1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát THÀNH PHẦN LOÀI côn TRÙNG và NHỆN gây hại TRÊN một số LOÀI HOA tại THÀNH PHỐ cần THƠ và một số VÙNG PHỤ cận

85 286 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 561,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT ---oOo--- Hội đồng chấm luận văn đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài: “Khảo sát thành phần loài

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT

Cần Thơ - 2007

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

-o0o-

Nguyễn Trí Thanh

NHỆN GÂY HẠI TRÊN MỘT SỐ LOẠI HOA

TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ MỘT SỐ VÙNG PHỤ CẬN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

-oOo -

Hội đồng chấm luận văn đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài: “Khảo sát thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên một số loại hoa tại tp Cần Thơ và một số vùng phụ cận” Do sinh viên Nguyễn Trí Thanh thực hiện và bảo vệ trước hội đồng, ngày tháng năm 2007 Luận văn được hội đồng đánh giá ở mức:

Ý kiến hội đồng:

CHỦ NHIỆM KHOA NÔNG NGHIỆP Cần Thơ, ngày tháng năm 2007

VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

DUYỆT KHOA

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

-oOo -

Chứng nhận đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Khảo sát thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên một số loại hoa tại tp Cần Thơ và một số vùng phụ cận” Do sinh viên Nguyễn Trí Thanh thực hiện và đề nạp Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét:

Cần Thơ, ngày tháng năm 2007 Cán bộ hướng dẫn

PGS.TS Nguyễn Thị Thu Cúc

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

LÝ LỊCH CÁ NHÂN



Họ và tên: Nguyễn Trí Thanh

Con ông: Nguyễn Văn Hùng

Con bà: Bạch Thị Sáu

Ngày, tháng, năm sinh: 12/01/1983 tại Châu Thành - Đồng Tháp

Đã tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2001 tại trường PTTH Châu Thành II,

Trang 6

- Anh Nguyễn Trọng Nhâm, thầy Tống Văn Lành đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo

em trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp

Chân thành cảm ơn!

Anh Cầu, anh Dũng, anh Huy, anh Sơn, các bạn Hồng Thắm, Quốc Việt, Thanh Dung, Xuân Hà, Minh Trung, Văn Tràng, Ngọc Quyên, Huỳnh Ngọc, Thanh Tâm, Hữu Tho, Thị Thu và toàn thể các bạn lớp Trồng Trọt K28… đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp

Nguyễn Trí Thanh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

Nguyễn Trí Thanh, 2007 Khảo sát thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên một

số loại hoa tại tp Cần Thơ và một số vùng phụ cận Luận văn tốt nghiệp Đại Học, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ

TÓM LƯỢC

Việc mở rộng diện tích và tăng cường nhiều giống hoa mới trong những năm gần đây

đã kéo theo thành phần, số lượng các loài dịch hại trên các loại hoa tăng lên đáng kể Điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho người sản xuất hoa Chính vì lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên một số loại hoa tại tp Cần Thơ và một số vùng phụ cận” nhằm có cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu xây dựng quy trình IPM để quản lý các loài dịch hại trên cây hoa Đề tài được thực hiện từ tháng 7/2006 - 2/2007 tại khu nhà lưới thuộc bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng và trên một số vườn của nông dân tại tp Cần Thơ và một số vùng phụ cận với phương pháp: Điều tra định kỳ ngoài đồng, khảo sát tại khu nhà lưới và khảo sát trong phòng thí nghiệm Kết quả ghi nhận

có tất cả 31 loài thuộc 16 họ và 7 bộ khác nhau gây hại trên 4 loại cây hoa: Hồng, Cúc, Huệ, Vạn Thọ Trong nhóm côn trùng gây hại, kết quả khảo sát ghi nhận có 6 bộ, trong

đó có 3 bộ chiếm ưu thế gồm bộ Lepidoptera có 13 loài thuộc 6 họ, bộ Homoptera có 6 loài thuộc 3 họ, bộ Thysanoptera có 4 loài thuộc 2 họ, các bộ còn lại gồm bộ Coleoptera có 3 loài đều thuộc họ Scarabaeidae, bộ Orthoptera có 2 loài thuộc 2 họ Acrididae và Tettigoniidae và bộ Diptera với một loài duy nhất được phát hiện thuộc

họ Agromyzidae Đối với nhóm nhện gây hại, kết quả khảo sát chỉ mới phát hiện được

2 loài thuộc họ Tetranychidae

Trong 31 loài phát hiện được, thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên cây hoa Hồng phong phú nhất với 17 loài, kế đến là cây hoa Cúc với 9 loài, cây hoa Huệ với 6 loài và cây Vạn Thọ cũng với 6 loài hiện diện và gây hại Có 3 loài gây hại rất quan

trọng trên cây hoa Hồng đó là nhện đỏ Tetranychus urticae Koch và bù lạch

Scirtothrips dorsalis Hood và bọ cánh cứng nâu đỏ Adoretus sinicus Burmeister Trên cây hoa Cúc, nhóm gây hại đáng kể gồm 4 loài rầy mềm Macrosiphoniella sanborni Gillette, bù lạch Microcephalothrips abdominalis Crawford, rệp sáp Pseudococcus sp., sâu ăn tạp Spdoptera littura Fabricius Trên cây hoa Huệ, kết quả khảo sát ghi

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

nhận rệp sáp Dysmicoccus neobrevipes Beardsley và nhện đỏ Tetranychus

cinnabarinus Boisduval là hai loài gây hại phổ biến nhất Các loài sâu ăn tạp S litura,

bù lạch M abdominalis và nhện đỏ T cinnabarinus cũng gây hại quan trọng trên cây

Vạn Thọ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

MỞ ĐẦU

Hiện nay hoa là một cây trồng được quan tâm trong chương trình chuyển đổi giống cây trồng của nước ta Hàng năm có nhiều giống hoa được lai tạo và nhập nội nên chủng loại hoa ngày càng phong phú, diện tích trồng hoa tăng lên đáng kể Song song với việc mở rộng diện tích trồng hoa, thường xuyên nhập và lai tạo những giống hoa mới là sự gia tăng về thành phần, số lượng các loài dịch hại trên các loại hoa, cho đến nay người trồng hoa tại Việt Nam có rất ít thông tin và tài liệu về dịch hại trên hoa do

đó sự hiểu biết của bà con về các loài gây hại trên hoa cũng như biện pháp phòng trừ còn rất hạn chế Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên một số loại hoa tại tp Cần Thơ và một số vùng phụ cận” nhằm khảo sát thành phần loài côn trùng và nhện gây hại cũng như các đặc điểm hình thái và sinh học có liên quan đến sự gây hại của các loài này trên một số loại hoa, tạo cơ sở cho việc xây dựng và ứng dụng hiệu quả quy trình phòng trừ dịch hại trên cây hoa, giúp người sản xuất hoa có thể canh tác hoa theo hướng bền vững và

an toàn sinh thái

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới

Ngày nay ngành sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ và trở thành một ngành thương mại cao Sản xuất hoa đã mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa Năm 1995, giá trị sản lượng hoa trên thế giới đạt khoảng 20 tỷ USD

Ba nước sản xuất hoa lớn, chiếm khoảng 50% sản lượng hoa thế giới là Nhật với khoảng 3,731 tỷ USD, Hà Lan khoảng 3,558 tỷ USD, Mỹ khoảng 3,270 tỷ USD (Nguyễn Xuân Linh, 1998)

Trong vài thập niên gần đây thì ở một số nước Châu Á như: Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Ấn độ, Đài loan… nghề trồng hoa cũng rất phát triển, được giới mua bán hoa cảnh trên thế giới biết tiếng, nhưng sản lượng hoa thương mại cũng còn rất khiêm tốn chỉ chiếm 20% so với doanh thu toàn thế giới (Đặng Phương Trâm, 2005)

1.1.2 Tình hình sản xuất hoa ở Việt Nam

Nghề trồng hoa ở nước ta có từ lâu đời, nhiều vùng có truyền thống sản xuất hoa thương mại từ hàng trăm năm nay như: Ngọc Hà (Hà Nội), Đà Lạt, Sa Đéc… tuy nhiên do đặc điểm của nước ta còn nghèo, nền kinh tế chưa phát triển nên các vùng trồng hoa đều mang tính tự sản tự tiêu, hoa được trồng theo kỹ thuật lạc hậu, giống hoa không được cải thiện cả về chủng loại và phẩm chất, sản phẩm chỉ bán được tại chỗ và các địa phương lân cận, đa số người trồng hoa sản xuất riêng lẻ, không có sự liên kết thành hội đoàn Tuy nhiên trong vài thập niên gần đây, do điều kiện kinh tế xã hội có nhiều cải thiện thì nhu cầu thưởng thức hoa trong nhân dân tăng cao, nghề trồng hoa

có sự khởi sắc và có bước tiến đáng kể Nông dân nhiều vùng trồng hoa đã nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật mới cũng như có nhiều đầu tư về vốn nên tình hình sản xuất hoa ở Việt Nam có nhiều tiến bộ Năm 2003 giá trị xuất khẩu hoa cảnh đạt khoảng 30 triệu USD, thu nhập từ hoa cảnh trong cả nước ước tính 1000 tỷ đồng, có trên 30.000

