1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỬ DỤNG THUỐC hóa học BENOMYL và CHẤT TRÍCH THẢO mộc QUẢN lý nấm gây hại TRÊN TRÁI bưởi năm ROI (citrus maximavar năm roi) SAU THU HOẠCH

103 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 10,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi sau khi xử lý với các nồng độ Benomyl ở 3 ngày sau khi xử lý Sự phát triển khuẩn lạc của nấm Colletotrichum sp.. gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi sau

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

(Citrus maxima var Năm Roi)

SAU THU HOẠCH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT KHÓA 28

Cần Thơ -2007

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ



  

DIỆP THÚY DUY

SỬ DỤNG THUỐC HÓA HỌC BENOMYL VÀ CHẤT TRÍCH THẢO MỘC QUẢN LÝ NẤM GÂY HẠI TRÊN TRÁI BƯỞI NĂM ROI

(Citrus maxima var Năm Roi)

SAU THU HOẠCH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT KHÓA 28

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Trồng Trọt với đề tài

“SỬ DỤNG THUỐC HÓA HỌC BENOMYL VÀ CHẤT TRÍCH THẢO MỘC

QUẢN LÝ NẤM GÂY HẠI TRÊN TRÁI BƯỞI NĂM ROI

(Citrus maxima var Năm Roi) SAU THU HOẠCH”

Do sinh viên Diệp Thúy Duy thực hiện

Kính chuyển lên hội đồng chấm luận văn Tốt Nghiệp

Cần Thơ, ngày.… tháng……năm 2007 Cán bộ hướng dẫn

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

-   -

Hội đồng chấm Luận văn Tốt Nghiệp đã chấp thuận với đề tài “SỬ DỤNG THUỐC HÓA HỌC BENOMYL VÀ CHẤT TRÍCH THẢO MỘC QUẢN LÝ NẤM GÂY HẠI TRÊN TRÁI BƯỞI NĂM ROI (Citrus maxima var Năm Roi) SAU THU HOẠCH” Do sinh viên Diệp Thuý Duy hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày… tháng….năm 2007 Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức:………

……… ………

………

Ý kiến hội đồng:………

……….………

……….………

………

Duyệt khoa Cần Thơ, ngày….tháng…năm 2007

Trưởng Khoa Nông Nghiệp và SHƯD Chủ tịch hội đồng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

LỜI CẢM TẠ Kính dâng

Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng con khôn lớn nên người

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

- TS Nguyễn Thị Xuân Thu, người đã tận tình hướng dẫn trong việc nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

- Th.Lê Thị Bảo Châu đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ tận tình

- Th.Văn Viễn Lương và Nguyễn Văn Minh đã cho em những lời khuyên bổ ích trong việc thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn

- Thầy Bùi Văn Tùng cùng tập thể thầy cô trong bộ môn Khoa Học Cây Trồng đã cung cấp những kiến thức quí báu cho em hoàn thành luận văn này

- Các anh chị phòng thí nghiệm bộ môn Khoa Học Cây Trồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài này

- Các thầy cô quản lý thư viện đã giúp đỡ tận tình trong quá trình tìm kiếm tài liệu

- Cuối cùng xin chân thành cảm ơn thầy cố vấn Phạm Văn Phượng và tập thể lớp Trồng Trọt Khoá 28 đã giứp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Họ và tên:Diệp Thuý Duy

Sinh ngày: 13 tháng 03 năm 1985

Nơi sinh: Trà Cú – Trà Vinh

Địa chỉ liên lạc: Số 80 - Tổ3- Ấp Chợ - Đại An – Trà Cú – Trà Vinh

Điện Thoại: 074.878165

Họ tên Cha: Diệp Thành Sơn

Họ Tên Mẹ: Nguyễn Thị Xuân Liễu

Năm 2002 tốt nghiệp Trường Phổ Thông Trung Học Đại An

Vào Trường Đại Học Cần Thơ năm 2002, Học lớp Trồng Trọt khoá 28, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Diệp Thuý Duy

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

MỤC LỤC

Trang phụ bìa Lời cảm tạ

Lý lịch sơ lược Lời cam đoan Mục lục Danh sách hình Danh sách bảng Tóm lược

Giới thiệu

Chương I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược về trái bưởi

1.1.1 Nguồn gốc 1.1.2 Đặc điểm về trái bưởi 1.1.3 Thành phần hoá học 1.1.4 Thành phần hoá học của vỏ bưởi 1.1.5 Thu hoạch

1.2 Một số nấm bệnh gây hại phổ biến, quan trọng trên trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch

i

iv

v

vi vii

xi xiii

Trang 9

hoạch 1.3.3 Khả năng kháng Benomyl của vi sinh vật 1.3.4 Một số vấn đề đáng lo ngại khi sử dụng Benomyl 1.4 Sử dụng chất trích từ thảo mộc phòng trừ nấm bệnh sau thu hoạch trái

cây 1.5 Thành phần và tác dụng của một số loại thảo mộc

1.5.1 Cỏ mực 1.5.2 Cúc Nháp 1.5.3 Nhàu 1.5.4 Tỏi 1.5.5 Xoan

CHƯƠNG II- PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

2.1 Phương tiện

2.1.1 Thời gian và địa điểm 2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 2.1.3 Điều kiện thí nghiệm 2.2 Phương pháp

2.2.1 Thí nghiệm 1 2.2.2 Thí nghiệm 2 2.2.3 Thí nghiệm 3 2.2.4 Thí nghiệm 4 2.2.5 Thí nghiệm 5 2.3 Phương pháp xử lý số liệu

CHƯƠNG 3-KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1 Thí nghiệm 1 Xác định nồng độ của Benomyl trên đĩa petri trong diệt

trừ nấm Aspergillus sp., Colletotrichum sp., Penicillium sp gây hạI

trên vở trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch 3.1.1 Nấm Aspergillus sp

Trang 10

3.1.3 Nấm Penicillium sp

3.2 Thí nghiệm 2 Xác định nồng độ của Benomyl trong diệt trừ nấm

Aspergillus sp., Colletotrichum sp., Penicillium sp gây hại trên vở trái

bưởi Năm Roi sau thu hoạch 3.2.1 Nấm Aspergillus sp

3.2.2 Nấm Colletotrichum sp

3.2.3 Nấm Penicillium sp

3.3 Thí nghiệm 3 Kết quả chất trích thảo mộc trong diệt trừ nấm

Aspergillus sp., Colletotrichum sp và Penicillium sp gây hại trên vỏ

trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch 3.4 Thí nghiệm 4 Xác định nồng độ của chất trích tỏi trên đĩa petri trong

diệt trừ khuẩn lạc nấm Aspergillussp., Colletotrichum sp và

Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch 3.4.1 Nấm Aspergillus sp

3.4.2 Nấm Colletotrichum sp

3.4.3 Nấm Penicillium sp

3.5 Thí nghiệm 5 hiệu quả của chế phẩm Bralic“Tỏi Tỏi" trong diệt trừ

nấm Aspergillus sp., Colletotrichum sp.và Penicillium sp gây hại

trên vỏ trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch 3.5.1 Nấm Aspergillus sp

Trang 11

Cây và củ tỏi (Allium sativum L.) Cây xoan (Melia azedarach L.)

