân và độ cứng của

mô Độ cứng của thân bị ảnh hưởng nhiều bởi:

- Chiều dài của lóng dưới

- Độ cứng hoặc độ chặt của lóng dài

- Độ cứng và độ chặt của bẹ lá

Tuy nhiên giống thấp cây và những đặc tính khác như độ dài thân, độ cứng mô, vận tốc hoá già của các lóng dưới không phải luôn luôn kháng đổ ngã (Yoshida, 1981)

1.4.4.3 Ảnh hưởng của bẹ lá cây lúa đến đổ ngã

Theo Yoshida (1981), bẹ lá góp phần rất ít cho sự quang hợp nhưng nó cho thấy chức năng quan trọng khác Cây lúa bắt đầu vươn lóng khi tượng khối sơ khởi, thân vẫn còn nhỏ, dài khoảng 1cm, bẹ lá làm nhiệm vụ chống đỡ cho toàn cây Cho tới khi lóng bắt đầu vươn dài, bẹ lá chống đỡ giúp cây phát triển bình thường Ngay sau khi sự phát triển của lóng đã hoàn thành thì bẹ lá vẫn góp phần vào độ cứng của thân khoảng 30 - 60% Như vậy, bẹ lá có chức năng chống đỡ cơ học cho toàn cây lúa

1.4.4.4 Ảnh hưởng của đạm và kali đến đổ ngã

Trong canh tác lúa, một trong những biện pháp kỹ thuật được áp dụng nhằm tăng năng suất lúa là bón nhiều phân đạm Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2003), Yoshida (1981) và Matsushima (1976), đạm là chất tạo hình của cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng số chồi

và kích thước lá và thân, đồng thời chiều cao thân cũng gia tăng theo sự cung cấp đạm Do vậy, nếu thừa đạm, cây lúa phát triển thân lá quá mức, mô non mềm và dễ dẫn đến đổ ngã

Ngoài đạm, kali cũng là nguyên tố đa lượng rất cần cho sự phát triển của cây, kali giúp cho quá trình vận chuyển và tổng hợp các chất trong cây, duy trì sức trương tế bào giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống sâu bệnh, chống đổ ngã, tăng số hạt chắc trên bông và làm hạt no đầy hơn Độ cứng cơ học tăng lên bởi sự bón kali, kali

Trang 24

tăng độ dày thân và duy trì áp suất trương cao trong tế bào Tại Ý, nhiều nghiên cứu cho thấy có quan hệ chặt chẽ giữa hàm lượng kali trong rơm với độ cứng của thân

Sự thiếu hụt kali trên lúa sẽ làm giảm sự thành lập tinh bột và chất thành lập vách tế bào, yếu tố này ảnh hưởng đến độ cứng của thân Tinh bột được xem là góp phần vào độ chặc của thân Kono, 1995 Tuy nhiên khảo sát gần đây cho biết không có sự tương quan giữa hàm lượng tinh bột và độ cứng (Yoshida, 1981)

Những nghiên cứu khác cho thấy bón thêm kali cũng làm gia tăng khả năng chống chịu lại một số bệnh như bệnh đốm lá, bệnh thối thân, bệnh do vi khuẩn Cây thiếu kali có số chồi và chiều cao cây bình thường, lá vẫn xanh nhưng mềm rũ, yếu ớt, dễ ngã Năm 1999 - 2000, người ta thử nghiệm bón thêm kali trên đất nghèo kali trên lúa có tác dụng làm tăng năng suất và giảm đổ ngã

1.4.4.5 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến đổ ngã

Lúa dễ ngã hay không còn phụ thuộc vào mật độ sạ (Yoshinaga, 2005) Nếu sạ quá thưa, cây lúa nở bụi nhưng không giáp tán nổi hay sạ quá dày đều làm cho cây lúa vươn cao để cạnh tranh ánh sáng thì dễ bị gãy ngã (Võ Tòng Xuân và Hà Triều Hiệp, 1998)

1.4.4.6 Ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất

Kỹ thuật làm đất là một khâu rất quan trọng trong canh tác lúa nó góp phần hạn chế

cỏ dại, giúp lúa phát triển tốt và có thể giảm đổ ngã Khi làm đất kỹ, cày sâu thì rễ lúa ăn sâu hơn và đất tươi xốp thì rễ phát triển mạnh và nhiều, điều này có ý nghĩa nhiều trong việc hạn chế đổ ngã Thêm vào đó, tập quán sạ chay làm cho đất trên ruộng bị cứng và tạo lớp ván nên rễ lúa không ăn sâu, hiệu quả lấy dinh dưỡng kém, cây kém phát triển và rễ lúa ít không có lợi cho việc gia tăng độ cứng Nếu làm đất tốt thì tỷ lệ sống cây lúa cao khi gieo sạ, không tốn công dặm lại, những cây lúa dặm lại thường rễ nó không ăn xuống mà có xu hướng lan rộng xung quanh do tập quán dặm lúa và những chỗ dặm lại là những chỗ đất trũng Những cây lúa dặm thường được bón thêm phân đạm để phát triển tốt bằng các cây lúa khác nên nó có

