BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận thực tập tốt nghiệp Kỹ sư Trồng Trọt với đề tài: KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA CẢI MẦM, CẢI XANH VÀ XÀ L
Trang 1KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: TRỒNG TRỌT
Tên đề tài:
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA CẢI MẦM, CẢI XANH VÀ XÀ LÁCH TRÊN CÁC HỆ THỐNG CANH TÁC KHÔNG
Trang 32.1 Công thức pha chế của dung dịch dinh dưỡng Úc trong 1 lít
nước (Bộ môn Khoa học cây trồng pha chế)
13
2.2 Công thức dinh dưỡng cho xà lách (thí nghiệm 5) 133.1 Chiều cao và năng suất cải mầm trên trên giá thể vải+xơ dừa
với 2 kiểu máng và 2 kiểu dây tưới nhỏ giọt, tại trại Thực
nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (1-6/1/2009)
27
3.2 Chiều cao cây của xà lách và cải xanh qua các ngày sau khi
gieo, Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT (16/2-25/3/2009)
30
3.3 Số lá/cây của xà lách và cải xanh trên giá thể qua các ngày sau
khi gieo, Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT
(16/2-25/3/2009)
30
3.4 Chiều dài lá dài nhất/cây của xà lách và cải xanh qua các ngày
sau khi gieo, Nhà lưới Khoa Nông nghiệp,
ĐHCT(16/2-25/3/2009)
31
3.5 Chiều rộng lá của xà lách và cải xanh qua các ngày sau khi
gieo, Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT (16/2-25/3/2009)
31
3.6 Sinh trưởng của 6 giống xà lách 39 ngày sau khi gieo trên giá
thể xơ dừa (slab) bằng phương pháp tưới nhỏ giọt, Nhà lưới
Khoa Nông nghiệp, ĐHCT (18/03–26/04/2009)
34
3.7 Hàm lượng chất khô, độ Brix và độ khác màu sắc lá của 6
giống xà lách 39 ngày sau khi gieo trên giá thể xơ dừa (slab)
bằng phương pháp tưới nhỏ giọt, Nhà lưới Khoa Nông nghiệp,
ĐHCT (18/03–26/04/2009)
35
3.8 Trọng lượng từng cây và năng suất của 6 giống xà lách 39
ngày sau khi gieo trên giá thể xơ dừa (slab) bằng phương pháp
tưới nhỏ giọt, Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT
(18/3-26/4/2009)
36
3.9 Kết quả đánh giá cảm quan về màu sắc lá, độ giòn và độ đắng
của 6 giống xà lách 39 ngày sau khi gieo trên giá thể xơ dừa
(slab) bằng phương pháp tưới nhỏ giọt
36
3.10 Hiệu quả kinh tế của cải mầm ở thí nghiệm 3 37
Trang 42.1 Hình 2.1 Sơ đồ tính gốc nghiêng của máng tole trồng rau mầm 142.2 Nghiệm thức ở thí nghiệm “Khảo sát sự sinh trưởng và năng
suất cải mầm trên tổ hợp giá thể, ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ
trồng” Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT (19–26/12/2008)
16
2.3 Nghiệm thức trong thí nghiệm “Khảo sát sự sinh trưởng và
năng suất của cải mầm trên giá thể xơ dừa+vải với 2 kiểu
máng tole và 2 kiểu tưới nhỏ giọt” Nhà lưới Khoa Nông
nghiệp, ĐHCT (1-6/1/2009)
17
2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất
của 3 giống cải mầm bằng phương pháp tưới nhỏ giọt” Nhà
lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT (10-16/1/2009)
18
2.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất
của cải xanh và xà lách bằng các phương pháp tưới nhỏ giọt
trên giá thể xơ dừa (slab)” Nhà lưới Khoa Nông nghiệp,
ĐHCT (14-25/3/2009)
19
2.6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất 6
giống xà lách trên giá thể xơ dừa (slab) bằng phương pháp tưới
nhỏ giọt” Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT (18-26/4/2009)
20
3.1 Chiều cao cải mầm trên các tổ hợp giá thể, ống tưới nhỏ giọt và
dụng cụ trồng, Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT (20–
26/12/2008)
25
3.2 Năng suất cải mầm trên các tổ hợp giá thể, ống tưới nhỏ giọt
và dụng cụ trồng, Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT (20–
26/12/2008)
26
3.3 Chiều cao của 3 giống cải mầm qua các giai đoạn khảo sát trên
giá thể xơ dừa bằng phương pháp tưới nhỏ giọt, Nhà lưới Khoa
Nông nghiệp, ĐHCT (10-16/1/2009)
28
3.4 Năng suất 3 giống cải mầm trên giá thể xơ dừa, bằng phương
pháp tưới nhỏ giọt, Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT
(10-16/1/2009)
29
3.5 Năng suất của cải xanh và xà lách trên 2 loại ống tưới khác
nhau, Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT (16/2-25/3/2009)
32
Trang 5KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA CẢI MẦM, CẢI XANH VÀ XÀ LÁCH TRÊN CÁC HỆ THỐNG TRỒNG RAU
KHÔNG CẦN ĐẤT KHÁC NHAU
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Cẩm Tú
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày… tháng…năm 2009
Cán bộ hướng dẫn
Ts Trần Thị Ba
Trang 6Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Lê Thị Cẩm Tú
Trang 7BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận thực tập tốt nghiệp Kỹ sư Trồng Trọt với đề tài:
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA CẢI MẦM, CẢI XANH VÀ XÀ LÁCH TRÊN CÁC HỆ THỐNG TRỒNG RAU
KHÔNG CẦN ĐẤT KHÁC NHAU
Do sinh viên Lê Thị Cẩm Tú thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Ý kiến của Hội
đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Đề tài tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày … tháng… năm 2010
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch hội đồng
Trang 8Họ tên sinh viên: LÊ THỊ CẨM TÚ
Ngày, tháng, năm sinh: 08/08 /1987
Nguyên quán: Số nhà 394, tổ 13, Ấp Bình Hòa A, xã Tam Bình, huyện Cai Lậy,tỉnh Tiền Giang
Tóm tắt quá trình học tập:
1993–1998: Trường Tiểu Học Tam Bình I
1998–2002: Trường Trung Học Cơ Sở Tam Bình
2002–2005: Trường Trung Học Phổ Thông Lưu Tấn Phát
2006–2010: Sinh viên lớp Trồng Trọt khóa 32 Khoa Nông Nghiệp và SinhHọc Ứng Dụng Trường Đại Học Cần Thơ
Trang 9Kính dâng!
Cha Mẹ và gia đình đã hết lòng nuôi dạy con nên người
Tỏ lòng biết ơn sâu sắc!
Cô Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt nhiều kinhnghiệm quý báu giúp chúng em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
Thầy Bùi Văn Tùng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, gợi ý và cho em nhữnglời khuyên bổ ích trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Chân thành cảm ơn!
Cô cố vấn học tập Lê Thị Xua, người đã quan tâm, dìu dắt, động viên và
giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Quý thầy cô ở bộ môn Khoa Học Cây Trồng – khoa Nông Nghiệp và SinhHọc Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức và tâmhuyết vô cùng quý báu cho chúng em trong suốt thời gian em học tại trường
Thân gởi đến các bạn lớp Trồng Trọt K32 và các bạn sinh viên khoa Nôngnghiệp và sinh học ứng dụng lời chúc tốt đẹp nhất.