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

hộ nông dân thoát nghèo nhờ trồng hoa cảnh và nhiều hộ thu nhập xấp xỉ 1 tỷ đồng /ha diện tích trồng hoa cảnh (Đặng Phương Trâm, 2005)

Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) các loại hoa chính được trồng ở nước ta bao gồm:

Hoa Hồng (Rosa sp.), hoa Cúc (Chrysanthemum sp.), hoa Cẩm Chướng (Dianthus

caryofullus ), hoa Lay Ơn (Gadiolus communis), hoa Huệ (Polianthes tuberosa L.), hoa Thược Dược (Dahlia pinnata) hoa Loa Kèn (Lilium longiflorum Thumb), hoa Đồng Tiền (Gerbera jamesonii), hoa Lan (Orchidacea), hoa Trà Mi (Camellia japonica

Nois) Trong các loại hoa trên thì hoa Hồng chiếm tỉ lệ 35 - 40%, hoa Cúc chiếm 25%, hoa Lay Ơn chiếm 15%, hoa khác 20- 25%

1.2 Cây hoa Hồng (Rosa sp.)

1.2.1 Nguồn gốc, đặc tính thực vật

1.2.1.1 Nguồn gốc

Cây hoa Hồng có tên khoa học là Rosa chinnensis Jacq, thuộc họ Rosaceae Cây có

nguồn gốc từ Trung Quốc, trước đây chỉ trồng được ở các tỉnh miền Bắc và Đà Lạt, nay trồng được ở nhiều nơi và cho nhiều chủng loại hoa đẹp, đủ màu sắc (Trần Hợp, 1998)

Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) thì cây hoa Hồng có tên khoa học là Rosa sp., thuộc

họ Rosaceae, có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới vùng Bắc bán cầu Hoa hồng đã xuất hiện trên trái đất có thể tới vài chục triệu năm nhưng thực sự đã được trồng từ vài ngàn năm nay, chỉ mới nhân giống và lai tạo được từ vài trăm năm Hoa hồng được trồng đầu tiên ở Trung Quốc, Ấn độ, sau đó mới du nhập qua Hà Lan, Pháp, Đức, Bungari

và chính người Châu Âu mới có công lai tạo ra nhiều giống hoa Hồng hiện đại như ngày nay Các giống Hồng nhập vào Việt Nam theo hai nguồn: từ các nước Châu Âu vào Đà Lạt rồi phổ biến ở các tỉnh miền Nam và ra miền Bắc hoặc từ Thái Lan vào miền Nam rồi lan ra Bắc

1.2.1.2 Đặc tính thực vật

Rễ hồng thuộc loại rễ chùm, chiều ngang tương đối rộng khi bộ rễ lớn phát sinh nhiều

rễ phụ Thân Hồng thuộc nhóm cây thân gỗ, cây bụi thấp, thẳng có nhiều cành và gai cong Lá Hồng thuộc loại lá kép lông chim mọc cách, ở cuống lá có lá kèm nhẵn, mỗi

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

lá kép có 3 - 5 hay 7 - 9 lá chét, xung quanh lá chét có nhiều răng cưa nhỏ Tuỳ giống

mà lá có màu sắc xanh đậm hay xanh nhạt, răng cưa nông hay sâu Hoa có nhiều màu sắc và kích thước khác nhau Hoa hồng thuộc loại hoa lưỡng tính nghĩa là nhị đực và nhị cái trên cùng một hoa Các nhị đực dính vào nhau và bao xung quanh vòi nhụy Khi phấn chín rơi trên đầu nhụy nên có thể tự thụ phấn Đài hoa có màu xanh (Nguyễn Xuân Linh, 1998)

1.2.2 Yêu cầu ngoại cảnh

Cây hoa Hồng ưa khí hậu ôn hoà, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt là 18 - 250C Đất trồng cây Hồng phải cao ráo, thoát nước tốt, pH đất 5,6 - 6,5 (Phạm Văn Duệ, 2005) Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) thì hoa Hồng yêu cầu ẩm độ đất khoảng 60 - 70% và ẩm độ không khí 80 - 85%

1.2.4 Thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên cây hoa Hồng

Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003) thì thành phần loài gây hại trên cây hoa Hồng gồm có bọ cánh cam (Anomala cupripes), bọ hung ăn lá (Protaetia sp.), bọ nhảy (Phyllotreta striolata ), ong ăn lá (Arge sp.), rầy phấn (Aleurocanthus spiniferus), rệp sáp (Iserya purchasi), rệp muội (Toxoptera auranti), sâu róm (Orgyia postica), sâu khoang (Spodoptera litura), bọ trĩ (Thrips palmi) và nhện đỏ (Tetranychus urticae)

Theo Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã (2002) thì thành phần loài gây hại trên cây

hoa Hồng bao gồm ngài độc xám (Orgyia postica Walker), rệp sáp (Icerya purchasi Maskell), rệp phấn gai đen (Aleurocanthus spiniferus Quaint), bọ trĩ ngực vàng (Thrips

hawaiiensis Morgan), bọ hụng xanh chân đỏ (Anomala cupripes Hope), ong ăn lá

(Arge sp.)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

1.3 Cây hoa Cúc (Chrysanthemum sp.)

1.3.1 Nguồn gốc, đặc tính thực vật

1.3.1.1 Nguồn gốc

Cây hoa Cúc có tên khoa học là Chrysanthemum sp., có nguồn gốc từ Trung Quốc,

Nhật Bản và một số nước Châu Âu Đây là loại hoa đã được nhập nội vào Việt Nam từ lâu đời, từ đó đã trở nên phổ biến khắp cả nước và cũng được người Việt ưa chuộng (Nguyễn Xuân Linh, 1998)

1.3.1.2 Đặc tính thực vật

Rễ của cây hoa Cúc thuộc loại rễ chùm, phần lớn phát triển theo chiều ngang, phân bố

ở tầng đất mặt từ 5 - 20 cm Cây Cúc thuộc cây thân thảo nhỏ, đốt giòn dễ gãy, càng lớn càng đứng, cây dạng đứng hoặc bò Khả năng phân nhánh mạnh Kích thước thân cao hay thấp, to hay nhỏ, cứng hay mềm phụ thuộc vào từng giống và thời vụ trồng Những giống nhập nội, thân thường to mập và thẳng, còn những giống cổ truyền thân nhỏ, mảnh và cong Nhìn chung cây hoa Cúc ở điều kiện Việt Nam có thể cao từ 30 -

80 cm Ở điều kiện ngày dài cây Cúc có thể cao đến 1,5 - 2 m Lá đơn không có lá kèm, mọc so le nhau, bản lá xẻ thuỳ lông chim, phiến lá mềm mỏng, to hay nhỏ, màu sắc xanh đậm hay nhạt phụ thuộc vào từng giống Mặt dưới phiến lá bao phủ một lớp

lông tơ, mặt trên nhẵn, gân hình mạng Hoa gồm rất nhiều hoa nhỏ gộp lại trên một

cuống hoa, hình thành hoa tự đầu trạng mà mỗi đầu trạng là một bông hoa (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003 ; Nguyễn Xuân Linh, 1998)

1.3.2 Yêu cầu ngoại cảnh

Nhiệt độ thích hợp cho cây hoa Cúc sinh trưởng và phát triển là 15 - 200C, cây Cúc có thể chịu đựng ở nhiệt độ từ 10 - 350C Độ ẩm đất từ 60 - 70% và độ ẩm không khí từ

55 - 65% là rất thuận lợi cho Cúc sinh trưởng và phát triển (Nguyễn Xuân Linh, 1998) Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2003) thì thời gian chiếu sáng là 11 giờ ánh sáng /ngày là chất lượng hoa Cúc là tốt nhất Đất trồng cây hoa Cúc phải thoát nước tốt

và khả năng giữ ẩm cao với pH thích hợp từ 5,8 - 6,8, lí tưởng nhất từ 6,0 - 6,5 và nên trồng trên đất có nhiều chất hữu cơ, ít nhất là 4% hay cao hơn (Rimando, 2001)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

1.3.3 Kỹ thuật canh tác

Cây hoa Cúc có thể trồng quanh năm Tuy nhiên để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất thì ta có thể căn cứ vào các yếu tố như đặc điểm của từng giống, thời tiết khí hậu của từng năm và nhu cầu của thị trường (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003) Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) trước khi trồng cần phải bón phân lót và trong từng giai đoạn sinh trưởng cần phải bón phân thúc để tăng năng suất và phẩm chất hoa Việc tưới nước chỉ cần vừa phải để giữ ẩm cho cây, không nên tưới nhiều vì sẽ làm cho cây phát triển cành lá, hoa bé và xấu

1.3.4 Thành phần loài côn trùng gây hại trên cây hoa Cúc

Thành phần loài côn trùng gây hại trên cây hoa Cúc bao gồm bọ cánh cam (Anomala

japonica ), câu cấu xanh lớn (Hypomeces squamosus), xén tóc (Phytoecia rufiventris),

bọ hung ăn lá (Protaetia sp.), bọ xít xanh vai vàng (Nezara torquata), bọ xít xanh (Nezara viridula), rầy xanh (Empoasca flavescens), rệp muội nâu (Macrosiphoniella

sanborni ), sâu xanh (Helicoverpa armigera), ngài độc song tuyến (Porthesia

scintillans ), sâu khoang (Spodoptera litura), bọ trĩ (Frankliniella sp.) (Phạm Văn Biên

và ctv, 2003)

Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thị Tịnh (2003) thì thành phần loài côn trùng gây hại

trên cây hoa Cúc gồm có sâu xanh (Helicoverpa armigera H), sâu khoang (Spodoptera

litura F), rệp nâu (Macrosiphoniella sanborni Gillette), rệp xanh lá cây (Cloradoa

rufomaculata Wilson), rệp xanh đen (Pleotrichophorus chrysanthemi Theobald), bọ cánh cam (Anomala japonica Arron), bọ hung ăn lá (Protaetia sp.), bọ bầu vàng (Aulacophora indica Gmelin), câu cấu xanh lớn (Hypomeces squamosus), ban miêu

đen (Epicauta impressicomic Pic), bọ xít xanh (Nezara viridula Fabr), bọ xít đỏ

(Dysdercus cingulatus Fabr), bọ trĩ (Frankliniella sp.)