Sự phát triển khuẩn lạc của nấm Aspergillus sp gây hại trên vỏ trái bưởi

Năm Roi sau khi xử lý với các nồng độ Benomyl ở 3 ngày sau khi xử lý

Sự phát triển khuẩn lạc của nấm Colletotrichum sp gây hại trên vỏ trái

bưởi Năm Roi sau khi xử lý với các nồng độ Benomyl ở 3 ngày sau khi

xử lý

Sự phát triển khuẩn lạc của nấm Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi

Năm Roi sau khi xử lý với các nồng độ Benomyl ở 6 ngày sau khi xử lý

Tỷ lệ xuất hiện bệnh (%) do nấm Aspergillus sp gây hại trên trái bưởi

Năm Roisau khi xử lý với các nồng độ Benomyl ở 4, 8,12 và 16 ngày sau khi xử lý

Sự phát triển của nấm Aspergillus sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi

sau khi xử lý với các nồng độ Benomyl khác nhau ở 18 ngày sau khi xử

Tỷ lệ xuất hiện bệnh (%) do nấm Colletotrichum sp gây hại trên

tráibưởi Năm Roi sau khi xử lý với các nồng độ Benomyl ở 4, 8, 12 và

16 ngày sau khi xử lý

Sự phát triển của nấm Colletotrichum sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm

Roi sau khi xử lý với các nồng độ Benomyl khác nhau ở 18 ngày sau khi xử lý

Tỷ lệ xuất hiện bệnh (%) do nấm Penicillium sp gây hại trên trái

bưởi Năm Roi sau khi xử lý với các nồng độ Benomyl ở 4, 8, 12 và 16 ngày sau khi xử lý

Trang 12

Sự phát triển của nấm Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi

sau khi xử lý với các nồng độ Benomyl khác nhau ở 18 ngày sau khi xử

Sự phát triển khuẩn lạc của nấm Aspergillus sp gây hại trên vỏ trái bưởi

Năm Roi sau khi xử lý với chất trích thảo mộc ở 4 ngày sau khi xử lý

Sự phát triển khuẩn lạc của nấm Aspergillus sp gây hại trên vỏ trái bưởi

Năm Roi sau khi xử lý các nồng độ chất trích tỏi ở 4 ngày sau khi xử lý

Sự phát triển khuẩn lạc của nấm Colletotrichum sp gây hại trên vỏ trái

bưởi Năm Roi sau khi xử lý các nồng độ chất trích tỏi ở 4 ngày sau khi

xử lý

Sự phát triển khuẩn lạc của nấm Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi

Năm Roi sau khi xử lý các nồng độ chất trích tỏi ở 4 ngày sau khi xử lý

Tỷ lệ xuất hiện bệnh (%) do nấm Aspergillus sp gây hại trên vỏ trái

bưởi Năm Roi sau khi xử lý với chế phẩm Bralic “Tỏi Tỏi” ở 4, 8, 12,

16 và 20 ngày sau khi xử lý

Sự phát triển của nấm Aspergillus sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi

sau khi xử lý với chế phẩm Bralic“Tỏi Tỏi” ở 20 ngày sau khi xử lý

Tỷ lệ xuất hiện bệnh (%) do nấm Colletotrichum sp., gây hại trên ỏ trái

bưởi Năm Roi sau khi xử lý với chế phẩm “Tỏi Tỏi” ở 4, 8, 12,16 và 20 ngày sau khi xử lý

Sự phát triển của nấm Colletotrichum sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm

Roi sau khi xử lý với chế phẩm “Tỏi Tỏi” ở 20 ngày sau khi xử lý

Tỷ lệ xuất hiện bệnh (%) do nấm Penicillium sp gây hại trên vỏ trái

bưởi Năm Roi sau khi xử lý với chế phẩm “Tỏi Tỏi” ở 4, 8, 12,16 và 20 ngày sau khi xử lý

Sự phát triển của nấm Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi

sau khi xử lý với chế phẩm “Tỏi Tỏi” ở 20 ngày sau khi xử lý

Trang 13

Độ hoà tan của benomyl

Độ lưu tồn của benomyl khi nhúng để bảo quản trái cây có múi Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng

Đường kính khuẩn lạc (cm) trên đĩa petri của nấm Aspergillus sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý các nồng độ Benomyl khác nhau ở 2, 4, 6 và 8 ngày sau khi xử lý

Đường kính khuẩn lạc (cm) trên đĩa petri của nấm Colletotrichum sp

gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý các nồng độ Benomyl khác nhau ở 2, 4, 6 và 8 ngày sau khi xử lý

Đường kính khuẩn lạc (cm) trên đĩa petri của nấm Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý các nồng độ Benomyl khác nhau ở 2, 4, 6 và 8 ngày sau khi xử lý

Đường kính vết bệnh (mm) của nấm Aspergillus sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý các nồng độ Benomyl khác nhau ở 4, 8, 12 và

16 ngày sau khi xử lý

Đường kính vết bệnh (mm) của nấm Colletotrichum sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý các nồng độ Benomyl khác nhau ở 4, 8, 12

và 16 ngày sau khi xử lý Đường kính vết bệnh (mm) của nấm Penicillium sp gây hại trên vỏtrái bưởi Năm Roi khi xử lý các nồng độ Benomyl khác nhau ở 4, 8, 12 và

16 ngày sau khi xử lý

Đường kính khuẩn lạc (cm) trên đĩa petri của nấm Aspergillus sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý chất trích thảo mộc ở 2, 4, 6 và

8 ngày sau khi xử lý

Trang 14

và 8 ngày sau khi xử lý

Đường kính khuẩn lạc (cm) trên đĩa petri của nấm Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý chất trích thảo mộc ở 2, 4, 6 và

8 ngày sau khi xử lý

Đường kính khuẩn lạc (cm) trên đĩa petri của nấm Aspergillus sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý các nồng độ chất trích tỏi ở 2, 4,

6 và 8 ngày sau khi xử

Đường kính khuẩn lạc (cm) trên đĩa petri của nấm Colletotrichum sp.gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý các nồng độ chất trích tỏi

ở 2, 4,6 và 8 ngày sau khi xử lý

Đường kính khuẩn lạc (cm) trên đĩa petri của nấm Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý các nồng độ chất trích tỏi ở

2, 4, 6 và 8 ngày sau khi xử lý Đường kính vết bệnh (mm) của nấm Aspergillus sp., gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý chế phẩm Bralic “Tỏi Tỏi” ở 4, 8, 12, 16 và 20 ngày sau khi xử lý

Đường kính vết bệnh (mm) của nấm Colletotrichum sp gây hại trên vỏtrái bưởi Năm Roi khi xử lý chế phẩm Bralic “Tỏi Tỏi” ở 4, 8, 12, 16

và 20 ngày sau khi xử lý

Đường kính vết bệnh (mm) của nấm Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi khi xử lý chế phẩm Bralic “Tỏi Tỏi” ở 4, 8, 12, 16 và 20 ngày sau khi xử lý

Trang 15

DIỆP THUÝ DUY, 2006 “Sử dụng thuốc hoá học Benomyl và chất trích thảo mộc quản

lý nấm gây hại trên trái bưởi Năm Roi (Citrus maxima var Năm Roi) sau thu hoạch” Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ, 88 trang

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Xuân Thu

TÓM LƯỢC

Nhằm mục đích xác định hiệu quả Benomyl và loại thảo mộc với liều lượng phù hợp

trong diệt trừ nấm Aspergillus sp., Colletotrichum sp., Penicillium sp gây hại trên vỏ trái

bưởi Năm Roi sau thu hoạch Nên đề tài “ Sử dụng thuốc hoá học Benomyl và chất trích thảo mộc quản lý nấm gây hại trên trái bưởi Năm Roi (Citrus maxima var Năm Roi) sau thu hoạch” đã được thực hiện

Đề tài gồm 5 thí nghiệm: Thí nghiệm (1) xác định nồng độ (0, 250, 500, 1000ppm)

Benomyl trên đĩa petri trong phòng trị khuẩn lạc nấm Aspergillus sp., Collectotritrum sp.,

Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch Thí nghiệm (2) xác định

nồng độ (0, 250, 500, 1000ppm) Benomyl trong phòng trị khuẩn lạc nấm Aspergillus sp.,

Collectotrichum sp., Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch Thí

nghiệm (3) thăm dò hiệu quả của một số chất trích thảo mộc (cỏ Mực, cúc Nháp, nhàu, xoan và củ tỏi) trong phòng trị các nấm gây hại trái bưởi Năm Roi Thí nghiệm (4) xác định nồng độ chất trích từ củ Tỏi (nồng độ 0, 3, 5, 10%) trong phòng trừ khuẩn lạc của các chi nấm gây hại trên trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch Thí nghiệm (5) đánh giá hiệu quả của chế phẩm Bralic “Tỏi Tỏi” (nồng độ 0, 10, 20, 30%) trong việc phòng trừ nấm bệnh gây hại trên trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch

Kết quả cho thấy: (1) Benomyl nồng độ 250-1000 ppm diệt được khuẩn lạc nấm

Penicillium sp và Colletotrichum sp nhưng không diệt được nấm Aspergillus sp (2) Benomyl nồng độ 500-1000 ppm diệt được nấm Aspergillus sp tuy nhiên nồng độ này chỉ có tác dụng hạn chế nấm Collectotritrum sp.và Penicillium sp (3) trong các loại chất

trích từ cây cỏ Mực, cúc Nháp, Xoan và củ tỏi thì chất trích từ củ tỏi có tác dụng ức chế

sự phát triển khuẩn lạc của các chi nấm trên, (4) dịch trích từ củ Tỏi có nồng độ 10% diệt được khuẩn lạc nấm Aspergillus sp., nồng độ 5-10% diệt được nấm Collectotritrum sp.,

Penicillium sp (5) chế phẩm Bralic “Tỏi Tỏi” nồng độ 30% chỉ có tác dụng hạn chế sự phát triển của các chi nấm trên

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

GIỚI THIỆU

Diện tích vườn cây ăn trái ở đồng bằng sông Cửu Long đã gia tăng nhanh từ 91.000

ha trong năm 1985 lên 175.670 ha trong năm 1995, mức độ tăng gần gấp đôi trong vòng 10 năm (theo tổng cục thống kê, 1996) Chính sự gia tăng về diện tích đã dẫn đến việc gia tăng về sản lượng Theo cục thống kê (2005) sản lượng cây ăn trái khoảng 746,8 nghìn tấn với nhiều chủng loại phong phú Bên cạnh những loại cây như: Xoài, Sầu Riêng, Cam Sành… thì bưởi Năm Roi ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong cơ cấu trái tươi trên thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế

Trong những năm gần đây, khi bưởi Năm Roi dần dần trở thành một thương hiệu trên thị trường Việt Nam và quốc tế thì sản lượng bưởi của đồng bằng sông Cửu Long tăng lên đáng kể Theo cục thống kê (2004) năm 2000 sản lượng bưởi đạt 21.540 tấn đến năm 2004 sản lượng đạt 112.037 tấn

Bưởi Năm Roi tuy là một giống bưởi có phẩm chất ngon, chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, đã được Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam đánh giá là cây ăn trái có tiềm năng suất khẩu cao, mang lại giá trị kinh tế rất lớn cho bà

con nông dân; nhưng sau thu hoạch bưởi bị nấm Aspergillus sp., Colletotrichum sp.,

Penicillium sp tấn công (Phạm Hoàng Oanh, 2002) làm thiệt hại 10 -15 % trong mùa mưa (Lê Thu Thủy, 2006) Theo Anon (1978) thất thoát trên trái cây có múi rất cao từ 20-90% và nghiêm trọng nhất là tổn thất do nấm bệnh gây ra (Hà Thanh Toàn, 2003)

Để ngăn chặn sự phát triển của nấm sau thu hoạch, D’hallewin et al.(1999) sử dụng tia ultraviolet (UV) kích thích tính kháng trái cam đối với bệnh thối trái; Nguyễn Khiết Tâm (2004) dùng dung dịch Chlorine từ 100- 400 ppm trong 5 phút đã hạn

chế được sự phát triển của nấm Aspergillus sp; Nguyễn Hùng Cường (2005) khuyến

cáo sử dụng nước nóng 520C để quản lý nấm bệnh trên trái bưởi Năm Roi; Nguyễn Trí Yến Chi (2006) Sử dụng GA3 để kích thích tính kháng trên trái cam Sành Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2002) cũng cho rằng khi nhúng trái vào Benomyl nồng độ 0.1% có hiệu quả đối với bệnh mốc xanh… Đồng thời cũng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

nấm bệnh gây hại trên cam quýt (Nguyễn Minh Thủy, 2003) Tuy nhiên, nồng độ

Benomyl hiệu quả trong quản lý nấm Aspergillus sp., Colletotrichum sp., Penicillium sp., gây hại trên bưởi Năm Roi chưa được khuyến cáo

Bên cạnh đó, theo Đỗ Tất Lợi (2003) và Đỗ Huy Bích và ctv., (2003) cho rằng cây xoan, củ tỏi, nhàu, cúc Nháp, cỏ Mực có tác dụng kháng nấm và kháng khuẩn Vì thế, thực hiện việc thăm dò hiệu quả của chất trích cỏ mực, cúc Nháp, nhàu, xoan,

củ tỏi trên trong diệt trừ nấm là một vấn đề rất cần thiết Xuất phát từ ý tưởng trên

đề tài “Sử dụng thuốc hóa học Benomyl và chất trích thảo mộc quản lý nấm gây hại trên trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch” được tiến hành nhằm mục đích: Xác định

hiệu quả Benomyl trong diệt trừ nấm Aspergillus sp., Colletotrichum sp.,

Penicillium sp gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch và tìm ra loại thảo mộc với liều lượng phù hợp hạn chế được sự phát triển của các dòng nấm trên

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 SƠ LƯỢC VỀ TRÁI BƯỞI

1.1.1 Nguồn gốc

Bưởi Năm Roi (Citrus maxima var Năm Roi) được trồng nhiều ở huyện Bình

Minh, Vĩnh Long Tuy nhiên, theo Sở Khoa Học Công Nghệ & Môi Trường Vĩnh Long (2003) thì bưởi Năm Roi có nguồn gốc ở Long Tuyền - Cần Thơ được mang

về trồng ở Bình Minh, Vĩnh Long Hiện nay, bưởi Năm Roi được trồng nhiều ở các tỉnh Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long,…

Bưởi Năm Roi có phẩm chất ngon trên thế giới (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004), vì có nước ngọt, không đắng, không hoặc ít hột (Nguyễn Hùng

Cường và ctv., 2005) Đây là một đặc điểm thích hợp nổi bật của bưởi Năm Roi

thích hợp trong việc xuất khẩu trái tươi và được bà con nông dân rất ưa chuộng

1.1.2 Đặc điểm về trái bưởi

Bưởi Năm Roi có dạng trái hình quả lê dẹp và có trọng lượng trung bình 0,9-1,45 kg/trái Vỏ trái khi chín có màu xanh vàng đến màu vàng sáng dễ lột và dày trung bình từ 15-18 mm

Tép có màu vàng nhạt bó chặt dễ tách khỏi vách múi, nước quả có vị ngọt chua, có

độ Bric từ 9-11%, có mùi thơm, có tỉ lệ thịt lớn hơn 50% Đặc biệt, trái có ít hạt từ 0-10 hạt/trái

1.1.3 Thành phần hoá học

* Thành phần dinh dưỡng

Trong nước ép quả bưởi có các thành phần chất dinh dưỡng như: muối khoáng, vitamin, protêin, nước, tro, carbonhydrate, xơ năng lượng Tỉ lệ các thành phần trên được trình bày trong bảng bên dưới:

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng trái bưởi (Giáo trình cây đa niên, phần I, cây ăn

trái, Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)

1.1.4 Thành phần hoá học của vỏ bưởi

Trong vỏ bưởi có chứa 0.3% - 0.9% tinh dầu flavonoid (Đỗ Huy Bích và ctv.,

2003), đây là một chất hoá học độc với nấm (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

và 26% citral và ester (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2001) Tuy nhiên, theo Nguyễn Thị Chung (1990) tinh dầu vỏ bưởi chứa đến 2.5-3.2% flavonoid Tinh dầu vỏ bưởi có tác dụng kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn và có khả năng ức chế ở nồng độ thấp nhất 1:160 sự phát triển của vi khuẩn tương đương tinh dầu Bạc Hà

Ngoài ra, trong tinh dầu vỏ bưởi còn chứa alcaloid acridon và alcaloid homoacridon (citron A) có khả năng diệt ký sinh trùng sốt rét có khả năng diệt khuẩn và nấm (Đỗ

Huy Bích và ctv., 2003)

Nước Tro Prôtêin Carbonhydrate

Xơ Năng lượng

(%)