Trang 10xanh và xà lách trên các hệ thống canh tác không cần đất khác nhau” Luận văn
tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng trọt, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng,
trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: TS Trần Thị Ba và Ks Bùi Văn Tùng
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát sự sinh trưởng, năng suất của cải mầm, cải xanh và xà lách
trên các hệ thống trồng rau không cần đất khác nhau” được thực hiện từ tháng12/2008 đến tháng 04/2009 tại Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT Các thí nghiệm
được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên nhằm xác định loại rau sinhtrưởng phù hợp trên các hệ thống trồng không cần đất
Thí nghiệm 1: Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên tổ hợpgiá thể, ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ trồng gồm: (i) máng tole rảnh–1 dây tưới
8–xơ dừa+vải, (ii) máng tole rảnh–1 dây tưới 8–xơ dừa, (iii) máng tole rảnh–2
dây tưới 8–xơ dừa+vải, (iv) máng tole rảnh–2 dây tưới 8–xơ dừa, (v) máng tole
trơn–1 dây tưới 8–xơ dừa+vải, (vi) máng tole trơn–1 dây tưới 8–xơ dừa, (vii)máng tole trơn–2 dây tưới 8–xơ dừa+vải, (viii) máng tole trơn–2 dây tưới 8–xơdừa Kết quả cho thấy các nghiệm thức sử dụng giá thể xơ dừa với phương pháp
tưới và dụng cụ trồng khác nhau cho sinh trưởng tốt và năng suất cao
Thí nghiệm 2: Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của cải mầm trên giáthể xơ dừa+vải với 2 kiểu máng tole và 2 kiểu tưới nhỏ giọt gồm: (i) máng tolerãnh–1 dây tưới 8, (ii) máng tole rãnh–2 dây tưới 8,(iii) máng tole trơn–1 dây
tưới 8, (iv) máng tole trơn–2 dây tưới8 Kết quả cho thấy cải mầm trồng trên giáthể xơ dừa+vải với 2 kiểu máng và 2 kiểu tưới có thay đổi độ nghiêng của máng tolecho sinh trưởng và năng suất tương đương
Thí nghiệm 3: Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của 3 giống cải mầmbằng phương pháp tưới nhỏ giọt gồm 3 giống cải mầm: (i) cải củ, (ii) cải thiệu, (iii)cải xanh Kết quả mầm hạt cải củ và cải xanh cho năng suất cao (5,69–6,97 kg/m2)
và mầm cải củ cho tỷ suất lợi nhuận cao nhất (0,58)
Trang 11lách bằng các phương pháp tưới nhỏ giọt trên giá thể xơ dừa (slab) gồm: (i) ống
12–xà lách, (ii) ống 12–cải xanh, (iii) ống 8–xà lách, (iv) ống 8–cải xanh.Kết quả cho thấy trồng xà lách bằng phương pháp tưới nhỏ giọt trên giá thể xơ dừa(slab) thì hệ thống tưới ống 8 cho năng suất cao nhất (2,01 kg/m2)
Thí nghiệm 5: Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất 6 giống xà lách bằng
phương pháp tưới nhỏ giọt trên giá thể xơ dừa(slab) gồm: (i) TN102, (ii) TN115,
(iii) TN153, (iv) TN160, (v) TN168, (vi) TN196 Kết quả cho thấy 4 giống xà láchTN102, TN115, TN160 và TN168 cho năng suất cao (1,59–2,00 kg/m2)
Trang 12Lời cam đoan iii
Tiểu sử cá nhân v
Lời cảm tạ vi
Tóm lược vii
Mục lục viii
Danh sách bảng xi
Danh sách hình xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2 1.1 Khái quát về các loại rau trong thí ngiệm 2
1.1.1 Rau mầm……… 2
1.1.2 Cải xanh, xà lách……… 4
1.2 Giá thể trồng rau không cần đất 6
1.3 Sản xuất rau bằng phương pháp tưới nhỏ giọt 8
1.3.1 Khái quát về tưới nhỏ giọt……… 8
1.3.2 Các ưu và khuyết điểm của tưới nhỏ giọt……… 9
1.3.3 Ứng dụng phương pháp tưới nhỏ giọt……… 10
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 12 2.1 Phương tiện 12
2.1.1 Địa điểm và thời gian………12
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm………12
2.2 Phương pháp 15
2.2.1 Thí nghiệm 1 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên tổ hợp giá thể, ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ trồng 15
2.2.2 Thí nghiệm 2 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của cải mầm trên giá thể xơ dừa+vải với 2 kiểu máng tole và 2 kiểu tưới nhỏ giọt 17
2.2.3 Thí nghiệm 3 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của 3 giống cải mầm trên giá thể xơ dừa bằng phương pháp tưới nhỏ giọt……….18
2.2.4 Thí nghiệm 4 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của cải xanh, xà lách trên giá thể xơ dừa (slab) bằng phương pháp tưới nhỏ giọt 19
2.2.5 Thí nghiệm 5 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất 6 giống xà lách trên giá thể xơ dừa (slab) bằng phương pháp tưới nhỏ giọt………20
2.3 Kỹ thuật canh tác 21
2.3.1 Đối với cải mầm……….21
2.3.2 Đối với cải xanh, xà lách………21
2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 22
2.4.1 Đối với cải mầm……….22
Trang 132.5 Phân tích số liệu 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 24 3.1 Ghi nhận tổng quát 24
3.2 Thí nghiệm 1 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên tổ hợp giá thể, ống nhỏ giọt và dụng cụ trồng 25
3.2.1 Chiều cao cây……… 25
3.2.2 Năng suất………26
3.3 Thí nghiệm 2 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của cải mầm trên giá thể xơ dừa+vải với 2 kiểu máng tole và 2 kiểu tưới nhỏ giọt 26
3.4 Thí nghiệm 3 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của 3 giống cải mầm trên giá thể xơ dừa bằng phương pháp tưới nhỏ giọt 27
3.4.1 Chiều cao cây 27
3.4.2 Năng suất 28
3.5 Thí nghiệm 4 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của cải xanh, xà lách trên giá thể xơ dừa (slab) bằng phương pháp tưới nhỏ giọt 29
3.5.1 Chiều cao cây 29
3.5.2 Số lá trên cây……… 30
3.5.3 Kích thước lá……… 31
3.5.4 Năng suất……… 32
3.6 Thí nghiệm 5 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất 6 giống xà lách trên giá thể xơ dừa (slab) bằng phương pháp tưới nhỏ giọt 32
3.6.1 Chỉ tiêu sinh trưởng ngày thu hoạch……… 33
3.6.2 Chỉ tiêu về hàm lượng chất khô, độ Brix và độ khác màu lá………… 34