1.4 Cây hoa Huệ (Polianthes tuberosa L.)

1.4.1 Phân loại

Cây hoa Huệ có tên khoa học là Polianthes tuberosa L., thuộc họ hành Liliaceae, bộ

hành Liliales, phân lớp hành Liliidae, lớp hành Lilioposida, ngành hạt kín Magnoliophyta (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1978)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

1.4.2 Nguồn gốc và đặc tính thực vật

Cây hoa Huệ có nguồn gốc từ Mexico du nhập vào nước ta khoảng 100 năm nay Cây Huệ thuộc thảo, thực ra không có thân, lá có màu đặc trưng của họ dứa gai, mọc thành hình tròn quanh đỉnh chồi Huệ có giả hành dạng củ với bộ rễ chùm Hoa huệ dài thẳng đứng, cao vượt khỏi thân mang nhiều hoa trắng thơm ngào ngạt nhất là về đêm (Đặng Phương Trâm, 2005) Theo Trần Hợp (1998) lá hình giải hẹp, màu xanh nhạt, mốc trắng lõm lại thành hình máng, đầu thuôn dài, gốc thành bẹ ôm thân, mềm, mọc đều đặn từ gốc Cụm hoa khoảng 1 m thẳng đứng, mang hoa ở phần đỉnh, với lá tiêu giảm Hoa thường xếp đôi ở một điểm trên cuống rất ngắn Hoa có màu trắng thơm, cánh hoa dính lại thành ống, hẹp và hơi cong, đỉnh loe rộng có 6 thùy dài

1.4.3 Giống

 Huệ ở Việt Nam có 2 giống:

- Huệ đơn (Huệ sẻ, Huệ ta) cây thấp mảnh khảnh, cành hoa nhỏ nhắn, bông hoa chỉ có một lớp cánh nhưng huệ có mùi thơm hơn so với Huệ kép

- Huệ kép (Huệ tàu, Huệ trâu hay Huệ tứ diện) cây cao, hoa to và nhiều nhưng kém thơm Huệ kép phổ biến hơn Huệ đơn vì cây mọc khỏe hơn mà lại cho bông lớn, lâu tàn và bán có giá hơn Huệ đơn (Đặng Phương Trâm, 2005)

1.4.4 Kỹ thuật canh tác

Huệ có thể trồng quanh năm Sau khi trồng cứ vài ngày tưới để cho cây bén rễ Khi cây đã bắt đầu phát triển, lá có dấu hiệu sinh trưởng tốt sẽ tưới đẫm (Đặng Phương Trâm, 2005) Theo Nguyễn Khang Thái (2003) trước khi trồng nếu có điều kiện nên bón phân chuồng đã ủ mục cho Huệ với liều lượng phân chuồng khoảng 1,5 - 2 tấn +

50 kg super lân Sau khi trồng khoảng 10 ngày bón 12 kg DAP + 6 kg Ure hòa vào nước tưới vào gốc Sau lần bón này cứ định kỳ khoảng nửa tháng bón một lần, mỗi lần bón khoảng 15 kg NPK (16 - 16 - 8) + 3 kg Ure Sau khi trồng khoảng 3 tháng sẽ cho thu hoạch bông và vào giai đoạn thu hoạch rộ thì 3 -5 ngày cho thu hoạch 1 lần

1.4.5 Thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên cây hoa Huệ

Có rất ít tài liệu đề cập đến thành phần dịch hại trên cây hoa Huệ Theo Phạm Văn

Biên và ctv (2003) thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên cây hoa Huệ không

nhiều, ngoài các loại sâu ăn lá, chích hút, cào cào, bọ cánh cam, bọ trĩ, rệp… phát sinh

và gây hại rải rác, chỉ riêng có nhện đỏ (Tetranychus sp.) là loài gây hại phổ biến nhất

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

1.5 Cây hoa Vạn Thọ (Tagetes erecta L., Tagetes patula L.)

1.5.1 Nguồn gốc, phân loại và đặc tính thực vật

Cây hoa Vạn Thọ được chia làm 2 nhóm cơ bản: nhóm Vạn Thọ hoa lớn gọi là nhóm

Vạn Thọ Mỹ (Tagetes erecta L.) và nhóm Vạn Thọ có hoa nhỏ hơn gọi là nhóm Vạn Thọ Pháp (Tagetes patula L.) (Gilman và Teresa Howe, 1999) Theo Đặng Phương Trâm (2005) thì các giống Vạn Thọ trồng ở nước ta những năm trước có hai loại lớn

và nhỏ, màu vàng cam hoặc vàng nhạt, do thực dân Pháp đưa vào Việt Nam từ những năm đầu của thế kỷ thứ 20 và đã trở thành quen thuộc với người dân Việt Nam Gần đây thì Vạn Thọ được nhập nội từ nhiều nước: Pháp, Mỹ, Hà lan… chủ yếu là thế hệ lai F1 cho hoa to và đẹp

Theo Trần Hợp (1998) thì Vạn Thọ chia làm hai dạng bao gồm Cúc Vạn Thọ (Tagetes

erecta L.) và Cúc Vạn Thọ lùn (Tagetes patula L.) có nguồn gốc và các đặc điểm sau:

không đều, cánh hoa nhăn xoắn lại Hoa giữa hình ống tất cả đều màu vàng tươi

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

1.5.2 Yêu cầu ngoại cảnh

Vạn Thọ ưa nhiệt độ ấm, tối thích trong khoảng 25 - 300C Nên trồng Vạn Thọ ở đất cao ráo, thoát nước tốt, độ pH 6,5 thích hợp cho tất cả các giống Vạn Thọ, cây không chịu được điều kiện pH thấp Vạn Thọ ưa ánh sáng trực tiếp nhưng cây không chịu ánh sáng quá mạnh vì làm tăng nhiệt độ mặt lá (Đặng Phương Trâm , 2005)

1.5.3 Kỹ thuật canh tác

Cây Vạn Thọ có thể trồng quanh năm Mùa vụ chính là cuối Đông Xuân Vạn Thọ trồng từ hạt cây sẽ có hoa nở hoàn toàn sau 60 ngày, giâm từ ngọn cây nở hoa sớm hơn trong khoảng 35 - 40 ngày Muốn Vạn Thọ có hoa đẹp, lớn và nở đồng loạt cần phải bấm ngọn để kích thích nhánh phát triển kịp với ngọn Bấm ngọn chính lúc cây có từ 6 -7 đôi lá thật đồng thời các nhánh bên cũng có từ 3 đôi lá thật trở lên vào khoảng 35 ngày tuổi (Đặng Phương Trâm , 2005)

1.5.4 Thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên cây Vạn Thọ

Cũng giống như cây hoa Huệ thì thành phần dịch hại trên cây Vạn Thọ có rất ít tài liệu

đề cập đến Theo Gilman và Teresa Howe(1999) nhện là loài thường xuyên xuất hiện

và gây hại trên Vạn Thọ, ngoài ra còn có sâu vẽ bùa, ốc sên, rầy hại lá

1.6 Một số loài gây hại quan trọng trên các loại hoa

Nhện đỏ 2 chấm phân bố rộng khắp thế giới và ký chủ của nhện đỏ hai chấm bao gồm

cây ăn trái, rau củ và cây hoa cảnh (Dan Smith và ctv, 1997) Theo Kalshoven (1981)

nhện đỏ 2 chấm còn gây hại trên Đu đủ, Bông, Táo và cây ăn trái

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

 Đặc điểm hình thái

Con cái dài 0,4 mm cơ thể có hình bầu dục, trên phần lưng có 12 cặp lông cứng, con đực cũng có hình bầu nhưng thon về cuối bụng và kích thước nhỏ hơn con cái (Fasulo

và Denmark, 2000) Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003) thì nhện trưởng thành rất nhỏ,

hình bầu dục, dài khoảng 0,5 mm, màu đỏ hồng có 8 chân, di chuyển nhanh Trứng rất nhỏ, hình bán cầu, màu đỏ sẫm, nhìn qua kính phóng đại thấy chính giữa quả trứng có một sợi lông ngắn thẳng đứng Nhện non giống nhện trưởng thành, có 6 chân, màu hồng Theo Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã (2002) thì nhện cái dài 0,53 mm, rộng 0,32 mm, lưng hình trứng tròn, trên lưng có 24 lông tơ xếp thành 6 hàng ngang, chân ngắn hơn thân, giữa móng có 3 đôi lông Nhện đực dài 0,36 mm, rộng 0,2 mm, lưng lồi có góc Trứng màu trắng sữa hoặc trắng trong

