KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG ------ Chứng nhận đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp đề tài: SO SÁNH KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH HÉO XANH, BỆNH KHẢM VÀ NĂNG SUẤ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN HỒNG VƯƠNG QUANG
SO SÁNH KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH HÉO XANH, BỆNH KHẢM VÀ NĂNG SUẤT CỦA 4 GIỐNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: TRỒNG TRỌT
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Cần Thơ, 2010
Trang 3KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
- -
Chứng nhận đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp đề tài:
SO SÁNH KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH HÉO XANH, BỆNH KHẢM VÀ NĂNG SUẤT CỦA 4 GIỐNG
CÀ CHUA GHÉP VÀ KHÔNG GHÉP TRÊN GỐC CÀ TÍM EG203
Do sinh viên Nguyễn Hồng Vương Quang thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2010
Cán bộ hướng dẫn
PGS TS Trần Thị Ba
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Vương Quang
Trang 5KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
- -
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng Trọt với đề tài: SO SÁNH KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH HÉO XANH, BỆNH KHẢM VÀ NĂNG SUẤT CỦA 4 GIỐNG CÀ CHUA GHÉP VÀ KHÔNG GHÉP TRÊN GỐC CÀ TÍM EG203 Do sinh viên Nguyễn Hồng Vương Quang thực hiện từ tháng 12/2009 đến tháng 5/2010 và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
Trưởng Khoa Nông nghiệp và SHƯD Chủ tịch Hội đồng
Trang 6* Lý lịch sơ lược
Họ và tên: Nguyễn Hồng Vương Quang Giới tính: Nam Ngày sinh: 29/11/1989 Dân tộc: Kinh
Con ông: Nguyễn Huỳnh
Con bà: Châu Thị Tuyết Hương
Nơi sinh: TP Long Xuyên, An Giang
Địa chỉ liên lạc: 196/1, KV1, P Châu Văn Liêm, Q Ô Môn, TP Cần Thơ
* Quá trình học tập
Năm 1995-2000: học tại trường Tiểu học Ô Môn 2, TP Cần Thơ
Năm 2000-2004: học tại trường Trung học Cơ sở thị trấn Ô Môn, TP Cần
Thơ
Năm 2004-2007: học tại trường Trung học Phổ thông Chuyên Lý Tự Trọng,
TP Cần Thơ
Năm 2007-2011: học tại trường Đại học Cần Thơ, ngành Trồng Trọt, khóa 33,
khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
Ngày … tháng … năm 2010
Người khai
Nguyễn Hồng Vương Quang
Trang 7Chân thành biết ơn!
Thầy Tùng, chị Kiều cùng tất cả các quý thầy cô trong Bộ môn Khoa học Cây trồng
đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Quý thầy cô Trường Đại học Cần Thơ và Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong thời gian học ở trường
Chân thành cảm ơn!
Chị Trang, chị Yến, các bạn Nhí, Ngọc Vân, Nhi, Như Vân, Thơ, Thắng, Mạnh, các bạn lớp Trồng trọt K33, các bạn sinh viên làm đề tài trong nhà lưới rau… đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Thân ái gửi về!
Tập thể lớp Trồng trọt K33 và quý thầy cô Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Vương Quang
Trang 8xanh, bệnh khảm và năng suất của 4 giống cà chua ghép và không ghép trên gốc
cà tím EG203” Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Trồng trọt, Khoa Nông nghiệp và Sinh
học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
Cán bộ hướng dẫn: PGS TS Trần Thị Ba và ThS Võ Thị Bích Thủy
TÓM LƯỢC
Đề tài “So sánh khả năng kháng bệnh héo xanh, bệnh khảm và năng suất của 4 giống cà chua ghép và không ghép trên gốc cà tím EG203” được thực hiện từ tháng 12/2009 đến tháng 5/2010 tại Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ nhằm xác định giống cà chua ghép có khả năng kháng bệnh héo xanh, bệnh khảm và cho năng suất cao nhất Thí nghiệm được bố trí theo thể thức lô phụ gồm hai nhân tố: nhân tố chính là 4 giống cà chua (PTX-06, TM71, TM75, Savior), nhân tố phụ là 2 biện pháp (ghép và không ghép) với 3 lần lặp lại
Kết quả thí nghiệm cho thấy trồng cà chua ghép trên gốc cà tím EG203 kháng tốt bệnh héo xanh (tỷ lệ bệnh từ 7,74-10,12%) Giống Savior ghép có khả năng kháng bệnh khảm tốt, cho năng suất cao nhất (66,32 tấn/ha), số trái trên cây cao (44,73 trái),
kế đến là giống TM71 ghép với năng suất 23,99 tấn/ha, số trái/cây cao nhất (50,50 trái) Giống TM75 không ghép có khả năng kháng bệnh héo xanh cao nhất nhưng nhiễm bệnh khảm nặng, cho năng suất thấp (13,06 tấn/ha), số trái trên cây ít (30,75 trái) tương đương với giống PTX-06
Trang 9Nội dung Trang
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc, giá trị dinh dưỡng và tình hình sản xuất cà chua 2 1.1.1 Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng của cà chua 2 1.1.2 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới và Việt Nam 2
1.4.2.1 Bệnh héo xanh (Ralstonia solanacearum) 7
1.4.2.2 Bệnh khảm vàng xoăn lá cà chua (do virus) 9
Trang 101.5.1 Tình hình ghép cà chua trên thế giới và ở Việt Nam 10
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.3.4 Đường kính gốc ghép và gốc thân ngọn ghép 28
Trang 113.4 Thành phần năng suất và năng suất 29
Trang 123.1 Tỷ lệ bệnh héo xanh (%) của 4 giống cà chua qua các NSKT tại Khoa
Nông nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
23
3.2 Tỷ lệ bệnh khảm (%) của 4 giống cà chua qua các NSKT tại Khoa Nông
nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
24
3.3 Ngày trổ hoa và thu hoạch (NSKT) của 4 giống cà chua ghép và không
ghép, tại Khoa Nông nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
25
3.4 Chiều cao thân chính của 4 giống cà chua ghép qua các NSKT tại Khoa
Nông nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
26
3.5 Chiều cao thân chính của 4 giống cà chua không ghép qua các NSKT tại
Khoa Nông nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
26
3.6 Số lá trên thân chính của 4 giống cà chua ghép qua các NSKT tại Khoa
Nông nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
27
3.7 Số lá trên thân chính của 4 giống cà chua không ghép qua các NSKT tại
Khoa Nông nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
27
3.8 Độ khác màu sắc vỏ trái và độ cứng của 4 giống cà chua ghép tại Khoa
Nông nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
33
Trang 13Hình Tên hình Trang
2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm so sánh 4 giống cà chua ghép và không ghép tại