xu hướng tốt hơn, lúa mềm hơn, cao hơn và dễ xảy ra hiện tượng đổ ngã hơn các cây lúa khác Trong ruộng lúa, tầng đất mặt nhiều nước, chất dinh dưỡng và oxy nên thời kỳ đầu (thời kỳ mạ đến phân hoá đòng) rễ lúa thường phân bố ở tầng trên Sau đó, cùng với quá trình sinh trưởng, hệ rễ ăn sâu hơn vì nước tưới đưa chất dinh dưỡng và khí oxy xuống sâu hơn (do tác dụng thẩm thấu) làm cho lớp đất cũng dần dần tốt lên, rễ lại phát triển sâu xuống tầng đất dưới Sự phân bố của rễ lúa, ngoài ảnh hưởng của tính di truyền còn phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ đất, độ sâu tầng canh tác, chiều sâu lớp đất cày, sự chuyển động của nước xuống dưới sâu, lượng oxy trong đất, độ sâu bón phân và tình hình tưới tiêu nước (Nguyễn Văn Luật, 2003) Trong thời kỳ làm đồng đến trổ bông, lúa đã phát triển đến mức cao nhất, nhu cầu

Trang 25

nước của cây lúa rất cao Thiếu nước dù chỉ là trong một thời gian ngắn cũng đã làm giảm năng suất rõ rệt Không có lớp nước hoặc lớp nước sâu (20 - 25 cm) thì trọng lượng khô thân lá, hạt đều giảm so với lớp nước nông 3 - 5 cm Lớp nước nông đảm bảo đủ lượng nước cần thiết cho lúa và nhiệt độ được điều hoà, kích thích rễ lúa ăn sâu và đâm ngang, hút được nhiều chất dinh dưỡng hơn và tăng khả năng kháng đổ ngã Kỹ thuật canh tác lúa hình chữ V được áp dụng khi cây lúa cuối giai đoạn đẻ nhánh hạn chế sự hấp thu đạm, kích thích bộ rễ mọc sâu hơn ngăn ngừa đổ ngã (Matshushima, 1976) Do đó kỹ thuật làm đất cũng rất quan trọng trong việc giảm

đổ ngã trên lúa

1.4.5 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến đổ ngã

1.4.5.1 Ảnh hưởng của mưa bảo đến đổ ngã

Đổ ngã là kết quả của sự tương tác qua lại và cân bằng của các yếu tố độ cứng của thân và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên như mưa, gió Vì vậy vào những ngày mưa bão kéo dài, cây lúa thiếu ánh sáng nhất là vào thời kỳ lúa trổ, ngoài việc gây trở ngại cho sự thụ tinh, thụ phấn còn làm cho cây lúa có khuynh hướng vươn lóng, cây cao và yếu Hơn nữa, mưa bão thường xuyên tác động lên cây lúa vốn đã yếu nên dễ đưa đến hiện tượng đổ ngã (Setter, 1994 và Nguyễn Ngọc Đệ, 2009) Theo Yoshida, 1981 thì năng suất vụ mùa khô thường cao hơn mùa mưa vì nó nhận nhiều ánh sáng mặt trời hơn Hơn nữa trong mùa mưa ánh sang mặt trời yếu gắn liền với lượng mưa thái quá lúc chín làm cho lúa dễ ngã và năng suất thấp Trong điều kiện mưa bảo kéo dài đất thoát nước kém thì dễ dẫn tới hiện tượng thiếu kali do các độc chất sinh ra ngăn chặn sự hấp thu kali và nếu thiếu kali cây lúa dễ đổ ngã (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)

1.4.5.2 Ảnh hưởng của mực nước sâu đến đổ ngã

Trong mùa lũ khi không chủ động được nước, hoặc rút nước không được, mực nước trên ruộng rất cao thì theo đặc tính của cây lúa nước thường vươn lóng theo nước (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009), kết quả là cây lúa quá cao, lóng lúa quá dài nên khi rút nước xuống lúc thu hoạch hoặc khi thoát nước được thì cây lúa rất dễ xảy ra hiện tượng đổ ngã Mực nước trên ruộng càng cao thì khả năng vươn lóng càng dài và tỷ

lệ càng ngã càng tăng, năng suất lúa giảm theo sự tăng độ sâu của nước (Yoshida,1981) Trường hợp vào mùa lũ, nhất là ở Đồng Bằng Sông Cửu Long khi các ruộng không chủ động được nước, nước ra vào trên ruộng theo thủy triều thì cây lúa cũng có xu hướng vươn theo nước càng dễ xảy ra hiện tượng đổ ngã Thêm vào

đó vào mùa này đất trên ruộng rất ẩm không bao giờ khô theo Yoshida (1981) trích

từ Trần Minh Thành thì khi cây lúa ngập ở điều kiện kỵ khí thì rễ lúa ít khi vượt qua

độ sâu 40cm nên rễ lúa ăn không sâu vào lòng đất mà chỉ mọc xung quanh nên cây lúa rất dễ xảy ra hiện tượng đổ ngã Trong thời kỳ làm đồng đến trổ bông, lúa đã

Trang 26

phát triển đến mức cao nhất, nhu cầu nước của cây lúa rất cao Thiếu nước dù chỉ là trong một thời gian ngắn cũng đã làm giảm năng suất rõ rệt Không có lớp nước hoặc lớp nước sâu (20 - 25cm) thì trọng lượng khô thân lá, hạt đều giảm so với lớp nước nông 3 - 5cm Lớp nước nông đảm bảo đủ lượng nước cần thiết cho lúa và nhiệt độ được điều hoà, kích thích rễ lúa ăn sâu và đâm ngang, hút được nhiều chất dinh dưỡng hơn và tăng khả năng kháng đổ ngã (Yoshida,1981 trích từ Trần Minh Thành) Kỹ thuật canh tác lúa hình chữ V được áp dụng khi cây lúa cuối giai đoạn