 Đặc điểm sinh học và tác hại

Nhện trưởng thành nhả tơ giăng thành một lớp tơ rất mỏng ở mặt dưới lá, đẻ trứng từng quả vào lớp tơ Một con cái có thể đẻ 200 trứng Nhện non và trưởng thành sống tập trung mặt dưới lá, chích hút nhựa tạo thành các vệt màu nâu, vàng nhạt dọc 2 bên gân lá Mật độ nhện cao có thể làm cho lá vàng, khô và rụng, cây sinh trưởng kém Vòng đời trung bình 20 - 25 ngày, trong đó thời gian trứng 4 - 6 ngày, nhện non 13 -

15 ngày, trưởng thành đẻ trứng 3 - 5 ngày Nhện đỏ 2 chấm phát triển nhiều trong điều kiện nóng và khô, ngoài gây hại trên cây hoa Hồng, còn gây hại trên Dưa leo, Bông,

Chè, Cam, Quít, Đậu đỗ (Phạm Văn Biên và ctv, 2003)

Theo Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã (2002) thì mỗi con cái có thể đẻ từ 113 - 206 trứng, tỉ lệ trứng nở là 95% Nhện cái không giao phối có thể đẻ ra nhện đực, nếu giao phối đẻ ra nhện cái và nhện đực

Trang 19

Kessing, 1992) Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2004) nhện đỏ Tetranychus cinnabarinus

Boisduval phân bố rộng khắp, chúng có mặt ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới Trên thế giới chúng phá hại trên 120 loài cây như Bông, Nho, cây cảnh, rau quả, cây gỗ Ở Việt Nam chúng gây hại trên nhiều cây như Bông, Sắn, Đay, Đậu tương, Ớt, Lạc, Đào, Mận, Cà chua, Khoai tây, Khoai lang

 Đặc điểm hình thái và sinh học

Cơ thể có hình cầu, trưởng thành có màu đỏ son hay màu đỏ hơi vàng Trên lưng mỗi bên có một vệt đỏ sẫm Trên lưng có nhiều lông, lông không có u lông Con đực có cơ thể thon nhỏ, cuối bụng nhọn, cơ thể màu đỏ vàng Trứng hình cầu, trơn nhẵn, màu vàng nhạt, khi sắp nở có màu hơi nâu, được đẻ rải rác từng trứng Nhện non tuổi 1 có màu trắng ngà, hình bầu dục, có 3 đôi chân, trên thân có nhiêu lông dài Nhện non tuổi

2 có 4 đôi chân, màu vàng nhạt, có nhiều lông dài Nhện non tuổi 3 rất giống thành trùng tuy nhiên kích thước nhỏ hơn, có màu vàng rơm hoặc vàng đậm, bắt đầu xuất hiện 2 đốm hơi nâu hoặc đỏ nhạt trên lưng Nhện đẻ trứng sát mặt dưới lá Sau 3 ngày trứng nở thành nhện non có 3 đôi chân Sau 1,8 ngày nhện non lột xác thành tiền trưởng thành I, có 4 đôi chân và sau 2 ngày lột xác lần 2 thành tiền trưởng thành II, có

4 đôi chân Trong các giai đoạn phát triển thì giai đoạn trưởng thành là dài nhất Một năm loài này có thể có 20 - 25 thế hệ (Nguyễn Văn Đĩnh, 2004)

 Sự gây hại

Theo Mau và Martin Kessing (1992) thì loài này có phổ ký chủ rất rộng và gây thiệt hại rất quan trọng về kinh tế tại đảo Hawaii Thành trùng và ấu trùng chủ yếu gây hại dưới mặt lá, trong quá trình gây hại nhện tạo ra lớp mạng nhện mỏng, nhện chích hút làm cho lá có các chấm nhỏ li ti, làm cho lá mất màu và có thể rụng đi

 Biện pháp phòng trị nhện đỏ T urticae và T cinnabarinus

Trong tự nhiên thì nhóm nhện gây hại cũng bị rất nhiều loài thiên địch tấn công nên mật số của chúng thường không cao, tuy nhiên việc sử dụng thường xuyên các thuốc hóa học có phổ tác dụng rộng đã tiêu diệt nhiều loài thiên địch của nhện gây hại, điều này sẽ đưa đến sự gia tăng mật số và sự bộc phát của nhện Nhiều loại thuốc hóa học khi sử dụng liên tục sẽ gây hiện tượng lờn thuốc Bên cạnh đó một số loại thuốc còn có khả năng làm gia tăng mật số nhện gây hại qua việc kích thích sự sinh sản của nhện Khi sử dụng thuốc cần luân phiên các loại thuốc có gốc hóa học khác nhau để ngăn

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

chặn sự bộc phát tính kháng thuốc của nhện Có thể sử dụng các loại thuốc như: Comite, Trebon, Danitol, Pegaus, Kelthane, Bi58, Zineb… và Dầu khoáng DC -Tron Plus để phòng trị nhện (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003) để phòng trị nhện đỏ thì cần chăm sóc đầy đủ cho

cây sinh trưởng tốt, khi nhện phát triển gây hại thì không để ruộng khô hạn, dùng các thuốc đặc trị nhện như Comite, Ortus, Nissorun, Sirbon, Danitol

Thiên địch phổ biến của nhện đỏ là bọ rùa Stethorus sp., chúng tấn công tất cả các giai

đoạn phát triển của nhện và có thể hạn chế được mật số nhện gây hại một cách hiệu quả (Mau và Martin Kessing, 1992) Theo Fasulo và Denmark (2000) thì có 5 loài

nhện thiên địch của nhện đỏ rất phổ biến ở Mỹ là Phytoseiulus persimilis, Mesoseiulus

longipes, Neoseiulus californicus, Galendromus occidentalis, Amblyseius fallicus

Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2004) thì ngày nay nhện bắt mồi Phytoseiulus persimilis

đang được sử dụng rộng rãi trong nhà kính và vườn cây ăn quả trồng Dưa chuột, Ớt, Dâu tây, … để phòng chống nhện đỏ tại các nước như Hà Lan, Anh, Mỹ, Pháp… loài nhện bắt mồi được nhân nuôi rồi chuyển vào trong các lọ nhựa cùng với mùn cưa, sau

đó người làm vườn đem đến ruộng và rắc trên tán lá Nuôi nhện bắt mồi trong phòng thí nghiệm với thức ăn là nhện đỏ thấy rằng loài nhện bắt mồi này có thể phát triển tốt

và là một loài thiên địch rất có triển vọng ở nước ta

Cúc, 2000) Theo Hodges và ctv (2005) thì loài này còn phân bố ở Jamaica, Đài Loan,

Hawaii, Tobago và Trinidad, Barbados, Venezuela, Indonesia

Trang 21

Theo Hodges và ctv (2005) thì ghi nhận Scirtothrips dorsalis Hood tấn công trên 100

loài ký chủ thuộc 40 họ cây trồng khác nhau như Măng tây, Đào lộn hột, Trà, cây có Múi, Thược dược, Dâu tây, Đậu nành, Xoài, Cà chua, Chuối, Sen, cây hoa Hồng, Cà tím, Me, Cacao, Nho…

có kích thước rất nhỏ 0,8 - 0,9 mm x 0,17- 0,19 mm khi mới vũ hóa có màu trắng sau

đó chuyển sang màu vàng đến vàng cam, phần lưng của bụng có những mảng đen rất điển hình Thành trùng có 3 mắt đơn màu đỏ và 2 mắt kép màu đen, râu đầu có 7 đốt, con cái có bộ phận đẻ trứng dạng lưỡi cưa Trứng hình bầu dục màu trắng ngà đến vàng nhạt

 Một số đặc điểm sinh học

Sau khi vũ hoá khoảng 3 ngày thì con cái bắt đầu đẻ trứng, số lượng trứng đẻ khoảng

20 - 25 trứng Trứng thường được đẻ trong mô lá non, trái non hoặc trong cành non Chu kỳ sinh trưởng 13 - 20 ngày, giai đoạn nhộng 3 - 4 ngày Sau khi hoàn thành giai đoạn tuổi 2, một số ấu trùng sẽ rơi xuống đất để hoá nhộng, một số khác hoá nhộng trong các khe nứt của cây hoặc trong các lá cuốn lại (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

 Sự gây hại

Gây hại rất quan trọng trên Xoài, xuất hiện phổ biến vào giai đoạn ra hoa rộ (tháng 2

-4 dl), cả thành trùng và ấu trùng đều gây hại trên lá non, hoa và trái non Trên trái, khi tấn công phần tế bào biểu bì, bù lạch tạo ra những mảng xám hoặc những phần lồi màu bạc trên vỏ trái Do bù lạch gây hại chủ yếu ở phía dưới lá đài nên khi trái lớn những mảng sẹo này lộ ra phía ngoài lá đài thành những vòng sẹo lồi rất đặc trưng Trái dễ bị thiệt hại nhất là vào giai đoạn trái còn nhỏ Nếu mật số cao bù lạch tấn công cả trên