83.4 0.4 0.5 15.3 0.7

59

(mg/100g)

30

19 0.7

(mg/100g)

0.02 0.05 0.01 0.1

42

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2001) cho rằng bên cạnh tinh dầu vỏ, bưởi còn có chứa pectin naringin, enzyme peroxydase, đường ramose, vitamin A và vitamin C, hesperidin

1.1.5 Thu hoạch

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) có thể thu hoạch trái từ khoảng từ 2-4 năm sau khi trồng nhưng phải chú ý đến hình thức nhân giống Trái bưởi Năm Roi chiết nhánh lớn trồng sau 2 năm bắt đầu cho trái, vào năm thứ năm năng suất đạt 20 kg/cây và ổn định đạt 53 kg/cây khi trưởng thành

Điều đặc biệt chú ý đó là thời điểm chín thu hoạch của trái cần xác định chính xác

Vì trái được thu hoạch đúng thời kỳ chín sẽ có thời gian tồn trữ lâu dài và chất lượng tốt (Nguyễn Minh Thủy, 2000)

Ở trái bưởi Năm Roi nên thu hoạch vào lúc trái có phẩm chất cao nhất vì trái thuộc loại trái hô hấp không cao đỉnh (Andus, 1972), đó là lúc trái bưởi Năm Roi có vỏ chuyển sang màu vàng (Phan Cát Lan Chi, 2000) Điều này đã được Nguyễn Bảo

Vệ và Lê Thanh Phong (1999) xác định rõ hơn (lúc 25-50% diện tích vỏ trái chuyển sang màu vàng, 7/1-10/1 độ Brix trái, hàm lượng dịch trái chiếm khoảng 50% trọng lượng của trái)

Bên cạnh đó, trái không nên thu hoạch vào lúc trời đang mưa, sau mưa hoặc sương nhiều vì vỏ trái bị trương phồng lên dễ gây ra hiện tượng thối trái (Lâm Thị Mỹ

Nương, 2001; Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994), nên thu hoạch lúc trời mát

(Nguyễn Minh Thuỷ, 2003)

Tuy nhiên, Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) cho rằng nên thu hái vào 8 giờ sáng đến 3 giờ chiều nhằm làm giảm tổn thương tế bào vỏ trái Nên thu hái bằng kéo và cắt bỏ cuống khi vận chuyển đi xa (Nguyễn Minh Thuỷ, 2003, Nguyễn Bảo

Vệ Và Lê Thanh Phong, 2000) Khi thu hái trái không được làm xây sát, giập nát, không làm mất lớp phấn bảo vệ tự nhiên bao quanh trái (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2000)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

1.2 MỘT SỐ NẤM BỆNH GÂY HẠI PHỔ BIẾN, QUAN TRỌNG

TRÊN TRÁI BƯỞI NĂM ROI SAU THU HOẠCH

Cây thuộc họ cây cam quýt được xác định là loại rất mẫn cảm với sự xâm nhiễm của nấm bệnh (Mitra, 1997) Đây chính là những nhân tố giới hạn quan trọng trong việc bảo quản và xuất khẩu trái cây cam quýt nhiệt đới (Mai Văn Trị, 1997)

Trong lúc thu hái sản phẩm, chỉ xuất hiện những tổn thương nhỏ do những nguyên nhân cơ học hoặc sinh lý, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho một số nấm bệnh tiềm ẩn sẵn trên vỏ của trái cây, phát sinh nhanh chóng xâm nhiễm vào trái (Lê Văn Hòa, 2003; Nguyễn Minh Thuỷ, 2003) Đó chính là những nguyên nhân gây ra nhiều hiện tượng thối trái làm mất đi giá trị sản phẩm

Theo Brown (1994), Kuchaek et al (2000) cho rằng chỉ sau thu hoạch khoảng

10-20 ngày thì bệnh thối trái xuất hiện Một số bệnh thối trái do nấm gây ra: thán thư

(Coletotrichum sp.), bệnh thối nhũn (Aspergillus sp.), bệnh mốc trái (Penicillium

sp.)…(Lương Đức Phẩm, 2002; Phạm Văn Kim, 2000; Hồ Quang Trí, 2000)

Bảng 1.2: Một số nấm bệnh gây hại trên họ cam quýt (Nguồn: Hall et al.(1977),

Ryall et al (1982), Splittstoesser (1987), Snowdon (1991))

Penicillium digitatum Penicillium italicum Alternaria citri Geotrichum candidum Penicillium ulaíene Aspergillus niger

mốc xanh mốc lục thối đen thối nhũn mốc trắng thối đen

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

Trong đó, Aspergillus sp và Penicillium sp là chi nấm phổ biến gây hại trên họ cam quýt (Nguyễn Văn Mười và ctv., 2005) Tuy nhiên, theo Nguyễn Thị Kiều

(2004) thì 3 loại kể trên là loại mà trái thường mắc phải và Nguyễn Khiết Tâm (2004) đã xác định có ba chi nấm gây bệnh trên trái bưởi Năm Roi ở giai đoạn sau

thu hoạch: Aspergillus sp., Penicillium sp., Coletotrichum sp

1.2.1 Bệnh Mốc Trái (Penicillium sp.)

Đây là bệnh gây ra hiện tượng thối quả phổ biến trên cam quýt trước và sau khi thu hoạch, đặc biệt nghiêm trọng trong thời gian tồn trữ, buôn bán và vận chuyển (khoảng 90%) (Agrios, 2003) Bệnh này xuất hiện phổ biến ở các kho bảo quản

(Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề,1998; Lê Lương Tề và ctv.,1977) và cũng là bệnh

quan trọng ở vùng nhiệt đới (Naqvi, 2004)

* Triệu chứng

Vỏ bị úng nước, ấn nhẹ vào thì rất dễ bể Lúc đầu, ở vết bệnh ta mọc lên những sợi nấm trắng dày đặc Sau đó, chuyển sang màu xanh lục hoặc màu xanh da trời Vết bệnh phát triển rất nhanh chỉ sau 7-14 ngày làm thối trái hoàn toàn (Vũ Triệu Mân

và ctv., 1998), kèm theo mùi hôi (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh,

2002; Nguyễn Thị Nghiêm và Võ Thanh Hoàng, 1999)

Tuy nhiên, nếu bị cả hai loại bệnh trên quả thối rất nhanh, xuất hiện 2 lớp nấm màu xanh và màu lục xen kẻ, còn trong mô quả có vết màu hồng hoặc màu hồng tía (Lê

Lương Tề và ctv., 1977) Bệnh dễ dàng lây lan từ trái này sang trái khác do chúng

tiếp xúc với nhau (Snowdon, 1990)

* Nguyên nhân

Do nấm Penicillium italicum Wehmer (mốc xanh) và Penicillium digitatum Sacc

(mốc lục) Cả hai loại nấm thuộc nhóm nấm Bất Toàn

Nấm xâm nhiễm qua vết thương do xây sát trong thu hái và vận chuyển qua sẹo cuống Ngoài ra nấm cũng xâm nhiễm trực tiếp qua vỏ trái mà túi tinh dầu là nơi thích hợp nhất cho nấm bệnh xâm nhiễm (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

Cả hai loại nấm đều phát triển rất thuận lợi ở điều kiện nhiệt độ cao nhưng ngưng tăng trưởng ở nhiệt độ trên 300C và tăng trưởng chậm ở nhiệt độ dưới 100C Tuy

nhiên, sợi nấm mốc xanh (Penicillium italicum Wehmer) có thể phát triển trong

phạm vi nhiệt độ 6-330C, tối thích 270C Ở 9,8-29,80C bào tử nấm có thể hình thành, tối thích 200C Nấm thích hợp phát triển ở pH 2,9-6,5 Nấm gây thối quả hoàn toàn trong vòng 14 ngày (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề,1998; Lê Lương Tề

và ctv., 1977) Còn sợi nấm mốc lục (Penicillium digitatum Sacc) phát triển trong

phạm vi nhiệt độ 250C Ở 17,8-29,80C bào tử nấm có thể hình thành, tối thích 27,60C Nấm thích hợp phát triển ở pH 3-6 và gây thối hoàn toàn chỉ trong một thời

gian ngắn là 7 ngày (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998; Lê Lương Tề và ctv.,