Khoa Nông nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-5/2010)
17
3.1 Tỷ lệ (%) trái nứt và trái bị thối của 4 giống cà chua ghép tại Khoa Nông
nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
24
3.2 Kích thước trái và tỷ lệ chiều cao/đường kính trái (%) của 4 giống cà chua
ghép tại Khoa Nông nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
Trang 14MỞ ĐẦU
Cà chua là loại rau ăn trái thông dụng của nhiều nước và được trồng rộng khắp các châu lục với diện tích, năng suất và sản lượng ngày càng tăng Tuy nhiên trong canh tác cà chua còn gặp nhiều khó khăn do các loại sâu bệnh gây nên Đặc biệt bệnh héo xanh và bệnh khảm đã làm giảm năng suất cà chua đáng kể Bệnh gây hại nghiêm trọng đối với các vùng trồng cà chua trên thế giới, nhất là các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, các vùng có khí hậu nóng ẩm, ấm áp Ở nhiều vùng sản xuất cà chua trên thế giới bệnh héo xanh đã gây thiệt hại lớn đến năng suất, có khi tới 95% và trung bình là khoảng 40-60% Ở nước ta bệnh héo xanh hại cà chua hiện đang là một trở ngại và là yếu tố hạn chế lớn nhất đối với các vùng chuyên canh rau màu Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm giải pháp khống chế hai loại bệnh này và biện pháp ghép cà chua trên gốc cà tím là một trong những giải pháp tốt nhất Ngoài ra, cùng với việc nghiên cứu về kỹ thuật thì một vấn đề đặt ra cũng không kém phần quan trọng là tìm được giống cà chua tốt đáp ứng được nhu cầu của thị trường Do đó việc chọn ra một giống cà chua có khả năng kháng bệnh cao và cho năng suất tốt là nhu cầu cấp
thiết hiện nay Chính vì lý do đó mà đề tài “So sánh khả năng kháng bệnh héo xanh, bệnh
khảm và năng suất của 4 giống cà chua ghép và không ghép” được thực hiện
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC, GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG VÀ TÌNH HÌNH
SẢN XUẤT CÀ CHUA 1.1.1 Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng của cà chua
* Nguồn gốc cây cà chua
Cà chua có tên khoa học là Lycopersicon esculentum Mill, thuộc họ cà (Solanaceae)
Theo Tạ Thu Cúc (2005), cà chua có nguồn gốc ở Peru, Bolivia và Equador, trước khi Christophe Colombo phát hiện ra châu Mỹ thì cà chua đã được trồng ở Peru và Mexico Trên
cơ sở nghiên cứu lịch sử di truyền và thực vật học đi đến kết luận dạng cà chua đầu tiên là L
esculentum var cerasiforme bắt nguồn từ Peru, Equador đến Nam Mexico (Mai Thị Phương
Anh, 1996)
* Giá trị dinh dưỡng của cà chua
Trong cà chua có chứa nhiều loại vitamin như A, C, B1, B2, PP, K… nhưng nhiều nhất là vitamin C Ngoài ra, còn có các chất khoáng như Ca, Fe, P, S, Na, K, Mg và đường
Cà chua được sử dụng để ăn tươi, nấu canh, chế biến cà khô, cà chua bột, tương cà chua (Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003)
Nhờ chứa nhiều vitamin A nên cà chua có tác dụng bảo vệ mắt và da, tái tạo tế bào giữ gìn nét tươi trẻ, điều hòa huyết áp Nhờ vitamin B và C cà chua quân bình được những chất dinh dưỡng và hoạt động điều hòa của hệ thần kinh, tăng sức đề kháng trong cơ thể, chống những bệnh nhiễm trùng (Nguyễn Thị Hường, 2004) Theo Võ Văn Chi (2005), chất
lycopen được chiết xuất từ trái cà chua có tác dụng chống oxy hóa, chống ô nhiễm và ngăn
cản sự xâm nhập của những chất làm cho con người chóng già
1.1.2 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới và Việt Nam
Cà chua là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao được trồng rộng rãi trên thế giới Theo
số liệu thống kê của FAO thì sản lượng cà chua năm 2008 là 129,6 triệu tấn Châu Á là khu vực đứng đầu về sản xuất cà chua, trong đó Trung Quốc là nước có diện tích trồng cà chua lớn nhất thế giới (trên 753 ngàn ha), tuy nhiên Mỹ là nước có năng suất cà chua cao nhất (66,5 tấn/ha) (Tạ Thu Cúc, 2005)
Ở Việt Nam cà chua được nhập vào từ thời thực dân Pháp chiếm đóng (Chu Thị
Thơm và ctv., 2005) Do đó cà chua được trồng ở nước ta khoảng 100 năm nay, diện tích
trồng hàng năm diễn biến từ 15-17 ngàn ha với sản lượng 280 ngàn tấn, bình quân đầu người
3 kg/năm Tuy vậy năng suất cà chua vẫn còn thấp so với trung bình thế giới do chưa có bộ giống tốt và chưa áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất và chế
Trang 16biến Riêng tỉnh Lâm Đồng có khoảng 4,5 ngàn ha gieo trồng mỗi năm, cung cấp cho thị trường khoảng 150 ngàn tấn cà chua (Tạ Thu Cúc, 2002)
1.2 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CÂY CÀ CHUA 1.2.1 Rễ
Rễ cà chua thuộc loại rễ chùm, ăn sâu trung bình, rễ phụ cấp 2 phân bố dày đặc trong đất khi cây sinh trưởng mạnh (Tạ Thu Cúc, 2005) Bên cạnh đó cà chua còn có thể sinh ra rễ
bất định, rễ này tập trung ở đoạn thân dưới hai lá mầm (Chu Thị Thơm và ctv., 2005) Bộ rễ
cây ăn sâu, cạn, mạnh hay yếu đều có liên quan đến mức độ phân cành và phát triển của bộ phận trên mặt đất Do đó khi trồng cà chua, tỉa cành, bấm ngọn bộ rễ thường ăn nông và hẹp
hơn so với điều kiện trồng tự nhiên (Trần Thị Ba và ctv., 1999)
1.2.2 Thân
Cà chua thân tròn, thẳng đứng, mọng nước, phủ nhiều lông, giòn và dễ gãy, khi cây
lớn gốc thân dần dần hóa gỗ (Chu Thị Thơm và ctv., 2005) Trên thân có nhiều đốt và có khả
năng sinh ra rễ bất định, chiều cao thân từ 25-200 cm, số lượng cành dao động từ 3-19 cành (Mai Thị Phương Anh, 1996; Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003) Theo Trần Thị Ba
và ctv (1999), Trần Văn Hòa và ctv (2000) và Tạ Thu Cúc (2005), tùy khả năng tăng trưởng
và phân nhánh các giống cà chua được chia làm 4 dạng hình:
* Dạng sinh trưởng hữu hạn: cây thấp hơn 65 cm và ngừng tăng trưởng về chiều cao khi có chùm hoa tận cùng ở ngọn Chùm hoa thứ nhất thường xuất hiện khi cây có 8-9 lá, sau
đó cứ 1-2 lá lại có chùm hoa kế tiếp, cho hoa tập trung nhưng sớm tàn, năng suất không cao
* Dạng sinh trưởng vô hạn: sự sinh trưởng được xem là tiếp tục khi cây ra hoa nhờ vào sự tăng trưởng mạnh của chồi nách ở lá trên cùng, có chiều cao từ 120-200 cm, cần tỉa nhánh và tạo tán
* Dạng sinh trưởng bán hữu hạn: những giống thuộc dạng sinh trưởng này về căn bản cũng giống như dạng sinh trưởng hữu hạn nhưng cây sản xuất nhiều chùm hoa tận ngọn hơn trước khi kết thúc bằng chùm hoa tận ngọn, lúc này cây mới ngừng tăng trưởng