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

những trái lớn Vết sẹo trên vỏ trái do bù lạch gây ra sẽ làm mất giá trị thương phẩm

của trái Bù lạch gây hại chủ yếu các trái nằm ngoài tán lá cây (trảng) Trên lá non, nếu

bị bù lạch gây hại, lá sẽ bị biến màu, cong queo Gây hại quan trọng vào mùa nắng

Bù lạch Franklinothrips megalops, Scolothrips indicus và Erythrothrips asiaticus

là thiên địch phổ biến của S dorsalis, ngoài ra còn có loài Geocoris ochropterus cũng

được ghi nhận là thiên địch quan trọng của S dorsalis

- Biện pháp hoá học

Mặc dù không phải là biện pháp lý tưởng nhưng cho đến nay, biện pháp hoá học

vẫn là biện pháp được áp dụng phổ biến để phòng trị bù lạch Nhiều loại thuốc tỏ ra có

hiệu quả cao đối với bù lạch, có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu phổ biến như

Comite, Carsulfan, Phosalone, Benfuracarb, Prothiophos, Confidor, Regent, Trebon,

Cypermethrin, Disulfoton, Sagolex… tuy nhiên cũng giống nhện gây hại, bù lạch cũng

có thể lờn thuốc nhanh vì vậy cần luân phiên sử dụng các thuốc có gốc hoá học khác

nhau (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Đây là loài đa ký chủ cũng được ghi nhận gây hại trên Chôm Chôm, Nhãn và một số

loài cây khác (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Theo Mau và Martin Kessinng (1991) thì

loài Adoretus sinicus Burmeister tấn công trên 250 cây ký chủ như Măng tây, Đậu,

Bông cải xanh, Bắp cải, Cacao, Cải thìa, Bắp, Bông, Dưa chuột, Cà tím, Gừng, Nho,

Mướp tây, hoa Hồng, Dâu tây, Khoai lang

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

 Một số đặc điểm hình thái và gây hại

Thành trùng có màu nâu đỏ, dài khoảng 11 - 12 mm Thân, cánh và chân có nhiều lông nhỏ, mặt bụng có lông dày hơn mặt lưng Thành trùng có mắt to đen, ba cặp chân rất phát triển, dài với 2 móng dài, sắc nhọn, giúp thành trùng đào bới đất để ẩn trốn vào ban ngày và để bám trên lá ăn phá, gây hại Ấu trùng sống trên những chất hữu cơ thực vật mục nát trong đất, nhưng đôi khi cũng ăn rễ cây Ấu trùng có đầu cứng phát triển,

cơ thể uốn cong hình chữ C với những lông nhỏ rải rác trên cơ thể, rất đặc trưng của các loài côn trùng thuộc họ Bọ hung Scarabaeidae Gây hại chủ yếu vào giai đoạn thành trùng Thành trùng gây hại bằng cách cắn thủng các lá non thành từng lỗ, chủ yếu ăn phá phần lá giữa các gân, không ăn rìa lá Thường tập trung ăn phần nửa trên của lá nhiều hơn phần nửa dưới, tuy nhiên khi mật số cao, ăn đều cả lá thành nhiều lỗ, triệu chứng rất rõ khi lá già Khi mật số cao có thể gây hại trên toàn bộ lá non làm ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây từ đó làm cho cây kém phát triển, năng suất giảm Thành trùng hoạt động (ăn phá, bắt cặp) chủ yếu về đêm, ban ngày trốn dưới đất, đẻ trứng trong đất (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Trang 24

1.6.5 Sâu xếp lá

Tên khoa học: Archips micaceana (Walker)

Họ: Tortricidae

Bộ: Lepidoptera

 Một số đặc điểm hình thái và sinh học

Thuộc nhóm sâu cuốn lá Tortricidae, có sự khác biệt về hình thái bên ngoài rất rõ nét

về con đực và con cái, con cái có kích thước lớn hơn con đực nhưng con đực lại có màu sắc rực rỡ hơn con cái Con cái có chiều dài sải cánh 23 - 24 mm, chiều dài thân 9

- 10 mm Cơ thể màu vàng nâu, cánh trước có màu nâu vàng, ngay sát rìa cánh trước gần về phía đuôi cánh có một đốm nâu dẹp, dài khoảng 3 mm Cánh sau có màu vàng rơm, trên rìa trước của cánh sau, gần sát gốc cánh có một vết màu đen Con đực có chiều dài sải cánh 19 - 20 mm, chiều dài thân 8 - 8,5 m Cánh trước có pha nhiều vết vàng, nâu, đen rực rỡ Rìa ngoài của cánh có màu sáng hơn phía trong cánh Cánh sau màu vàng rơm (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Ấu trùng phát triển đầy đủ có cơ thể có màu xanh, trong suốt, đầu màu đen (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Theo Nguyễn Thị Tường Vân (2005) thì giai đoạn ấu trùng trải qua 6 tuổi, ấu trùng mới nở có màu vàng nhạt, đầu đen bóng Kích thước thân trung bình của ấu trùng mới nở 1,3 ± 0,04 mm x 0,2 mm Ở tuổi cuối ấu trùng có cơ thể màu xanh, đầu nâu đỏ, kích thước thân trung bình ấu trùng tuổi cuối 15,6 ± 0,4 mm x 2,1± 0,05 mm Theo Nguyễn Thị Tường Vân (2005) lúc mới hóa nhộng phần bụng có màu vàng tươi, phần đầu ngực và mầm cánh có màu xanh đọt chuối Sau dần chuyển sang màu nâu bắt từ phần bụng Trước khi vũ hóa nhộng có màu nâu đen Nhộng cái thường lớn hơn nhộng đực, kích thước nhộng cái là 10,7 ± 0,2 mm x 3 ± 0,04 mm, kích thước nhộng đực 9,7 ± 0,03 mm x 2,8 ± 0,04 mm Thời gian nhộng kéo dài 5 -7 ngày

 Sự gây hại

Hiện diện phổ biến trong những vườn Ổi tơ, ít được chăm sóc Tại đồng bằng sông Cửu Long sâu được ghi nhận suốt năm nhưng phổ biến vào các tháng đầu mùa mưa Sâu gây hại bằng cách nhả tơ xếp lá lại và ăn phá bên trong Các lá bị xếp có thể nhiều

lá hoặc chỉ một lá đến hai lá được xếp lại với nhau, khi mật số cao sâu có thể ăn rụi lá (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Theo Nguyễn Thị Tường Vân (2005) loài này còn gây hại khá nghiêm trọng trên cây Đậu phộng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

 Biện pháp phòng trị

Khi mật số cao, sử dụng các loại thuốc trừ sâu thông thường để phòng trị, cần chú ý khi sử dụng thuốc trừ sâu, nên luân phiên các loại thuốc có gốc hoá học khác nhau để tránh hiện tượng sâu quen thuốc (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

1.6.6 Rầy mềm

Tên khoa học: Macrosiphoniella sanborni Gill

Họ: Aphididae

Bộ: Homoptera

 Đặc điểm hình thái và sinh học

Rệp cái không cánh, thân dài 1,5 mm, màu nâu đỏ đến nâu đen, bóng, ống bụng màu đen, râu đầu có 3 đốt màu nâu nhạt dài hơn thân, vòi hút dài tới gốc chân sau Rệp cái

có cánh, thân dài 1,7 mm, trên thân có nhiều đốm nhỏ Râu đầu rệp cái có 15 - 25 vết lồi lên thành cơ quan cảm giác, ống bụng có 10 - 15 lông ngắn Rệp con màu nâu, mảnh đuôi phát triển không hoàn toàn Rệp đến tuổi 3 thì có thể mọc cánh Vòng đời trung bình 15 - 20 ngày, một năm có thể hình thành 20 lứa liên tiếp (Phạm Văn Biên

và ctv, 2003)

 Tập quán sinh sống và sự gây hại

Trong quần thể rệp đa số là rệp cái không cánh và rệp non, ít di chuyển Rệp có cánh thường hình thành khi mật số rệp cao vào cuối giai đoạn sinh trưởng của cây Rệp sống tập trung ở ngọn cây, lá non, đài hoa, nụ hoa và cánh hoa Rệp chích hút dịch cây tạo thành những đốm nhỏ màu vàng nâu hoặc thâm đen, cây bị mất dinh dưỡng trở nên còi cọc, ngọn xoăn chùn lại, lá biến dạng, nụ hoa bị thui không nở, cánh hoa nhạt màu

và úa Cây Cúc có rệp thường có lớp nấm bồ hóng đen làm giảm khả năng quang hợp

Rệp còn là môi giới truyền bệnh khảm lá virus (Phạm Văn Biên và ctv, 2003)

 Biện pháp phòng trừ

Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003) nên áp dụng các biện pháp sau:

- Kiểm tra kỹ cây con trước khi trồng, để không trồng cây có rệp

- Dọn sạch cỏ dại trong vườn, dùng tay giết rệp

- Phun thuốc trừ rệp bằng các loại thuốc trừ sâu thông thường khi phát hiện rệp Theo Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã (2002) khi có rệp cứ 7 - 10 ngày phun thuốc

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

Rogor 0,05 - 0,1% hoặc DDVP 0,1% để diệt rệp Ngoài ra theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2003) thì trong tự nhiên thiên địch của loài này bao gồm bọ rùa đỏ, bọ rùa 2 chấm, bọ rùa Nhật Bản, bọ rùa 6 vằn

Sâu ăn tạp là loài có phổ ký chủ rất rộng và phân bố nhiều nơi trên thế giới như Châu