1977)

Điều đáng chú ý nấm mốc xanh không thể ăn rộng hơn 2mm còn nấm mốc lục thì

có thể ăn lan rộng hơn (Naqvi, 2004) Đây là một trong những đặc điểm đặc trưng

để phân biệt

1.2.2 Bệnh Thối Nhũn (Aspergillus sp.)

Bệnh thối nhũn là loại bệnh gây hại sau thu hoạch gây hại rất quan trọng trên chanh

(Babu et al.,1983; Bhargava, 1972) trên cam ngọt (Srivastava et al.,1969) ( trích bởi

Naqvi, 2004) Bệnh phát triển trên trái sau thu hoạch Khi trái bị tổn thương thì bệnh tấn công rất mạnh (Weber, 1973)

* Triệu chứng

Lúc đầu chỉ là những chấm rất nhỏ1-2 mm nhũn nước, màu nâu sáng Sau đó, vết bệnh nhanh chóng lan rộng ra làm thối cả một khu vực rộng lớn rất nhanh chóng Đồng thời, có một vòng màu vàng đặc trưng xung quanh lớp vỏ nhũn nước, bên trên

bề mặt vết bệnh xuất hiện bào tử màu đen, nhưng vết bệnh không lõm vào làm trái mềm nhũn, chảy nước (Trang Công Minh, 2004)

Sau đó nấm xâm nhiễm sâu vào và có thể lấn chiếm luôn vùng nấm khác xâm nhiễm trước đó Weber (1973) cho rằng bệnh ký sinh từ vết thương và rất thích hợp phát triển ở nhiệt độ cao

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

* Nguyên nhân

Do nấm Aspergillus niger V Tiegh gây ra Đây là loại nấm đa ký chủ, gây hại trên

hạt, trên bông…(Agrios, 2003), gây cả bệnh thối trái trên xoài (Nguyễn Thị Nghiêm

và Võ Thanh Hoàng, 1999), gây bệnh mốc đen trên cam quýt (Weber, 1973) gây hại trên quả lựu và cả trên một số sản phẩm khác

Nấm có nhiệt độ thích hợp để phát triển là 350C, nhưng nếu tăng thêm 70C khuẩn ty giảm hàng trăm lần trong khi hạ hơn 150C khuẩn ty giảm 12 lần Ẩm độ thích hợp cho nấm phát triển là 80% ( Lương Đức Phẩm, 2000)

1.2.3 Bệnh Thán Thư (Coletotrichum sp.)

Thán thư là loại bệnh phổ biến trên tất cả các bộ phận của cây như lá, cành non, hoa

và trái (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994) trên các loại cây, kể cả rau màu và cây ăn

trái trong thời điểm trước và sau thu hoạch trên trái (Agrios, 2003) Và đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu kể cả trong và ngoài nước Bệnh thường gây trên trái khi thời gian tồn trữ dài và ở điều kiện nhiệt độ cao

* Triệu Chứng

Bệnh thường xuất hiện vào cuối thời kỳ bảo quản Nơi xuất hiện vết bệnh đầu tiên

là nuốm quả, bệnh làm cho nuốm quả bị mềm và thâm đen Vết bệnh thường có màu vàng nâu sau đó lớn dần và xuất hiện viền màu nâu đậm Bên trong có nhiều vòng tròn đồng tâm, trong vòng tròn đồng tâm có nhiều ổ nấm li ti màu nâu đậm cũng chính các ổ nấm này làm cho vòng tròn đồng tâm có màu đậm hơn (Phạm Hoàng Oanh, 2002)

Sau khi nhiễm bệnh khoảng 5-7 ngày ta thường thấy triệu chứng rất rõ trên lá (Nguyễn Thị Nghiêm và Võ Thanh Hoàng, 1999) Theo Agrios (2003) thì vết bệnh phát triển chậm ướt nước, đổi từ màu đỏ đậm sang màu nâu sáng Trên trái bệnh xuất hiện trước và sau thu hoạch là vết bệnh màu nâu, có những vòng tròn đồng tâm, lõm vào vỏ trái mức độ lan ra của vết bệnh rất chậm, bệnh xuất hiện ở tất cả các vị trí trên trái (Trang Công Minh, 2004)

* Nguyên nhân

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

bởi Nguyễn Thị Kiều, 2004; Kanaphatipillai, 1996; Anisa và Alaibi, 1996 và Agrios, 1997) Nấm gây hại đặc biệt trên cam quýt sau thu hoạch, phá hoại mạnh

mẽ trên bề mặt trái và gây hư hỏng trái rất nhanh chỉ sau 2-3 tuần tồn trữ (Timmer

et al., 2001)

Theo Lê Ngọc Bình (2003) nấm Colletotrichum gloeosporioides có tính kháng cao;

sự sinh trưởng, phát triển của nấm thích hợp ở pH 5-6 Nấm thích hợp phát triển ở nhiệt độ cao (24-300C) nhưng cũng có thể hoạt động ở nhiệt thấp 20C (Agrios, 2003)

Tuy nhiên, theo Kanaphatipillai (1996) (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Kiều, 2004) nấm

có thể phát triển ở nhiệt độ 28-300C và theo Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình (2000) nấm ngừng phát triển khi nhiệt độ nhỏ hơn 30C Ẩm độ cao nhất là vào mùa mưa hoặc những lúc trời có sương thì thích hợp cho nấm phát triển

1.3 BENOMYL CHẤT HOÁ HỌC SỬ DỤNG TRONG CÔNG NGHỆ BẢO QUẢN SAU THU HOẠCH

Bệnh sau thu hoạch là một vấn đề được nhiều nơi trên thế giới đặc biệt quan tâm, nhất là những nước có trình độ phát triển cao Có nhiều cách để xử lý nhằm hạn chế nấm bệnh sau thu hoạch, nhưng việc bảo quản bằng phương thuốc hoá học đã trở thành một kinh nghiệm vốn có Đây được xem là một khâu không thể thiếu để dẫn đến thành công trong việc bảo quản tồn trữ trái cây

Nhằm ức chế sự nẩy mầm của bào tử nấm hay làm giảm tốc độ nẩy mầm và khả năng tăng trưởng sau khi nẩy mầm, người đã sử dụng rất nhiều loại hoá chất (Nguyễn Minh Thủy, 2000; Lâm Thị Mỹ Nương, 2001) Thành công của việc sử dụng hoá chất còn tuỳ thuộc mật số bào tử ban đầu trên vỏ trái, độ sâu của mô bị xâm nhiễm, tốc độ xâm nhiễm, nhiệt độ, ẩm độ, độ sâu thâm nhập của hoá chất (Nguyễn Thành Tài, 2006) và biện pháp xử lý như: xông hơi, bao gói, nhúng trái,…đa số các biện pháp phòng ngừa sau thu hoạch thường là nhúng trái trong các loại thuốc diệt nấm trong 6-12 giờ, và các loại thuốc thường dùng là O-

phenylphenol, Salicylic acid, Benzoic acid và Benomyl…(Rohrbach et al., 1990)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

Bảng 1.3 Khuyến cáo sử dụng nước nóng và hoá chất để quản lý bệnh thối nhũn

trên xoài sau thu hoạch (Nguồn: Thompson, 1987)

Thuốc diệt nấm (µg/l)

Quốc gia Tác giả

irradiation 0.1% Carbendazim hoặc 0.1%

Thiophanate-methyl

Autralia Autralia Autralia Autralia Nam phi USA Autralia Brazil Zambia USA Brazil Brazil Nam phi Nam phi

Ấn Độ

Muirhead (1976 ) Grattidge (1980 ) Muirhead (1983) Muirhead và Grattidge (1984)

Jacobs et al (1973)

Spalding và Reeder (1972) Muirhead (1976)

Sampaio et al (1980) Sufi et al (1977)

Spalding và Reeder(1972)

Sampaio et al (1980) Sampaio et al (1980)