3.6.3 Năng suất và trọng lượng cây……… 35
3.7 Hiệu quả kinh tế 37
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ………38
4.1 Kết luận 38
4.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 39
PHỤ CHƯƠNG ……… 43
Trang 14Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bửa ăn hàng ngày của gia đình
người Việt Nam và nghề trồng rau cũng đã có truyền thống từ lâu đời với tập quán
trồng rau trên đất và sản xuất theo kinh nghiệm Tuy nhiên vấn đề khó khăn hiệnnay của người dân là diện tích đất nông nghiệp và đất canh tác bình quân đầu
người ngày càng giảm do dân số tăng nhanh, tốc độ đô thị hóa cao dẫn đến sự thiếu
hụt tư liệu cơ bản để phát triển sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó đất sản xuất bịxói mòn, bạc màu do việc quản lý, sử dụng đất không hợp lý, kèm theo đó sự biến
đổi khí hậu bất thường những năm gần đây nên sản xuất nông nghiệp ngày càngkhó khăn Như vậy, ngoài việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học công
nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp thì việc tìm ra nguồn tư liệu sản xuất thay cho
đất cũng rất cần thiết, điều này góp phần giúp người trồng rau có thể nâng caonăng suất, chất lượng hàng hoá, giảm giá thành sản phẩm, có thể trồng trái vụ để
nâng cao sức cạnh tranh khi nước ta đang gia nhập WTO Nhiều hướng giải quyết
đã đặt ra cho sản xuất rau, trong đó có phương pháp trồng rau không cần đất đãđược nghiên cứu và áp dụng Phương pháp này có thể áp dụng cho sản xuất hộ giađình và cũng có thể trồng rau với quy mô lớn, cung cấp nguồn rau hàng ngày cho
gia đình, đem lại thu nhập kinh tế cho người dân và góp phần giải quyết được vấn
đề về tư liệu sản xuất rau Vì vậy đề tài “Khảo sát sự sinh trưởng, năng suất của cải
xanh, xà lách và cải mầm trên các hệ thống canh tác không cần đất khác nhau”
được thực hiện nhằm tìm ra loại rau có thể phát triển tốt và phù hợp trên các hệ
thống canh tác không cần đất khác nhau
Trang 15LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC LOẠI RAU TRONG THÍ NGHIỆM
1.1.1 Rau mầm
Theo Trung tâm Khuyến Nông Thành phố Hồ Chí Minh (2007) có thể trồngrau mầm bằng nhiều loại hạt giống rau khác nhau: củ cải trắng, cải ngọt, cải xanh, raumuống, hạt mè đen, các loại đậu xanh, đậu nành, đậu đen, đậu phộng, rau muống, raudền,… Nhưng phổ biến nhất hiện nay là củ cải trắng do dễ trồng và dễ tiêu thụ Hạtgiống có thể được cung cấp bởi nhiều công ty kinh doanh như: Đại Địa, Trang Nông,
Nguyên Nông… Ở nước ngoài những loại rau mầm ưu chuộng như: alfalfa, cress,leek, hành, đậu các loại, củ cải các loại, bông cải xanh, lúa mạch…
Kỹ thuật trồng rau mầm
Điều kiện về ẩm độ, nhiệt độ, ánh sáng: nhiệt độ thích hợp 25-300C,
ẩm độ 60-65%, ánh sáng nhẹ hoặc tối trong nhà và thoáng khí (Trần Thị Ba và
ctv., 2008) Theo Nguyễn Thị Minh Phương (2008), sau khi gieo rau mầm 36 giờ
nên đặt nơi ánh sáng dịu không bị ánh nắng rọi trực tiếp và phun nước nhẹ giữ ẩm
cho mầm phát triển đều
Ngâm ủ hạt: theo Nguyễn Tiến Đức (2009) có 2 cách để ngâm hạt
trước khi gieo:
+ Cách 1: ngâm hạt trong nước (có thể là nước = 2 sôi + 3 lạnh) khoảng
từ 2-3 giờ, sau đó gieo thẳng vào khay đã chuẩn bị giá thể
+ Cách 2: hạt được ngâm trong 2–3 giờ, tiếp tục ngâm trong nước ấm từ5-8 giờ, sau đó ủ trong khăn ấm từ 10–12 giờ rồi đem gieo hạt Khi đó hạt giống sẽ
được nảy mầm đồng đều, rút ngắn thời gian sinh trưởng của rau mầm và khi ngâm
đã loại bỏ được những hạt lép nổi lên trên
Trang 16Tuy nhiên, theo công ty TNHH TM Trang Nông (2009):
+ Hạt giống cần phải ngâm, ủ trước khi gieo như: hành, hẹ, đậu, cảicủ… ngâm hạt trong nước ấm (2 sôi 3 lạnh), sau đó rửa hạt bằng nước sạch 2–3lần, để ráo 15–20 phút Những hạt có vỏ cứng như: đậu Hà Lan, hướng dương, củdền, ngò, rau muống, cải củ… nên ủ từ 10–12 giờ
+ Loại hạt giống không cần ngâm: xà lách xoong, carrot, alfalfa… rãitrực tiếp vào khay đã có sẳn xơ dừa
Giá thể: theo Hoàng Văn Ký (2009), có thể chọn bất cứ giá thể nào mà
cây có thể nảy mầm và phát triển tốt, giá thể cần sạch để sản xuất rau mầm sạch.Nên chọn giá thể bụi xơ dừa (có phối trộn với phân trùn quế hoặc phân hữu cơ vi
sinh), đất sạch làm từ mùn cưa, vỏ xơ dừa, hoặc rơm rạ ủ hoai mục… thành phần
nhẹ, ngoài ra còn có những giá thể chuyên trồng rau mầm do các công ty sản xuất
như đất sạch hữu cơ sinh học của công ty TNHH dừa MeKong và Dasa hữu cơ
sinh học của công ty Đất Sạch Rau mầm được gieo trên các khay, có thể là khayxốp có lổ thoát nước, hoặc dùng các khay nhựa có lổ sẳn Hoàng Đức Ân (2009),cho giá thể vào khay (dày khoảng 2–3cm), làm cho giá thể bằng phẵng mặt khay
Tưới phun sương cho ướt (ẩm) giá thể Gieo đều hạt giống lên trên, tưới phunsương cho ướt hạt giống và giá thể (Siêu thị nông nghiệp, 2008)
Chăm sóc và thu hoạch: sau khi gieo tưới phun sương nhẹ và đậy kín
khay lại bằng giấy carton, hoặc chất chồng các khay lên nhau để giữ ẩm và giảm
sự bốc hơi nước, kích thích sự nẩy mầm nhanh hơn Khoảng 12–18 giờ sau mởgiấy đậy, tưới phun sương mặt khay từ 1–2 lần/ngày, không tưới vào buổi chiều.Sau khi gieo 5–7 ngày, rau mầm cao từ 8–12 cm là có thể thu hoạch Dùng kéohoặc dao (loại dao dùng để rọc giấy) cắt sát bề mặt giá thể, xếp ngay ngắn vào hộpnhựa đưa đi tiêu thụ hoặc bảo quản trong tủ lạnh (Nguyễn Thị Hưng, 2006)
Quy trình sản xuất cải mầm (Nguyễn Văn Đém, 2007)
Cải mầm được sản xuất theo quy trình hoàn toàn không dùng hóa chất Chỉtrong thời gian 5–7 ngày là có thể thu rau mầm cao cấp mà không cần chi phí nhiều
và vô cùng đơn giản Trồng cải mầm cần thực hiện như sau: 30 g hạt cải củ, ngâmtrong nước vài giờ (có thể để ngoài nắng) Với giá thể tro trấu đã được ngâm trong