Á, Châu Úc, và những vùng đảo thuộc biển thái bình dương (Feakin,1973) Theo Lê Thị Sen (1999) thì sâu ăn tạp tấn công hơn 200 loài cây và chúng phân bố ở khắp nơi

 Đặc điểm hình thái và sinh học

Bướm có chiều dài thân từ 20 - 25 mm, sải cánh rộng từ 35 - 45 mm Cánh trước có màu nâu vàng Phần giữa từ cạnh cánh trước tới cạnh cánh sau có 1 vân ngang rộng màu trắng Trong đường vân màu trắng này có 2 đường vân màu nâu Cánh sau màu trắng óng ánh Bướm có đời sống 1 - 2 tuần tùy điều kiện thức ăn Trung bình một bướm cái có thể đẻ 300 trứng nếu điều kiện thích hợp bướm có thể đẻ từ 900 - 2000 trứng Thời gian đẻ trứng trung bình của bướm kéo dài từ 5 - 7 ngày, đôi khi đến 10 -

12 ngày Trứng hình bán cầu, đường kính từ 0,4 - 0,5 mm Bề mặt trứng có những đường khía dọc từ đỉnh trứng xuống đến đáy và bị cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo thành những ô nhỏ Trứng mới đẻ có màu trắng vàng, sau chuyển thành màu vàng tro, lúc sắp nở có màu tro đậm Ổ trứng có phủ lông từ bụng bướm mẹ Thời gian

ủ trứng từ 4 - 7 ngày (Lê Thị Sen, 1999)

Sâu có 5 - 6 tuổi tùy điều kiện môi trường và phát triển trong thời gian từ 20 đến 25 ngày Sâu lớn đủ sức dài khoảng 35 - 53 mm, hình ống tròn Sâu tuổi nhỏ có màu xanh lục, càng lớn sâu chuyển dần thành màu nâu đậm Toàn thân màu xanh ở tuổi nhỏ và màu nâu ở tuổi lớn với một sọc màu vàng sáng ở hai bên hông chạy từ đốt thứ nhất của bụng đến đốt cuối Dọc theo đường ấy có những điểm hình bán nguyệt Từ đốt thứ nhất đến đốt thứ tám của bụng mỗi đốt có một chấm đen rõ, đây là điểm đặc biệt của loài sâu này để phân biệt với các loài sâu khác cùng giống, trong đó 2 chấm đen ở đốt thứ nhất là to nhất và càng lớn 2 chấm này gần như giao nhau thành một khoang đen

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

trên lưng nên sâu này còn gọi là “Sâu khoang” (Lê Thị Sen,1999) Theo Phạm Huỳnh Thanh Vân và Lê Thị Thùy Minh (2001) khi mới được hình thành nhộng sâu ăn tạp có màu xanh đọt chuối rất mềm, sau đó chuyển sang màu vàng xanh cuối cùng có màu nâu đen, các đốt cuối có thể cử động được, thời gian nhộng kéo dài khoảng 7- 10 ngày Theo Lê Thị Sen (1999) thì bướm thường vũ hóa vào buổi chiều và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày bướm đậu mặt sau lá hoặc trong những bụi cỏ Bướm hoạt động từ tối đến nửa đêm, có thể bay xa vài chục mét và cao 6 -7 m Sau khi vũ hóa được vài giờ bướm có thể bắt cặp và một ngày sau đó có thể đẻ trứng

 Tập quán sinh sống và cách gây hại

Sâu vừa nở thì có tập quán ăn vỏ trứng và sống tập trung, nếu bị khua động nhẹ sâu có thể bò phân tán ra xung quanh hoặc nhả tơ buông mình xuống đất, ở giai đoạn này sâu chỉ ăn gặm mặt dưới lá, chừa biểu bì trên và gân Sang tuổi 2 bắt đầu phân tán và ăn gặm lá nhiều hơn Từ tuổi 4 sâu có phản ứng rõ rệt đối với ánh sáng, nghĩa là sâu thường chốn ánh sáng nên ban ngày sâu ẩn những nơi tối hoặc chui xuống kẻ đất nứt

Ở tuổi lớn sâu có tập quán ăn thịt nhau, không những ăn phá lá cây mà còn ăn trụi cả thân, cành và trái non Khi sắp làm nhộng sâu chui xuống đất làm thành một khoang

và nằm yên trong đó hóa nhộng (Lê Thị Sen ,1999)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 PHƯƠNG TIỆN

- Thời gian thực hiện: 7 /2006 đến 2/ 2007

- Các loài hoa được nghiên cứu

+ Hoa Hồng (Rosa sp.) + Hoa Huệ (Polianthes tuberosa Linn.) + Hoa Cúc (Chrysanthemum sp.) + Hoa Vạn Thọ (Tagestes erecta L., Tagetes patula L )

+ Máy ảnh

+ Giấy thấm giữ ẩm, bông gòn

+ Kim ghim, kẹp, kéo, dao, bút lông, cọ, bọc nilong

+ Máy đo ẩm độ và nhiệt kế để theo dõi ẩm độ và nhiệt độ trong suốt quá trình thí nghiệm

+ Kính phóng đại, kính lúp, thước đo để đo từng giai đoạn phát triển của loài gây hại

+ Các giống hoa: Hồng, Huệ, Cúc và Vạn Thọ được trồng ngoài trời của khu nhà lưới thuộc bộ môn Bảo Vệ Thực Vật

Trang 29

2.2 PHƯƠNG PHÁP

Áp dụng phương pháp điều tra khảo sát thực tế và khảo sát trong phòng thí nghiệm

2.2.1 Điều tra, khảo sát thực tế: Bao gồm việc khảo sát tại khu nhà lưới nơi có bố trí

trồng các loại hoa được nghiên cứu và việc điều tra khảo sát định kỳ ngoài đồng

2.2.1.1 Điều tra định kỳ ngoài đồng

 Nội dung khảo sát

- Xác định thành phần loài gây hại trên các loài hoa được nghiên cứu

- Triệu chứng gây hại của các loài

- Mức độ phổ biến của các loài gây hại

- Khả năng và mức độ gây hại của từng loài trên từng loại hoa

- Tập tính ăn phá và tập quán sinh sống

Trong quá trình điều tra khảo sát ngoài đồng, thu mẫu của các loài gây hại về phòng thí nghiệm để nhân nuôi Qua đó xác định các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học, khả năng và tập tính ăn phá của từng loài Sau cùng sẽ tiến hành công tác định danh các loài gây hại

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

2.2.1.2 Khảo sát tại khu nhà lưới thuộc bộ môn Bảo vệ thực vật

Song song với việc điều tra định kỳ ngoài đồng, tại khu nhà lưới có bố trí trồng

4 loại hoa khảo sát trong chậu, để theo dõi tình hình cũng như diễn biến của các loài gây hại trên các loại hoa nói trên

 Phương pháp thực hiện

Các chậu được bố trí trồng ở nhiều nơi tại khu nhà lưới để các loài gây hại có nhiều điều kiện phát sinh và gây hại Hàng ngày quan sát trên mỗi cây (mỗi chậu) vào lúc sáng sớm hay chiều mát

 Phương pháp quan sát

Hàng ngày quan sát thật kỹ để tìm xem dấu hiệu tấn công của loài gây hại, quan sát cách tấn công của những loài gây hại mới, chưa định danh hay chưa xác định được các giai đoạn phát triển trong vòng đời của nó thì phải thu mẫu lên phòng thí nghiệm để khảo sát

2.2.2 Khảo sát trong điều kiện phòng thí nghiệm

 Phương pháp thực hiện: Các giai đoạn phát triển của loài gây hại như trứng,

ấu trùng, nhộng, thành trùng được thu ngoài tự nhiên đem về phòng thí nghiệm khảo sát và nhân nuôi

 Nội dung khảo sát: Xác định thành phần loài, đặc điểm hình thái, sinh học của

các loài gây hại, đặc điểm sinh học của một số loài gây hại phổ biến, triệu chứng và cách gây hại

 Chỉ tiêu ghi nhận

- Giai đoạn ấu trùng: ghi nhận kích thước, màu sắc ở mỗi tuổi và sự khác biệt ở các tuổi, thời gian kéo dài từng tuổi, sự khác biệt giữa ấu trùng đực và ấu trùng cái, thời gian sống, tập tính ăn và tập tính sống của mỗi loài

- Giai đoạn nhộng: ghi nhận hình dạng, kích thước, màu sắc, tập tính hóa nhộng, thời gian nhộng trong điều kiện phòng thí nghiệm

- Thành trùng: ghi nhận hình dạng, màu sắc, kích thước, sự khác biệt giữa thành trùng đực và thành trùng cái, tỉ lệ đực cái, tập tính sống và tập tính ăn, khả năng bắt cặp, khả năng và tập tính đẻ trứng, thời gian sống của thành trùng trong điều kiện phòng thí nghiệm

- Trứng: màu sắc, hình dạng, kích thước trứng, thời gian ủ trứng trong điều kiện phòng thí nghiệm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 31

 Phương pháp nuôi nhân trong điều kiên phòng thí nghiệm

Thu các giai đoạn phát triển của các loài gây hại (thành trùng, trứng, ấu trùng, nhộng) đem về phòng thí nghiệm Đối với ấu trùng thì được nuôi trong các hộp nhựa

có kích cở khác nhau tùy theo loài gây hại, đối với thành trùng thì cho vào các lồng lưới hay các hộp nhựa to, có bố trí một vài nhánh cây và bông gòn có tẩm mật và nước

