TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG SO SÁNH CÁC BIỆN PHÁP Ủ, XỬ LÝ HẠT, GIỐNG VÀ HỆ THỐNG TRỒNG LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CẢI M
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG
SO SÁNH CÁC BIỆN PHÁP Ủ, XỬ LÝ HẠT, GIỐNG VÀ HỆ THỐNG TRỒNG LÊN
SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA CẢI MẦM THỦY CANH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Kỹ sư: TRỒNG TRỌT
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
SO SÁNH CÁC BIỆN PHÁP Ủ, XỬ LÝ HẠT, GIỐNG VÀ HỆ THỐNG TRỒNG LÊN
SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA CẢI MẦM THỦY CANH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Kỹ sư: TRỒNG TRỌT
Lớp: TT0711A2
Cần Thơ, 2010
Trang 3Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng trọt với đề tài:
SO SÁNH CÁC BIỆN PHÁP Ủ, XỬ LÝ HẠT,
LOẠI GIỐNG VÀ HỆ THỐNG TRỒNG LÊN
SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CẢI MẦM THỦY CANH
Do sinh viên Nguyễn Thị Minh P hương thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày tháng năm 2010
PGS.TS Trần Thị Ba
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Cần Thơ, ngày tháng năm 2010
Nguyễn Thị Minh Phương
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
-
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng trọt với đề tài: SO SÁNH CÁC BIỆN PHÁP Ủ, XỬ LÝ HẠT, LOẠI GIỐNG VÀ HỆ THỐNG TRỒNG LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CẢI MẦM THỦY CANH Do sinh viên Nguyễn Thị Minh P hương thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày tháng năm 2010
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội đồng
Trang 6
TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Nguyễn Thị Minh Phương
Ngày, tháng, năm sinh: 05/12/1988
Nơi sinh: Cần Thơ
Con ông: Nguyễn Văn Hoàng
Con bà: Dương Thái Hằng
Chỗ ở hiện nay: 151/F, khu vực Long Định, phường Long Hưng, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
Đã tốt nghiệp phổ thông trung học tại trường Trung Học Phổ Thông Chuyên
Lý Tự Trọng, Thành phố Cần Thơ
Năm 2007-2011: sinh viên ngành Trồng Trọt khóa 33, Khoa Nông nghiệp & SHƯD, Đại học Cần Thơ
Trang 7LỜI CẢM ƠN Kính dâng!
Cha mẹ đã suốt đời tận tụy, lo lắng cho con ăn học nên người
Thành kính biết ơn!
Cô Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm và giúp đỡ
em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
Thầy Bùi Văn Tùng đã giúp đỡ, chỉ bảo nhiều điều quý báu để em có thể hoàn thành luận văn này
Quý thầy cô và cán bộ thuộc Bộ môn Khoa học Cây trồng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt khóa học
Chân thành biết ơn!
Thầy cố vấn học tập Trần Văn Hâu đã dìu dắt chúng em qua giảng đường Đại học
Cô Võ Thị Bích Thủy đã chỉ dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian thực hiện thí nghiệm
Trang 8NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG 2010 “So sánh các biện pháp ủ, xử lý hạt, loại
giống và hệ thống trồng lên sự sinh trưởng và năng suất của cải mầm thủy canh”
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Trồng trọt, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Trần Thị Ba và ThS Võ Thị Bích Thủy
TÓM LƯỢC
Đề tài “So sánh các biện pháp ủ, xử lý hạt, loại giống và hệ thống trồng lên
sự sinh trưởng và năng suất của cải mầm thủy canh” được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2010 tại Nhà lưới rau, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ nhằm tìm ra các biện pháp ủ, các biện pháp xử lý hạt, loại giống và
hệ thống trồng cho cải mầm sinh trưởng và đạt năng suất cao Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3 thí nghiệm:
1 So sánh các thời gian ủ khác nhau: (i) Không ủ (đối chứng), (ii) ủ 5 giờ, (iii) ủ 10 giờ, (iv) ủ 15 giờ Kết quả cho thấy chiều cao cây và năng suất cải mầm không khác biệt nhau
2 So sánh các biện pháp xử lý hạt: (i) ngâm hạt giống trong 2 sôi + 3 lạnh trong 2 giờ (đối chứng), (ii) ngâm hạt giống trong 3 sôi + 2 lạnh trong 2 giờ, (iii) ngâm hạt giống ở 60 - 650C trong 5 phút, (iv) ngâm hạt giống ở 700C trong 15 - 20 giây, (v) ngâm hạt giống ở 800C trong 5 giây, (vi) ngâm hạt giống ở 1000C vớt ra liền, (vii) ngâm hạt giống với chlorine 1% trong 30 phút sau đó ngâm với nước trong 90 phút, (viii) ngâm hạt giống với nước trong 90 phút sau đó ngâm với chlorine 1% trong 30 phút Kết quả cho thấy xử lý hạt bằng cách ngâm 2 sôi + 3 lạnh trong 2 giờ, 3 sôi + 2 lạnh trong 2 giờ và ngâm hạt giống với chlorine 1% trong 30 phút sau đó ngâm với nước trong 90 phút cho chiều dài rễ, chiều cao cây