Trang 17nước 30 phút, để ráo, sau đó cho tro trấu vào hợp nhựa vuông 20 x 20 x 10 cm (có
thể sử dụng khay, thùng xốp, thau,…) độ dày tro 1cm, dùng 2 lớp giấy thấm trải trênmặt tro trấu, rãi hạt cải đã ngâm lên giấy thấm đó (rãi hạt điều trên mặt giấy), đểtrong tối và tưới nước mổi ngày Nhiệt độ tốt là 25–27oC và ẩm độ 60–65%, tối hoặcánh sáng nhẹ trong nhà và thoáng khí Sau 5–7 ngày cải mầm cao khoảng 11–13 cm
là có thể thu hoạch được khoảng 180–200 g cải mầm
1.1.2 Cải xanh, xà lách
Nguồn gốc và đặc tính thực vật
Cải xanh còn có tên gọi khác là cải canh, cải bẹ xanh với tên khoa học:
Brassica juncea và tên tiếng anh: common indian, common brown mustard,
Potherb, thuộc họ thập tự Cruciferea Nguồn gốc khởi nguyên của cây có thể ởvùng Trung Á, thuộc khu vực Tây– ắc Ấn Độ (bang Punjab và Kashmir) Cây caovừa phải, cuống lá ngắn và có dạng bẹ nhỏ, lá xanh mềm, vị đắng nhẹ hơn cải bẹ,thường ăn luộc, nấu canh, xào, ăn sống (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh
Cường, 2007)
Xà lách thuộc họ Cúc (Compositae) với tên khoa học là Lactuca sativa và
tên tiếng Anh: lettuce – head lettuce Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng(2002), xà lách có quê hương ở vùng tiểu Á Trung Đông, hiện nay đã được sửdụng và gieo trồng rộng rãi khắp các nước trên thế giới Ở nước ta, xà lách trồng
được ở các vùng từ Bắc đến Nam, trong điều kiện đủ ẩm xà lách mới cuốn, nên ở
miền Bắc và vùng Đà Lạt trồng nhiều hơn Xà lách chủ yếu dùng trong ăn sống,trong xà lách có nhiều khoáng chất và vitamin, ngoài ra còn có chất Lactucarium làmột chất có hoạt tính sinh học cao Xà lách là cây thân thảo sống hàng năm, thânthẳng hình trụ và có thể phân cành Rễ chùm khá phát triển Lá mọc quanh thân,các lá phía gốc mọc chụm với nhau, có cuống, còn lá phía trên không cuống, có 2tai lá Phiến lá hình hơi tròn, nhăn nheo, quăn ở mép Trong thân và cuống lá có
mủ trắng (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007) Lá ngoài có màu
xanh đến xanh đậm, lá trong xanh nhạt đến trắng đậm Các lá phía trong mềm có
chất lượng cao hơn các lá ngoài (Mai Thị Phương Anh, 1996) Chùm hoa ở đầuthân, dạng chùy kéo dài, mang nhiều hoa nhỏ màu vàng, hình môi Quả bế, có
Trang 18nhiều lông trắng, trong chứa nhiều hạt nhỏ (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh
Cường, 2007)
Điều kiện ngoại cảnh của cải xanh, xà lách
Ẩm Độ: ẩm độ trong không khí cũng như ẩm độ trong đất tác động đến các
giai đoạn sinh trưởng của cây rau Về cơ bản, ẩm độ có vai trò trong phân chia tế
bào, duy trì và phát triển Khi đủ nước, các nhân tố bên ngoài thích hợp, sự pháttriển tế bào ở các giai đoạn khác nhau tăng do đó cây sinh trưởng nhanh Khi
lượng nước hạn chế, các quá trình sinh lý sinh hóa trong cây giảm do vậy sự tích
lũy cacbuahydrat bị hạn chế ảnh hưởng đến các quá trình tái sinh trong cây, kếtquả là năng suất giảm (Mai Thị Phương Anh, 1996) Cải xanh có bộ rễ ăn nông và
có bộ lá lớn nên chịu được hạn kém, lưu giữ bệnh nhiều và lâu, nên dùng nướcsạch để tưới (Trần Khắc Thi, 2000) Xà lách thích hợp phát triển ở ẩm độ 70-80%(Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1999 và Đường Hồng Dật, 2003)
Nhiệt độ: Trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của rau thì
nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất Nhiệt độ là yếu tố hình thành các vùng khí hậu,
và tập đoàn cây trồng thích ứng của mỗi vùng Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh
trưởng và phát triển của rau như: sự tồn tại chung, sự nảy mầm hạt, sự phát triển
của các phần sử dụng được, sự nở hoa, thụ phấn, tạo quả… và sự phát triển của sâubệnh Cải xanh ưa thích khí hậu ôn hòa, mát lạnh Khả năng chịu rét tùy theogiống Hầu hết các giống cải xanh đều sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 18–22oC Hạt cóthể nẩy mầm ở 15–20oC, ở nhiệt độ 20-25oC hạt nảy mầm thuận lợi (Tạ Thu Cúc,2009) Theo Trịnh Thị Thu Hương (2003), nhiệt độ 8–25oC xà lách sẽ phát triển tốt
và nhiệt độ cần cho toàn bộ quá trình sinh trưởng là 15–20oC Xà lách thích nhiệt
độ thấp và sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 13–160C Nhiệt độ ngày và đêm rất quantrọng cho sinh trưởng và phát triển của xà lách, nhiệt độ thích hợp là 20/180C, xàlách cuốn phát triển tốt ở nhiệt độ từ 15–200C, chịu được nhiệt độ 80C (Mai Thị
Phương Anh, 1996) Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2002), xà lách
thích hợp trong khoảng nhiệt độ 15–200C vào ban ngày và đêm lạnh Nhiệt độ trên
250C bắp hình thành không chặt Quá trình tạo bắp sẽ không diễn ra khi nhiệt độtrên 280C Xà lách xoăn có khả năng chịu nhiệt độ tốt hơn xà lách cuốn
Trang 19 Ánh sáng: Ánh sáng là yếu tố rất cần thiết trong sản xuất rau vì ánh sáng
đóng vai trò quan trọng, trong đó 90–95% năng suất cây trồng là do quang hợp
Rau rất nhạy cảm đối với sự thay đổi của thành phần ánh sáng, và thời gian chiếu
sáng (Trần Thị Ba và ctv., 2001).Theo Phạm Anh Cường và Nguyễn Mạnh Cường(2008), cải xanh yêu cầu cường độ ánh sáng trung bình, thời gian chiếu sángkhoảng 10–11 giờ trong ngày Khi ánh sáng mạnh và nhiệt độ cao sẽ làm cho cải
sinh trưởng không tốt (Tạ Thu Cúc, 2007) Xà lách thích hợp với ánh sáng cậnnhiệt đới, ánh sáng 17000 lux và 16 giờ sẽ hình thành bắp chặt hơn, để sinh trưởngbình thường và cho năng suất cao, yêu cầu thời gian chiếu sáng 10–12 giờ/ngày
Độ chiếu sáng ảnh hưởng đến sự hình thành nụ hoa (Mai Thị Phương Anh, 1996)
Đất và dinh dưỡng: Cũng như các loại cây trồng khác, rau đòi hỏi phải có