* Dạng lùn: các giống thuộc dạng này có thể sinh trưởng hữu hạn hay vô hạn nhưng
có lóng rất ngắn nên cây thuộc dạng buội
1.2.3 Lá
Lá cà chua thuộc loại lá kép lông chim lẻ, mỗi lá hoàn chỉnh có 3-4 đôi lá chét Ngọn
lá có một phiến lá riêng rẽ gọi là lá đỉnh, rìa lá chét có răng cưa, phiến lá thường phủ lông tơ Tùy theo đặc tính của giống mà lá có màu sắc, kích thước khác nhau và lá thể hiện đầy đủ
Trang 17nhất khi cây có chùm hoa đầu tiên (Mai Thị Phương Anh, 1996; Trần Thị Ba và ctv., 1999;
Tạ Thu Cúc, 2005)
Năng suất cà chua cao hay thấp phụ thuộc vào số lượng lá và diện tích lá trên cây Lá
ít không những ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây mà còn ảnh hưởng đến chất
lượng trái, bởi vì lá ít thường gây hiện tượng nứt và rám trái (Chu Thị Thơm và ctv., 2005)
Tạ Thu Cúc (2005) cho biết bộ lá có ý nghĩa quan trọng đối với năng suất, nếu số lá trên cây
ít khi lá bị bệnh sẽ ảnh hưởng đến năng suất
1.2.4 Hoa
Hoa cà chua thuộc loại hoàn chỉnh (gồm lá đài, cánh hoa, nhị và nhụy) Hoa mọc thành chùm, lưỡng tính, tự thụ phấn là chủ yếu do đặc điểm cấu tạo của hoa Các bao phấn bao quanh nhụy thường cao hơn nhụy và nướm nhị thường thành thục sớm hơn phấn hoa (Tạ
Thu Cúc, 2005) Theo Trần Thị Ba và ctv (1999), sự thụ phấn chéo khó xảy ra vì hoa cà chua tiết ra nhiều độc tố alkaloid nên không hấp dẫn côn trùng và hạt phấn nặng không bay
xa được
1.2.5 Trái
Trái cà chua thuộc loại mọng nước, bao gồm: vỏ, thịt, vách ngăn, giá xoắn và hạt Trái có hình dạng thay đổi từ tròn, bầu dục đến dài Vỏ trái có thể nhẵn hay có khía, màu sắc của vỏ trái thay đổi tùy giống và thời tiết Theo Tạ Thu Cúc (2005), dạng trái cà chua được xác định theo công thức:
I: chỉ số dạng trái
I = H/D H: chiều cao trái (cm)
D: đường kính trái (cm) Nếu I = 0,6-0,8: trái tròn dẹt
g (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007) Sức nảy mầm của hạt có thể giữ 4-5
năm (Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003; Chu Thị Thơm và ctv., 2005)
1.3 ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH CỦA CÂY CÀ CHUA 1.3.1 Nhiệt độ
Trang 18Cà chua ưa khí hậu ấm áp, khả năng thích nghi rộng, vì vậy được sản xuất ở nhiều nơi trên thế giới Đây là loài cây chịu được nhiệt độ cao nhưng mẫn cảm với giá rét Cây sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ từ 15-350C (Tạ Thu Cúc, 2005) Theo Trần Thị Ba và
ctv (1999), một trong những điều kiện cơ bản để có được sản lượng cao và sớm ở cà chua là
tạo chế độ nhiệt độ tối hảo cho cây từ 21-240C, nếu nhiệt độ đêm thấp hơn ngày 4-50C thì cây cho nhiều hoa Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005) cho biết nhiệt độ ban ngày trên 300C không những ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây mà còn tác động đến sức sống của hạt phấn, gây rụng hoa, không đậu trái
1.3.2 Ánh sáng
Cà chua là cây ưa sáng và cường độ ánh sáng mạnh, nếu cường độ ánh sáng thiếu, cây con vươn dài, ra hoa chậm, năng suất và chất lượng giảm (Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003; Nguyễn Mạnh Hùng và Phạm Anh Cường, 2007) Theo Tạ Thu Cúc (2005), cường độ ánh sáng thích hợp cho cà chua sinh trưởng và phát triển từ 4.000-10.000 lux, ở giai đoạn đầu của thời kỳ ra hoa cần chế độ chiếu sáng 9-10 giờ trở lên trong ngày Mai Thị Phương Anh (1996) cho biết ánh sáng mạnh rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến hàm lượng acid ascorbic trong quả cà chua, khi ánh sáng yếu làm giảm hàm lượng vitamin C trong quả
1.3.3 Nước
Nước đóng vai trò quyết định năng suất, tùy giai đoạn sinh trưởng của cây, nhất là giai đoạn cây đang ra hoa và trái đang lớn là lúc cây cần nhiều nước nhất (Hoàng Minh, 2005) Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005) cho rằng khi cây ra hoa đậu trái là lúc cây cần nhiều nước nhất, nhưng khi chùm trái đầu tiên sắp chín, nhu cầu nước giảm dần, nếu thừa nước sẽ tạo điều kiện cho thân lá rậm rạp, cây dễ bị bệnh Theo Tạ Thu Cúc (2005); Nguyễn Mạnh Hùng và Phạm Anh Cường (2007), cà chua là loại cây tương đối chịu hạn nhưng không chịu được úng nước, khi chuyển đột ngột từ chế độ ẩm thấp sang chế độ ẩm cao sẽ gây ra hiện tượng nứt trái
Trang 19chất lượng trái (Tạ Thu Cúc, 2005) Theo Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng (2003); Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007) nhận thấy trong các nguyên tố dinh dưỡng
cà chua sử dụng nhiều nhất là kali rồi đạm và sau đó là lân, canxi và nguyên tố vi lượng
1.4 SÂU BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÀ CHUA 1.4.1 Sâu hại
- Rầy phấn trắng (Bemisia tabaci Gennadius): thuộc bộ cánh đều, là loài côn trùng
rất nhỏ, có màu vàng nhạt, trên thân và cánh được phủ một lớp phấn màu trắng Rầy trưởng thành hoạt động rất linh hoạt, ban ngày ở dưới mặt lá, khi có tác động chúng bay lên cao và
di chuyển rất nhanh (Tạ Thu Cúc, 2005) Theo Lê Lương Tề (2005) và Nguyễn Đức Khiêm (2006), rầy phấn trắng sống dưới mặt lá chích hút dịch ở lá, ngọn và phần thân non, triệu chứng tác hại khó nhận biết, ở những chỗ có rầy gây hại thường phủ một lớp bụi màu trắng Tác hại lớn của rầy phấn trắng là truyền virus gây bệnh cho cây như bệnh xoăn lá cà chua, cây cà chua bị xoăn lá ở giai đoạn sớm thường không cho thu trái hoặc nếu có thì trái thường nhỏ, khi chín thường bị cứng (Nguyễn Đức Khiêm, 2006)
- Sâu đục trái (Helicoverpa armigera Hubner): bướm đẻ trứng phân tán trên lá non,
nụ hoa và ở mặt trên lá (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) Sâu phá hại búp non, hoa, quả và đục vào thân cây cắn điểm sinh trưởng, làm rỗng thân cây (Nguyễn Đức Khiêm, 2006) Khi trái còn xanh sâu đục từ giữa trái vào trong trái, khi trái già sâu đục từ núm xuống sau đó nằm trong trái và tiếp tục gây hại, những trái bị hại có thể rụng hoặc gặp trời mưa thì nhanh chóng bị thối (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
* Triệu chứng bệnh
Ở cây bị bệnh ban ngày lá cây mất màu nhẵn bóng, tái xanh héo cụp xuống, về ban đêm có thể hồi phục lại Sau 2-3 ngày lá cây bệnh không hồi phục lại được nữa, các lá gốc tiếp tục héo xanh và toàn cây cà chua bị héo xanh rồi chết (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1998) Cắt ngang thân cây bệnh dịch nhớt có thể tiết ra từ bó mạch và nhúng mặt cắt vào