đẻ nhánh hạn chế sự hấp thu đạm, kích thích bộ rễ mọc sâu hơn ngăn ngừa đổ ngã (Matshushima, 1976)

1.4.5.3 Ảnh hưởng của bóng rợp

Trên những cánh đồng ở gần các vườn cây chịu tác động của bóng mát dưới các cây thì cây lúa có xu hướng vươn cao để cạnh tranh ánh sáng Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) thì cây lúa thiếu ánh sáng nhất là vào thời kỳ lúa trổ, ngoài việc gây trở ngại cho sự thụ tinh, thụ phấn còn làm cho cây lúa có khuynh hướng vươn lóng, cây cao

và yếu nên cây lúa trong khu vực này rất dễ xảy ra hiện tượng đổ ngã hoặc các khu vực chịu tác động của bóng mát tỷ lệ ngã cao Trường hợp các đê trên các cánh đồng có trồng cây lớn thì bóng mát rất nhiều, vào giai đoạn đồng trổ của lúa thì đa

số các lúa trong khu vực này lúa vươn lóng dài và ngã sớm, khi ngã nó sẽ kéo theo các khu vực kế cận ngã vì nó có góc nghiêng về khu vực kế cận Nó là điểm đầu tiên kéo các khu vực xung quanh ngã theo

1.5 ỨNG DỤNG CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG LÀM GIẢM ĐỔ NGÃ

Gibberellin là một trong những chất điều hoà sinh trưởng thực vật quan trọng, có nhiều chức năng trong điều hòa sinh trưởng và phát triển của thực vật (Vũ Văn Vụ, 2000) Ảnh hưởng lớn nhất của gibberellin cụ thể là GA1 có chức năng trong việc dãn dài tế bào giúp chồi vươn dài, kích thích mạnh mẽ sự sinh trưởng kéo dài của thân, sự vươn dài của lóng cây họ lúa (Maeda, 1995; Murakami, 1972 và Kurogochi

và ctv., 1979) và cây đậu (Ingram và ctv., 1984), ảnh hưởng lên sự phát triển chiều

dài của chồi trong giai đoạn sinh dưỡng của cây Salix pentandra (Davies và ctv.,

1985), sự phát triển kéo dài của cây bắp (Phinney, 1984) Theo Matsuo (1993), hàm lượng gibberellin nội sinh thay đổi tùy theo từng giai đoạn của cây Hàm lượng gibberellin hoạt động gia tăng nhanh ở giai đoạn sau khi cấy, khi cây bắt đầu ra rễ mới và duy trì với mức cao ở giai đoạn đâm chồi tối đa Sau đó hàm lượng gibberellin giảm dần đến giai đoạn trổ hoa Một tuần sau khi trổ hoa hàm lượng gibberellin hoạt động lại gia tăng nhanh chóng và đạt đỉnh cao nhất, sau đó giảm nhanh và đạt mức thấp nhất Lê Văn Hoà (1999) và Vũ Văn Vụ (1999) đã tổng hợp các thông tin cho thấy rằng những dòng đột biến thiếu gibberellin làm cây lùn lại

như cây bắp lùn (Z mays L.) và lúa lùn (Oryza sativa L.) Vì vậy, nếu được xử lý

Trang 27

với những chất ức chế sự sinh tổng hợp gibberellin làm cho hàm lượng gibberellin nội sinh bị giảm để hạn chế sự sinh trưởng quá mức của lá và chiều cao cây ở cuối giai đoạn đâm chồi sẽ tạo được dáng cây chắc chắn, giảm đổ ngã

Việc xử lý chất ức chế sinh trưởng gibberellin, theo Nguyễn Minh Chơn (2003) và Davies (1995), hiện nay có thể kể đến những chất ức chế sinh tổng hợp gibberellin như những hợp chất thuộc nhóm Onium (chlormequate chloride, mepiquate chloride, AMO-1618, phosphon D và piperidium bromide), nhóm triazoles (paclobutrazol, uniconazole, triapenthenol), nhóm Acylcyclohexanediones (trinexapac-ethyl và prohexadione calcium), chúng có tác dụng làm giảm đổ ngã trên cây ngũ cốc, làm giảm sự phát triển quá mức ở giai đoạn dinh dưỡng (Williams

và ctv., 1999)

1.6 ỨNG DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CANH TÁC LÀM HẠN CHẾ ĐỔ NGÃ 1.6.1 Chọn giống cứng cây

Những giống kháng đổ ngã có đặc điểm như thân thấp, cứng và lá đứng Giống lúa cải tiến thường có thân thấp nên kháng đổ ngã tốt hơn, đây là đặc điểm để có thể cho năng suất cao Chandler (1969) khi so sánh năng suất của giống lúa Peta, một giống cao cây dễ ngã với giống lúa IR8, ở giống lúa Peta cải tiến cho thấy sự chống chịu cơ học làm tăng năng suất hạt khoảng 60% trong mùa mưa và 88% ở mùa khô Khi so sánh năng suất của giống lúa truyền thống cao cây với giống lúa cao sản thấp cây canh tác ở Brazil, cho thấy năng suất của giống lúa cao sản cao hơn giống lúa truyền thống, do giống lúa cao sản có chiều cao cây trung bình thấp hơn giống lúa truyền thống Ngoài ra những giống ít ngã lá đứng giúp ánh sáng phân bổ sâu hơn