đầy đủ chất dinh dưỡng, trong đó chủ yếu là N, P, K nhưng tùy loại rau mà yêu cầu
cụ thể khác nhau, rau ăn lá cần có nhiều N hơn các loại rau ăn củ và ăn quả (ĐàoDuy Cầu, 2004).Bộ rễ xà lách rất yếu, vì vậy cần trồng trên đất giàu dinh dưỡng,khả năng giữ nước tốt, đất pha cát hơi kềm Xà lách không chịu được hạn và đấtchua (pH<6) (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1999) Xà lách không kén
đất, chỉ cần thoát nước, pH = 5,5–6,5 Sau khi trồng chỉ khoảng 30–40 ngày là thu
hoạch nên yêu cầu nhiều phân dễ tiêu, chủ yếu là đạm và lân (Nguyễn Mạnh Chinh
và Phạm Anh Cường, 2007)
1.2 GIÁ THỂ TRỒNG RAU KHÔNG CẦN ĐẤT
Theo Trần Thị Ba (2008), trồng rau không cần đất (soil–less culture) hoặcthủy canh (hydroponics) là một kỹ thuật trồng cây trong dung dịch dinh dưỡng
(nước và phân), nó cung cấp tất cả các thành phần dinh dưỡng cho cây trồng phát
triển tối đa, có hoặc không sử dụng môi trường nhân tạo (giá thể) để nâng đỡ cây
về mặt cơ học Các loại giá thể nên có lổ hổng để duy trì hoàn hảo lượng không
khí và nước cho cây vì cây cần thở Theo Nguyễn Xuân Nguyên (2004), một sốmôi trường được sử dụng trong trồng không cần đất:
Cát: là một trong những môi trường được sử dụng sớm nhất, rẻ, luôn có
sẵn và dễ làm sạch Thường dùng cát khô vì cát mịn thoát nước kém Hai nhược
điểm trong việc sử dụng cát là trọng lượng cát nặng khi ướt và tốc độ khô nhanh
Trang 20 Xỉ: được sử dụng chủ yếu trong xây dựng làm bêtông nhẹ Xỉ được sử dụng
chủ yếu trong trồng cây kinh doanh vì tương đối rẻ Kích thước hạt được sử dụng
trong phương pháp thủy canh có đường kính từ 5 đến 10mm Bản chất rỗng cho
phép tuần hoàn không khí tốt Nhược điểm chính của xỉ là nặng
Chất khoáng peclit: là môi trường rất hữu ích, cực kỳ nhẹ, khả năng giữ
nước cao do công ty liên doanh Peclit Austraulia sản xuất Peclit quá mịn sẽ không
phù hợp cho trồng thủy canh Peclit tương đối ổn định, thoát nước tốt mặc dù cómức hấp thu nước cao 27%, nhưng thấm chậm qua các chất khoáng nên đó là ưu
điểm Peclit nhẹ, nhưng giá thành cao nên ít được sử dụng khi trồng cây kinh
doanh bằng phương pháp thủy canh, mà được sử dụng phổ biến để trồng cây thủycanh trong nhà do nhẹ
Chất khoáng vecmiculit: giống như peclit, vecmiculit được sản xuất ở
nhiệt độ cao bằng cách xử lý các khoáng chất Hầu hết các nhà trồng vườn đều biết
đến sản phẩm này với màu nâu tươi, đóng gói hỗn hợp Các hạt mịn là môi trường
lý tưởng giữ ẩm và bảo vệ hạt nảy mầm Trong kỹ thuật thủy canh người ta còndùng hỗn hợp vecmiculit với xỉ hoặc peclit để tăng cường khả năng giữ nước củahỗn hợp Nhược điểm của vecniculit là có xu hướng bị gãy vỡ theo thời gian, làmtắc hệ thống dẫn, lọc tuần hoàn
Vật liệu nền growool: loại vật liệu này do công ty CRS Bradford
(Melbourne) đưa ra thị trường vào năm 1982, một sự kiện đáng kể trong lĩnh vực
thủy canh được đón nhận nồng nhiệt Sản phẩm growool cực nhẹ, một mét khối chỉcân nặng có 80kg, Growool có khả năng giữ nước và không khí tuyệt vời đến 80%
nước và 17% không khí Vật liệu này có giá thành tương đối rẻ, ưu điểm đặc biệt
của vật liệu nền growool là có thể di chuyển cây từ chổ này sang chổ khác.Growool là vật liệu không độc, an toàn khi dùng trực tiếp, đây là ưu điểm lớn nhấtvới những người bận rộn Do khả năng giữ nước cao nên cần phải có biện pháp
tiêu nước tốt để tránh sử dụng quá nhiều dung dịch dinh dưỡng, nếu hệ thống rễ bị
ngập nước sẽ làm cây phát triển chậm Về mặt mỹ quan, lớp bề mặt luôn bao phủbởi lớp rêu, tảo đen thô
Trang 21 Đất sét nung: là loại vật liệu nền đặc biệt, được sử dụng phổ biến ở Châu
Âu Người ta xử lý theo một quy trình đặc biệt, đất sét nở ra và sản phẩm rắn saucùng có độ xốp cao cho phép giữ nước và không khí tốt Đất sét nung được ứng
dụng rất thành công trong các hệ thống thủy canh đơn giản Sét nung được đưa ra thị
trường những sản phẩm trọn gói được thiết kế khéo léo cho sử dụng trong gia đình,
thích hợp với các hệ thống thủy canh nhỏ, tuy nhiên khá đắt so với các vật liệu khác
Theo Kauffman (2005) (trích dẫn của Đinh Trần Nguyễn, (2008)) Scoria:
là một dạng đá nghiền thường được phân làm 3 cấp theo đường kính từ 3–15mm
Mạt cưa (Sawdust): là gỗ nghiền
Cỏ khô (hay), và rơm (straw): có thể sử dụng riêng lẻ hoặc phối trộn với
1.3 SẢN XUẤT RAU BẰNG PHƯƠNG PHÁP TƯỚI NHỎ GIỌT 1.3.1 Khái quát về tưới nhỏ giọt
Theo Lê Sâm (2002), tưới nhỏ giọt (Drip Irrgation/Strickle Irrigation) là
một dạng cơ bản của kỹ thuật tưới tiết kiệm nước (hay vì tưới Macro Irrigation)(Nguyễn Đức Quý, 2007) Tưới nhỏ giọt là phương pháp tưới cục bộ Nước theo
hệ thống đường ống tưới bắn chất dẻo thoát qua vòi nhỏ giọt rồi làm ẩm vùng đấtchứa bộ rễ cây trồng So với các phương pháp khác, đây là phương pháp tưới tiêntiến nhất và hiệu suất tưới cao nhất
Trang 221.3.2 Các ưu và khuyết điểm của tưới nhỏ giọt
Ưu điểm
Đảm bảo phân bố độ ẩm đều trong tầng đất canh tác (phần có bộ rễ cây
trồng) tạo nên điều kiện thuận lợi về chế độ không khí, nhiệt độ, độ ẩm, hấp thu
dinh dưỡng và quang hợp cho cây trồng
Tiết kiệm nước đến mức tối đa vì nó tránh triệt tiêu đến mức tối thiểu tổnthất nước (do thấm và bốc hơi) Ở hệ thống tưới nhỏ giọt đất tưới cũng được tiếtkiệm nước tối đa
Không gây ra xói mòn đất, không tạo nên váng đất đọng trên mặt vàkhông phá vỡ cấu tượng đất do tưới nhỏ giọt được thực hiện một cách liên tục vớimức tưới rất nhỏ dưới dạng từng giọt
Đảm bảo năng suất tưới, năng suất lao động được nâng cao không ngừng
vì có khả năng cơ khí hóa, tự động hóa cao độ khâu nước tưới Phương pháp tướinày đảm bảo cho các máy móc nông nghiệp hoạt động trên cánh đồng tưới đạt
được năng suất cao, tự động hóa thực hiện tốt một số khâu: phun thuốc trừ sâu,
bón phân hóa học kết hợp tưới nước
Việc thực hiện tưới nhỏ giọt ít phụ thuộc vào các yếu tố thiên nhiên: độdốc địa hình, thành phần và cầu trúc đất tưới, mức nước ngầm nông hay sâu, điềukiện nhiệt độ và nhất là không bị chi phối bởi ảnh hưởng của gió như là tưới phun
mưa và có thể thực hiện tưới liên tục suốt ngày đêm
Cho phép sử dụng nước tưới cho đất bị nhiễm chua, nhiễm mặn ở mức độthấp, khi đảm bảo thường xuyên có biện pháp rửa trôi bằng mưa thiên nhiên haybằng rửa nhân tạo
Hệ thống yêu cầu cột nước áp lực làm việc nhỏ, lưu lượng tưới nhỏ Nóichung áp lực tưới nhỏ giọt chỉ bằng 10%–15% ở tưới phun mưa lượng nước bơmlại ít hơn 70%–80%
Tưới nhỏ giọt đã góp phần ngăn chặn được sự phát triển của cỏ dại quanh
gốc cây và sâu bệnh, vì nước tưới chỉ làm ẩm xung quanh gốc cây
Trang 23 Khuyết điểm
Dễ gây ra sự tắc bí tại các vòi tạo giọt và ống nhỏ giọt Sự tắc bí này đãtốn công sức xử lý khắc phục và yêu cầu phải xử lý nước trong sạch
Tưới nhỏ giọt không có khả năng làm mát cây, cải tạo vi khí hậu, không
có khả năng rửa lá cây
Vốn đầu tư trong xây dựng tương đối cao và đòi hỏi phải có trình độ xâydựng và quản lý
Trong một số trường hợp, sự phân bố độ ẩm tưới bị thiếu và không đồng
đều ở khối đất canh tác chứa bộ rễ cây
Nếu việc tưới nhỏ giọt bị gián đoạn, chững lại thì cây trồng sẽ bị xấu đinhiều hơn so với tưới nước như thông thường (Lê Sâm, 2002)
Động vật gặm nhấm, côn trùng, và lao động của con người có thể gây
thiệt hại cho các thành phần và tạo nguồn tiềm năng của các rò rỉ (Tom , 2003)
1.3.3 Ứng dụng phương pháp tưới nhỏ giọt
Trên thế giới:
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thái Hùng (2007) về nghiên cứu chế
độ tưới nhỏ giọt thích hợp cho cây cà chua thì quá trình phát triển của cây cà chua
và thời gian thu hoạch sản phẩm ở các lô thực nghiệm tưới bằng kỹ thuật tưới nhỏgiọt nhanh và tập trung hơn so với lô đối chứng được tưới bằng kỹ thuật cổ truyền
Sa mạc Ramat Negev là một phần của sa mạc Nagev thuộc diện tích đấtliền Israel, đã ứng dụng kỹ thuật tưới nhỏ giọt tự động cho cà chua trong điều kiệnnhà kính và hệ thống dây leo Phương pháp canh tác này nhằm tạo ra sản phẩmphục vụ xuất khẩu (http://www.hethongtuoi.com/web/hotro.aspx?id=49)
Tại Việt Nam
Hiện nay, phương pháp tưới này bắt đầu được phổ biến ở một số nước để
tưới cho cây ăn quả, rau và dưa Dùng các ống nhỏ đặt rãi rác trên mặt đất, vùng có
phân bố rễ cây chủ yếu, nước được dẫn từ nguồn nước đến và nhỏ giọt đều đều chothấm xuống đất Một số thí nghiệm cho biết phương pháp này đối với cà chua, ớt,
Trang 24dưa bở, dâu tây và một số cây ăn quả đạt hiệu quả tăng năng suất cao hơn tưới rãnh
hoặc tưới phun mưa mà lại tiết kiệm được nước (Hoàng Đức Phương, 2000)
Sản xuất rau trên giá thể hữu cơ, cho giá thể vào đầy các máng nhựa, hệthống tưới nhỏ giọt được đặt trên mặt giá thể Các loại rau ngắn ngày như: rau ăn
lá các loại, xà lách gieo thẳng trên mặt giá thể sau đó phủ lên một lớp giá thểmỏng Sau khi trồng 30 ngày bón bổ sung phân bón cho rau Các loại rau dài ngày
(su hào, sulơ, bắp bải ) sau khi nhổ cây khỏi vườn ươm phải trồng ngay Đối vớicây đậu cô ve lùn, khoảng cách gieo hạt cũng tương ứng với khoảng cách các lỗ
trên ống tưới nhỏ giọt Khi cây ra hoa cũng bón bổ sung NPK như với cây rau dàingày (Báo Nông nghiệp, KH kỹ thuật nông nghiệp, 2008)
Trang 252.1 PHƯƠNG TIỆN 2.1.1 Địa điểm và thời gian
Địa điểm: Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT)
Giá thể: xơ dừa XO, slab, vải
+ Xơ dừa XO (mụn xơ dừa xuất khẩu của công ty DASA, 2007): theocông ty DASA thì xơ XO rất tơi xốp, giữ ẩm cao giúp cho hạt giống dễ nảy mầm,
là môi trường kháng khuẩn tốt không mang mầm bệnh, không chứa hóa chất độc
hại, hữu cơ tồng cộng là 95%, độ thoáng khí là 22%, khả năng giữ nước 70%,EC<0,5 ms/c, pH 5,8–6,4, sấy tiệt trùng ở 1000C, không có vi sinh vật gây hại(Ecoli, Salmonella)
+ Xơ dừa nén khối (slab): (sản phẩm từ vỏ dừa xuất khẩu của công tyPhong Phát): theo công ty sản phảm phù hợp cho cả nền công nghiệp làm vườn,nông nghiệp kỹ thuật cao… nguồn nguyên liệu vỏ dừa sạch 100% hoàn toàn khônggây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng
+ Vải (mềm gòn): phải chưa qua sử dụng
Dung dịch dinh dưỡng cho thí nghiệm 4 và 5 (Bảng 2.1 và Bảng 2.2)
Trang 26Bảng 2.1 Công thức pha chế của dung dịch dinh dưỡng Úc trong 1 lít nước (Bộ
môn Khoa học cây trồng pha chế)
Thành phần Số lượng (g)Dung dịch A
CuSO4.H20 0,324(NH4)Mo7O24.4H20 0,216
Bảng 2.2 Công thức dinh dưỡng cho xà lách (thí nghiệm 5)
Cung cấp dinh dưỡng theo lượng như sau:
Ngày sau khi gieo Lượng dinh dưỡng cung cấp/4 cây (ml)
Trang 27 Độ nghiêng của máng tole: độ nghiêng của máng tole ở thí nghiệm 1
khoảng 9–100, thí nghiệm 2 là 4–50với gốc nghiêng được tính như sau (Hình 2.1):
+ Đo 2 đầu của hệ thống từ mặt đất đến điểm tiếp giáp mặt trên của hệthống, đầu thấp ký hiệu là b, đầu cao ký hiệu là a Lấy chiều cao ở a trừ cho chiềucao ở b được độ dài A
+ Tiếp đo chiều dài của giá đở máng tole được chiếu vuông gốc xuốngmặt đất, được độ dài ký hiệu là B
+ Áp dụng công thức tgx = A/B và tính gốc x Gốc x là độ nghiêng củamáng tole
A a
Máng tole
Mặt đất Gốc nghiêng
Hình 2.1 Sơ đồ tính gốc nghiêng của máng tole trồng rau mầm, Nhà lưới Khoa
Nông Nghiệp, ĐHCT
Trang 282.2 PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Thí nghiệm 1 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên tổ
hợp giá thể, ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ trồng.