Trang 20trong nước vài phút dòng vi khuẩn màu trắng sữa chảy ra từ mặt cắt (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1999) Theo Đỗ Tấn Dũng (2001), bệnh xuất hiện gây hại ở giai đoạn cây con và cây đã lớn, nhất là từ giai đoạn ra hoa đến hình thành quả non, quả già
* Tác nhân gây bệnh
Bệnh héo xanh cà chua do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum Smith hay còn gọi
là Ralstonia solanacearum gây ra Vi khuẩn gây hại trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao,
đặc biệt trên đất trồng cà chua liên tục nhiều năm và pH thấp (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1999) Vi khuẩn có rất nhiều ký chủ và gây ảnh hưởng đến hàng trăm loài của nhiều họ
cây trồng khác nhau (Kelman, 1998) Theo Lê Lương Tề và ctv (1998), vi khuẩn gây bệnh
là loài có tính chuyên hóa rộng, có nhiều chủng sinh học khác nhau, gây hại trên nhiều cây trồng, đặc biệt các cây trồng thuộc họ cà: khoai tây, cà, ớt và các cây trồng khác thuộc họ đậu, bầu bí…
* Đặc điểm phát sinh và phát triển của bệnh
Vi khuẩn xâm nhập vào rễ, gốc thân, thân và cuống lá qua vết thương sây sát do nhổ cây con giống, do côn trùng, do tuyến trùng, do kỹ thuật chăm sóc… hoặc các lỗ hở tự nhiên Sau khi xâm nhập vào bên trong cây vi khuẩn lan theo bó mạch dẫn, sinh sản phát triển, sản sinh ra các men, độc tố dẫn đến phá hủy các mô tế bào, vít tắc mạch dẫn làm cản trở sự vận chuyển nước, chất dinh dưỡng và nhựa trong cây, dẫn tới cây héo xanh nhanh và chết Vi khuẩn tồn tại chủ yếu ở trong đất, tàn dư cây bệnh và lan truyền nhờ nước, tuyến trùng và các loại côn trùng khác (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1998)
* Các biện pháp khắc phục bệnh héo xanh
- Luân canh: vi khuẩn Ralstonia solanacearum lưu tồn trong đất rất lâu, ở đất cát có
thể tìm thấy vi khuẩn này dưới độ sâu 60 cm, ở đất ruộng ngập nước vi khuẩn này không lưu tồn bền như trong đất thoáng khí Do đó đất trồng cà chua nếu luân canh với lúa thì áp lực của bệnh sẽ giảm rõ rệt (Phạm Văn Kim, 2000)
- Dùng giống kháng: đây được xem là biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh héo xanh Hiện nay các nhà khoa học cũng đã lai tạo được một giống có khả năng kháng được bệnh, tuy nhiên vi khuẩn có nhiều dòng gây hại nên khả năng kháng bệnh của giống thay đổi theo điều kiện môi trường Do đó công tác chọn giống bị giới hạn (Trần Thị Ba và
ctv.,1999)
- Sử dụng vi sinh vật đối kháng: có thể dùng các vi sinh vật như Bacillus subtilis,
Pseudomonas fluorescens, Bacillus polymyxa để xử lý hạt trước khi gieo, nhúng rễ cây con
trước khi trồng hoặc đưa lượng vi sinh vật đối kháng vào vùng rễ ngay sau khi trồng (Đỗ
Trang 21Tấn Dũng, 2001) Ngoài ra, cần tạo điều kiện cho đất tơi xốp, có nhiều chất hữu cơ để tăng
số lượng và hoạt tính của các sinh vật đối kháng (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1998)
- Biện pháp ghép cà chua:
Trên thế giới hiện chưa có biện pháp phòng trừ hữu hiệu bệnh héo xanh nên giới khoa học cho rằng biện pháp ghép cà chua là một trong những giải pháp tốt nhất có thể giúp nông dân hóa giải được nỗi lo về bệnh (Quốc Thanh, 2006) Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc
là những nước đã trồng nhiều cà chua ghép như vậy
Ở Việt Nam Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội (2000), Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam (2003), Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam (2004), đã ứng dụng thành công biện pháp này Kết quả cho thấy cây ghép có khả năng chống được bệnh héo xanh (Lê Trường Sinh, 2006)
Theo nhận định của Nguyễn Quốc Vọng (2002), nước ta thuộc vùng nhiệt đới nóng
ẩm rất thuận lợi cho bệnh héo xanh vi khuẩn phát triển Vì vậy việc nghiên cứu và áp dụng biện pháp ghép cà chua là hướng đi thiết thực Về lâu dài ghép cà chua còn cần thiết cho việc trồng cà chua thành vùng chuyên canh (để ổn định sản lượng cho nhà máy hoặc xuất khẩu) Ghép cà chua cũng có ý nghĩa trong việc trồng ở các khu công nghệ cao, trong những nhà lưới ít có điều kiện luân canh hoặc trồng thủy canh là những loại hình trồng trọt thích hợp cho bệnh phát triển nhanh, gây thất thu lớn
1.4.2.2 Bệnh khảm vàng xoăn lá cà chua (do virus)
Bệnh xoăn lá cà chua còn gọi là bệnh xoăn vàng ngọn, cây bệnh có triệu chứng xoăn ngọn, lá co quắp, cây thấp nhỏ, hoa phát triển kém và dễ bị rụng Cây nhiễm bệnh lúc còn nhỏ sẽ bị xoăn lá ngọn rất nhanh và không thể phát triển, không có hoa quả, cây tàn lụi (Lê Lương Tề, 2005) Theo Tạ Thu Cúc (2005), bệnh virus hại cà chua có rất nhiều loại, đây là bệnh rất phổ biến ở vùng nhiệt đới, bệnh gây tổn thất nghiêm trọng về năng suất, có khi không cho thu hoạch
Theo các chuyên gia bảo vệ thực vật Việt Nam, bệnh virus hại cà chua chủ yếu là bệnh xoăn lá (Tomato yellow leaf curl virus), bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ không khí từ 25-300C và ẩm độ không khí cao Rầy phấn trắng Bemisia tabaci là côn trùng
truyền bệnh và bệnh còn có thể lan truyền qua con đường cơ giới
Biện pháp phòng chống: diệt rầy phấn trắng, trồng cây con trong nhà lưới, sử dụng màng phủ bạc trong canh tác, trồng cà với mật độ vừa phải, chọn giống kháng bệnh (Lê Lương Tề, 2005)
1.4.2.3 Bệnh sinh lý
Trang 22- Thối đít trái: bệnh xuất hiện khi trái còn xanh, ban đầu phần cuối trái có đốm nâu sáng, sau đó đốm bệnh lan rộng và chuyển sang nâu sậm, lõm và cứng, nấm mốc đen có thể
phát triển trên vết bệnh Trần Thị Ba và ctv (1999) cho rằng đây là bệnh sinh lý quan trọng
trên cà chua, rất dễ nhầm lẫn với bệnh do nấm tấn công, bệnh gây ra do ẩm độ đất cao, cây thiếu canxi khi lượng magie và kali trong đất cao gây ra hiện tượng đối kháng Thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều, đất lúc khô lúc ướt, đất bón thừa đạm, kali hay magie dẫn đến rối loạn sinh lý của cây, làm giảm sự hấp thu canxi trong đất và tăng khả năng bị bệnh (Phạm Hồng Cúc, 2002)
- Nứt trái: theo Phạm Hồng Cúc (2002) thì nứt trái là do các điều kiện canh tác, khí hậu như bón nhiều phân, tưới nhiều nước hay thay đổi đột ngột về nhiệt độ làm trái phát triển không đều hay quá nhanh gây nứt trái Hiện tượng này thường gặp khi trồng giống cà chua có vỏ mỏng, trái mềm và trong mùa mưa
1.5 GHÉP CÀ CHUA 1.5.1 Tình hình ghép cà chua trên thế giới và ở Việt Nam
Theo một số tài liệu cho thấy rằng phương pháp ghép cà chua đã được sử dụng ở Trung Quốc từ 1000 năm trước Công Nguyên (TCN), còn ở châu Âu được ghi nhận từ những năm 384-237 TCN (Oda, 1993) Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc là những quốc gia đã
đi đầu trọng việc ghép cà chua trên gốc cà tím hay cà chua khác để làm tăng khả năng kháng bệnh và chống chịu tốt với môi trường bất lợi như chịu úng trong mùa mưa (Trần Thị Ba, 2007)
Việc trồng cây ghép thực sự trở thành công nghệ trong sản xuất nông nghiệp được tiến hành ở Nhật Bản và Hàn Quốc vào cuối thập niên 20 với gốc ghép đầu tiên là cho cây dưa hấu sử dụng họ bầu bí làm gốc ghép Đến năm 1950 thì cà tím được nghiên cứu làm gốc ghép cho cây cà chua Sau đó lần lượt các cây trồng khác cũng được ứng dụng rộng rãi như dưa leo vào những năm 60 và cà chua vào những năm 70 của thế kỷ 20 (Oda, 1995)
Các nhà khoa học ở Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển rau Á Châu (AVRDC) đã khuyến cáo dùng giống cà tím EG203 làm gốc ghép cho cà chua để tăng khả năng chống chịu của cà chua với các điều kiện bất lợi và bệnh hại từ đất (Tạ Thu Cúc, 2002)
Hiện nay ở các nước tiên tiến đã có máy ghép tự động, ví dụ máy ghép cà chua của hãng Takii ghép được 1200 cây/giờ Tương tự ở Hàn Quốc cũng có máy ghép dùng cho cây
họ bầu bí (Oda, 1993)
Ở Việt Nam việc ghép cà chua cũng đã bắt đầu từ năm 1999 tại Viện Nghiên Cứu Rau Quả Hà Nội (Lê Thị Thủy, 2000), đã xác định được cây ghép có nhiều ưu thế nhưng
Trang 23không ứng dụng trong sản xuất có lẽ do quy trình ghép cây con và quy trình trồng cây ghép quá phức tạp Từ năm 2002 đến 2004 Viện khoa học Kỹ Thuật Nông nghiệp miền Nam nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật ghép gốc đơn giản ở cây cà chua theo phương pháp của Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát triển Rau Á Châu (AVRDC) đã xác định được trồng cà chua bằng cây ghép có khả năng phòng tránh được bệnh héo xanh vi khuẩn cao hơn tất cả các biện pháp khác ở nước ta (Trần Thị Ba, 2007) Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Quang Vinh và Ngô Xuân Chinh (2003), cà chua ghép có khả năng kháng bệnh và hiệu quả cao, tỷ lệ chết
do bệnh héo xanh ở các gốc cà chua ghép là từ 0-21,5% trong khi ở nhóm đối chứng không ghép là 100%, đồng thời năng suất cũng tăng lên rõ rệt so với đối chứng
Hiện nay kỹ thuật ghép cà chua đã được ứng dụng thành công ở nhiều nơi trong cả nước, đặc biệt là ở tỉnh Lâm Đồng, từ tháng 8/2003 đến 9/2005 diện tích gieo trồng cà chua ghép tại Lâm Đồng đạt khoảng 1.500 ha Với giải pháp này cà chua ghép cho sản lượng tăng 20-30%, có khi lên đến 70 hoặc 100% tương ứng với tỷ lệ số cây sống tăng lên Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Minh Phú (2007); Lê Thị Thúy Kiều (2008) và Phạm Hoàng Sỹ (2008), với điều kiện nhiệt độ và ẩm độ của môi trường trong 3 ngày đầu sau khi ghép là 80-90% và 29-330C thì giai đoạn 15 ngày sau khi ghép cây có tỷ lệ sống dao động từ 85,5-100%
1.5.2 Phương pháp ghép
Ngô Quang Vinh và Ngô Xuân Chinh (2003) cho rằng biện pháp ghép nối ống cao su
là thích hợp nhất, nó giúp giữ chặt vết ghép nhờ đó tỷ lệ cây sống trong vườn ươm và ngoài đồng ruộng cao hơn các biện pháp bằng kim, bằng kẹp hoặc bằng ống nhựa cứng
1.5.3 Ưu điểm và nhược điểm của cà chua ghép
- Cải thiện chất lượng sản phẩm
- Không phải dùng đến các loại hóa chất nên rất an toàn cho người sản xuất và người tiêu dùng
- Theo Trần Văn Lài (2006) thì cà chua ghép có khả năng chịu ngập úng, chống chịu héo xanh vi khuẩn, virus tốt, cho năng suất cao, các chỉ tiêu sinh hóa như hàm lượng chất rắn hòa tan, vitamin C và hàm lượng chất khô ở quả cà chua ghép cao hơn cà chua không ghép
Trang 24* Nhược điểm
- Cà chua ghép có giá thành cao hơn cà chua không ghép
- Tốn nhiều công chăm sóc khi cây còn nhỏ
- Thời gian sinh trưởng chậm hơn 1 - 2 tuần so với cà chua không ghép
- Khi chăm sóc cây ghép trên đồng ruộng cần chú ý đến một vài đặc điểm như độ sâu khi trồng, tỉa chồi nách của gốc ghép… nên việc canh tác đòi hỏi tốn nhiều công lao động hơn (Lê Trường Sinh, 2006)
Trang 251.6 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIỐNG CÀ CHUA 1.6.1 Thế giới
Giống giữ vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, việc chọn giống tốt thích hợp với điều kiện tự nhiên giúp thu được năng suất cao, ổn định, phẩm chất trái tốt và tăng hiệu quả kinh tế Công tác chọn giống cà chua trên thế giới đã được thực hiện từ rất lâu
và cho tới giờ những thành quả trong sản xuất cà chua trên thế giới đã đóng góp rất nhiều trong lĩnh vực nông nghiệp thế giới nói chung cũng như nền nông nghiệp Việt Nam nói riêng
Năm 2007 giống TN 05 từ Hàn Quốc, Savior của Đài Loan và VL2004 do công ty PS của Hoa Kỳ lai tạo và cung ứng đã được trồng thử nghiệm và cho thấy các giống cà chua lai này đều thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn và bán hữu hạn, từ trồng cho tới thu hoạch xong khoảng 3 tháng nên dễ bố trí mùa vụ chuyên canh hoặc luân canh với cây trồng khác, đặc biệt chúng có thể trồng được quanh năm
Kết quả của Hochmuth (2002) về đánh giá năng suất và chất lượng của các giống cà chua Bắc Florida nhận thấy giống Petula và Thomas cho năng suất cao nhất (40-50 tấn/ha), phẩm chất tốt
Một nghiên cứu khác của Goldy (2007) về so sánh năng suất của 20 giống cà chua ở Tây Nam Michigan kết luận giống Indy và Paragon cho năng suất cao nhất 74,3-76 tấn/ha, dạng quả tròn thuôn dài, khi chín có màu đỏ đậm
1.6.2 Việt Nam
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồng Minh (2006), hàng loạt các giống cà chua mới HT21, HT42, HT160 và các giống cà chua lai khác mang thương hiệu HT đang cạnh tranh thành công với các giống cà chua lai trên thế giới ở nước ta để phát triển sản xuất