Brodrick và ThordGay (1982) Brodrick và ThordGay (1982) Prakash và Pandey (2000)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

Từ những kinh nghiệm trên họ đúc kết lại rằng: Benomyl là một trong những hóa chất sử dụng hiệu quả trong quá trình bảo quản rau quả sau thu hoạch (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2000; Nguyễn Minh Thủy, 2000)

1.3.1 Công thức hoá học của Benomyl

Tên hóa học: Methyl 1- (butylcarbamoyl) benzimidazol -2- yl carbamate

Nhóm hóa học: Carbamate Trọng lượng phân tử: 290.3g

*Tính chất

Đây là loại thuốc trừ bệnh nội hấp, phổ tác dụng rộng, trừ được nhiều loại nấm gây

bệnh trên rau màu và cây ăn trái (Phạm Văn Biên và ctv., 2000; Đào Văn Hoằng,

2005) Đặc biệt đã được sử dụng rất lâu đời trong việc quản lý nấm bệnh sau thu hoạch (Trần Văn Hai, 2005; Nguyễn Minh Thủy, 2003)

Benomyl tinh khiết ở dạng tinh thể không màu, phân huỷ trong môi trường acid, kiềm mạnh, điều kiện bảo quản ẩm, không ăn mòn kim loại (Trần Văn Hai, 2005) Không tan trong nước, tan ít trong dung môi hữư cơ

Độ độc: thuộc nhóm độc IV

LD50 :qua miệng > 10000 mg/kg,

qua da > 10000 mg/kg,

xông hơi > 2mg/l

Mức dư lượng tối đa cho phép (MRL): 7-10mg/kg (Trần Quang Hùng, 1999)

Thời gian cách ly: trên các loai ăn quả từ 7-14 ngày, trên cây làm thức ăn trẻ em 28 ngày

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

Bảng 1.4 Độ hoà tan của Benomyl

(http://www.inchem.org/documents/jmpr/jmpmono/v073pr04.htm)

* Cơ chế tác động

Tất cả các loại thuốc trừ bệnh thì chỉ có hai cơ chế tác động chính lên cơ thể sinh vật Tác động trực tiếp: Trong tế bào vi sinh vật chúng ức chế các phản ứng sinh tổng hợp Đây là tác động đặc trưng nhất của hầu hết tất cả các thuốc trừ bệnh Tác động gián tiếp: Thuốc có tác dụng như một chất kháng sinh, làm tăng sức đề kháng, tăng khả năng miễn dịch của thực vật Bằng chính những hoạt chất chứa trong thuốc

nó sẽ làm cho cây có khả năng chống lại bệnh (Phạm Văn Biên và ctv., 2000)

1.3.2 Một số ứng dụng của

Benomyl trong bảo quản sau thu hoạch

Theo Phennock et al (1961, trích bởi Nguyễn Văn Ên, 2003) khi ngâm trái trong

nước nóng 550C có pha Benomyl trong 5 phút thì có thể phòng trừ bệnh thán thư trên xoài sau thu hoạch

Harris (1988) khi nhúng trái vào nước 520C có Benomyl nồng độ 0.1% trong thời gian từ 1- 3 phút có hiệu quả đối với nấm bệnh trên trái sau thu hoạch

Trong nước Trong dầu Chloroform Dimethylformamide Acetone

Xylene Ethanol Hep tance

không tan không tan 9.4 g/100ml 5.3 g/100ml 1.8 g/100ml 1.0 g/100ml 0.4 g/100ml 0.04 g/100ml

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 29

Tại Thái Lan, Sangchote và Saha (1997) ngâm trái xoài trong Benomyl ở 550C

trong 5 phút có thể phòng trừ bệnh thối cuống do Lasiodiplodia theobromae gây ra

Mai Văn Trị (1997) Benomyl, nước nóng phòng trừ hiệu quả thối vết cuống trái trên xoài và cũng có hiệu quả trên một số ký chủ khác

Trái xoài sau thu hoạch phun Benomyl với nồng độ 1000 ppm có hiệu quả đối với bệnh thán thư và nồng độ 250 ppm có hiệu quả đối với bệnh thối cuống (Trần Thị

Ba, 1998)

Gomolmanee và Chinaraj (1999) trái cà chua rửa dưới vòi nước chảy nhẹ rồi nhúng trong dung dịch Chlorine 100 ppm trong 10 phút và Benomyl 500 ppm trong 5 phút

sẽ xử lý được các nấm bệnh sau thu hoạch

Đỗ Minh Hiền và ctv (2002) cũng có báo cáo Benomyl sử dụng nồng độ 500 và

1000 ppm có tác dụng giảm nhanh chóng tỷ lệ hư hỏng của trái xoài cát Hòa Lộc Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2002) cho rằng khi nhúng trái vào

dung dịch Benomyl nồng độ 0.1% có hiệu quả đối với Penicillium italicum Wehmer

gây bệnh mốc xanh trên cam quýt

Tuy nhiên, theo Lê Thị Thu Hồng (2003) khi bảo quản cam thì Benomyl cũng được

dùng để phòng trừ bệnh mốc xanh (Penicillium italicum Wehmer) nhưng chỉ ở nồng

độ 500 ppm Bên cạnh đó Hauptmann (1985) cho rằng Benomyl nồng độ 6.25–50 mg/l có thể ngăn ngừa nấm Penicillium sp phát triển

Đỗ Minh Hiền và ctv (2003) sử dụng Benomyl nồng độ 1000 ppm- 1500 ppm trên trái khóm có thể diệt được nấm bệnh sau thu hoạch kéo dài thời gian tồn trữ 3 tuần Còn theo Trần Văn Hai (2005) thì có thể sử dụng benomyl để xử lý nông sản sau thu hoạch từ 25-200g a.i/ 100 lít nước

Nguyễn Thị Tuyết Mai (2005) xử lý bệnh hại sau thu hoạch trên cam Sành cho kết quả Benomyl 500 ppm và 1000 ppm có hiệu quả tốt trong phòng trừ nấm bệnh và kéo dài thời gian bảo quản trái cam Sành sau thu hoạch trong thời gian 8 tuần trong điều kiện nhiệt độ 80C và ẩm độ 80%

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

1.3.3 Khả năng kháng Benomyl của vi sinh vật

Vào giữa những năm 70 người ta đã phát hiện có 67 loài nấm và vi khuẩn kháng thuốc, đến năm 1986 số liệu ghi nhận cho thấy có trên 100 loài nấm có biểu hiện

kháng thuốc (Phạm Văn Biên và ctv., 2000)

Theo Mai Văn Trị (1997) các nhà nghiên cứu khoa học đã phân lập từ mẫu xoài bệnh cho thấy nấm đã có khả năng kháng Benomyl ở Florida, và những chủng kháng Benomyl cũng đã được thu thập ở Thái Lan

Lê Ngọc Bình và ctv (2003) cho rằng nấm Colletotrichum gloeosporioides Penz

gây hại trên xoài có khả năng kháng với một số loại thuốc trong đó có Benomyl

Ritenour et al (2003) cho rằng có một số dòng nấm Penicillium gây bệnh mốc xanh

thể hiện khả năng kháng với nhóm Benzimidazol

1.3.4 Một số vấn đề đáng lo ngại khi sử dụng Benomyl

Benomyl là loại thuốc diệt nấm rất hữu hiệu, đã được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng rất lâu đời, đặc biệt trong lĩnh vực bảo quản trái cây có múi sau thu hoạch Tại

Mỹ, Anonymous (1972; 1973) đã chứng minh rằng Benomyl có khả năng lưu tồn trên trái cây có múi khi bảo quản (Bảng1.5)

Bảng 1.5 Độ lưu tồn của Benomyl khi nhúng để bảo quản trái cây có múi

0.54-1.26 0.39-2.35 1.3-1.8 2.7-3.9 4.5-5.4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 31

Chẳng những thế Benomyl là thuốc hoá học đã được ban hành luật cấm ở một số quốc gia trên thế giới; mặc dù vẫn nằm trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng của Việt Nam Theo Sanchez (1990) cho rằng ở Mỹ đã không cho phép sử dụng Benomyl trên xoài sau thu hoạch