và năng suất cao
3 So sánh 2 hệ thống (dâng ngập và thả nổi) với 2 loại giống (Công ty giống Trang Nông và Bình Minh) Kết quả cho thấy giống công ty Trang Nông cho chiều dài rễ, chiều cao cây và năng suất cao hơn giống Bình Minh Hai hệ
Trang 9thống trồng cải mầm thủy canh dâng ngập và thả nổi cho năng suất tương đương
nhau
MỤC LỤC
Trang
Tiểu sử cá nhân iv
Lời cảm ơn v
Tóm lược vi
Mục lục vii
Danh sách bảng ix
Danh sách hình x
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Sơ lược về rau mầm 2
1.1.1 Định nghĩa rau mầm 2
1.1.2 Các loại hạt sản xuất rau mầm .2
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng 3
1.2 Thủy canh 3
1.2.1 Nguồn gốc thủy canh 3
1.2.2 Lợi ích của thủy canh 4
1.2.3 Hạn chế của thủy canh 5
1.2.4 Tình hình sản xuất rau bằng phương pháp thủy canh 5
1.2.5 Một số nghiên cứu về rau thủy canh 6
1.2.6 Các hệ thống thủy canh 6
1.3 Ngâm ủ hạt 7
1.4 Xử lý hạt 7
1.4.1 Ngâm nước - thúc mầm 8
1.4.2 Xử lý nhiệt 8
1.4.3 Xử lý bằng hóa chất 9
1.4.4 Xử lý bằng phương pháp vật lý 10
Chương 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP .11
2.1 Phương tiện 11
2.1.1 Địa điểm và thời gian 11
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 11
2.2 Phương pháp thí nghiệm 13
2.2.1 Thí nghiệm 1 13
2.2.2 Thí nghiệm 2 14
Trang 102.2.3 Thí nghiệm 3 16
2.2.4 Kỹ thuật canh tác .16
2.2.5 Chỉ tiêu theo dõi 17
2.2.6 Phân tích số liệu 19
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
3.1 Ghi nhận tổng quát 20
3.2 Thí nghiệm 1 21
3.2.1 Chiều cao cây 21
3.2.2 Năng suất 21
3.3 Thí nghiệm 2 22
3.3.1 Chiều cao cây 22
3.3.2 Chiều dài rễ 24
3.3.3 Năng suất 25
3.4 Thí nghiệm 3 27
3.4.1 Chiều cao cây 27
3.4.2 Chiều dài rễ 28
3.4.3 Năng suất 29
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 31
4.1 Kết luận .31
4.2 Đề nghị 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO .33 PHỤ CHƯƠNG
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
3.1 Chiều cao cải mầm qua các biện pháp ủ trước khi gieo, nhà lưới
khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, ĐHCT (05 -
11/03/2010)
21
3.2 Năng suất của cải mầm lúc thu hoạch (7 NSKG), nhà lưới khoa
Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, ĐHCT (05 - 11/03/2010)
22
3.3 Chiều dài rễ ở các biện pháp xử lý hạt giống qua các ngày sau
khi gieo, nhà lưới khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng,
Trang 122.6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm so sánh các biện pháp xử lý đến sự
sinh trưởng và năng suất cải mầm tại nhà lưới rau, khoa
NN&SHƯD, ĐHCT (13 - 18/06/2010)
15
3.1 Chiều cao cải mầm ở các biện pháp xử lý hạt trước khi gieo,
tại nhà lưới khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, ĐHCT
(13 - 18/06/2010)
23
3.2 Năng suất của cải mầm qua các biện pháp xử lý hạt, nhà lưới
khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, ĐHCT
(13-18/06/2010)
26
Trang 13MỞ ĐẦU
Trong các trạng thái của rau thì trạng thái mầm là tốt nhất vì rau mầm là loại rau siêu sạch không có hàm lượng độc tố từ phân bón và thuốc trừ sâu Rau mầm chứa nhiều vitamin như: vitamin A, D, E, K, các nhóm vitamin B và nhất là vitamin C, … Trong các loại rau mầm, cải mầm là tiêu biểu nhất Bên cạnh các đặc tính vốn có của rau mầm, cải mầm là loại rau phổ biến do khả năng thích ứng và rất dễ trồng Ngoài yếu tố trên, cải mầm còn có khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư, cảm cúm và chống lão hóa, …( Võ Thị Thu, 2010) Từ những lợi ích đó cải mầm được trồng rộng rãi và đã có mặt trong các nhà hàng, siêu thị ở các tỉnh trong cả nước Đặc biệt, với dân thành thị
có thu nhập cao thì nhu cầu sử dụng cải mầm là rất lớn Tuy nhiên, việc trồng cải mầm còn tồn tại một số vấn đề như: giá thành cao, chưa có một quy trình trồng cụ thể trên hệ thống thủy canh, chưa tìm ra cách ủ, cách xử lý như thế nào cho tốt, trồng trên giá thể làm cây dễ bị nhiễm bệnh, thu hoạch, xử lý giá thể, làm sạch cải mầm sau thu hoạch cũng gây nhiều khó khăn
Do đó, đề tài “So sánh các biện pháp ủ, xử lý hạt, loại giống và hệ thống trồng lên sự sinh trưởng và năng suất của cải mầm thủy canh” là cần thiết được thực hiện nhằm:
- Xác định thời gian ủ
- Xác định biện pháp xử lý hạt
- Xác định loại giống cải mầm
- Xác định hệ thống thủy canh cải mầm
Cho sinh trưởng và năng suất cao để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Trang 14CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về rau mầm
1.1.1 Định nghĩa rau mầm
Rau mầm là những loại hạt giống rau thông thường được trồng cực ngắn ngày (5 - 7 ngày), thu hoạch khi hạt nảy mầm hình thành một cây rau, rất an toàn và bổ
dưỡng (Trần Thị Ba và ctv., 2008)
1.1.2 Các loại hạt sản xuất rau mầm
Trên thế giới có rất nhiều loại hạt được sử dụng để sản xuất rau mầm như cải
củ (Radish), cải bắp (Cabbage), cải bông xanh (Broccoli), cải rổ (Kale), đậu xanh (Mungbean), đậu hòa lan (Garden sugar pea), đậu phộng (Peanut), đậu nành (Soybean), cỏ đinh lăng (Alfalfa), hướng dương (Sunflower), rau muống (Water spinach), cải xanh (Mustard), bí đỏ (Pumpkin), lúa mì (Wheat), lúa mạch
(Buckwheat), rau dền (Amaranth) (Trần Thị Ba và ctv., 2008)
Rau mầm rất dễ trồng Mỗi thứ có vị ngon riêng nhưng cải củ được chọn nhiều hơn vì giá hạt rẻ, vị cay nồng rất hấp dẫn, ăn nhiều không chán, dễ tiêu và có cảm giác
“ấm bụng”, kích thích người ta muốn ăn thêm nhiều món khác (http://elib.hcmuaf.edu.vn)
Hình 1.1 Một số loại rau mầm: (a) Cải củ, (b) Đậu xanh, (c) Leek sprout, (d) Cải đỏ
Trang 151.1.3 Giá trị dinh dưỡng
Theo Meyerowitz (2002), mầm cải củ có hàm lượng vitamin C gấp 29 lần và vitamin A gấp 4 lần so với sữa (29 mg, 1 mg) (391 IU, 126) Phân tích hạt cải củ ở giai đoạn hạt giống và giai đoạn mầm xác định hàm lượng chất chống ung thư là glucosinolate, glucoraphenin cao (Queensland, 2007)
Theo Trần Thị Ba và ctv., (2008), mầm thuộc nhóm đậu: đậu xanh, đậu đỏ, đậu
nành, đậu đen, đậu phộng đều bổ hơn hạt của nó, giàu protein (hạt chứa 40% gần bằng thịt sữa) nên là món ăn chay tốt Vitamin A chứa trong đậu xanh đã nảy mầm thì cao hơn hạt đậu khô từ 1,5 - 2 lần, một vài loại đậu khác có lượng vitamin A cao hơn gấp
8 lần khi chúng đã nảy mầm Qua quy trình ngâm ủ, mầm sẽ có hàm lượng protein, axit amin và vitamin C cao hơn Do mầm mọc nhanh, ăn an toàn, tốt cho sức khỏe và
rẻ nên được gọi là “thực phẩm của thế hệ mới” hay là thực phẩm của tương lai
Rau mầm có 2 loại là rau mầm trắng (như giá đỗ) và rau mầm xanh (các loại rau mầm hiện đại), trong đó rau mầm xanh có hàm lượng dinh dưỡng cao, lượng nước trong thân ít hơn nhiều so với rau mầm trắng Đặc biệt, rau mầm xanh còn có cartotene (chất tạo sắc tố), chlorophyll (diệp lục tố) và đạm dễ tiêu.(http://vnagri.com.vn)
1.2 Thủy canh
1.2.1 Nguồn gốc thủy canh
Theo Nguyễn Xuân Nguyên (2004), từ lâu con người đã biết trồng cây không cần đất Vườn treo Babylon nổi tiếng là một hình thức thủy canh Vườn nổi ở Trung Quốc đã được Macro Polo nói đến, cả nền văn minh Aztec và người Hy Lạp cổ đại đã
áp dụng các hình thức thủy canh
Theo Echverria (2008), thì William Frederick Gericke là người đã đặt ra thuật ngữ thủy canh, theo tiếng Hy Lạp hydro (nước) và ponos (công việc), hoặc “làm việc với nước” Hơn nữa, ông là người đầu tiên thực hiện các thí nghiệm lớn quy mô thương mại với dung dịch dinh dưỡng đậm đặc thoáng khí, ấm để trồng thực vật nổi
và rất thành công, trong đó ông đã thành công phát triển cà chua, rau diếp và rau quả khác, cũng như rễ và củ như củ cải đường, cải ngựa, cà rốt và khoai tây Sau đó ông
mở rộng sang hoa, trái cây và cây cảnh Ứng dụng thương mại của công nghệ này xuất
Trang 16hiện vào thế chiến thứ II, nhu cầu rau cho quân đội được cân nhắc ở những nơi đất khô cằn, nóng quá mức (như Guadalupe), hoặc quá mức lạnh (như ở Greenland) ngăn cản canh tác bình thường trên nền đất Sau khi kết thúc chiến tranh, quân đội Mỹ và Nhật Bản giải quyết được vấn đề rau quả tươi bởi dùng đến kỹ thuật này
Trần Thị Ba và ctv., (2008), canh tác không cần đất hoặc thủy canh là một kỹ
thuật trồng cây trong dung dịch dinh dưỡng (nước và phân), nó cung cấp tất cả các thành phần dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng tối hảo, có hoặc không sử dụng môi trường nhân tạo để nâng đỡ cây về mặt cơ học Thường được trồng trong nhà hơn trồng ngoài trời Theo Võ Chí Hùng (2007), thủy canh là một kỹ thuật trồng cây với dung dịch dinh dưỡng, nước và không cần đất Hệ thống rễ có thể treo trực tiếp trong dung dịch dinh dưỡng hoặc có thể thay thế đất, giá thể được chứa trong chậu hoặc máng, giá thể gồm nhiều loại khác nhau như cát, mạc cưa, đá, xơ dừa, than bùn, … tất
cả các loại giá thể phải có khả năng giữ nước tốt
Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005), kỹ thuật thủy canh (hay kỹ thuật trồng trong dinh dưỡng) là một tiến bộ kỹ thuật được Trung tâm Nghiên cứu và phát triển rau Châu Á (AVRAD) nghiên cứu và chuyển giao Từ đầu năm 1993, Lê Đình Lương (Đại học Quốc Gia Hà Nội) và Nguyễn Quang Thạch (Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội) phối hợp với tổ chức Nghiên cứu và phát triển Hồng Công (R&D Hồng Công) tiến hành nghiên cứu toàn diện các yếu tố kinh tế - kỹ thuật để áp dụng trong điều kiện Việt Nam
1.2.2 Lợi ích của thủy canh
Theo Vaz và Demetry (2009), thủy canh có những lợi ích: cây trồng có thể được trồng ở những nơi đất trống hoặc bị ô nhiễm Nếu hệ thống được tự động bằng cách sử dụng máy bơm hoặc thậm chí máy tính, chi phí lao động sẽ giảm đáng kể Một ưu điểm khác là không có côn trùng, động vật và bệnh như nấm được hiện diện trong môi trường ngày càng tăng Hệ thống thủy canh có sản lượng cao hơn so với canh tác truyền thống cho mỗi đơn vị diện tích Mặt khác theo Echeverria (2008) ít phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, cây có sự cân bằng lý tưởng của không khí, nước, chất dinh dưỡng và độ ẩm cùng nhau Dễ dàng và nhanh chóng sửa chữa thiếu sót trong việc cung cấp các chất dinh dưỡng, thoát nước tốt Chất lượng tốt hơn, thu
Trang 17hoạch dễ dàng hơn và nhiều đợt trong một năm Khả năng phát triển các cây trồng cùng loài nhiều lần vì không có sự suy giảm đất Giảm chi phí sản xuất, giảm tiêu thụ nước, sạch sẽ, vệ sinh Dễ tưới, dễ khử trùng (Nguyễn Xuân Nguyên, 2004)
1.2.3 Hạn chế của thủy canh
Theo Morgan (2008) và Trần Thị Ba và ctv., (2008) cho rằng thủy canh có một
số hạn chế như sau:chi phí đầu tư ban đầu khá cao, bệnh có thể lây lan rất nhanh, đòi hỏi phải cung cấp điện liên tục và đáng tin cậy Thủy canh là một kỹ thuật quá phức tạp để tìm hiểu và thực hiện, rất dễ xảy ra sự cố do mất điện, rò rỉ hay thủy lợi bị tắc nghẽn
1.2.4 Tình hình sản xuất rau bằng phương pháp thủy canh
Việc nghiên cứu rau không cần đất đã bắt đầu ở Bỉ vào năm 1973 và được ứng dụng rộng rãi đầu tiên vào năm 1980 Hiện nay gần 100% vành đay rau xanh ven thành phố Sydney, Úc đã sản xuất rau - hoa - quả trong nhà kính vừa đảm bảo tính vệ sinh vừa cho năng suất cao như cà chua 500 tấn/ha/năm, dưa leo 450 tấn/ha/năm (Nguyễn Quốc Vọng, 2006)
Ở Việt Nam, từ năm 1993 Lê Đình Lương đã tiến hành nghiên cứu toàn diện các yếu tố kỹ thuật để trồng thủy canh trong điều kiện nước ta Hồ Hữu An (2003) đã nghiên cứu và xây dựng thành công quy trình trồng rau không cần đất với kết quả ở cà chua 60 tấn/ha/năm, dưa leo 100 - 120 tấn/ha/vụ Trồng theo phương pháp thủy canh
ở Đà Lạt là một minh chứng nổi bật và phương pháp này đang mở ra một triển vọng mới cho nền nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp xanh của Đà Lạt
1.2.5 Một số nghiên cứu về rau thủy canh
Kết quả nghiên cứu của Võ Chí Hùng (2007) về dinh dưỡng thủy canh trên dưa
leo (Cucumis sativus L.) cho năng suất và sự sinh trưởng vượt trội ở 6 loại dinh
dưỡng Nghiên cứu của Thái Hoàng Phúc (2009) đã tiến hành thí nghiệm ngoài trời và cho kết quả rau muống thích nghi nhất với trồng thủy canh, đồng thời phun thêm dinh dưỡng D được pha ở bộ môn Khoa học cây trồng - Đai học Cần Thơ cho năng suất xà lách cao
Trang 18Kết quả nghiên cứu của Đỗ Thủy Tiên và Trần Thị Hiền (2007) về dinh dưỡng thủy canh trên cải ngọt đuôi phụng (TN23) và xà lách (TN518) trồng bằng phương pháp bán thủy canh nhận thấy dinh dưỡng ME cho cải ngọt đuôi phụng và xà lách có năng suất vượt trội trong 6 loại dinh dưỡng
Võ Hoàng Thiên Lý (2009) nghiên cứu sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên 4 loại giá thể khác nhau bằng phương pháp thủy canh và bán thủy canh cho năng suất từ 4,2 - 6,5 kg/m2
1.2.6 Các hệ thống thủy canh
Thủy canh ngâm rễ có sục khí (SAT - Static Aerated Technique) phần rễ của cây chìm sâu trong dung dịch dinh dưỡng tĩnh, khi đó dung dịch sẽ được sục khí bằng cách cung cấp một dung lượng khí vào vùng rễ hoặc bơm không khí vào dung dịch dinh dưỡng (http://www.hydroponicsbc.com)
Kỹ thuật dòng chảy sâu (DFT - Deep Flow Technique) dung dịch dinh dưỡng
đi ngang qua ống PVC đường kính 10 cm, đặt ở độ dốc khoảng 30 - 40 độ để dinh dưỡng chảy dễ dàng, bên trên ống có sơn màu trắng và đục lỗ đặt các rọ nhựa trồng cây, đáy rọ tiếp xúc với dung dịch dinh dưỡng và được bơm hoàn lưu theo trọng lực (Kao Te-Chen, 1991)
Kỹ thuật dòng chảy thông khí (AFT - Aerated Flow Technique) một cải tiến từ
kỹ thuật DFT, dinh dưỡng được cung cấp đầy đủ bởi những luồng thông khí nhờ một
cơ chế đặc biệt (http://www.hydroponicsbc.com)
Kỹ thuật phun sương rễ (RMT - Root Mist Technique) dinh dưỡng được phun dưới dạng sương trong thời gian 4 - 5 phút vào vùng rễ của cây và được chứa trong một buồng ở gần rễ Kỹ thuật này được biết tới như kỹ thuật khí canh, rất tốt cho vùng
rễ non và những cành giâm (http://www.hydroponicsbc.com)
Kỹ thuật dinh dưỡng sương mù (FFT - Fog Feed Technique) kỹ thuật này tương tự với kỹ thuật RTM nhưng dinh dưỡng được phun dưới dạng giọt nhỏ trong một thời gian Kỹ thuật này tốt cho những cây trồng có rễ khí sinh (http://www.hydroponicsbc.com)
Kỹ thuật tăng giảm dòng chảy đều đặn (hay còn gọi là ngập cạn) (EFT - Ebb and Flow Technique) dung dịch dinh dưỡng được bơm đi ngang qua hệ thống rễ định
Trang 19kỳ 3 - 4 lần/ngày Dung dịch dinh dưỡng thừa được rút hết toàn bộ, giữ lại trong thùng, bổ sung rồi tái sử dụng Bộ rễ rất thoáng khí, đây là kỹ thuật thủy canh hoàn
lưu đơn giản và phổ biến nhất (Trần Thị Ba và ctv., 2008)
Kỹ thuật tưới nhỏ giọt (DIT - Drip Irrigation Technique) là kỹ thuật cung cấp nước hiệu quả, là một dạng cơ bản của tiết kiệm nước mà khu vực rễ cây trồng được cung cấp nước trực tiếp và liên tục dưới dạng các giọt nước từ thiết bị tạo giọt (Trần Thái Hùng, 2008)
Kỹ thuật màng dinh dưỡng (NFT - Nutrient Film Technique) một màng mỏng dung dịch dinh dưỡng khoảng 0,5 mm chảy qua ống, chúng luôn tiếp xúc với phần dưới của rễ, phần rễ bên trên phơi trần ra không khí để thở và được dung dịch dinh
dưỡng bơm hoàn lưu (Trần Thị Ba và ctv., 2008)
1.3 Ngâm ủ hạt
Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007)ngâm ủ hạt là biện pháp được áp dụng rộng rãi từ lâu đời, mục đích để hạt giống nảy mầm nhanh và đều, có thể cho thu hoạch
sớm từ 2 - 7 ngày so với gieo hạt khô không ngâm ủ Theo Phạm Hồng Cúc và ctv.,
(2001) muốn hạt nảy mầm nhanh sau khi ngâm, hạt được đem ủ cho nảy mầm rồi mới gieo Rãi hạt thành từng lớp dày trong khay được kê phẳng rồi dùng vải đậy lại, giữ nhiệt độ từ 25 - 300C Nếu lượng hạt ít nên bọc vải ướt hay ủ hạt trong khăn sạch cũng được thấm ướt
1.4 Xử lý hạt
Theo Tạ Thu Cúc (2005), xử ký hạt giống trước khi gieo trồng là biện pháp kỹ thuật rất quan trọng được ứng dụng ở nhiều vùng sản xuất rau trên thế giới Xử lý hạt trước khi gieo nhằm mục đích thúc đẩy mầm, thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển của cây, rút ngắn thời gian sinh trưởng, hạn chế tác hại sâu bệnh, góp phần tăng năng suất trên đơn vị diện tích
1.4.1 Ngâm nước-thúc mầm
Hạt được ngâm nước trước khi gieo, chắc chắn mầm sẽ mọc nhanh hơn, sinh trưởng tốt hơn, làm tăng độ đồng đều cây giống, rút ngắn thời gian ở vườn ươm Thời gian ngâm nước từ 1 - 2 giờ đến 24 giờ tùy theo cấu tạo vỏ hạt, nhiệt độ ngoài trời khi
Trang 20xử ký Dùng nước sạch, ít tạp khuẩn để ngâm hạt Thời gian ngâm hạt không nên quá lâu vì sẽ làm cho các chất hòa tan trong hạt bị thất thoát (Tạ Thu Cúc, 2005) Theo Nguyễn Văn Đém (2007) khuyến cáo ngâm hạt cải củ trong 2 giờ (ủ 1 ngày đêm) là tối hảo để cho tỷ lệ nảy mầm của hạt cải củ cao nhất (98,5%) Vì có thể vỏ hạt cải củ mỏng phôi hút nước nhanh chỉ cần 1 - 2 giờ đã giúp hạt nảy mầm nhanh và đồng đều
1.4.2 Xử lý nhiệt
Theo thí nghiệm củaCynthia el al (1996) nhiệt độ ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm
trên giống cỏ đinh lăng Hạt giống ngâm ở 540, 570 hay 600C trong 5 phút làm giảm tỷ
lệ nảy mầm không đáng kể Tuy nhiên, ở cùng nhiệt độ nhưng ngâm trong 10 phút đã làm giảm tỷ lệ của hạt từ 96% (kiểm soát) đến 88%, 84% và 42%, tương ứng Xử lý hạt giống tại 630 và 660C trong 5 phút, lại giảm tỷ lệ nảy mầm đến 83% và 82% tương ứng, ở cùng nhiệt độ nhưng ngâm trong 10 phút giảm đến 21% và 6%, tương ứng Xử
lý nhiệt có hiệu quả trong việc tiêu diệt S Stanley trên giống cỏ linh lăng, nhiệt độ thấp hơn không thể giết S Stanley và có thể sẽ phát sinh chủng Salmonellae khác và
nếu nhiệt độ cao hơn hoặc tiếp xúc thời gian lâu hơn sẽ làm giảm tỷ lệ nảy mầm
Phương pháp nhiệt được đưa ra như một phương pháp giảm tác nhân gây bệnh trên hạt giống Ngâm hạt trong nước ở 57 hoặc 600C trong 5 phút làm giảm S Stanley
đến <1CFU/g, mà không làm tổn hại đến sự nảy mầm Nhiệt độ càng cao và thời gian càng kéo dài sẽ là nguyên nhân làm giảm sức nảy mầm Nếu trên 660C trong 10 phút thì sự nảy mầm giảm đến 6%, nhưng với 700
C trong 20 - 30 giây hoặc 900C trong 10 giây cũng được đưa ra như một sự gợi ý (National Advisory Committee on Microbiological Criteria for Fodds, 1999)
Beuchat và Scouten (2002) nhận thấy hạt giống cỏ linh lăng ở 550C đã diệt được nhiều mầm bệnh hơn xử lý tại 230C mà không phụ thuộc vào thuốc diệt trùng hoá học Trong khi đó, xử lý hạt 10 phút ở 540C làm giảm bào tử nấm bệnh đến 98%
Alexander Weiss and Walter P Hammes (2005) đã nghiên cứu tác động của phương pháp nhiệt tại các nhiệt độ khác nhau/chế độ nhiệt độ khác nhau để thiết kế một quá trình khử nhiễm phù hợp với các khuyến nghị của Ủy ban Tư vấn Tiêu chuẩn
vi sinh thực phẩm Quốc gia (NACMCF) nhằm giảm tác nhân gây bệnh trên hạt giống Việc xử lý nhiệt được thực hiện sau khi các hạt giống cỏ ba lá, đậu xanh và củ cải
Trang 21được chủng vi khuẩn (Salmonella S W775, S Bovismorbificans và E coli O157: H)
Sau 8 tuần bảo quản số lượng vi khuẩn này vẫn không thay đổi Các thí nghiệm được tiến hành là xử lý nhiệt đậu xanh bị ô nhiễm 2 - 20 phút ở 55 - 800C, củ cải và hạt cỏ linh lăng 0,5 - 8 phút ở 53 - 640C Việc này đã làm giảm các tác nhân gây bệnh nhiều hơn 5log CFU/g mà tỷ lệ nảy mầm vẫn đạt trên 95%
1.4.3 Xử lý bằng hóa chất
Theo Tạ Thu Cúc (2005) xử lý hạt giống bằng chất hóa học trước khi gieo - thường là các nguyên tố vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng - có tác dụng làm tăng cường hoạt động của các enzyme, làm tăng các quá trình trao đổi chất trong cây…, tăng chất lượng sản phẩm Như dùng KMnO4 nồng độ 0,1% hoặc ZnSO4 nồng độ 0,02% xử lý hạt từ 30 - 60 phút ở hạt cà chua đã thu hoạch sẽ đạt được kết quả mong muốn về tăng số chùm trái và sản lượng Với giống hành tây granes dùng H3BO3 nồng
độ 0,01% xử lý hạt trong 10 - 12 giờ, kết quả cho thấy hạt nảy mầm nhanh, cây khỏe, giảm tỷ lệ bệnh chết ẻo Theo Mai Thị Phương Anh (1996) và Nguyễn Đình Thi (2010) dùng Auxin (IAA, IBA, βNOA, 2,4 - D) và Gibberellin để xử lý hạt trước khi gieo làm tăng tỷ lệ nảy mầm và tốc độ nảy mầm, tăng năng suất ở cà chua, ớt, củ cải
và tăng chiều cao thân, chiều dài rễ ở cải mầm
Hypochlorites, chlorine dioxide và acidified sodium chlorite nằm trong số các hợp chất Clo được đánh giá cao về hiệu quả của chúng trong việc tiêu diệt vi khuẩn
Salmonella và E coli O157: H7 trên giống cỏ linh lăng lăng (Cynthia et al., 1996;
Beuchat, 1997; Piernas và Guiraud, 1997; Taormina và Beuchat, 1999; Weissinger và
Beuchat 2000; Lang và ctv., 2000; Beuchat và ctv., 2001 các axit hữu cơ (Taormina và Beuchat, 1999; Lang và ctv., 2000; Weissinger và Beuchat 2000) và các giải pháp có tính kiềm cao (Beuchat, 1997; Weissinger và Beuchat 2000; Beuchat và ctv., 2001)
cũng đã được kiểm tra về hiệu quả của những hóa chất trên trong việc tiêu diệt mầm bệnh trên hạt giống cỏ linh lăng dùng cho sản xuất (Trích dẫn theo Beuchat and Scouten, 2002)
Thí nghiệm của Cynthia et al (1996) cho thấy điều trị các chất gây ô nhiễm
trên hạt giống cỏ đinh lăng bằng cách sử dụng chlorine lên đến 1.040 µg/ml vẫn chưa
có hiệu quả trong việc loại bỏ tác nhân gây bệnh, mặc dù làm giảm đáng kể số lượng
Trang 22các tế bào sống Xử lý hạt giống cỏ đinh lăng với chlorine lên đến 5.000 µg/ml làm giảm khả năng sống không đáng kể Do đó, dùng chlorine 2000 - 4000 µg/ml để ngâm
xử lý hạt giống cỏ đinh lăng trước khi nảy mầm được cho là một phương pháp làm
giảm đáng kể mật độ S Stanley
1.4.3 Xử lý bằng phương pháp vật lý
Người ta thường dùng ánh sáng đỏ, ánh sáng tím, các chất đồng vị phóng xạ (Co60, P32) và tia laze để xử lý hạt giống rau Điển hình dùng ánh sáng tím xử lý hạt giống cải bắp ở khoảng cách 0,5 m trong 15 phút làm tăng tỷ lệ nảy mầm 16 - 18%, bằng phương pháp bức xạ laze có thể tạo được nhiều giống cà chua đột biến so với giống cà chua ban đầu về hàm lượng đường và axit ascorbic (Tạ Thu Cúc, 2005)
Trang 23CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Phương tiện
2.1.1 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: thực hiện tại Nhà lưới rau, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ
- Thời gian: từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2010
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
- Giống: hạt cải củ của công ty giống Trang Nông và Bình Minh
- Hệ thống trồng: kệ trồng rau, nhựa đóng trần nhà (lao - phông), máy bơm nước, hộp xốp
- Hệ thống tưới phun sương có đồng hồ hẹn giờ (timer) và hệ thống tưới nhỏ giọt (Hình 2.1)
- Vĩ trồng bằng inox kích cỡ lỗ lưới 1mm, diện tích 50 x 33 cm (Hình 2.2)
- Dao cắt cải mầm (cây chét) (Hình 2.3)
- Phòng trồng rau, thau ngâm và ủ hạt, bình phun tay, máy đo ánh sáng, máy
đo nhiệt độ, nhiệt kế và ẩm kế
- Hóa chất sử dụng: chlorine
- Đèn cực tím để khử trùng nước
Trang 24
Hình 2.1 Hệ thống tưới: (a) Phun sương và (b) Nhỏ giọt
Hình 2.2 Vĩ trồng cải mầm Hình 2.3 Dao cắt cải mầm
Trang 252.2 Phương pháp thí nghiệm
2.2.1 Thí nghiệm 1: So sánh các biện pháp ủ hạt đến sự sinh trưởng và năng suất
cải mầm (05 - 11/03/2010)
- Mục đích: Xác định thời gian ủ hạt trước khi gieo thích hợp trồng cải mầm
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên
gồm 3 lần lặp lại và 4 nghiệm thức là 4 thời gian ủ hạt khác nhau, mỗi ngiệm thức là 1
Hệ thống lao - phông rộng 1,2m, dài 3,7m, được ráp từ nhưng tấm lao- phông
đã được rạch rãnh, mỗi rãnh có độ rộng và cao là 1cm, đặt vĩ trồng trên hệ thống rãnh này, với độ nghiêng của hệ thống so với mặt đất từ 3 - 40 Hạt gieo trên vĩ trồng diện tích (50 x 33cm) với 80g hạt giống/mỗi vĩ Ba ngày đầu tưới bằng hệ thống phun sương cứ 1 giờ phun 30 giây, 4 ngày sau lắp hệ thống tưới nhỏ giọt đảm bảo nước được cung cấp đều cho mỗi rãnh
Trang 262.2.2 Thí nghiệm 2: So sánh các biện pháp xử lý hạt sự sinh trưởng và năng suất
cải mầm (13 - 18/06/2010)
- Mục đích: Xác định biện pháp xử lý hạt trước khi gieo cho cải mầm sinh trưởng và đạt năng suất cao
-Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên
gồm 6 lần lặp lại và 8 nghiệm thức là 8 biện pháp xử lý khác nhau, mỗi nghiệm thức
là 1/8 vĩ (50 x 33cm) trồng cải mầm
1 Ngâm hạt giống ở 50 - 520C (2 sôi + 3 lạnh) trong 2 giờ (đối chứng)
2 Ngâm hạt giống ở 52 - 540C (3 sôi + 2 lạnh) trong 2 giờ
3 Ngâm hạt giống ở 60 - 650C trong 5 phút
4 Ngâm hạt giống ở 700C trong 15 - 20 giây
5 Ngâm hạt giống ở 800C trong 5 giây
6 Ngâm hạt giống ở 1000C vớt ra liền
7 Ngâm hạt giống với chlorine 1% trong 30 phút sau đó ngâm với nước trong
và hạn chế sự phát triển của rễ Tất cả hệ thống tưới điều được vận hành một cách tự động bởi timer (đồng hồ hẹn giờ)
Trang 27Rep VI Rep V Rep IV
Hình 2.6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm so sánh các biện pháp xử lý đến sự sinh trưởng và
năng suất cải mầm tại nhà lưới rau, khoa NN&SHƯD, ĐHCT (13 - 18/06/2010)
Trang 282.2.3 Thí nghiệm 3: So sánh 2 hệ thống (dâng ngập và thả nổi) và 2 loại giống
(Trang Nông và Bình Minh) đến sự sinh trưởng và năng suất cải mầm (19
- 25/07/2010)
- Mục đích: Xác định hệ thống và giống thích hợp trồng cải mầm
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên
gồm 2 loại giống và 2 hệ thống với 4 lần lặp lại
1 Giống Trang Nông và hệ thống dâng ngập
2 Giống Bình Minh và hệ thống dâng ngập
3 Giống Trang Nông và hệ thống thả nổi
4 Giống Bình Minh và hệ thống thả nổi
cm2)
Trang 29*Chuẩn bị vật liệu và gieo hạt
Trồng cải mầm trên vĩ inox (có hệ thống tưới phun sương), vĩ phải được rửa thật sạch, sau đó pha Cholorine nồng độ 1,5% - 2% rồi nhúng 1 - 2 phút sau đó vớt lên, đem phơi nắng 1 ngày Phòng trồng rau mầm và nước tưới được chiếu tia cực tím
24 giờ trước khi trồng Hệ thống phun, tưới đều hoàn lưu và đi qua thùng xử lý tia cực tím Tất cả thí nghiệm được tiến hành trong phòng mát và có che tối
* Chăm sóc và thu hoạch
Chăm sóc: ba ngày đầu tưới bằng hệ thống phun sương, trung bình 1 giờ/lần,
mỗi lần 30 giây,12 lần/ngày Để giữ ẩm tốt cây nảy mầm đều ta phải phun ướt hạt, nếu để hạt khô thì tỷ lệ nẩy mầm sẽ kém và cây lên không đồng đều Từ ngày thứ 3 trở đi rễ cây con đã mọc dài và đã có thể tự lấy nước nên ta không phun sương bên trên mà chuyển sang cung cấp nước bên dưới rễ, để tránh nước ướt lá cải dễ phát sinh bệnh Thí nghiệm 1 ba ngày đầu tưới bằng hệ thống phun sương cứ 1 giờ phun 30 giây, 4 ngày sau lắp hệ thống tưới nhỏ giọt đảm bảo nước được cung cấp đều cho mỗi rãnh, thí nghiệm 2 và 3 phun sương hạt giống trong 2 ngày đầu vẫn cách nhau 1 giờ
và thời gian phun trong 30 giây Đến ngày thứ 3 trở về sau thì với thí nghiệm 2 và hệ thống dâng ngập của thí nghiệm 3 thì cứ 1 giờ cho ngập vĩ trồng 15 phút, mực nước vừa bằng với vĩ trồng là rút nước, riêng hệ thống thả nổi của thí nghiệm 3 nhấn chìm khay xốp sao cho vĩ đặt phía trong cũng tiếp xúc được với nước, thời gian tiếp xúc nước cũng giống như hệ thống dâng ngập nhưng chỉ nhấn chìm trong ngày thứ 3 và thứ 4, kế đó thì cho thả nổi tự do
Thu hoạch: ngày thứ 6 thu hoạch cải mầm, lá màu xanh nhạt rất ngon Tuyển
lựa cải thương phẩm và không thương phẩm
2.3.5 Chỉ tiêu theo dõi
* Ghi nhận: Ngày gieo hạt, ngày thu hoạch, ngày ngưng hệ thống tưới phun
* Điều kiện tiểu khí hậu
- Nhiệt độ và độ ẩm không khí: dùng nhiệt kế và ẩm kế để đo nhiệt độ và độ
ẩm không khí ngay trên vĩ trồng khoảng 5cm ở giai đoạn 3 ngày sau khi gieo, những ngày sau cây cải đã cao nhiệt kế và ẩm kế được đặt ngang với độ cao ngọn cải
Trang 30- Ánh sáng: dùng máy Lux Meter Model DM-28, Japan đo ánh sáng vào 5 thời
điểm 8 giờ, 10 giờ, 12 giờ, 14 giờ và 16 giờ
* Chỉ tiêu sinh trưởng
Mỗi lô thí nghiệm đo ngẫu nhiên 10 cây, đo lần đầu tiên vào 3 ngày sau khi
gieo, và liên tục đến khi thu hoạch, sau đó tính trung bình
- Chiều cao cây (cm): đo từ gốc đến thân, nơi tiếp giáp với bề mặt vĩ trồng đến
đỉnh cao nhất của cải mầm bằng thước nhựa dẻo
- Chiều dài rễ (cm): đo từ mặt dưới vĩ trồng đến cuối chóp rễ bằng thước nhựa
dẻo
* Năng suất
- Năng suất tổng (kg/m 2 ): cân toàn bộ trọng lượng cải thu hoạch (bỏ phần rễ)
của từng nghiệm thức rồi quy ra năng suất tạo ra trên m2
- Năng suất thương phẩm (kg/m 2 ): là những cây cải mầm sau khi đã loại bỏ
những cây bị thối nhũn và có vết bệnh đen, to khoảng 1 mm có thể thấy bằng mắt thường bằng cảm quan
- Tỉ lệ năng suất thương phẩm/n ăng suất tổng (%) = ( Năng suất thương phẩm/năng suất tổng) * 100
- Trọng lượng rễ tươi: là phần rễ cây bên dưới vĩ trồng sau khi cắt lấy phần
thân
- Số cây thương phẩm (g): cân 20g cây thương phẩm sau đó đếm số cây
- Số cây thương phẩm/1 gram cải mầm: từ số cây thương phẩm trên 20g ta quy
ra số cây thương phẩm trên 1g
Trang 312.3.6 Phân tích số liệu
Nhập số liệu bằng chương trình Excel Sau đó dùng chương trình SPSS để phân tích thống kê số liệu thí nghiệm
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ghi nhận tổng quát
Thí nghiệm 1 (05 - 11/03/2010) thời tiết không thuận lợi do nhiệt độ và độ ẩm phòng trồng khá cao (31 - 330C, 66 - 75%, tương ứng), lúc giữa trưa nhiệt độ phòng trồng rau có khi lên đến 35,50C Tuy nhiên, cải mầm trồng trong phòng được che tối một cách tối đa nên cải mầm non hơn, lá vàng hơn và nhìn bắt mắt hơn
Thí nghiệm 2 (13 - 18/06/2010)trời nắng nóng, nhiệt độ trong phòng trồng khá cao (30 - 31,50C) nên áp dụng tưới phun sương, vừa tiết kiệm công tưới tay vừa hạ được nhiệt độ trong phòng rau mầm Nhưng cũng chính vì thế, nước đọng nhiều trên hạt cộng thêm phòng thí nghiệm được che kín không được thoáng khí nên tạo điều kiện cho mầm bệnh xuất hiện và phát triển
Thí nghiệm 3 (19 - 24/07/2010) trong thời gian thực hiện trời âm u, có nhiều mây, mưa rải rác cho đến khi thu hoạch nên không khí mát mẻ, nhiệt độ giảm (26 -
310C), cải mầm cũng cao hơn và sinh trưởng mạnh hơn 2 thí nghiệm trước Ba ngày sau khi gieo, giống Bình Minh vẫn chưa nảy mầm hết, một số cây nảy mầm bắt đầu xuất hiện bệnh đốm lá
Trang 333.2 Thí nghiệm 1 So sánh thời gian ủ hạt đến sinh trưởng và năng suất cải mầm (05 - 11/03/2010).
3.2.1 Chiều cao cây
Nhìn chung chiều cao cải mầm không khác biệt qua phân tích thống kê trừ ngày thứ 3, chiều cao cải mầm cao nhất ở nghiệm thức không ủ (1,86 cm) và thấp nhất (1,41 cm) ở nghiệm thức ử 15 giờ Chiều cao cây tăng dần đến ngày thứ 7 sau khi gieo dao động từ 7,87 - 8,74 cm.(Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Chiều cao cải mầm qua các thời gian ủ trước khi gieo, nhà lưới khoa Nông
4,72 4,43 4,63 4,30
7,20 6,97 6,46 7,15
7,58 7,48 7,21 7,58
8,60 7,87 8,49 8,74 Mức ý nghĩa
CV.(%)
* 7,67
ns 10,98
ns 9,24
ns 6,72
ns 6,27
Những số trong cùng một cột có chữ số theo sau giống nhau thì không khác biệt qua phân tích thống
kê ở mức ý nghĩa 5%, ns không khác biệt, * khác biệt ở mức ý nghĩa 5%
Do hệ thống tưới hiện đại, tự động phun đều dặn (cứ 1 giờ phun một lần) nên
độ ẩm không khí luôn được giữ ở mức cao Vì thế, dù hạt ở dạng khô nhưng vẫn đủ
ẩm để sinh trưởng đều và không khác biệt so với khi ủ hạt Suy ra, các thời gian ủ hạt khác không ảnh hưởng đến chiều cao cây dẫn đến không làm ảnh hưởng đến năng suất cải mầm
3.2.2 Năng suất
Năng suất tổng, năng suất thương phẩm và tỷ lệ năng suất thương phẩm/năng suất tổng của cải mầm lúc thu hoạch (7 ngày sau khi gieo) không khác biệt qua phân tích thống kê, dao động từ 5,65 - 7,15 kg/m2, 2,81 - 3,26 kg/m2, 41 - 58%, tương ứng.(Bảng 3.2)