và làm gia tăng hiệu suất quang hợp góp phần gia tăng năng suất

1.6.2 Rút nước giữa vụ

Theo Yoshida (1981) thì sự thoát nước và rút nước giữa vụ là biện pháp tiên tiến được áp dụng cho lúa, cho thấy nước thoát cho đến khi mặt đất phơi ra không khí, sau đó lại dẫn nước vào Vận tốc thoát nước và sự thay đổi các lần rút nước theo đặc tính của đất và điều kiện thời tiết Cách này được xem lấy đi những chất độc và giữ cho rễ khỏe mạnh và cải thiện sự sinh trưởng của rễ Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) thì rễ lúa có xu hướng ăn sâu và rộng để tận dụng nguồn nước hiếm hoi nên khi áp dụng biện pháp này giúp cho cây lúa hấp thu dinh dưỡng cao, rễ ăn sâu hơn làm cho gốc cây lúa cứng chắc hơn, hạn chế đổ ngã

1.7 VAI TRÒ CỦA KALI

Kali giúp cho quá trình vận chuyển và tổng hợp các chất trong cây, duy trì sức trương của tế bào, giúp cây cứng cáp, tăng khả năng kháng sâu bệnh, chống đổ ngã, chịu hạn và chịu lạnh khỏe hơn Kali chủ yếu tập trung ở rơm rạ, chỉ khoảng 6%

Trang 28

trên bông Kali một mặt làm tăng áp suất thẩm thấu làm tăng khả năng hút nước của cây, một mặt điều khiển hoạt động của khí khổng khiến cho nước không bị mất quá mức trong thời gian khô hạn Thiếu kali việc vận chuyển đường trong lá mía kém đi nhiều Ví dụ như cây mía bình thường tốc độ vận chuyến đường xuống thân là 2,5 cm/phút, ở cây thiếu kali thì tốc độ vận chuyển giảm đi một nửa (Ngô Ngọc Hưng, 2009)

Bón kali với lượng 45 và 60 kg/ha cũng làm tăng khả năng chống chịu đổ ngã trên lúa Vào thời điểm từ 15 đến 25 ngày trước khi thu hoạch, tỷ lệ đổ ngã chiều cao ruộng trồng lúa ở các các mức độ kali khác nhau thì không khác nhau Đến thời điểm 10 ngày trước khi thu hoạch tỷ lệ ngã của lúa bón mức độ kali 15 và 30 kg/ha bắt đầu cao hơn lúa bón kali 45 và 60 kg/ha, và vào thời điểm 5 ngày trước khi thu hoạch, chiều cao ruộng trồng của lúa ở các nghiệm thức bón kali với hàm lượng 45

và 60 kg/ha cao hơn và tỷ lệ đổ ngã thấp hơn lúa ở các nghiệm thức bón kali với hàm lượng 15 và 30 kg/ha (Nguyễn Minh Chơn và Nguyễn Thị Quế Phương, 2006)

1.8 VAI TRÒ CỦA CALCIUM

Calcium được cây hấp thu dưới dạng Ca2+ và sau đó sẽ cố định thành các muối Ca như calcium oxalase… Calcium hầu như không di chuyển trong mô libe và kết quả

là triệu chứng thiếu thường được phát hiện trong những mô non Calcium liên kết với pectin tạo thành calcium pectate trong phiến giữa (middle) cần thiết cho sự vững chắc của vách tế bào và mô thực vật Sự phân giải các muối pectate được xúc tác bởi enzyme polygalactoronase, mà hoạt động của enzyme này bị kìm hãm bởi nồng độ Ca2+ cao Do đó, trong các mô thiếu calcium hoạt tính của polygalactoronase gia tăng, một triệu chứng thiếu calcium tiêu biểu là sự phân rã của vách tế bào và sự mềm nhũn của mô Tỷ lệ calcium pectate trong vách tế bào cũng quan trọng cho sự vững chắc của cây.Thí nghiệm trên táo và cà chua, các nhà nghiên cứu thấy rằng khi gia tăng hàm lượng Ca2+ ở trái bằng cách phun nhiều lần muối calcium trong suốt quá trình đậu trái hoặc nhúng trái trong dung dịch CaCl2sau khi thu hoạch đã làm tăng độ cứng của vỏ trái

Calcium cần thiết để làm cho vách tế bào được cứng chắc và duy trì sự nguyên vẹn của màng Xử lý CaCl2 với nồng độ 2000ppm vào thời điểm 2 tháng trước khi thu hoạch có tác dụng tốt trong việc ức chế hoạt động của enzyme thủy phân thành phần vách tế bào, dẫn đến sự gia tăng về độ cứng của trái xoài cát hòa lộc (Võ Thị

Xuân Tuyền và ctv., 2006) Phun CaCl2 ở nồng độ 0,5% và 1% hai tháng trước khi thu hoạch, hàm lượng cellulose ở nghiệm thức CaCl2 0,5% là cao nhất