Còn theo Mai Văn Trị (1997) ở Úc, Benomyl không được khuyến cáo sử dụng trước thu hoạch trên xoài Theo the U.S Environmental Protection Agency (EPA)

và World Health Organization (WHO) Benomyl là một trong 23 loại thuốc hoá học cấm hoạt động (Michel and Rohini, 2005)

Theo Lim and Miller (1997) Benomyl là hoá chất có khả năng gây ung thư cao và nguy hại đến mắt, có ảnh hưởng đến động vật có vú gây ra dị dạng quái thai và cả

mù mắt, ảnh hưởng đến màng ruột

Theo thông tư số 5/ 1999/TT-BYT của bộ y tế ban hành Benomyl là hoá chất nằm trong danh mục có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động Vì thế sử dụng Benomyl trong bảo quản rau quả sau thu hoạch chẳng những gây ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến người sử dụng hoá chất

Do đó khi xã hội phát triển, nhận thức của con người ngày một nâng cao thì việc sử dụng hoá chất độc hại cho sức khoẻ không còn được chấp nhận dù cho chúng rẽ tiền

và hiệu quả cao

Ngày nay khi đất nước đã hội nhập vào WTO nông sản không còn là hàng hoá của khu vực mà đã trở thành hàng hoá quốc tế Do đó nông sản phải đảm bảo không lưu tồn dư lượng của bất kỳ hoá chất nào và thuốc hoá học sử dụng trên nông sản phải đảm bảo nằm ngoài danh mục cấm của nước sở tại vì mỗi quốc gia có riêng một danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 32

Bảng 1.6 Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng (Nguồn: Environment and

Human Health, Inc, 2005 http://www.ehhi.org/legislation/canada1.htm)

Benomyl Captan Chlorothalonil Iprodione Quintozene Thiophanate-methyl

Tất cả các dạng thuốc Chlorthaldimethyl Tất cả các dạng thuốc Tất cả các dạng thuốc

1.4 SỬ DỤNG CHẤT TRÍCH TỪ THẢO MỘC PHÒNG TRỪ NẤM BỆNH

SAU THU HOẠCH TRÊN TRÁI CÂY

Mặc dù Salunkhe et al (1975) cho rằng xử lý hóa chất là một khâu không thể thiếu

để kiểm soát tổn thất sau thu hoạch, nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến người trực tiếp

sử dụng chúng và sức khoẻ người tiêu dùng vì chúng để lại dư lượng trên trái Hiện

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 33

Theo Lê Ngọc Bình (2003) thời gian sử dụng thuốc càng dài làm cho nấm ngày càng kháng thuốc Do áp lực xã hội và ảnh hưởng đến tính kháng của vi sinh vật nên trong chiến lược phòng trừ bệnh hại nên thuốc trừ nấm không được chiếm ưu thế (Mai Văn Trị, 1997)

Vì thế những năm gần đây người thường có khuynh hướng nghiên cứu tìm ra biện pháp phòng trừ dịch hại hữu hiệu mà không cần sử dụng thuốc hoá học Hiện nay, đang được thử nghiệm và có hiệu quả nhất đó là cây gia vị (Nguyễn Quốc Hội, 2005)

Cây gia vị có chứa hàm lượng các loại tinh dầu và có thành phần hoá học đặc biệt

nên có khả năng tiêu diệt vi sinh vật (Nguyễn Đức Lượng và ctv., 2002)

Sử dụng thuốc thảo mộc trừ sâu hại là một biện pháp cổ truyền (Phạm Văn Lầm, 2003) Dung dịch trích từ hạt tiêu hoặc tỏi, hoặc là thuốc sát trùng thực vật được trích từ cây sa va di (sabadilla), cúc lá nhỏ (pyrethrum), cây bạch mộc (quassia), cây ryania cũng có thể làm thuốc phòng trị sâu bệnh trên cây ăn trái (Nguyễn Bảo Vệ, 2003)

Gần đây viện bảo vệ thực vật đã nghiên cứu thuốc thảo mộc để phòng từ ốc bưu vàng như: chế phẩm CH-01, Ce-02, CB-03 (Phạm Văn Lầm, 2003)

Nguồn thuốc thảo mộc trừ dịch hại là vô tận Thuốc thảo mộc đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới Các chất trích từ cây cỏ có khả năng chống nấm cũng được sử dụng để phòng trừ bệnh trong bảo quản sau thu hoạch (Nguyễn Bảo Vệ và

Lê Thanh Phong, 2004)

* Chế phẩm Bralic “Tỏi Tỏi” 12,5 DD

Là thuốc trừ sâu gốc thảo mộc và xua đuổi côn trùng từ tinh dầu tỏi Sản phẩm được sản xuất bởi công ty Ingenira Industrial/ Mexico, được doanh nghiệp tư nhân Tân Qui phân phối ở Việt Nam

Thành phần :

- Tinh dầu tỏi 12,5g/lít

- Phụ gia được thêm vừa đủ 100%

- Sản phẩm không có thời gian cách ly

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 34

Công dụng :

- Trừ sâu khoang, dòi đục lá, dòi đục trái, rầy xanh, bọ cánh tơ, bù lạch (bọ trĩ), rệp sáp, ruồi trắng, ốc sên… trên cải thảo, đậu Hà Lan, bó xôi, cải bông trắng, chè và nhiều cây trồng khác, đặc biệt là ốc bươu vàng trên lúa

1.5 THÀNH PHẦN VÀ TÁC DỤNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THẢO MỘC 1.5.1Cỏ mực

Tên khoa học: Eclipta prostrata L

Tên khác: Nhọ nồi, hạn liên thảo, lệ trường, phong trường…

Trang 35

Acid, Lacceroic Acid, 3,4-Dihydoxy Benzoic Acid Ngoài ra theo Đỗ Tất Lợi

(2003) và Đỗ Huy Bích và ctv (2003) cỏ mực còn chứa một ít tinh dầu, tanin, chất

đắng, caroten và một lượng nhỏ các Alcoloid như Nicotin 0.078% Ecliptin…Bên cạnh các chất trên Võ Văn Chi (2000) cho biết trong cỏ mực còn có Cumarin Lacton và Flavonozit

Đỗ Tất Lợi (2003) cho biết rằng Govindachari et al vào năm 1959 đã chiết được từ

cỏ mực một chất Wedelolacton là một Cumarin Lacton, chất này cũng được tìm thấy trong cây cúc Nháp Ngoài wedelolacton năm 1972 Bharagava còn tách ra được Demetyl Wedelolacton và một Flavonozit chưa xác định Gần đây Zang và Yayanliaj chiết được 2 Triterpen Glycosid là Eliptasaponin A và Eliptasaponin B

* Tác dụng

Trong dân gian có người dùng cỏ mực để chữa bệnh nấm ở ngoài da (Đỗ Tất Lợi,

2003; Võ Văn Chi, 2000; Đỗ Huy Bích và ctv.,2003)

1.5.2 Cúc Nháp

Tên khoa học: Wedelia calendulacea (L.) Less

Tên khác: Sài đất, húng trám, ngổ núi, cúc nháp, cúc giáp, hoa múc

Họ: Cúc Asteraceae

Hình 1.2 Cây cúc Nháp (Wedelia calendulacea (L.) Less)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 36

Võ Văn Chi (2000) hoạt chất chính trong cúc Nháp chưa xác định rõ, trong lá cây

có một chất lacton là Wedelolacton, vừa là một Flavonoit, vừa là một Cumarin, ngoài ra còn có tinh dầu và muối vô cơ Tuy nhiên hoạt chất chính chứa trong cây cúc nháp chưa được xác định rõ

Đỗ Huy Bích và ctv (2003) cho biết nước ép của cây cúc Nháp có dầu màu đen 11,2%, chất béo 29,7%, nhựa 44,9%, đường, Tanin, Saponin, các chất Silice, Pectin, Mucin, Lignin và các chất có Cellulose

* Tác dụng

Tác dụng kháng sinh của cúc Nháp trong ống nghiệm rất thấp, nhưng trên lâm sàng cúc Nháp lại cho biểu hiện rõ trong giảm đau, giảm sốt và kháng sinh (Đỗ Tất Lợi, 2003)

Đỗ Huy Bích và ctv (2003) cũng cho rằng cúc Nháp có tác dụng kháng sinh và chống viêm Ở một số nơi cúc Nháp được người dân sử dụng rộng rãi như thuốc

chống viêm, chống nhiễm khuẩn, chữa viêm tấy, mụn nhọt

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 37

Ngoài ra theo Đỗ Huy Bích và ctv.(2003) rễ nhàu chứa Acid Rubicloric và Selen,

quả nhàu chứa ít tinh dầu nhưng Acid Hexoic, Acid Octoic, một ít Parafilm và các Ester của các Alcol Ethylic và Methylic

Cũng theo Đỗ Tất Lợi (2003) một số tác giả khác xác định trong cây nhàu không phải chỉ có một chất Anthraglucozit là Morindin mà là một hổn hợp gồm nhiều chất Anthraglucozit như Damnacantal hay 1- Metoxy-2-Focmyl-3-Oxyanthraquinon, chất 1- Metoxyrubiazin hay 1-Metoxy- 2-Metyl-3-Oxyanthraquinon, chất Alizarin,

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 38

chất Morindon hay 1-5-6-Trioxy-2-Metylanthraquinon và chất 1-Oxy-2-3-Dimet oxyanthraquinon

* Tác dụng

Trong nhân dân có người dùng lá nhàu giã nát đắp lên vết thương chữa mụn nhọt, làm chóng lên da non (Đỗ Tất Lợi, 2003; Võ Văn Chi, 2000)

1.5.4 Tỏi

Tên khoa học: Allium sativum L

Tên khác: Tỏi ta, đại toán Họ: Hành Alliaceae

Hình 1.4 Cây và củ tỏi (Allium sativum L.)

* Thành phần hoá học

Tỏi là gia vị được sử dụng rất phổ biến và có giá trị sinh học cao Theo Đỗ Huy

Bích và ctv (2003) cho biết thành phần dinh dưỡng chứa trong 100g tỏi gồm:

62,8% nước; 6,3% protein; 0,1% chất béo; 29,0% hydrat carbon; Ca 0,03; P 0,31;

Fe 1,3 mg, vitamin C 13 mg Tuy nhiên Võ Văn Chi (2004) trong tỏi ngoài 6,0%

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 39

Bên cạnh đó khi đem cất kéo hơi nước ta thu được 0,06-0,1% tinh dầu, tinh dầu này chứa Allyl Propyl Disulfid 6%; Diallyl Disulfid 6% và một số hợp chất chứa

Disulfid (Đỗ Huy Bích và ctv., 2003)

Ngoài ra trong tỏi còn có ít Iode, một chất có tác dụng sát trùng và chứa hàm lượng tinh dầu tương đối chừng 60-200g tinh dầu trong 100kg tỏi Đây là thành phần hoá học đặc biệt có tác dụng tiêu diệt vi sinh vật Chất kháng sinh trong tỏi là allicin (C6H10OS2), là hợp chất Sulfua có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh, dễ mất tác dụng khi gặp nhiệt độ cao và kiềm Theo Sức khỏe Đời sống (2004) Allicin kết hợp với một acid amin có gốc SH sẽ cho Xystein có tác dụng ức chế sự sinh sản của vi khuẩn Tuy nhiên đây không phải là chất xuất hiện ngay, mà nó là sản phẩm của Aliin (acid amin) bị men Alinaza phân hủy (Đỗ Tất Lợi, 2003)

Alliin (S - allyl - L (+) Cystein sulphoxid) là thành phần chính trong tỏi chưa bị phá hủy Hơn 0,3% chất này bị phân giải bởi men Alliinase (C - S - lyase) cho acid Pyruvic và 2 Propen Sulphenic khi ta cắt hoặc xát thân hành (Alliin và Allinase tồn tại trong các tế bào riêng biệt trong thân hành chưa bị cắt hoặc nghiền) Chất 2 Propen Sulphenic ngay lập tức chuyển thành Allicin (Diallyl Disulphid - Mono - S Oxyd) chất này bị oxy hóa bởi không khí chuyển thành Diallyl Disulphid (1 - 7 - Dithio Octa - 4 - 5 Dien) là thành phần chính của tinh dầu tỏi cùng với các chất liên

quan khác như tri và Oligosulphid tạo thành mùi tỏi (Đỗ Huy Bích và ctv., 2003)

Trong tỏi có muối khoáng, Protein, Olygopeptil, Vitamin, Photpho, Lipit, Allinin… các chất này dễ phân hủy Tinh dầu tỏi có Allinin thủy phân thành Allicin, tiếp tục oxy hóa tạo thành Disulfua Diallyt (Huỳnh Thị Dung và Nguyễn Thị Kim Hoa, 2003)

Đỗ Huy Bích và ctv (2003) cho biết Hiromichi, Morita, Toshinobu đã tách và xác định thành công một số hợp chất Saponin Steroid trong tỏi có hoạt tính chống nấm

* Tác dụng

Tỏi có tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm phổ rộng Tính kháng khuẩn của tỏi được cho là do allicin Tuy nhiên Allicin là hợp chất tương đối không ổn định, có tính phản ứng cao Ajoene, Diallyl Trisulfid cũng có hoạt tính kháng khuẩn và

kháng nấm (Đỗ Huy Bích và ctv., 2003)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 40

Tỏi có nhiều tác dụng như kháng khuẩn và kháng nấm thường dùng ướp thực phẩm

có mùi đặc biệt, làm rau quả không bị thiu thối do vi khuẩn gây hại (Huỳnh Thị Dung và Nguyễn Thị Kim Hoa, 2003)

Tác dụng diệt khuẩn của allicin trong ống nghiệm rất mạnh (Đỗ Tất lợi và ctv.,

2003) Trong ống nghiệm, nước tỏi 3% có khả năng diệt khuẩn cao, diệt được cả enterocoli (Sức khỏe Đời sống, 2004)

* Cơ chế kháng vi sinh vật của tỏi

Người ta cho rằng tác dụng kháng sinh của Allicin là do nguyên tử oxy trong phân

tử Vì khi chất Allicin mất tác dụng kháng sinh là trong phân tử của nó đã mất oxy Chất Allicin rất dễ kết hợp với một acid amin có gốc SH là Xystein, gốc SH được coi là nguyên nhân có tính kích thích sự sinh sản của vi sinh vật hay tế bào Do đó, tỏi ức chế sự sinh sản của vi sinh vật bằng cách phá gốc SH của chất Xystein Tuy nhiên Sức khỏe Đời sống (2004) lại cho rằng Allicin kết hợp với một acid amin có gốc SH sẽ cho Xystein có tác dụng ức chế sự sinh sản của vi khuẩn

Còn theo Derrida (2004) cũng cho rằng trong quá trình trích tỏi, Alliin được phóng thích và phản ứng với men allinase để hình thành Allicin và Ajoene, đây là hai chất thể hiện tính kháng của tỏi Hợp chất có chứa lưu huỳnh này có liên quan đến khả năng kháng vi sinh vật bằng cách ngăn chặn sự tăng trưởng của chúng bao gồm virus, nguyên sinh động vật, nấm và vi khuẩn

* Một số ứng dụng của tỏi trong phòng trừ nấm bệnh

Josling (2000) cho biết pha loãng 1:200 – 1:1600 nước ép từ tỏi có thể ức chế được

hoạt động của nấm Aspergillus niger, Aspergillus orzae, Rhizopus nigricans Ông cũng nói rằng ở nồng độ cao hơn có cũng có thể ức chế nấm Penicillium glaucum,

Penicillium notadum…

Thêm vào đó Dikasso et al (2001) khi nghiên cứu hiệu lực của dịch ép tỏi tươi

cũng đã ghi nhận được kết quả dịch ép tỏi có khả năng ức chế sự phát triển của nấm

Aspergillus niger

Mazur et al (1999) cho rằng dịch trích tỏi có tác dụng kiềm hãm sự phát triển của

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w