để nuôi thành trùng Còn trứng và nhộng thì ta cũng cho vào các hộp nhựa có bông gòn tẩm nước Khi thu được nhiều thành trùng có cả thành trùng đực và thành trùng cái thì ta cho tiến hành bắt cặp và theo dõi khả năng bắt cặp và đẻ trứng Ấu trùng khi mới nở từ ổ trứng thì ta dùng cọ mềm cho vào từng hộp, để quan sát từng cá thể cho đến khi hóa nhộng, ta nên tách ra từng hộp riêng để theo dõi thời gian ủ nhộng và khi nhộng vũ hóa ra thành trùng ta lại tiến hành cho bắt cặp

Trong quá trình khảo sát các loài gây hại trên các loài hoa thì tiến hành khảo sát một số loài thiên địch của các loài gây hại quan trọng trong tự nhiên và trong điều kiện phòng thí nghiệm

Sử dụng khóa phân loại của Borror và ctv (1976) và của một số tác giả khác để

định danh loài theo sự hướng dẫn của giáo viên

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên 4 loại hoa (Hồng, Cúc, Huệ, Vạn Thọ) tại tp Cần Thơ và một số vùng phụ cận

Qua quá trình điều tra khảo sát, thu mẫu và tiến hành nhân nuôi trong phòng thí nghiệm, chúng tôi đã phát hiện được tất cả là 31 loài thuộc 16 họ và 7 bộ khác nhau gây hại trên 4 loại hoa khảo sát tại thành phố Cần Thơ và một số vùng phụ cận Trong nhóm côn trùng kết quả khảo sát và ghi nhận có 3 bộ chiếm ưu thế bao gồm bộ Lepidoptera có 6 họ với 13 loài hiện diện, bộ Homoptera có 3 họ với 6 loài hiện diện,

bộ Thysanoptera có 2 họ với 4 loài hiện diện Các bộ còn lại bao gồm bộ Diptera với 1 loài duy nhất phát hiện được thuộc họ Agromyzidae gây hại trên cây Vạn Thọ, bộ Coleoptera có 3 loài thuộc họ Scarabaeidae và bộ Orthoptera có 2 loài thuộc 2 họ khác nhau là Acrididae và Tettigoniidae Đối với nhóm nhện gây hại, chúng tôi chỉ mới phát hiện được 2 loài thuộc họ Tetranychidae, cả 2 loài này đều gây hại rất quan trọng

Qua kết quả khảo sát cho thấy thành phần loài gây hại trên cây hoa Hồng là phong phú nhất với 17 loài phát hiện được, kế đến là cây hoa Cúc với 9 loài, hoa Huệ phát hiện được 6 loài và cuối cùng là Vạn Thọ với 6 loài hiện diện và gây hại, trong đó nhiều loài thuộc nhóm đa ký chủ

Trong 31 loài phát hiện được, đã định danh được tới họ 100%, đến giống 74% và đến loài 55%

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 33

Bảng 3.1: Thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên 4 loại hoa

Bộ Họ Giống Loài Ký chủ

_ _ Vạn Thọ

neobrevipes

Huệ Homoptera

Thysanoptera

Phlaeothripidae Halothrips Halothrips sp Huệ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 34

Tettigoniidae _ _ Hồng Diptera Agromyzidae _ _ Vạn Thọ

Acari Tetranychidae Tetranychus Tetranychus

cinnabarinus

Huệ, Vạn Thọ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 35

3.2 Cây hoa Hồng

3.2.1 Thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên cây hoa Hồng

Kết quả khảo sát ghi nhận trên 4 loại cây hoa (Hồng, Cúc, Huệ, Vạn Thọ) thì thành phần loài gây hại trên cây hoa Hồng phong phú nhất Chúng tôi đã phát hiện được tất

cả 17 loài thuộc 10 họ và 6 bộ khác nhau gây hại trên cây hoa Hồng Những loài gây

hại phổ biến trên cây hoa Hồng bao gồm nhện đỏ 2 chấm Tetranychus urticae, bù lạch

Scirtothrips dorsalis , bọ cánh cứng nâu đỏ Adoretus sinicus, sâu xếp lá Archips

micaceana , sâu ăn tạp Spodoptera litura, sâu róm Dasychira osseata, rầy phấn trắng

Aleurodicus dispersus và rầy phấn Aleurocanthus spiniferus Trong các loài gây hại

phổ biến nêu trên thì nhện đỏ 2 chấm, bù lạch và bọ cánh cứng nâu đỏ ba loài gây hại quan trọng nhất, ba loài này có thể làm thất thu năng suất và phẩm chất hoa một cách đáng kể

Trong 17 loài phát hiện được thì nhóm sâu ăn lá và ăn bông hiện diện và gây hại nhiều nhất trên cây hoa Hồng, với tất cả 8 loài phát hiện được, trong đó có đến 5 loài sâu

róm Các loài sâu ăn lá và bông còn lại là sâu ăn tạp Spodoptera litura, sâu xếp lá

Archips micaceana và sâu bao (Psychidae) thì xuất hiện phổ biến hơn nhóm sâu róm Đối với nhóm bọ cánh cứng (Scarabaeidae) thì trong 3 loài đã phát hiện được chỉ có

loài Adoretus sinicus là gây hại quan trọng nhất Bên cạnh các loài nêu trên thì cào cào

và sạt sành cũng là 2 đối tượng gây hại đáng kể trên cây hoa Hồng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 36

Bảng 3.2: Thành phần loài côn trùng và nhện gây hại trên cây hoa Hồng

micaceana

Sâu xếp lá + + + Noctuidae Spodoptera

litura

Sâu ăn tạp + + + Lepidoptera

Psychidae _ Sâu bao + +

nâu đỏ + + + _ Bọ cánh cứng

nâu đen

+ + Colepotera Scarabaeidae

_ Bọ cánh cứng

sọc nâu +

Aleurodicus dispersus

Rầy phấn trắng + + + Homoptera Aleyrodidae

Aleurocanthus spiniferus

Rầy phấn + + + Thysanoptera Thripidae Scirtothrips

dorsalis

Bù lạch + + + Acrididae Patanga

succincta

Cào cào + + Orthoptera

Tettigoniidae _ Sạt sành + + Acari Tetranychidae Tetranychus

urticae

Nhện đỏ 2 chấm + + +

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 37

3.2.2 Một số đặc điểm hình thái, sinh học và sự gây hại của các loài

côn trùng và nhện gây hại trên cây hoa Hồng

3.2.2.1 Nhện đỏ 2 chấm Tetranychus urticae (Tetranychidae - Acari)

Nhện đỏ 2 chấm T uticae phân bố khắp nơi và gây hại quan trọng trên rất nhiều loại

cây khác nhau từ cây ăn trái, rau cải cho đến cây hoa cảnh (Dan Smith và ctv, 1997) Đây cũng là một đối tượng gây hại quan trọng trên các vườn Hồng tại tp Cần Thơ và một số vùng phụ cận

 Một số đặc điểm hình thái và sinh học

Thành trùng cái có màu đỏ đậm, thành trùng đực có màu đỏ nhạt hơn thành trùng cái,

cơ thể con đực hơi thon về cuối bụng dài 0,4 mm, cơ thể con cái dài 0,5 mm Trên thân

và chân của cả con đực lẫn con cái đều có một số lông tơ nhỏ màu trắng, phần đầu con cái và con đực đều có màu vàng nhạt, cặp mắt có màu đỏ Kết quả này cũng phù hợp với ghi nhận của Fasulo và Denmark (2000)

Trứng được đẻ lên lớp tơ ở bên dưới mặt lá Trứng có kích thước rất nhỏ, dạng hình cầu đường kính từ 0,12 - 0,15 mm, màu vàng nhạt đến vàng hơi hồng

Ấu trùng mới nở có 3 cặp chân và cơ thể màu vàng nhạt, hai bên mép lưng có 2 đốm đen dài rất rõ Cơ thể dài 0,2 - 0,25 mm, cặp mắt màu đỏ rất nhỏ Các ấu trùng tuổi sau đều có 4 cặp chân, cơ thể có màu đỏ nhạt, trên cơ thể có một số lông tơ nhỏ, hai đốm đen ở 2 bên mép lưng to và dài hơn ấu trùng mới nở Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003) thì vòng đời trung bình của nhện đỏ 2 chấm là 20 - 25 ngày, trong đó thời gian trứng 4 - 6 ngày, nhện non 13 -15 ngày, nhện trưởng thành đến đẻ trứng 3-5 ngày

 Sự gây hại và triệu chứng

Nhện tấn công trên lá và trên hoa Trên lá, nhện tấn công bên dưới mặt lá, chúng thường giăng một lớp mạng nhện mỏng và đẻ trứng lên lớp mạng nhện Vết cạp và chích hút của nhện làm cho lá có những chấm li ti vàng, bắt đầu từ bên dưới mặt lá sau