Trang 29

1.9 VAI TRÒ CỦA SILICATE

Silicate được nghiên cứu chính thức vào năm 1843 do Lawes, ở Nhật khi nghề trồng lúa được xem là một ngành thực sự thì có nhiều nghiên cứu về silicate ảnh hưởng lên lúa Cây lúa phát triển không có silicate trong nước sẽ trở nên cằn cỏi và năng suất hạt suy giảm thật sự, ngoài ra thiếu hụt silicate trên lúa là giảm sự chịu đựng từ nguồn bệnh và có khuynh hướng sống tạm thời, phát triển kém (Ishibashi, 1936) Sau đó có nhiều nghiên cứu mang về từ các trường đại học và kinh nghiệm thực tế trên đồng, dựa trên các kết quả nghiên cứu đó vào năm 1955 phân bón silicate được

sử dụng ở Nhật Bản, và lần đầu tiên được phép sản xuất, sử dụng trên thế giới Silicate là một nguyên tố cây trồng có thể hấp thu được từ đất Điều quan trọng là khả năng hấp thu Silicate của cây lúa là rất lớn trong quá trình phát triển Sự phát triển và năng suất vẫn gia tăng khi silicate chứa trong lá và thân là 8% Thí nghiệm ngoài đồng cũng có kết quả tương tự là khả năng hấp thu silicate của cây lúa rất cao,

ở lá cờ cây lúa chiếm khoảng nhỏ hơn 10% Silicate cần một lượng lớn cho cây lúa sau khi bước vào giai đoạn tượng đòng Do đó Silicate ảnh hưởng đến cây lúa vào giai đoạn sau lớn hơn giai đoạn trước tượng đòng, khi cây lúa không thể hấp thu lượng silicate có thể ảnh hưởng cho các giai đoạn sau phân hóa đòng và làm cho năng suất lúa bị giảm đi đáng kể

Sự gục xuống của lá lúa là một đối tượng quan sát để biết sự thiếu hụt silicate trong cây lúa Hiện tượng xuất hiện ngay sau khi cấy hạt lúa vào trong dung dịch không

có silicate Một tuần sau khi cấy và thời gian sau thì có sự khác nhau giữa 2 dung dịch có và không có silicate Lá lúa của dung dịch có cung cấp silicate thì đứng thẳng trong khi đó lá lúa không có cung cấp silicate thì gục xuống Xu hướng gục xuống của đỉnh lá lúa theo nhiều hướng xung quanh do chiều cao cây lúa quá lớn và sau đó nó dần dần khắc phục lại Hiện tượng được khắc phục bởi một phần nào đó

là do sự hút nước của rễ cây lúa không giữ lại được và nó bị thoát ra ngoài do sự bốc thoát hơi nước trên bề mặt lá

Sự gục xuống của lá lúa là do ảnh hưởng của mức độ cung cấp amonium nitrogen Khi amonium nitrongen trong dung dịch thấp thì mức độ gục xuống của lá lúa khi thiếu silicate trở nên nhỏ và ngược lại Thiếu silicate gây ra bởi vượt qua giới hạn amonium… Cung cấp silicate cho cây lúa ở ngưỡng thích hợp làm cho cây lúa có lá thẳng đứng và giảm hiện tượng gục xuống của lá lúa (Takahashi, 1966)

Trang 30

Chương 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 PHƯƠNG TIỆN

2.1.1 Thời gian và địa điểm

- Thí nghiệm được thực hiện từ ngày 24 tháng 6 năm 2009 đến ngày 24 tháng 2 năm 2010

- Địa điểm: tại phường 8, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng

2.1.2 Vật liệu thí nghiệm

2.1.2.1 Thiết bị

- Kính hiển vi: Dùng để quan sát và đo chiều dài tế bào

- Cân điện tử: Cân phân và trọng lượng 1000 hạt

- Giá đo độ cứng: Đo độ cứng các lóng

- Máy đo ẩm độ: Đo ẩm độ hạt

- Thước kẹp: Đo đường kính lóng thân

- Thước đo (50cm): Đo chiều cao cây và một số dụng cụ khác

2.1.2.2 Giống lúa

Sử dụng giống lúa OM2514

2.1.2.3 Hoá chất

- Calcium chloride (CaCL2, Trung Quốc)

- Natri silicate (Na2SiO3, Trung Quốc)

- Chế phẩm OrymaxSL (10% SiO2) dạng nano silic (Nhật Bản)

- Phân bón (Urea, DAP, Kali, ), thuốc bảo vệ thực vật

2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

2.2.1 Điều tra đánh giá sơ bộ về nguyên nhân đổ ngã ở huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng vụ Hè Thu 2009 - 2010

Mục đích: Tìm hiểu nguyên nhân gây đổ ngã để đề xuất các giải pháp khắc phục

Tiến hành điều tra: Điều tra trực tiếp 50 hộ nông dân trên địa bàn huyện Long Phú

Nội dung điều tra gồm kỹ thuật sản xuất lúa và các yếu tố có liên quan đến đổ ngã trên lúa theo phiếu điều tra soạn sẵn (phụ lục) Cây lúa được đo độ cứng bằng cách xác định lực bẽ gãy lóng thân theo phương pháp của Nguyễn Minh Chơn (2007) Cấp đổ ngã được đánh giá theo 9 cấp của IRRI (1988)

Trang 31

* Các nội dung điều tra chính có thể liệt kê sau:

* Chọn nơi thí nghiệm và lấy mẫu đất nơi thí nghiệm đem về phân tích mẫu đất

2.2.2 Thí nghiệm ảnh hưởng của canxi và silic lên tính chống chịu đổ ngã của thân cây lúa

Mục đích: Khảo sát ảnh hưởng calcium chloride và silic lên chiều cao, độ cứng và

các thành phần năng suất nhằm tìm ra chất xử lý tốt nhất để làm giảm chiều cao và gia tăng độ cứng nhằm hạn chế đổ ngã Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố với 7 nghiệm thức và 4 lần lặp lại, mỗi nghiệm thức một ô với diện tích 45m2 (5 x 9m2)

- N1: Nghiệm thức 1 xử lý calcium chloride ở nồng độ 100ppm

- N2: Nghiệm thức 2 xử lý calcium chloride ở nồng độ 200ppm

- N3: Nghiệm thức 3 xử lý natri silicate ở nồng độ 200ppm

- N4: Nghiệm thức 4 xử lý natri silicatenồng độ 400ppm

- N5: Nghiệm thức 5 xử lý nano silic (OrymaxSL) ở nồng độ 4ml/L

Trang 32

- N6: Nghiệm thức 6 xử lý nano silic (OrymaxSL) ở nồng độ 8ml/L

- Đc: Nghiệm thức 7 đối chứng không xử lý

2.2.2.1 Các kỹ thuật chăm sóc cơ bản được áp dụng như sau

- Sử dụng công thức phân: 100N - 60P2O5 - 30K2O

- Chia làm 3 lần bón:

+ lần 1: 7 ngày sau khi sạ: 1/3 lượng đạm + 1/2 lượng lân + 1/2 lượng kali + lần 2: 25 ngày sau gieo: 1/3 lượng đạm + 1/2 lượng lân

+ lần 3: 45 ngày sau gieo: 1/3 lượng đạm + 1/2 lượng kali

2.2.2.2 Thời điểm phun hóa chất

+ Lần 1: Lúc lúa 5 - 10 ngày sau khi tượng đồng tương đương 45 NSKS + Lần 2: Lúc lúa 5 - 10 ngày trước khi trổ tương đương 55 NSKS

2.2.2.3 Các chỉ tiêu nông học theo dõi

- Chiều cao cây: Tính từ gốc đến phần cao nhất của cây lúa

- Chiều cao lóng thân: Tính từ gốc đến cổ bông

- Chiều dài bông: từ cổ bông đến chót bông

- Đường kính lớn của lóng thân và độ dày lóng thân

- Chiều dài lóng thân: Đo chiều dài bốn lóng, lóng thứ nhất được tính từ trên xuống

- Độ cứng lóng thân (Nguyễn Minh Chơn, 2007) Phương pháp đo độ cứng như sau:

+ Gác cây lúa còn nguyên bẹ lá lên giá đỡ Khoảng cách từ điểm gác cây lúa đến mặt đất là 60cm, chiều cao dây treo vuông góc với mặt đất là 45cm, chiều cao vật treo 10cm và khoảng cách giữa hai điểm trên giá đỡ cây lúa là 10cm

+ Treo vật lên cây lúa sau đó từ từ tăng trọng lượng bằng cách thêm cát vào đến khi cây lúa vừa bị gãy thì ngưng lại Độ cứng của cây lúa được tính bằng cách cân toàn bộ trọng lượng của vật treo ở thời điểm cây lúa vừa gãy Một kilogam vật treo có lực tương đương 10 Newton (1 kg = 10 N)

Trang 33

Hình 2.1 Dụng cụ và phương pháp đo độ cứng (Nguyễn Minh Chơn, 2007)

+ Đo chiều dài tế bào: Cây lúa được cắt bốn lóng trữ trong dung dịch FAA (ethanol, formol, axit acetic theo tỷ lệ 9:0,5:0,5) và sau đó tiến hành làm tiêu bản của từng lóng sau đó quan sát và đo chiều dài tế bào dưới kiến hiển vi ở độ phóng đại 100X, mỗi nghiệm thức thực hiện ba lần xem như ba lần lặp lại

2.2.2.4 Các thành phần năng suất và năng suất

- Tỷ lệ hạt chắc, tỷ lệ hạt lép

- Số chồi trên m2

- Số hạt trên bông

- Trọng lượng 1000 hạt

- Ước lượng năng suất lý thuyết

* Tính theo công thức sau:

+ 10 -3 : hệ số chuyển đổi trọng lượng 1000 hạt ra trọng lượng 1 hạt (gam)

+ 10 4 : hệ số chuyển đổi năng suất từ gam/m 2 sang gam/ha

+ 10 -6 : hệ số chuyển đổi từ gam/ha ra tấn/ha

Trang 34

- Năng suất thực tế (NSTT) (tấn/ha)

3 4

5

m

+ N: Năng suất thực tế của 5m 2 (ở âm độ 14%) (kg)

+10 4 : hệ số chuyển đổi từ kg/m 2 sang kg/ha

+10 -3 : hệ số chuyển đổi từ kg/ha ra tấn/ha

2.2 2.5 Cấp đổ ngã đánh giá theo IRRI

Trang 35

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều tra đánh giá sơ bộ nguyên nhân đổ ngã lúa ở huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng vụ Hè Thu 2009 - 2010

3.1.1 Kỹ thuật canh tác lúa trong khu vực điều tra

3.1.1.1 Giống lúa canh tác

Qua việc điều tra toàn khu vực huyện Long Phú ghi nhận được có khoảng 12 giống Trong đó các giống lúa OM656, OM2395, OM4900, được trồng phổ biến nhất vì đây là những giống lúa cho năng suất tương đối cao và phẩm chất gạo tốt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, ngoài ra còn một số giống khác như OM2517, OM6162, IR50404,