Kết quả so sánh 13 giống cà chua F1 thương phẩm của Trần Kim Cương (2003) nhận thấy giống 607 có phẩm chất tương đối khá, trái lớn, nhiều trái trên cây, năng suất lý thuyết 55,2 tấn/ha, và năng suất thực tế 44,1 tấn/ha cao nhất
Theo nghiên cứu trong nhà lưới của Trần Thị Ba và Võ Thị Bích Thủy (2006) kết luận ở nhóm trái lớn giống cà chua Redcrown 250 và TN148 có triển vọng nhất với năng suất thương phẩm 45,5-50,5 tấn/ha, đạt trên 80% tổng năng suất; nhóm trái nhỏ giống TN359 có năng suất thương phẩm 31,5 tấn/ha, đạt 90% tổng năng suất
Võ Thành Nhơn (2009) đã khảo sát sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất trái của 9 giống cà chua nhập nội đều thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn, kết quả cho thấy giống cà chua trái lớn Redcrown 250 cho năng suất cao nhất (41,83 tấn/ha), không bị khảm, ít bị héo
Trang 26xanh (2,08 %) Giống cà chua trái nhỏ Thúy Hồng cho năng suất cao nhất (27 tấn/ha), thấp cây, ít bị bệnh
Trắc ngiệm 4 giống cà chua cherry TN 84, TN 359, TM 241 và TN 364 có và không
có thụ phấn bằng ong mật tại TP Cần Thơ, Xuân Hè 2006 Võ Ngọc Hân và Lê Thị Kim Phụng (2006) nhận thấy giống TM 241 là giống có triển vọng nhất cho năng suất thương phẩm 20,63-27,84 tấn/ha
Theo Nguyễn Hồng Minh (2009) giống cà chua lai HT 144 do tâm Nghiên cứu và phát triển giống rau chất lượng cao, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội chọn tạo đã mở rộng sản xuất đại trà ở các tỉnh miền Bắc HT 144 có tiềm năng năng suất từ 40-45 tấn/ha, chống chịu bệnh khảm vàng xoăn lá, héo xanh và chịu nóng cao nên có khả năng trồng trái
vụ Đây là giống cà chua chất lượng cao, cho tới nay vẫn chưa có giống cà chua trái nhỏ nhập nội nào có chất lượng tiêu dùng tương đương hoặc vượt năng suất hơn HT 144
So sánh tỷ lệ bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum, sự sinh trưởng,
năng suất và chất lượng cà cherry TN 359 trên gốc ghép cà chua Miền Nam và cà tím EG203 tại TP Cần Thơ, Đông Xuân 2006 Nguyễn Thị Kim Em (2008) nhận thấy gốc cà tím tốt nhất cho năng suất 22,11 tấn/ha và cao hơn gốc ghép Miền Nam 3 lần Cà cherry TN 359 không ghép chết 100% do bệnh héo xanh vi khuẩn giai đoạn 45 NSKT
Ảnh hưởng của 3 loại gốc ghép cà chua Miền Nam, cà chua Đà Lạt và cà tím EG203
lên tỷ lệ bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum, sinh trưởng, năng suất và
phẩm chất cà chua Redcrown 250 tại thị xã Bạc Liêu vụ Hè Thu 2007 Nguyễn Văn Đém (2008) nhận thấy cả 3 gốc ghép có tỷ lệ bệnh héo xanh dưới 10% Gốc ghép EG203 tốt nhất cho năng suất cao 12,45 tấn/ha, trong khi năng suất cà không ghép 6,90 tấn/ha và phẩm chất trái cà không thay đổi
Trang 27CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN 2.1.1 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng Trường Đại học Cần Thơ
- Thời gian: 12/2009 – 5/2010
2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn
Nhiệt độ trung bình trong thời gian thí nghiệm là 27,90C, cao nhất vào tháng 5/2010 (300C), ẩm độ trung bình 77,5% Lượng mưa cao nhất trong tháng 5/2010 (66,5 mm) và không có mưa trong tháng 2/2010 (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Tình hình khí hậu trong thời gian thực hiện thí nghiệm (Đài Khí tượng Thủy văn
- Ngọn ghép và đối chứng: 4 giống cà chua
(1) PTX-06 (Công ty Hồng Gia Phát): là giống cà chua thuộc loại hình sinh trưởng bán hữu hạn, chiều cao cây trung bình 90-100 cm, trọng lượng trung bình trái 60 g, năng suất trung bình 1,5-2 kg/cây, thịt trái dày
(2) TM71 (Công ty Hồng Gia Phát): là giống cà chua thuộc loại hình sinh trưởng bán hữu hạn, thời gian sinh trưởng 65-70 ngày sau khi trồng, trọng lượng trung bình trái 35 g, dạng trái tròn, trái chín có màu đỏ đẹp
(3) TM75 (Công ty Hồng Gia Phát): là giống cà chua thuộc loại hình sinh trưởng bán hữu hạn, thời gian sinh trưởng 65-70 ngày sau khi trồng, có khả năng kháng tốt bệnh héo xanh, trọng lượng trung bình trái 50 g, trái chín có màu đỏ đẹp, cứng trái, năng suất trung bình 1,5-2 kg/cây
Trang 28(4) Savior (Công ty Syngenta): là giống cà chua bán hữu hạn F1, thời gian sinh trưởng 65-70 ngày sau khi trồng, kháng tốt với bệnh khảm vàng xoăn lá, trọng lượng trung bình trái 80-100 g, năng suất trung bình 2,5-3 kg/cây, trái chắc, dạng trứng dẹp sinh trưởng
và phát triển mạnh, có thể trồng được quanh năm
- Thuốc trừ bệnh: Azimex 40 EC, Physan 20 L, Aliette 80 WP, Zincoper 50 WP, Polyram 80DF
- Tăng đậu trái: Arrow (siêu Canxi), Super Bo
- Màng phủ nông nghiệp, que ghim màng phủ, khay xốp, ống ghép, lưỡi lam, cồn
700
- Thước dây, thước kẹp, cân, Brix kế, máy đo độ cứng SATO, máy đo độ khác màu
vỏ trái Konica Monota CR-10
2.2 PHƯƠNG PHÁP 2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức lô phụ, 2 nhân tố, nhân tố chính là biện pháp ghép và nhân tố phụ là giống:
- Lô chính: Giống cà chua
(1) PTX-06 (2) TM71 (3) TM75 (4) Savior (Công ty Syngenta) làm đối chứng
- Lô phụ: Biện pháp ghép
(A) Ghép
(B) Không ghép
Trang 29Diện tích thí nghiệm: 160 m 2
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm so sánh 4 giống cà chua ghép và không ghép tại Khoa
Nông nghiệp và SHƯD, ĐHCT (từ 12/2009-5/2010)
2.2.2 Kỹ thuật ghép cà chua trên gốc cà tím
Chuẩn bị vườn ươm cây con: nhà lưới có mái che nylon, tránh mưa gió, kệ để cây cao cách mặt đất 70 cm
Chuẩn bị gốc ghép và ngọn ghép: gieo gốc ghép cà tím trước 5 ngày, sau đó gieo cà chua làm ngọn ghép
Trước khi gieo ngâm hạt giống khoảng 30 phút rồi gieo hạt vào vỉ, mỗi lỗ từ 1-2 hạt, gieo sâu khoảng 0,5 cm, sau đó tưới nước cho đủ ẩm rồi xếp vỉ thành một chồng đem vào trong tối Sau 3 ngày thấy có mầm trắng nhú lên thì đem ra vườn ươm để chăm sóc
Phương pháp ghép: sử dụng phương pháp ghép nối ống cao su
Trước khi đưa vào phòng ghép, cây ghép được tưới nước đủ ẩm, phun thuốc trừ sâu bệnh trước 5 ngày Việc tưới nước được tiến hành 3 giờ trước đó (để khi ghép cây có đủ nước, mạch nhựa không bị khô, vết ghép mau lành)
TM71
Savior TM75
TM75
TM75
Savior
Savior
Trang 30Thao tác ghép (cắt gốc ghép trước): tay trái cầm ngọn cây, tay phải cầm dao, cắt vạt góc 300, vết cắt phẳng Tay trái bỏ ngọn vừa cắt vào sọt rác và tiếp tục cầm ngọn của cây lấy làm ngọn ghép Tay phải cắt ngọn ghép, cũng vạt một góc 300, sau đó lấy ống cao su ấn vào ngọn ghép vừa cắt Tay trái cầm ngọn ghép lúc này đã có ống cao su, ấn nhẹ ống cao su vào gốc ghép sao cho 2 mặt cắt của ngọn và gốc ghép áp sát vào nhau là được
Gốc ghép cắt trên lá mầm từ 1-1,5 cm, ngọn ghép cắt dài khoảng 5-6 cm, khoảng 30 phút phun ẩm cho cây ghép một lần (chỉ phun mù tránh đọng thành giọt)
Chăm sóc sau ghép: trong những ngày sau ghép thường xuyên phun nước (phun mù trên lá, không phun nhiều quá vì có thể làm ướt vết ghép) Từ ngày thứ 3 trở đi tưới nước cho cây bằng bình có vòi phun mịn Trong 3 ngày đầu sau ghép cây được che bóng và giữ ở nhiệt độ dưới 290C Từ ngày thứ 4 trở đi tăng dần ánh sáng, ngày thứ 7 cho cây sống trong điều kiện đủ sáng, 13 ngày sau ghép là có thể đem trồng
2.2.3 Kỹ thuật canh tác
* Chuẩn bị đất: đất đã được trồng ớt vụ trước, cuốc xới và lên liếp, dạng liếp đôi, cao
0,5 m, rộng 0,8 m, khoảng cách giữa hai liếp là 0,4 m Liếp được dọn sạch cỏ dại, xử lý vôi bột, bón phân hữu cơ, lắp hệ thống tưới nhỏ giọt, tưới đẫm và đậy màng phủ nông nghiệp…
* Chuẩn bị cây con: cây cà ghép và không ghép được gieo trên khay xốp với giá thể xơ
dừa DASA, 23 ngày sau khi gieo tiến hành ghép và 13 ngày sau khi ghép tiến hành trồng ra đồng (cây không ghép cũng được trồng vào thời điểm này) Cây cao 10,5-16,5 cm và có từ 4-6 lá thật
* Cách trồng: cà chua được trồng theo hàng đôi (2 hàng/liếp, 1 hàng ghép và
1 hàng không ghép), khoảng cách cây 0,3 m, khoảng cách hàng 0,3 m, mật độ 4444 cây/1000
m2, hốc sâu 5 cm, rộng 10 cm để bón lót
* Chăm sóc:
- Lúc mới trồng: cố định cây ghép bằng một que tre và cột cố định để tránh cây bị đổ ngã làm vết ghép tiếp xúc với mặt đất Nếu phần vết ghép tiếp xúc với lớp đất ẩm thì cây ghép rất dễ mọc rễ bất định là nơi mầm bệnh rất dễ tấn công gây hại
- Trồng dặm: sau khi trồng 1 tuần tiến hành trồng dặm lại những chỗ cây bị chết, nhổ
bỏ những cây yếu, cây bệnh thay vào những cây mới khỏe mạnh
- Tưới nước: sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, tưới vào buổi chiều mát, mỗi lần tưới khoảng 15 phút, khi cây lớn thời gian tưới lâu hơn
- Bón phân: vén màng phủ lên sau đó rải đều lên liếp, tránh bón ngay gốc, tưới nước
ẩm rồi đậy màng phủ lại Loại, lượng và thời kỳ bón phân được trình bày ở Bảng 2.2
Trang 31Bảng 2.2 Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho thí nghiệm so sánh 4 giống cà chua ghép và
không ghép
Bón thúc (NSKT) Loại phân Lượng phân
(kg/ha) Bón lót 20 40 60 70 Vôi bột 1500 1500 - - - - Phân hữu cơ 1500 1500 - - - - Super Lân 100 100 - - - - Urea 160 - 80 80 - - 20-20-15 680 500 45 45 45 45 KCl 360 - 90 90 90 90
Công thức bón phân nguyên: 180N - 150P 2 O 5 - 150K 2 O (kg/ha)
- Tỉa chồi và lá thân: tỉa bỏ tất cả các chồi dại dưới gốc ghép và các chồi gốc dưới chùm hoa đầu tiên khi chồi mới nhú ra 3-4 cm Chú ý tỉa bỏ các lá chân đã già hoặc chuyển sang màu vàng giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi trái, thông thoáng và hạn chế sâu bệnh (dùng tay đẩy gẫy chồi và lá chân để tránh lây lan mầm bệnh)
- Làm giàn: lúc 30 ngày sau khi trồng, cắm cây trụ (cao 1,5 m) dọc theo hàng cà, giăng dây kẽm rồi buộc thân cà vào giàn bằng dây ni lông nhằm giữ cho cây đứng vững, cành lá và trái không chạm đất, hạn chế sâu hại Trên giàn treo bẫy vàng để thu hút và tiêu diệt các loại côn trùng có cánh
- Phòng trừ sâu bệnh hại: theo dõi thí nghiệm thường xuyên để kiểm tra tình hình sâu bệnh hại và xử lý kịp thời Phun thuốc định kỳ 5 ngày/lần và luân phiên thay đổi gốc thuốc khác nhau giữa các lần phun để hạn chế sự kháng thuốc của sâu bệnh Khi cây bắt đầu cho trái thì chọn những loại thuốc sinh học có thời gian cách ly ngắn và đảm bảo đúng thời gian cách ly trước khi thu hoạch
+ Sâu hại: chủ yếu là rầy phấn trắng và sâu ăn tạp, sử dụng luân phiên các loại thuốc Regent 80 WG, Confidor 100 SL, Actara 25 WG, Abatin 1.8 EC, TanWin 2.0 EC, Lexus
800 WP, Bulldock 025 EC, các thuốc này được sử dụng kết hợp với dầu khoáng phun định
Trang 32- Bệnh héo xanh do vi khuẩn và bệnh vàng xoăn lá: đếm số cây chết do bệnh héo xanh và số cây khảm trên lô (15 ngày/lần)
Tỷ lệ bệnh (%) = (Số cây bị bệnh/Tổng số cây quan sát) x 100
- Bệnh sinh lý (thối trái do thiếu Canxi): thu những trái bị thối do thiếu canxi trên lô, sau đó tính số trái thối/cây và tỷ lệ trái thối
* Chỉ tiêu sinh trưởng (quan sát 8 cây/lô, định kỳ 15 ngày/lần)
- Chiều cao thân chính (cm): dùng thước dây đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng của cây
- Số lá trên thân chính (lá): đếm từ hai lá mầm đến đỉnh sinh trưởng
- Đường kính gốc ghép (mm): dùng thước kẹp đo ở vị trí dưới vết ghép 2 cm đối với cây ghép, vào các thời điểm trổ hoa, thu trái rộ và kết thúc thu hoạch
- Đường kính gốc thân ngọn ghép (mm): dùng thước kẹp đo ở vị trí trên vết ghép 1
cm cùng lúc với đường kính gốc ghép
- Kích thước trái (cm): chọn ngẫu nhiên 8 trái thương phẩm trên từng lô ở lần thu hoạch rộ, dùng thước kẹp đo chiều cao (đo từ đít trái đến cuống trái), đường kính (đo ở khoảng rộng nhất và đo 2 lần với gốc quay thước là 900 rồi lấy trung bình)
* Chỉ tiêu về thành phần năng suất và năng suất
- Trọng lượng trung bình trái (g): chọn 8 trái ngẫu nhiên ở lần thu hoạch rộ của 8 cây mẫu/lô, cân trọng lượng, sau đó tính trọng lượng trung bình trái
- Số trái/cây (trái): đếm toàn bộ trái của 8 cây mẫu/lô qua các lần thu hoạch
- Trọng lượng trái trên cây (kg/cây): cân toàn bộ số trái thu được trên 8 cây mẫu/lô qua các lần thu hoạch rồi tính trung bình
- Năng suất tổng (tấn/ha): cân tất cả trọng lượng trái/lô qua các lần thu hoạch rồi quy
ra tấn/ha
- Năng suất thương phẩm (tấn/ha): cân tất cả trọng lượng trái bán được/lô qua các lần thu hoạch rồi quy ra tấn/ha
* Một vài chỉ tiêu về phẩm chất (lấy ngẫu nhiên 3 trái/lô để phân tích)
Phân tích tại phòng thí nghiệm Bộ môn Khoa học Cây trồng, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
- Độ khác màu sắc vỏ trái (∆E): đo ở vị trí đầu, giữa và cuối trái bằng máy Konica Monota CR-10
- Độ cứng trái (kgf/cm2): được xác định bằng máy đo độ cứng SATO (FRUIT PRESSURE TASTAR – FT 327) Đo ở vị trí đầu trái, giữa trái và cuối trái
Trang 33- Độ dày thịt trái (cm): cắt ngang trái cà chua, dùng thước kẹp đo ở 3 điểm đầu, giữa
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT
Thí nghiệm được thực hiện tại Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 12/2009-5/2010 Trong thời gian thí nghiệm tình hình thời tiết có ảnh hưởng bất lợi tới sự sinh trưởng và phát triển của cây cà chua Giai đoạn lúc mới trồng mưa nhiều làm ngập liếp, ẩm độ đất và ẩm độ không khí cao tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh héo xanh và bệnh khảm phát triển
Giai đoạn 30 ngày sau khi trồng (NSKT) bệnh héo xanh đã gây hại nặng trên số cây
cà không ghép, những cây cà ghép thì kháng bệnh tốt hơn Bệnh khảm vàng xoăn lá cũng xuất hiện trong giai đoạn 30 NSKT và gây hại nặng trên lô thí nghiệm của 4 giống, giống Savior có ưu thế kháng bệnh tốt hơn các giống còn lại Ở 50 NSKT, hiện tượng thối trái do thiếu Canxi xảy ra trên 4 giống, giống Savior có tỷ lệ bệnh thấp nhất Lúc thu hoạch (80-90 NSKT) xuất hiện những cơn mưa lớn làm ngập liếp gây hiện tượng nứt trái đã làm ảnh hưởng lớn đến năng suất thương phẩm của các giống
Nhìn chung, trong thời gian thí nghiệm 4 giống cà chua đều sinh trưởng tương đương nhau nhưng giống cà chua ghép Savior cho năng suất cao nhất
Trang 353.2 TÌNH HÌNH BỆNH HẠI
3.2.1 Bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum
Bệnh héo xanh gây hại không đáng kể cho các giống cà chua ghép, ở giai đoạn 90 NSKT tỷ lệ bệnh cao nhất ở giống Savior (10,12%), thấp nhất ở giống PTX-06 và TM71 (7,74%) Tuy nhiên đối với cây không ghép thì bệnh gây hại nặng cho cả 4 giống từ giai đoạn 30 NSKT, tỷ lệ bệnh cao nhất ở giống PTX-06 và TM71 (100%), thấp nhất ở giống TM75 (15,48%) (Bảng 3.1) Nguyên nhân chính khiến bệnh gây hại nặng ở các giống cà chua không ghép là do đất vừa mới trồng qua một vụ ớt đã bị nhiễm bệnh nặng nên khi tiếp tục trồng cà chua trên nền đất này thì áp lực mầm bệnh là rất lớn Ngoài ra, trong thời gian thí nghiệm thì các điều kiện tự nhiên cũng thích hợp cho sự phát sinh và phát triển của bệnh Nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm từ 26-300C (Bảng 2.1), đây là nhiệt độ tối thích cho sự
sinh trưởng của vi khuẩn Ralstonia solanacearum (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1998)
Bảng 3.1 Tỷ lệ bệnh héo xanh (%) của 4 giống cà chua qua các NSKT tại Khoa Nông
nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
Cây ghép Cây không ghép Giống
30 60 90 30 60 90 PTX-06 1,19 4,76 7,74 100,00 100,00 -
Trang 36Bảng 3.2 Tỷ lệ bệnh khảm (%) của 4 giống cà chua ghép qua các NSKT tại Khoa Nông
nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
NSKT Giống ghép
3.2.3 Thiệt hại do thối trái và nứt trái
3.2.3.1 Thối trái (do thiếu Canxi)
Giai đoạn 50 NSKT xảy ra hiện tượng thối trái do thiếu Canxi Tỷ lệ trái thối của 4 giống cà chua ghép có sự khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1%, cao nhất ở các giống PTX-06 (19,31%), TM71 (15,53%) và TM75 (11,12%), thấp nhất ở giống Savior
(0,10%) (Hình 3.1 và Phụ chương 1) Bốn giống cà chua đều được canh tác trong cùng điều
kiện như nhau nhưng giống Savior bị thối trái ít nhất, điều này cho thấy rằng nhu cầu canxi
của giống Savior thấp hơn các giống PTX-06, TM71 và TM75 Theo Trần Thị Ba và ctv
(1999), bệnh thối trái gây ra do ẩm độ đất cao, sự giảm canxi bởi dinh dưỡng amonium và do cây thiếu canxi khi đất có nhiều magie và kali gây ra hiện tượng đối kháng ion
Thối trái Nứt trái
Hình 3.1 Tỷ lệ (%) trái nứt và trái bị thối của 4 giống cà chua ghép tại Khoa Nông nghiệp
và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
3.2.3.2 Hiện tượng nứt trái
Kết quả hình 3.1 và Phụ chương 1 cho thấy tỷ lệ trái nứt của 4 giống cà chua ghép không có sự khác biệt qua phân tích thống kê, dao động từ 15,99-26,85% Trong thời gian thu hoạch các liếp trồng đã được giảm lượng nước tưới nhưng giai đoạn này xuất hiện những
Trang 37cơn mưa lớn đột ngột làm ngập liếp dẫn đến thừa nước gây ra hiện tượng nứt trái Theo Nguyễn Mạnh Hùng và Phạm Anh Cường (2007); Tạ Thu Cúc (2005), cà chua là loại cây tương đối chịu hạn nhưng không chịu được úng nước, khi chuyển đột ngột từ chế độ ẩm thấp sang chế độ ẩm cao sẽ gây ra hiện tượng nứt trái
3.3 TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN 3.3.1 Ngày trổ hoa và thu hoạch
Ngày trổ hoa ở cây cà chua ghép của 4 giống tương đương nhau (31-33 NSKT) Tương tự, cây không ghép cũng có ngày trổ hoa tương đương nhau (22-25 NSKT) Cây ghép của 4 giống đều có cùng thời gian thu trái lần đầu (63 NSKT), kéo dài thu hoạch (45 ngày)
và kết thúc thu hoạch (108 NSKT) (Bảng 3.3) Điều này cho thấy rằng các giống thí nghiệm
có thời gian sinh trưởng tương đương nhau
Bảng 3.3 Ngày trổ hoa và thu hoạch (NSKT) của 4 giống cà chua ghép và không ghép, tại
Khoa Nông nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
Ngày trổ hoa Giống
Ghép Không
ghép
Chênh lệch
Bắt đầu thu hoạch
Kéo dài thu hoạch
Kết thúc thu hoạch PTX-06 33 24 9 63 45 108 TM71 31 24 7 63 45 108 TM75 32 22 10 63 45 108 Savior (Đối chứng) 33 25 8 63 45 108
3.3.2 Chiều cao thân chính
Chiều cao thân chính của 4 giống cà chua ghép hầu như không có sự khác biệt qua phân tích thống kê (Bảng 3.4) Chiều cao của giống TM71 có khuynh hướng tăng nhanh ở giai đoạn 1 NSKT và 15 NSKT, các giai đoạn sau thì chiều cao của 4 giống tương đương nhau, dao động từ 65,29-78,17 cm (30 NSKT) và 93,75-110,75 cm (75 NSKT) Điều này cho thấy rằng 4 giống cà chua có khả năng sinh trưởng và phát triển tương đương nhau
Bảng 3.4 Chiều cao thân chính của 4 giống cà chua ghép qua các NSKT tại Khoa Nông
nghiệp và SHƯD, ĐHCT (12/2009-05/2010)
Chiều cao cây ghép (cm) qua các NSKT
Giống ghép
1 15 30 45 75 PTX-06 12,70 b 27,88 b 67,75 94,33 98,67 TM71 16,00 a 33,83 a 78,17 98,64 107,50 TM75 11,90 b 29,21 b 65,29 85,04 93,75 Savior 11,60 b 27,08 b 70,63 108,67 110,75 Mức ý nghĩa ** ** ns ns ns
CV (%) 6,01 4,16 7,62 8,17 8,12
Trong cùng một cột, những số có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt có ý nghĩa thống kê; ns: khác biệt không ý nghĩa thống kê; **: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%