Mục đích: xác định loại giá thể, kiểu tưới và kiểu máng thích hợp trồngcải mầm
Bố trí thí nghiệm: theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 8 nghiệmthức và 3 lần lặp lại (Hình 2.2)
1 Máng Rảnh–1 dây tưới 8–xơ dừa+vải
2 Máng Rảnh–1 dây tưới 8–xơ dừa
3 Máng Rảnh–2 dây tưới 8–xơ dừa+vải
4 Máng Rảnh–2 dây tưới 8–xơ dừa
5 Máng Trơn–1 dây tưới 8–xơ dừa+vải
6 Máng Trơn–1 dây tưới 8–xơ dừa
7 Máng Trơn–2 dây tưới 8–xơ dừa+vải
8 Máng Trơn–2 dây tưới 8–xơ dừa
Trang 29Máng Rảnh–1 dây tưới 8–xơ dừa+vải Máng Rảnh–1 dây tưới 8–xơ dừa
Máng Rảnh–2 dây tưới8–xơ dừa+vải Máng Rảnh–2 dây tưới 8–xơ dừa
Máng Trơn–1 dây tưới 8–xơ dừa+vải Máng Trơn–1dây tưới8–xơ dừa
Máng Trơn–2 dây tưới 8–xơ dừa+vải Máng Trơn–2 dây tưới 8–xơ dừa
Hình 2.2 Nghiệm thức ở thí nghiệm “Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải
mầm trên tổ hợp giá thể, ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ trồng”, Nhà
lưới Khoa Nông Nghiệp, ĐHCT (19–26/12/2008)
Trang 30Hình 2.3 Nghiệm thức trong thí nghiệm “Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của
cải mầm trên giá thể xơ dừa+vải với 2 kiểu máng tole và 2 kiểu tưới nhỏgiọt”, Nhà lưới Khoa Nông Nghiệp, ĐHCT(1–6/1/2009)
2.2.2 Thí nghiệm 2 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của cải mầm trên giá
thể xơ dừa+vải với 2 kiểu máng tole và 2 kiểu tưới nhỏ giọt
Mục đích: xác định kiểu máng và kiểu kiểu tưới thích hợp trồng cải mầm
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫunhiên với 4 nghiệm thức và 3 lần lặp lại
1 Máng tole rãnh–1 dây tưới 8
2 Máng tole rãnh–2 dây tưới 8
3 Máng tole trơn–1 dây tưới 8
4 Máng tole trơn–2 dây tưới 8
Ghi chú (1) Máng tole rãnh–1 dây tưới 8 (2) Máng tole rãnh–2 dây tưới 8.
(3) Máng tole trơn–1 dây tưới 8 (4) Máng tole trơn–2 dây tưới 8.
Trang 312.2.3 Thí nghiệm 3 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của 3 giống cải mầm
trên giá thể xơ dừa bằng phương pháp tưới nhỏ giọt
Mục đích: xác định loại cải mầm cho hiệu quả nhất
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫunhiên với 3 nghiệm thức là 3 giống cải mầm và 4 lần lặp lại (Hình 2.4)
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của 3
giống cải mầm bằng phương pháp tưới nhỏ giọt”, Nhà lưới KhoaNông nghiệp, ĐHCT (10–16/1/2009)
Cải củ
Cải xanh
Cải thiệu Cải thiệu
180cm
Trang 322.2.4 Thí nghiệm 4 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của cải xanh, xà
lách trên giá thể xơ dừa (slab) bằng các phương pháp
Hình 2.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của cải
xanh và xà lách bằng các phương pháp tưới nhỏ giọt trên giá thể xơdừa (slab)”, Nhà lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT (16/2–25/3/2009)
Trang 332.2.5 Thí nghiệm 5 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất 6 giống xà lách trên
giá thể xơ dừa (slab) bằng phương pháp tưới nhỏ giọt
Mục đích: xác định giống xà lách phù hợp với phương pháp tưới nhỏ giọt
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫunhiên với 6 nghiệm thức là 6 giống xà lách và 3 lặp lại (Hình 2.6)
Hình 2.6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất 6 giống
xà lách trên giá thể xơ dừa (slab) bằng phương pháp tưới nhỏ giọt” Nhà
lưới Khoa Nông nghiệp, ĐHCT (18/3–26/4/2009)
Trang 342.3 KỸ THUẬT CANH TÁC
2.3.1 Đối với cải mầm
Chuẩn bị hạt: ngâm hạt cải với nước ấm (2 sôi: 3 lạnh) khoảng 2 giờ, vớthạt ra ủ trong khăn lông sạch khoảng 8 giờ Sau đó, đem ra và chuẩn bị gieo trêngiá thể đã được chuẩn bị Lượng hạt cần gieo cho thí nghiệm là 0,75 kg/m2
Chuẩn bị vật liệu và gieo hạt: sử dụng Cholorin nồng độ 2% để phun đềutrên máng tole và trên kệ trồng cải mầm Kiểm tra và lắp hệ thống ống dẫn nướccho thí nghiệm Sau đó tiến hành lắp giá thể và gieo hạt
Lắp giá thể: xơ dừa XO được lắp trên các lô thí nghiệm với chiều dàykhoảng 1cm (dùng thước để kiểm tra độ độ dày của giá thể) Với giá thể có vải thì
đặt vải trên ống dẫn nước và xơ dừa phủ trên cùng Phủ lên bề mặt giá thể lớp giấy
mỏng, phun nước ướt đều giá thể, sau đó rãi hạt đều trên giá thể
Chăm sóc: hai ngày sau khi gieo hạt cung cấp nước bằng bình phun (phunướt bề mặt hạt), khoảng 2–3 lần/ngày Các ngày tiếp theo cho chạy hệ thống tướinước bằng ống nhỏ giọt tới ngày thu hoạch (từ ngày thứ 3 rễ con đã đứng thẳngđâm xuống giá thể hút nước, không tưới cho cải mầm bằng cách phun để tránh
phát sinh bệnh) Đồng thời ghi nhận nhiệt độ và ẩm độ bằng dụng cụ đo được đặt ởgiữa khu vực làm thí nghiệm
Thu hoạch: đến ngày thứ 6–7 tiến hành thu hoạch bằng cách dùng kéo cắtngang xác gốc, sau đó phân loại cải mầm thương phẩm và không thương phẩm
2.3.2 Đối với cải xanh, xà lách
Chuẩn bị cây con: xơ dừa X1 được cho vào khay xốp gieo hạt, phun nướcvừa ướt cho giá thể và hạt, sau khi hạt nảy mầm vẫn tiếp tục tưới phun Khay được
sử dụng là khay 28 lỗ, gieo khoảng 4–5 hạt/lỗ, sau đó tỉa còn lại 2 cây với cải xanh
và 3 cây với xà lách Khi cây bắt đầu có 2 lá thật thì chuyển sang tưới thấm chocây với dung dịch dinh dưỡng MU (nồng độ 2%) hoặc DAP (nồng độ 2%) chocải
Chăm sóc: khi cây được 12–15 ngày tuổi bắt đầu đặt vào giá thể slab vàtưới dinh dưỡng bằng hệ thống tưới nhỏ giọt Lỗ trên giá thể để trồng cải có
diện tích 2 x 2 cm, cách bìa ngoài của giá thể 2 cm Khoảng cách trồng cải xanh
là 10 x 10 cm, xà lách 8 x 8 cm
Trang 352.4 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 2.4.1 Đối với cải mầm
Ghi nhận: ngày gieo, ngày thu hoạch
Nhiệt độ và ẩm độ: dùng nhiệt kế và ẩm kế đo nhiệt độ và ẩm độ không khí
ở những thời điểm cần xác định trong ngày, đặt ngay trên hệ thống trồng cải mầm
khoảng 5 cm ở giai đoạn cây thấp, những ngày sau khi cây cải mầm cao nhiệt kế
và ẩm kế được đặt trên ngang với độ cao ngon cải mầm
Chiều cao cây (cm): dùng thước nhựa dẽo để đo từ gốc thân, chiều cao cây
được tính từ bề mặt giá thể đến đỉnh cao nhất của cây cải mầm, mỗi lặp lại của
từng nghiệm thức đo chiều cao 10 cây sau đó chia trung bình đối với thí nghiệm 2
và 3, còn thí ngiệm 1 chỉ lấy chiều cao trung bình trên 5 cây
Chỉ tiêu năng suất
+ Năng suất tổng (kg/m2): cân tổng trọng lượng thu hoạch được trên các
Hiệu quả kinh tế (thí nghiệm 3)
+ Tổng chi phí: bao gồm tiền hạt giống, giá thể, vật liệu thí nghiệm.+ Tổng thu nhập: năng suất thương phẩm x giá bán
+ Lợi nhuận: tổng thu nhập – tổng chi phí
2.4.2 Đối với xà lách và cải xanh
Ghi nhận: ngày gieo hạt, ngày đặt cây vào giá thể và tưới dinh dưỡng
Chiều cao cây (cm): được tính từ mặt giá thể đến đỉnh lá cao nhất
Kích thước lá (cm): dùng thước đo chiều dài và chiều ngang lá có kíchthước lớn nhất
Số lá (lá/cây): đếm tổng số lá có trên cây và chỉ tính những lá có chiều dài
từ 2 cm trở lên
Trọng lượng từng cây: mỗi lô chọn ra 8 cây, rồi cân từng cây
Trang 36 Năng suất tổng: cân tổng trọng lượng thu hoạch được trên mỗi lô.
Năng suất thương phẩm: loại bỏ những lá sâu bệnh, không ăn được
Tỷ lệ năng suất thương phẩm (%): (Năng suất thương phẩm*100)/năng suấttổng
Hàm lượng chất khô (%): cân mẫu tươi mỗi lô chọn ra 3 cây cân lấy trọnglượng tươi, rồi đem sấy khô ở nhiệt độ 600C khoảng 48 giờ, sau đó cân mẫu khô
và tính hàm lượng chất khô bằng công thức
(trọng lượng sau sấy – trọng lượng bao)*100) / trọng lượng tươi
Độ khác màu sắc lá (E): dùng máy đo Colorimeter Minola đo ở vị trí lá
trưởng thành trên cây, mỗi lô lấy 5 cây để đo rồi lấy trung bình cho mỗi lặp lại
Độ Brix thân lá (%): nghiền nát thân và lá rồi lấy dung dịch đo hàm lượng
chất rắn hòa tan bằng Brix kế
Đánh giá màu sắc lá, độ giòn, độ đắng: bằng phương pháp đánh giá cảmquan (Sensitive test), đưa mẫu giấy có thang điểm đánh giá từ 1–4 cho 10 ngườiđánh giá, rồi lấy kết quả
1 Xấu–màu xanh đậm Không giòn Rất đắng
2 Trung bình–màu xanh hơi đậm Trung bình Đắng khá
3 Khá đẹp–màu xanh nhạt Khá giòn Đắng trung bình
4 Rất đẹp–màu xanh nhạt hơi vàng Rất giòn Không đắng
2.5 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Sử dụng phần mềm Excel để nhập số liệu và vẽ đồ thị, phân tích thống kêbằng chương trình MSTATC
Trang 37KẾT QUẢ THẢO LUẬN 3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT
Các thí nghiệm được thực hiện trong nhà lưới lợp bằng ni lông làm giảmcôn trùng gây hại, tạo điều kiện thuận lợi cho rau phát triển Các thí nghiệm về raumầm (thí nghiệm 1, thí nghiệm 2 và thí nghiệm 3) được thực hiện từ cuối 12/2008
đến giữa 1/2009 thời tiết mát có nhiệt độ và ẩm độ (nhiệt độ 21,75–31,670C; ẩm độ67,67–86%) không khí khá thích hợp cho sự sinh trưởng của cải mầm và không cóxuất hiện bệnh Thí nghiệm 4 và 5 thực hiện vào tháng 3–4/2009, thời tiết nóngnên dùng lưới che mát kết hợp phun nước bổ sung lên lá cho cải xanh và xà lách 2tuần khi trồng cây lên giá thể xơ dừa (slab) vào buổi trưa
Trang 38Hình 3.1 Chiều cao cải mầm trên các tổ hợp giá thể, ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ
trồng, Nhà lưới khoa Nông nghiệp, ĐHCT (20–26/12/2008)
3.2 THÍ NGHIỆM 1 KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CẢI MẦM TRÊN TỔ HỢP GIÁ THỂ, ỐNG NHỎ GIỌT
VÀ DỤNG CỤ TRỒNG 3.2.1 Chiều cao cây
Chiều cao của cải mầm có sự khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống kê(Hình 3.1 và Phụ bảng 2.1), cao nhất ở các hệ thống dùng giá thể là xơ dừa (10,31–10,71 cm) và thấp nhất ở những hệ thống dùng giá thể là xơ dừa+vải (8,23–8,75cm) trừ hệ thống máng rảnh–2 dây tưới 8–xơ dừa+vải có chiều cao không khácbiệt với các hệ thống trên Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hậu (2009),chiều cao cải mầm chỉ sử dụng đơn thuần giá thể vải (5,8–6,4 cm) thấp hơn so vớicải mầm trong thí nghiệm này khi sử dụng giá thể xơ dừa+vải Do đó, chiều caocải mầm trồng trên giá thể xơ dừa vẫn cho kết quả chiều cao tốt hơn 2 loại giá thể
có sử dụng vải Nguyên nhân của kết quả trên có thể giải thích do rễ cải mầm khó
đâm xuyên qua lớp vải để hút nước nên quá trình sinh trưởng bị hạn chế dẫn đến
chiều cao cây bị thấp, làm ảnh hưởng đến năng suất cải mầm