OM2517 cũng được trồng trong khu vực

Bảng 3.1 Các giống lúa nông dân sử dụng trong khu vực điều tra

ns: Khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Như vậy qua việc điều tra 50 hộ nông dân trồng lúa ở huyện Long Phú lúa được trồng phổ biến nhất khu vực là giống OM656 chiếm tỷ lệ 20%, giống được trồng nhiều thứ hai chiếm 18% là giống OM2395 và giống OM4900 chiếm tỷ lệ khoảng 16% Giống lúa chiếm tỷ lệ ít nhất là giống IR50404 và giống lúa OM6073 chiếm

Trang 36

Bảng 3.2 Diện tích lúa điều tra của các hộ nông dân trong khu vực điều tra

*: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%

Lúa dễ ngã hay không còn phụ thuộc vào mật độ sạ (Yoshinaga, 2005) Do đó trong quá trình điều tra trên đồng ruộng, lượng giống cũng là yếu tố quan trọng trong canh tác, theo kết quả Bảng 3.3 cho thấy số hộ sử dụng lượng giống trên 210kg/ha chiếm tỷ lệ rất cao là 62% số hộ đây là lượng giống sạ dầy so với hiện nay và chỉ có 38% số hộ sử dụng lượng giống dưới 200kg/ha lượng giống tương đối hợp lý với cách sạ tay của nông dân Theo Võ Tòng Xuân và Hà Triều Hiệp (1998) nếu sạ quá thưa, cây lúa nở bụi nhưng không giáp tán nổi hay sạ quá dày đều làm cho cây lúa vươn cao để cạnh tranh ánh sáng thì dễ bị gãy ngã Cho nên đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ đổ ngã trong khu vực

Bảng 3.3 Lượng giống sạ của các hộ nông dân trong khu vực điều tra

Lượng giống (kg/ha) Số hộ Phần trăm số hộ (%)

*: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%

Như vậy qua kết quả điều tra trong khu vực cho thấy rằng nông dân trong khu vực huyện Long Phú có diện tích trồng lúa khoảng 0,5 - 1,5ha chiếm tỷ lệ lớn 48% và nông dân sử dụng lượng giống cao trên 210kg/ha chiếm 62% trong khu vực

3.1.1.3 Tình hình cho nước vào ruộng trong khu vực điều tra

Số lần cho nước vào ruộng rất quan trọng đến việc đổ ngã, nếu cho nước một lần

mà giữ mặt nước liên tục thì cây lúa phát triển không tốt, do rễ lúa không ăn sâu vào đất, nước trên ruộng không thông thoáng dẫn đến dễ bị ngộ độc hữu cơ Như vậy qua kết quả điều tra cho thấy rằng ở huyện Long Phú tỷ lệ cho nước vào ruộng 3

Trang 37

đến 4 lần là rất hợp lý để cho cây lúa phát triển chiếm tỷ lệ 80% Thực tế có một số

hộ nông dân chưa biết rõ về tầm quan trọng của việc tháo nước và rút nước cho lúa

cụ thể có 20% nông dân cho nước vào ruộng 2 lần Tóm lại số lần cho nước vào ruộng rất quan trọng đến sự phát triển của lúa chủ yếu là bộ rễ, đồng thời cũng ảnh hưởng đến sự đổ ngã sau này vì rễ lúa không ăn sâu vào đất được

Bảng 3.4 Tình hình cung cấp nước trong khu vực điều tra

Số lần cho nước ( lần) Số hộ Phần trăm số hộ (%)

**: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%

Bên cạnh đó thời gian cho nước, giữ nước và mực nước trên ruộng cũng rất quan trọng đến sự phát triển và ảnh hưởng đến năng suất sau này cụ thể là nếu trong giai đoạn lúa ngậm sữa mà trên ruộng để khô nước thì làm cho lúa không vào hạt được dẫn đến lúa bị lép lửng nhiều, còn nếu giai đoạn 15 đến 30 ngày sau khi sạ mà giữ mực nước trên ruộng quá cao sẽ làm hạn chế sự đẻ nhánh của lúa

3.1.1.4 Tình hình tháo nước ra trong khu vực điều tra

Số lần rút nước trên ruộng góp phần rất quan trọng trong công việc hạn chế đổ ngã lúa sau này Nên rút nước giữa vụ để khống chế chồi vô hiệu và tạo điều kiện cho

bộ rễ phát triển mạnh Từ 30 - 35 ngày sau khi sạ, lúa có 35 - 40 khóm chồi/m2 tiến hành tháo nước để cho đến khi khô nứt chân chim trong khoảng 10 - 12 ngày, nếu lúa sạ sau 35 ngày thì rút nước để khô đến ráo mặt có tác dụng hạn chế đẻ nhánh vô hiệu, bên cạnh đó còn có tác dụng ôxy hóa các chất độc trong đất và kích thích bộ rễ

ăn sâu hút được nhiều chất dinh dưỡng trong đất hơn Qua Bảng 3.5 cho thấy nông

dân rút nước một lần chiếm tỷ lệ cao 64% và chủ yếu là vào giai đoạn lúa sắp chín

Bảng 3.5 Tình hình tháo nước trong khu vực điều tra

Trang 38

Còn rút nước hai lần chiếm tỷ lệ 34% và có nông dân không rút nước giữa vụ, từ đó cho thấy nông dân ở đây chưa quan tâm đến lợi ích của việc giữ khô mặt ruộng Việc giữ khô lâu làm cho mặt đất đến khi nứt chân chim thì rễ lúa không ăn lan xung quanh mà có xu hướng ăn sâu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009) Rút nước giữa vụ có vai trò quan trọng vì rút nước sẽ làm cho đất cứng hơn hạn chế được đổ ngã bên cạnh đó rút nước làm cho kết cấu đất chặt hơn nhất là đất có nhiều chất bùn Như vậy qua kết quả điều tra cho thấy dân nông ở đây chưa chú trọng đến việc rút nước giữa vụ, đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho diện tích lúa ở đây dẫn đến đổ ngã

3.1.2 Kỹ thuật bón phân trong khu vực điều tra

Trong canh tác lúa, một trong những biện pháp kỹ thuật được áp dụng nhằm tăng năng suất lúa bón nhiều phân đạm Sự bón đạm tăng cần cho năng suất cao, gây ra

sự vươn dài các lóng dưới làm ruộng trồng dễ đổ ngã hơn Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2003), Yoshida (1981) và Matsushima (1976), đạm là chất tạo hình của cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng số chồi và kích thước lá và thân, đồng thời chiều cao thân cũng gia tăng theo sự cung cấp đạm Do vậy, nếu thừa đạm, cây lúa phát triển thân lá quá mức,

mô non mềm và dễ dẫn đến đổ ngã Trong khi đó kali cũng là nguyên tố đa lượng rất cần cho sự phát triển của cây, kali giúp cho quá trình vận chuyển và tổng hợp các chất trong cây, duy trì sức trương tế bào giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống sâu bệnh, chống đổ ngã, tăng số hạt chắc trên bông và làm hạt no đầy hơn (Stevens, Wrather, Moylan and Sheckell, 2001)

Bảng 3.6 Lượng phân đạm và phân kali trong khu vực điều tra

Mức độ đạm (kg N/ha) Mức độ kali (kg N/ha)

Qua Bảng 3.6 cho thấy ở đây nông dân sử dụng phân đạm cao trên 95kg/ha chiếm

tỷ lệ cao nhất 44% số hộ, nhỏ hơn 90kg/ha chiếm tỷ lệ 40% số hộ và 12% số hộ sử dụng lượng phân đạm 91,1 – 95 kg/ha Trong khi đó số hộ sử dụng phân kali lại thấp hơn 25kg/ha chiếm tỷ lệ cao nhất 48% số hộ Theo Mai Thành Phụng, 2008 (http://www.dongthap.gov.vn) thì vụ Hè Thu có thể áp dụng công thức (80 - 90) N – (50 - 60) P2O5 – (30 - 45) K2O Đất trồng lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là

Trang 39

xem là nghệ thuật, khi lúa trong giai đoạn vàng xanh nên bón phân kali Vì lúc này bón kali hoặc phân chuyên dụng giúp lúa cứng cây, khỏe, tránh đổ ngã Bón phân cân đối và hợp lý cho lúa rất quan trọng, giúp cho cây sinh trưởng tốt, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và tăng năng suất Như vậy đối với phân đạm một số hộ

sử dụng cao so với khuyến cáo trong khi đó phân kali lại thấp hơn so với khuyến cáo cho nên đây cũng là nguyên nhân gây đổ ngã trong khu vực

3.1.3 Đặc tính thực vật

3.1.3.1 Thời gian sinh trưởng

Kết quả phân tích về thời gian sinh trưởng cho thấy các giống lúa trong khu vực điều tra chủ yếu là các giống cao sản ngắn ngày nên thời gian sinh trưởng trung bình từ 85 - 105 ngày

Bảng 3.7 Thời gian sinh trưởng các giống lúa trong khu vực điều tra

**: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%

Từ Bảng 3.7 cho thấy hiện nay nông dân sử dụng giống lúa 95 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất với 54% kế đó là giống 100 ngày với 22% và giống 85 ngày là 16% cuối cùng giống 105 ngày chiếm tỷ lệ thấp với 8% Tóm lại giống lúa 95 ngày được nông dân

lựa chọn trồng nhiều nhất là do phù hợp thời vụ trồng

3.1.3.2 Chiều cao cây và chiều cao thân cây lúa trong khu vực điều tra

Qua Bảng 3.8 cho thấy rằng các giống lúa có chiều cao khác nhau trong khu vực điều tra, cụ thể là giống IR50404, OM2517, OM4218 có chiều cao thấp nhất, các giống OM5981, OM6162 và OM656 là các giống có chiều cao lớn nhất Các giống

có chiều cao trung bình OMCS2000, OM2395, OM3242, OM2514 khoảng 93cm

Như vậy theo Yoshida (1981) thì chiều cao cây lúa càng cao thì tỷ lệ đổ ngã càng tăng qua số liệu điều tra thì các giống lúa có chiều cao cây như OM5981, OM6162

Trang 40

Bảng 3.8 Chiều cao cây, cấp đổ ngã và thời điểm đổ ngã trong khu vực điều tra

**: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%

Bảng 3.9 Chiều cao thân cây, cấp đổ ngã và thời điểm đổ ngã trong khu vực điều tra

Giống Cao thân Cấp đổ ngã Thời điểm đổ ngã (NSKS)

**: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1%

Từ các số liệu điều tra trong Bảng 3.9 cho thấy các giống lúa trong khu vực điều tra

có chiều cao thân khác nhau Giống như chiều cao cây thì các giống lúa có chiều cao cây cao đa số có chiều cao thân cũng cao như các giống OM5981, OM6162 và OM656 và các giống có chiều cao thân trung bình như OM4900, OM3242, OM2514 và các giống có chiều cao thân thấp nhất là IR50404, OM2517, OM4218

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w