đó lan dần hết cả lá Nếu bị nặng thì làm cho cả lá ngã vàng sau đó héo đi nhưng không rụng liền, khi quan sát kỹ thường thấy xác nhện lột rất nhiều bên dưới mặt lá Trên hoa thì nhện cũng giăng một lớp mạng nhện mỏng từ cuống hoa lên, lớp mạng nhện đôi khi bao quanh toàn bộ hoa Nhện chích hút nhựa hoa làm cho hoa bị héo, tuy nhiên các cánh hoa cũng không rụng liền để lại triệu chứng rất đặc trưng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 38

Nhện gây hại đặc biệt quan trọng trong mùa nắng, những cây có bộ lá sum xuê rất thường bị nhện tấn công và gây hại điều này cũng phù hợp với ghi nhận của Phạm Văn Biên và ctv (2003)

Kết quả khảo sát tại khu nhà lưới, chúng tôi ghi nhận những chậu hoa có tán cây che mát, nhện thường gây hại nhiều hơn là những cây để ngoài trảng

 Thiên địch

Kết quả khảo sát tại khu nhà lưới thuộc bộ môn Bảo Vệ Thực Vật chúng tôi có ghi

nhận được một loài thiên địch của nhện đỏ, đó là bọ rùa Stethorus sp., loài này hiện

diện khá phổ biến Thành trùng dài từ 1,2 -1,4 mm, cơ thể có màu đen, trên mặt bụng

và mặt lưng đều có phủ lông tơ màu trắng nhưng mặt bụng ít hơn mặt lưng Thành trùng có cặp mắt kép màu đen và các có chân màu nâu vàng Qua quan sát thì cả thành trùng và ấu trùng đều có khả năng ăn trứng, ấu trùng và thành trùng nhện đỏ 2 chấm

Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2004) thì giống Stethorus có hơn 60 loài được mô tả, trưởng

thành bay đến nơi có mật số nhện cao, tấn công các giai đoạn phát triển của nhện nhưng thích tấn công thành trùng Ở giai đoạn ấu trùng, bọ rùa ăn nhện nhiều hơn giai đoạn thành trùng Theo Dan Smith và ctv (1997) trong tự nhiên nhện đỏ 2 chấm có rất

nhiều loài thiên địch như bọ rùa Stethorus sp., nhện thiên địch như Phytoseiulus

persimilis , Typhlodrommus occidentalis, bù lạch thiên địch Scolothrips sexmaculatus,

ấu trùng của bọ cánh lưới (Neuroptera) và nhện cũng bị nhiễm một số bệnh do nấm

Neozygites spp., Hirsutella thompsonii gây ra Nhưng loài thiên địch nêu trên có thể kiểm soát được mật số của nhện 2 chấm T urticae

Theo Fasulo và Denmark (2000) có 5 loài nhện thiên địch rất phổ biến ở Mỹ đó là

Phytoseiulus persimilis , Mesoseiulus longipes, Neoseiulus californicus, Galendromus

occidentalis, Amblyseius fallicus Trong đó Phytoseiulus persimilis phổ biến hơn cả,

chúng ăn tất cả các giai đoạn phát triển của nhện, mỗi con có thể tiêu thụ 20 trứng hoặc 5 con thành trùng trong một ngày

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 39

3.2.2.2 Bù lạch Scirtothrips dorsalis (Thripidae - Thysanoptera)

Đây là loài đa ký chủ được ghi nhận gây hại trên Ớt, Trinh nữ, Thầu dầu, Đậu phộng, Sen,

Cam, Đậu, hoa Hồng, Xoài, Trà, Nho, Điều, Hành, Dâu, Cao su, Bông vải, Keo và một số loại

cỏ (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Kết quả khảo sát của chúng tôi ghi nhận loài này gây hại rất quan trọng trên cây hoa Hồng

 Một số đặc điểm hình thái và sinh học

Thành trùng có kích thước rất nhỏ 0,9 - 1,2 mm, màu vàng đến màu vàng cam, râu đầu

7 đốt Hai đôi cánh hẹp, hai rìa cánh có nhiều sợi lông nhỏ Thành trùng có 3 mắt đơn màu đỏ và 1 cặp mắt kép màu đen Trên phần lưng bụng thành trùng có 6 vạch ngang màu đen và phần bụng thì có 4 vạch ngang màu đen, 3 cặp chân màu vàng lợt

Theo ghi nhận của Đồng Chiến Thắng (2003) loài này chỉ có kích thước 0,8 - 0,9 mm

x 0,17 - 0,19 mm, khi mới vũ hóa có màu trắng sau đó chuyển thành màu vàng đến vàng cam, sau khi vũ hóa 3 -5 ngày thì con cái bắt đầu đẻ trứng, số lượng trứng đẻ khoảng 20 - 25 trứng

Trứng hình bầu dục, màu vàng nhạt Ấu trùng tuổi nhỏ cơ thể có màu trắng trong, thân rất nhỏ dài từ 0,4 - 0,6 mm, râu đầu 7 đốt hình ống tròn, không có cánh, chỉ quan sát thấy cặp mắt kép màu đen không thấy mắt đơn Ấu trùng tuổi lớn hơn có kích thước

từ 0,7 - 0,8 mm, có màu vàng nhạt, râu đầu 7 đốt, đầu đã hoá cứng

Theo Đồng Chiến Thắng (2003) chu kỳ sinh trưởng loài này gồm: giai đoạn trứng từ 4

- 6 ngày, ấu trùng tuổi 1 từ 2 - 3 ngày, ấu trùng tuổi 2 từ 3 - 4 ngày, tiền nhộng 1 ngày, giai đoạn nhộng 1 ngày

 Triệu chứng và sự gây trên cây hoa Hồng

Bù lạch S dorsalis gây hại trên lá và bông Tuy nhiên, qua quan sát chúng tôi nhận

thấy chúng hiện diện ở trên bông nhiều hơn, còn ở lá thì loài này chủ yếu hiện diện ở các lá gần cuống hoa chính, thường tập trung ở phần gân chính của lá Trên bông thì

bù lạch tấn công từ giai đoạn còn búp cho đến khi bông nở Vào giai đoạn bông nở thì chúng chích hút nhựa làm cho các cánh hoa bị khô, vết khô héo bắt đầu từ rìa của cánh hoa, sau đó cả cánh hoa có màu nâu vàng úa và tóp lại Ở giai đoạn búp hoa, sự gây hại của bù lạch làm cho các cánh hoa bên trong có màu sậm đi và các đài hoa màu xanh bên ngoài có các vệt dọc màu xám nâu hơi nhám, trông búp hoa cứng hơn và khác thường, nếu bị nặng có thể làm cho nụ hoa không nở được Trên lá thì các vết

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 40

chích hút của bù lạch sẽ tạo nên những chấm nhỏ li ti có màu nâu rải rác trên lá Khi bị gây hại nặng các vết chích liên kết tạo thành những mảng lớn biến màu Tuy nhiên sự

gây hại của bù lạch S dorsai trên lá không quan trọng bằng sự gây hại trên bông

Kết quả khảo sát ghi nhận bù lạch S dorsais gây hại cả trong mùa nắng lẫn mùa mưa,

nhưng mật số thường rất cao vào mùa nắng Vào mùa nắng một bông có thể có đến 45 con bù lạch gây hại, làm cho bông bị khô héo đi rất nhanh Theo Nguyễn Thị Thu Cúc

(2000) bù lạch S dorsais có khả năng kháng thuốc rất cao, tuy nhiên trong tự nhiên loài có nhiều thiên địch như bù lạch Franklinothrips megalops, Scolothrips indicus và

Erythrothrips asiaticus , ngoài ra còn có loài Geocoris ochropterus, các loài này có thể khống chế một phần nào mật số bù lạch S dorsais

3.2.2.3 Rầy phấn trắng Aleurodicus dispersus (Aleyrodidae – Homoptera)

 Một số đặc điểm hình thái và sinh học

Thành trùng có 2 cặp cánh màu trắng, cơ thể dài 2,2 - 2,6 mm, râu đầu màu vàng nhạt

có 7 đốt, hình sợi chỉ, cặp mắt màu đen nhạt và phần thân mình màu vàng nhạt có phủ một lớp phấn trắng mỏng Thành trùng rất ít di chuyển, thường đậu một chỗ bên dưới mặt lá, trừ khi bị tác động mạnh thành trùng mới bay đi Thành trùng đẻ trứng ở bên dưới mặt lá, trứng được đẻ theo vòng xoắn ốc, mỗi vòng xoắn ốc có từ 14 đến 25 trứng

và trứng được che phủ bởi những lông sáp mịn màu trắng Theo Huỳnh Thanh Lộc (2003) cơ thể thành trùng dài 2,8 mm, lúc mới vũ hóa cánh chưa có lớp bụi phấn trắng, lớp bụi phấn sớm được tiết ra trong một vài giờ sau đó từ các tuyến sáp của cánh và cơ thể Thời gian sống của thành trùng đực là 2,8 ngày (dao động từ 2 - 4 ngày) và của thành trùng cái là 2,8 (dao động từ 1 - 4 ngày)

Trứng có màu vàng nhạt, hình bầu dục dài 0,4 - 0,5 mm Ấu trùng tiết những lọn sáp trắng phủ đầy cơ thể, ngoại trừ tuổi 1 có thể di động các tuổi khác của ấu trùng đều sống cố định dưới mặt lá, trên cơ thể ấu trùng tuổi cuối có những sợi sáp trắng dài Kết quả này phù hợp với ghi nhận của Nguyễn Thị Thu Cúc (2000)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm