TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG LA HOÀNG CHÂU KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI THỰC VẬT CỦA HAI DÒNG QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT Ở BA THẾ HỆ THÁP TRÊ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LA HOÀNG CHÂU
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI THỰC VẬT CỦA HAI DÒNG QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT Ở BA THẾ
HỆ THÁP TRÊN GỐC CAM MẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
Cần Thơ - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH TRỒNG TRỌT Tên đề tài:
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI THỰC VẬT CỦA HAI DÒNG
QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT Ở BA THẾ
HỆ THÁP TRÊN GỐC CAM MẬT
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Cần Thơ - 2011
Trang 3TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và Tên: La Hoàng Châu Giới tính: Nam
Quê quán: Phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Ngày vào Đoàn: 26/03/2004
Họ và tên Cha: La Hoàng Dũng
Họ và tên Mẹ: Bùi Thị Đào
Họ và tên Chị: La Hồng Châu
Quá trình học tập của bản thân:
- 1995-2000: học tại trường TH Nguyễn Du, tỉnh Vĩnh Long
- 2001-2004: học tại trường THCS Lê Quí Đôn, tỉnh Vĩnh Long
- 2004-2007: học tại trường THPT Chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, tỉnh Vĩnh Long
- 2007-2011: học tại trường Đại Học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
La Hoàng Châu
Trang 5Chân thành biết ơn
Thầy cố vấn học tập Trần Văn Hâu đã quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
Toàn thể quý thầy cô trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình dìu dắt, truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường
Bạn Nguyễn Thanh Sang, Đặng Hải Đăng, Đoàn Huy Lượng, Nguyễn Trí Thanh đã hỗ trợ tôi thực hiện thí nghiệm
Trang 6TÓM LƯỢC
Đề tài: “Khảo sát sự sinh trưởng và đặc tính hình thái thực vật của hai dòng quýt Đường không hột ở ba thế hệ tháp trên gốc cam Mật” được thực hiện nhằm mục đích so sánh giữa ba thế hệ tháp trên hai dòng quýt Đường không hột về: (1) sự sinh trưởng, (2) đặc tính hình thái thực vật, (3) sự ổn định của tính trạng không hột thông qua sự ổn định của đặc tính tiểu noãn chưa trưởng thành
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số hai nhân tố khối hoàn toàn ngẫu nhiên Nhân tố thứ nhất là ba thế hệ tháp Nhân tố thứ hai là hai dòng quýt Đường không hột Hai nhân tố này được tổ hợp thành 6 nghiệm thức, với 10 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 cây Sự sinh trưởng được đánh giá bằng sự gia tăng kích thước (hiệu của hai lần đo cách nhau 3 tháng) của đường kính gốc tháp, đường kính thân tháp, chiều cao cây và chiều rộng tán Các chỉ tiêu về hình thái thực vật của thân cành, lá
và hoa theo mô tả của IPGRI (1999) Khảo sát sự hiện diện của tiểu noãn trưởng thành ở giai đoạn hoa nở và 3 ngày sau khi hoa nở
Kết quả thu được: (1) Sự sinh trưởng giữa hai dòng quýt Đường không hột qua ba thế hệ tháp tương đương nhau; (2) Đặc tính hình thái thực vật (thân cành, lá
và hoa) giữa ba thế hệ tháp và giữa hai dòng quýt Đường không hột đều giống nhau; (3) Tiểu noãn chưa trưởng thành ở hai dòng quýt Đường không hột qua ba thế hệ tháp lúc hoa nở và 3 ngày sau khi hoa nở Đây là cơ sở cho sự ổn định tính trạng không hột của hai dòng quýt Đường không hột qua ba thế hệ tháp
La Hoàng Châu 2011 Khảo sát sự sinh trưởng và đặc tính hình thái thực vật của hai dòng quýt Đường không hột ở ba thế hệ tháp trên gốc cam Mật Luận văn tốt nghiệp Đại Học, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ 49 trang
Trang 7MỤC LỤC
Lời cam đoan iv
Cảm tạ v
Tóm lược vi
Mục lục vii
Danh sách bảng ix
Danh sách hình xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Đặc điểm cây quýt Đường không hột 2
1.1.1 Nguồn gốc và phân loại 2
1.1.2 Sự sinh trưởng của quýt Đường không hột 2
1.1.3 Đặc tính hình thái thực vật của cây quýt Đường không hột 5
1.1.4 Nguyên nhân không hột của quýt Đường không hột 6
1.2 Sự phát triển của tiểu noãn và quá trình tạo hột trên cam quýt 7
1.3 Yêu cầu của gốc tháp và ảnh hưởng của gốc tháp 10
1.3.1 Yêu cầu của gốc tháp 10
1.2.3 Ảnh hưởng của gốc tháp đến đặc tính của ngọn tháp 11
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP 15
2.1 Phương tiện 15
2.1.1 Thời gian và địa điểm 15
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 15
2.2 Phương pháp 16
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 16
2.2.2 Kỹ thuật canh tác 16
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 17
2.2.4 Xử lý số liệu, thống kê 21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 22
3.1 Sự sinh trưởng của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt Đường không hột tháp gốc cam Mật 22
3.1.1 Sự tăng trưởng đường kính gốc tháp 22
3.1.2 Sự tăng trưởng đường kính thân tháp 24
Trang 83.1.3 Tỉ số thân tháp/gốc tháp 26
3.1.4 Sự tăng trưởng chiều cao cây 28
3.1.5 Sự tăng trưởng đường kính tán 30
3.2 Một số đặc tính hình thái thực vật của ba thế hệ tháp ở hai cây quýt Đường không hột tháp gốc cam Mật 32
3.2.1 Đặc tính thân cành 32
3.2.2 Đặc tính lá 35
3.2.3 Đặc tính hoa 40
3.3 Sự hiện diện tiểu noãn trưởng thành của ba thế hệ tháp ở hai cây quýt Đường không hột tháp gốc cam Mật 46
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ 49
4.1 Kết luận 49
4.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ CHƯƠNG 54
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
3.1 Sự gia tăng đường kính gốc tháp (mm/3 tháng) của ba thế hệ tháp
ở hai dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2,
trường Đại Học Cần Thơ, 03/2010 – 03/2011)
22
3.2 Sự gia tăng đường kính thân tháp (mm/3 tháng) của ba thế hệ tháp
ở hai dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2,
trường Đại Học Cần Thơ, 03/2010 – 03/2011)
24
3.3 Tỉ số thân tháp/gốc tháp của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt
Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2, trường Đại Học
Cần Thơ, 03/2010 – 03/2011)
27
3.4 Sự gia tăng chiều cao cây (cm/3 tháng) của ba thế hệ tháp ở hai
dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2,
trường Đại Học Cần Thơ, 03/2010 – 03/2011)
29
3.5 Sự gia tăng đường kính tán (cm/3 tháng) của ba thế hệ tháp ở hai
dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2,
trường Đại Học Cần Thơ, 03/2010 – 03/2011)
31
3.6 Một số đặc tính định tính về thân cành của ba thế hệ tháp ở hai
dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2,
trường Đại Học Cần Thơ)
33
3.7 Chiều dài gai (mm) của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt Đường
không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2, trường Đại Học Cần
Thơ)
34
3.8 Một số đặc tính định tính về lá của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt
Đường không hột tháp cam Mật (khu 2, trường Đại Học Cần
Thơ)
35
3.9 Phần trăm các dạng lá của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt Đường
không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2, Đại Học Cần Thơ)
37
3.10 Một số đặc tính định lượng về lá của ba thế hệ tháp ở hai dòng
quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2, trường Đại
Học Cần Thơ)
38
Trang 10TT Tựa Trang 3.11 Một số đặc tính định tính về hoa của ba thế hệ tháp ở hai dòng
quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2, trường Đại
Học Cần Thơ)
40
3.12 Chiều dài cuống hoa, đường kính đài hoa của ba thế hệ tháp ở hai
dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2,
trường Đại Học Cần Thơ)
41
3.13 Một số chỉ tiêu về cánh hoa của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt
Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2, Đại Học Cần
Thơ)
42
3.14 Số nhị đực/hoa, dài chỉ nhị (mm), dài bao phấn (mm) của ba thế
hệ tháp ở hai dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật
(khu 2, trường Đại Học Cần Thơ)
44
3.15 Đường kính bầu noãn (mm), dài vòi nhụy (mm), dày nướm nhụy
(mm) của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt Đường không hột trên
gốc tháp cam Mật (khu 2, trường Đại Học Cần Thơ)
45
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
1.1 Sơ đồ về sự biểu hiện các mức độ ái lực khác nhau giữa gốc tháp và
mắt tháp, biểu hiện tại điểm tháp (Aubert và Vullin, 2001)
4
2.2 Phẫu diện cắt ngang (a) bầu noãn quýt Đường có hột ở mức phóng
đại 100 lần và (b) tiểu noãn trưởng thành ở mức phóng đại 400 lần
(Hồ Phương Linh, 2008)
20
3.1 Thân tháp và gốc tháp của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt Đường
không hột trên gốc cam Mật (khu 2, Đại học Cần Thơ, 03/2011)
26
3.2 Dạng cây đặc trưng của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt Đường
không hột vào tháng 3/2011 (khu 2, trường Đại Học Cần Thơ)
3.5 Phẫu diện cắt ngang bầu noãn (hoa nở) của ba thế hệ tháp ở hai
dòng quýt Đường không hột
47
3.6 Phẫu diện cắt ngang bầu noãn (3 ngày sau khi hoa nở) của ba thế hệ
tháp ở hai dòng quýt Đường không hột
47
Trang 12MỞ ĐẦU
Cam quýt (Citrus) là một trong những nông sản quan trọng trên thế giới
(Golein và ctv., 2005) Vì có cấu trúc trái đặc biệt và thời gian lưu trữ lâu dài, trái
của cây cam quýt được xuất khẩu phổ biến dưới dạng trái tươi, và nước ép trái cây
từ cam quýt cũng trở nên ngày càng phổ biến trên thế giới (Pinhas và Goldschmid, 1996) Đặc điểmkhông hột là đặc điểm quan trọng chính yếu cho nền sản xuất nước
ép (Kahn và Chao, 2004) nên những nghiên cứu và lựa chọn sản phẩm không hột đang trở thành một cải cách chính trong nền sản xuất cây ăn trái (Pinhas và Goldschmid , 1996)
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, các nhà khoa học thuộc trường Đại học Cần Thơ đã phát hiện hai cá thể quýt Đường không hột tại Lai Vung, Đồng Tháp Nguyên nhân không hột có thể là do tiểu noãn chưa phát triển lúc hoa nở (Nguyễn
Bảo Vệ và ctv., 2007) Kết quả các khảo sát trên hai cá thể quýt Đường không hột
cho thấy, ngoại trừ tính trạng không hột có khác biệt rõ rệt, còn các đặc tính hình thái thực vật của hai cá thể quýt Đường không hột này không khác biệt với quýt Đường có hột (Hồ Phương Linh, 2008; Trần Thị Bích Vân, 2008; Nguyễn Bá Phú
và ctv., 2009) Nguyễn Minh Sang (2010) cũng đã có kết luận tương tự ở thế hệ
tháp thứ nhất của 2 cá thể quýt Đường không hột Tuy nhiên, một số kết quả nghiên
cứu như của Yaghishita (1961) hay Taller và ctv (1998) cho thấy một số đặc tính
của ngọn tháp sẽ thay đổi nếu áp dụng phương pháp tháp trên nhiều thế hệ Để có
cơ sở cho việc phát triển giống cây trồng mới này trong sản xuất, việc đánh giá sự sinh trưởng, đặc tính hình thái thực vật và nhất là sự ổn định tính trạng không hột của hai dòng quýt Đường không hột qua các thế hệ tháp cần được thực hiện
Vì thế, đề tài: “Khảo sát sự sinh trưởng và đặc tính hình thái thực vật của hai dòng quýt Đường không hột ở ba thế hệ tháp trên gốc cam Mật” được thực hiện nhằm mục đích so sánh giữa ba thế hệ tháp trên hai dòng quýt Đường không hột về: (1) sự sinh trưởng, (2) đặc tính hình thái thực vật, (3) sự ổn định của tính trạng không hột thông qua sự ổn định của đặc tính tiểu noãn chưa trưởng thành
Trang 13Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 ĐẶC ĐIỂM CÂY QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT
1.1.1 Nguồn gốc và phân loại
Cam quýt (Citrus) là một trong những nông sản quan trọng trên thế giới
(Golein và ctv., 2005) Hầu hết các nhà nghiên cứu xác định nguồn gốc cây cam
quýt xuất phát từ vùng Đông Nam Á ít nhất 4000 năm trước công nguyên Sau đó, chúng được du nhập sang Châu Phi và Châu Âu Cam quýt phát triển mạnh vào thời Trung cổ và du nhập sang Châu Mỹ nhờ những người Tây Ban Nha (trong chuyến
đi thứ 2 của Columbus) và những người Bồ Đào Nha trong “Những chuyến thám hiểm Thế Giới Mới” vào khoảng những năm 1500 (Brown, 2007) Vũ Công Hậu (2000) cho rằng thời gian cây quýt Đường được trồng ở Việt Nam không thể xác định được
Quýt đường có tên khoa học là Citrus reticulate Blanco var Đường (Nguyễn
Trần Thụy Kiều Ngân, 2010) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004),
quýt Đường thuộc giống Citrus, nhóm nhỏ Encitrus, họ Rutaceae và họ phụ
Aurantioideae Theo Mukhopadhyay (2004), trích bởi Trần Thị Bích Vân (2008),
cây có múi tự nhiên bình thường có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n= 18
Theo Đặng Hải Đăng (2010), có hai cá thể quýt Đường không hột được tìm thấy ở Đồng Bằng Sông Cửu Long nhờ nhóm nhà khoa học thuộc trường Đại Học Cần Thơ Trần Thị Bích Vân (2008) cho biết: chúng được đánh dấu thứ tự với mã
số 1 và mã số 80 Qua khảo sát sơ bộ, chúng có đặc tính hình thái như dạng cây, lá, hoa và trái giống với cây quýt Đường bình thường (có hột) và tính trạng không hột
là do tiểu noãn chưa phát triển lúc hoa nở (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2007)
1.1.2 Sự sinh trưởng của quýt Đường không hột
* Tăng trưởng của gốc tháp, ngọn tháp, chiều cao cây và rộng tán
Sự tăng trưởng đường kính gốc tháp, chiều cao cây, đường kính tán không có khác biệt ở quýt Đường không hột khi tháp trên các gốc tháp khác nhau và với quýt Đường không hột chiết (Đặng Hải Đăng, 2010) Tác giả còn cho biết sự tăng trưởng
Trang 14thân tháp ở các nghiệm thức tháp có xu thế thấp hơn ở nhánh chiết Kết quả ghi nhận tăng trưởng đường kính gốc tháp, tăng trưởng đường kính thân tháp, tăng trưởng chiều cao cây và tăng trưởng đường kính tán của 2 dòng quýt Đường không hột ở thế hệ tháp thứ nhất trên gốc cam Mật của Nguyễn Minh Sang (2010) cho thấy không có sự khác biệt về các đặc tính sinh trưởng giữa hai dòng quýt Đường không hột ở thế hệ nhân giống vô tính thứ nhất và với nhánh chiết
* Tỉ số thân tháp/gốc tháp
IPGRI (1999) đánh giá mức độ tiếp hợp giữa thân tháp và gốc tháp dựa vào tỉ
số thân tháp/gốc tháp Vị trí đo trên thân tháp và trên gốc tháp được xác định cách vết tháp 20 cm Thân tháp nhỏ hơn gốc tháp (<1), thân tháp bằng gốc tháp (1) và thân tháp lớn hơn gốc tháp (>1)
Ngược lại, Phạm Văn Côn (2007), được trích bởi Đặng Hải Đăng (2010), đánh giá sức tiếp hợp giữa cành tháp và gốc tháp bằng tỉ số tiếp hợp:
Đường kính gốc tháp
T =
Đường kính cành tháp T=1: Cây tháp sinh trưởng và phát triển bình thường là do thế sinh trưởng của cành tháp tương thế sinh trưởng của gốc tháp, vị trí tháp cân đối, màu sắc và độ nứt của vỏ cành tháp và gốc tháp tương đương nhau, đôi khi không nhận rõ vị trí giáp ranh giữa cành tháp và gốc tháp
T<1: Cây tháp có hiện tượng chân hương Thế sinh trưởng của cành tháp mạnh hơn gốc tháp Phần cành tháp bị nứt vỏ nhiều và phình to phần gốc tháp Cây tháp sinh trưởng và phát triển kém dần
T>1: Cây tháp có hiện tượng chân voi, cây tháp vẫn sinh trưởng phát triển bình thường Thế sinh trưởng của cành tháp yếu hơn gốc tháp, biểu hiện cây tháp hơi cằn cõi, chậm lớn
Lâm Như Thùy (2008) cho biết tỷ lệ đường kính ngọn tháp/ đường kính gốc tháp càng tiến gần tới 1 có thể giúp cây tháp có khả năng vận chuyển vật chất từ trên xuống cũng như từ dưới lên và phát triển bình thuờng như cây không tháp
Trang 15Theo Đặng Hải Đăng (2010), tỉ số thân tháp/gốc tháp bằng 1 là rất khó; ngay cả ở quýt Đường không hột chiết cũng không đạt được chỉ số này
Thang đánh giá của IPGRI (1999) và Phạm Văn Côn (2007) nhìn chung có
sự giống nhau về phương pháp đánh giá Sự tương hợp giữa thân tháp và mắt tháp được qui thành các chỉ số cụ thể Tuy nhiên, phạm vi đánh giá ở cả hai phương pháp đều rộng và có phần không chính xác như phương pháp đánh giá định tính của Aubert và Vullin (2001) Theo Aubert và Vullin (2001), khả năng tương hợp giữa thân tháp và gốc tháp được chia thành 7 mức độ (Hình 1.1) Sự hiện diện của ngăn tháp biểu hiện sự lưu thông kém của đường nhựa và bất lợi cho việc hấp thu chất hữu cơ của rễ Trong trường hợp có chỗ tiếp hợp dạng chai thắt lại thì sinh lực của gốc tháp bị hãm lại tại chỗ tháp Một trong các hệ quả là giảm thiểu tăng trưởng của
bộ tán, tạo ra các cây rậm và chắc nịch hoặc cây lùn
Hình 1.1 Sơ đồ về sự biểu hiện các mức độ ái lực khác nhau giữa gốc tháp
và mắt tháp, biểu hiện tại điểm tháp (Aubert và Vullin, 2001)
1, 2, 6, 7: Mức độ tiếp hợp xấu
3, 5: Mức độ tiếp hợp trung bình 4: Mức độ tiếp hợp tốt
Kết quả nghiên cứu của Đặng Hải Đăng (2010) cho thấy tỉ số thân tháp/gốc tháp không khác biệt ở quýt Đường không hột trên các gốc tháp khác nhau, nhưng thấp hơn so với nhánh chiết Mức độ tiếp hợp của các tổ hợp tháp của quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật, chanh Tàu và Hạnh ở mức trung bình Theo Nguyễn Minh Sang (2010), sự tương hợp giữa mắt tháp và gốc tháp của dòng hai dòng Quýt Đường không hột ở thế hệ tháp thứ nhất không khác biệt nhau
Trang 161.1.3 Đặc tính hình thái thực vật của cây quýt Đường không hột
* Đặc tính thân cành
Theo Trần Thị Bích Vân (2008), cây có múi thuộc dạng thân gỗ, hình bán trụ Cây trưởng thành có thể có từ 4-6 cành chính Cành cây có múi có thể có gai hoặc không gai Trường hợp không gai có thể do gai có khả năng tự rụng khi cây trưởng thành Một số loài không có gai nhưng khi nhân giống bằng hột thì lại có rất nhiều gai trên thân cành Càng ở cấp cành cao thì gai ngắn và số lượng ít đi Cành cam quýt phát triển theo lối hợp trục (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Theo Trần Thị Bích Vân (2008); Nguyễn Bá Phú và ctv (2009), giữa quýt
Đường có hột và quýt Đường không hột không có sự khác biệt về đặc tính hình thái thân cành Nguyễn Minh Sang (2010) cho rằng không có sự khác biệt về đặc tính thân cành giữa hai dòng quýt Đường không hột ở thế hệ tháp thứ nhất trên gốc tháp cam Mật Kết quả khảo sát của tác giả cho thấy rằng hai dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật có cấu trúc thân láng, mật độ cành thưa, gốc độ phân cành vừa phải, hướng ngọn Cây có dạng tán hình elip là phổ biến, dáng cây thẳng đứng Đọt non có màu xanh nhạt, bề mặt đọt non không có lông Nghiên cứu của Đặng Hải Đăng (2010) cũng cho rằng quýt Đường không hột tháp gốc cam Mật cũng không khác biệt với quýt Đường không hột tháp trên gốc chanh Tàu, Hạnh và với nhánh chiết
* Đặc tính hình thái lá
Lá quýt Đường không hột thuộc kiểu lá đơn, phiến lá có màu xanh, không có tai lá và lá có nhiều hình dạng khác nhau nhưng hình mác là phổ biến, lá có màu xanh đậm ở mặt trên và màu xanh sáng ở mặt dưới, rìa lá có dạng răng cưa, đỉnh
đầu lá có khía (Trần Thị Bích Vân, 2008; Nguyễn Bá Phú và ctv., 2009) Kết quả về
đặc tính lá khi khảo sát sự sinh trưởng, đặc tính hình thái thực vật và sự ổn định tính trạng không hột ở thế hệ tháp thứ nhất của cây quýt Đường không hột tại huyện Lai Vung - Đồng Tháp của Nguyễn Minh Sang (2010) cũng tương tự Qua đó, tác giả kết luận không có sự khác biệt về các đặc tính của lá giữa hai dòng quýt Đường không hột ở thế hệ tháp thứ nhất trên gốc tháp cam Mật Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Hải Đăng (2010) cũng cho thấy rằng các đặc tính hình thái lá không khác
Trang 17biệt giữa quýt Đường không hột tháp gốc cam Mật và quýt Đường không hột tháp gốc chanh Tàu, quýt Đường không hột tháp gốc Hạnh và với nhánh chiết quýt Đường không hột
* Đặc tính hình thái hoa
Theo Trần Thị Bích Vân (2008), hoa quýt Đường không hột có màu trắng, mọc ở nách lá của đọt non, đều là hoa lưỡng tính, bao phấn có màu vàng và thấp hơn so với nướm Hoa Quýt Đường có thể là hoa đơn hoặc chùm Thông thường, hoa Quýt Đường theo kiểu chùm ngắn nhiều hơn Đài hoa không có lông Nguyễn Kim Như Vân (2010) kết luận rằng thời gian từ lúc hoa nụ đến lúc hoa nở và từ lúc hoa nở đến lúc hoa tàn không khác biệt giữa hai dòng quýt Đường không hột và với quýt Đường có hột
Theo Nguyễn Minh Sang (2010), hoa của hai dòng quýt Đường không hột ở thế hệ tháp thứ nhất trên gốc tháp cam Mật thuộc loại hoa lưỡng tính, mọc đơn độc hay thành phát hoa với 1 – 8 hoa/phát Các hoa mọc ở nách lá hoặc tận ngọn Các hoa đều có màu trắng lúc hoa búp và hoa nở Các bao phấn có màu vàng và thấp hơn so với nướm nhụy Các đặc tính trên hoa của quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật do Đặng Hải Đăng (2010) quan sát đều không khác biệt với hoa quýt Đường trên gốc tháp chanh Tàu, Hạnh và với nhánh chiết
1.1.4 Nguyên nhân không hột của quýt Đường không hột
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến khả năng không hột của cam quýt: tự bất tương hợp do tự thụ, bất dục giao tử (Jackson và Gmitter, 1997), đột biến và nhiễm sắc thể tam bội (Chao, 2004) Theo Kahn và Chao (2004), những giống tạo ra ít tiểu noãn hoặc tiểu noãn không có chức năng cũng sẽ không hột
Hạt phấn của hai cây quýt Đường không hột hữu dục bình thường (Hồ Phương Linh, 2008) và có sức sống tương đương với Quýt Đường có hột (Nguyễn Văn Lực, 2009) Theo Bùi Thị Yến Nhi (2010), ống phấn vẫn hiện diện ở bầu nõan quýt Đường không hột vào thời điểm 3 ngày sau khi thụ phấn trong điều kiện tự thụ phấn và thụ phấn chéo bằng hoa quýt Đường có hột và phấn hoa cam Sành Tác giả còn cho biết tỉ lệ hiện diện ống phấn trong bầu noãn của quýt Đường không hột ở
Trang 18hai thời điểm 5 ngày và 7 ngày sau khi thụ phấn giảm nhanh so với thời điểm 3 ngày sau khi thụ phấn
Theo Nguyễn Bảo Vệ (2007), nguyên nhân không hột có thể do tiểu noãn chưa phát triển lúc hoa nở Nghiên cứu của Trần Thị Bích Vân (2008), Nguyễn Bá
Phú và ctv (2009) đã chứng minh nhận định trên khi tác giả ghi nhận không có sự
hiện diện của tiểu noãn trưởng thành xuất hiện ở các giai đoạn 2 ngày và 1 ngày trước khi hoa nở, ngày hoa nở, giai đoạn 1 và 2 ngày sau khi hoa nở
Theo Jackson and Gmiter (1997), tiểu noãn trưởng thành khi túi phôi ở giai đoạn 8 tế bào Theo Nguyễn Đình Dậu (1997), khi tiểu noãn trưởng thành cũng là lúc noãn sẵn sàng thụ tinh cho ra hợp tử và phát triển thành hột Kết quả khảo sát của Nguyễn Minh Sang (2010) cho thấy: tính trạng tiểu noãn chưa phát triển lúc hoa
nở trên 2 cá thể quýt đường không hột có khả năng di truyền cho thế hệ tháp thứ nhất Từ đó, tác giả kết luận tính trạng không hột cũng có thể di truyền cho thế hệ tháp thứ nhất Đặng Hải Đăng (2010) cũng cho rằng tính trạng tiểu noãn chưa phát triển không khác biệt giữa quýt Đường không hột tháp gốc cam Mật và quýt Đường không hột tháp gốc chanh Tàu, quýt Đường không hột tháp gốc Hạnh và với nhánh chiết
1.2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU NOÃN VÀ QUÁ TRÌNH TẠO HỘT
TRÊN CAM QUÝT
Theo Jackson và Gmitter (1997), giai đoạn ban đầu của quá trình sự hình thành hột là sự sản sinh đại bào tử và sự phát triển túi phôi Trong noãn tế bào nguyên bào tử hình thành xung quanh phôi tâm trước khi vỏ phát triển hoàn chỉnh
Tế bào nguyên bào phân chia thành 1 tế bào tầng nuôi và đại bào tử Tế bào tầng nuôi phân chia nhanh và đại bào tử sớm bị bao quanh bởi một tế bào gần trung tâm của phôi tâm Đại bào tử phải trãi qua sự phân chia giảm nhiễm cho ra 4 tế bào đơn bội với chỉ 1 nhiễm sắc thể trên 1 tế bào Những tế bào đại bào tử thì sắp xếp thành một hàng theo chiều dọc trong phôi tâm Ba trong bốn đại bào tử thoái hóa, còn lại một đại bào tử phát triển trong đại bào tử của tế bào mẹ và sau đó hình thành túi phôi (Jackson và Gmitter, 1997) (Hình 1.2)
Trang 19Đại bào tử chức năng phân chia tạo ra 2 nhân con, di chuyển về hai cực của túi phôi và ở lại đó cho đến khi phân chia nhân tiếp theo Trong lúc đó, tế bào chất giảm bớt để tạo thành một lớp mỏng ở ngoại vi của túi phôi, trừ xung quanh nhân Hai nhân con tiếp tục phân chia tạo ra bốn nhân hình thành hai cặp ở hai cực của túi phôi Nhân phân chia tiếp tục tạo ra 8 nhân Bốn nhân ở cuối lỗ noãn của túi phôi phát triển thành trứng Bốn nhân ở cuối dây noãn hình thành ba đối cực và nhân cực thấp hơn (Jakson và Gmitter, 1997) (Hình 1.3)
Hình 1.2 Sự phát sinh đại bào tử (Jackson và Gmitter, 1997)
tế bào tầng nuôi
Hình 1.2d Noãn đang phát triển
với tế bào đại bào tử mẹ
Hình 1.2c Noãn đang phát triển
với bốn đại bào tử
Hình 1.2b Noãn đang phát triển với
tế bào đại bào tử Hình 1.2a Noãn đang phát triển
với tế bào nguyên bào
Trang 20Hình 1.3 Sự phát triển túi phôi (Jackson và Gmitter, 1997)
Vỏ ngoài
Vỏ trong Phôi tâm Túi phôi đang phát triển
Hình 1.3a Giai đoạn đầu của sự
phát triển túi phôi
Hình 1.3b Giai đoạn hai tế bào trong sự phát triển túi phôi
Hình 1.3c Giai đoạn bốn tế bào trong
sự phát triển túi phôi
Lỗ noãn
Vỏ ngoài
Vỏ trong Phôi tâm
Túi phôi đang phát triển
Lỗ noãn
Vỏ ngoài
Vỏ trong Phôi tâm
Túi phôi đang phát triển
Hình 1.3d Giai đoạn tám tế bào trong
sự phát triển túi phôi
Hình 1.3e Túi phôi tám nhân Hình 1.3f Túi phôi tám nhân thành thục
Trang 21Theo Jackson và Gmitter (1997), quá trình giảm nhiễm xảy ra trong các bao phấn,
và kết quả là các hạt phấn với bộ nhiễm sắc thể đơn bội được tạo thành Ống phấn thâm nhập vào các vòi nhụy và tinh tử được kết hợp với túi phôi Một tinh tử kết hợp với tế bào trứng tạo thành phôi và tinh tử thứ hai kết hợp với nhân 2 cực hình thành một nội nhũ tam bội Hợp tử đi vào một giai đoạn nghỉ ngơi sau khi thụ tinh trong vài tuần trước khi tiếp tục quá trình phân chia Nhân nội nhũ nguyên phân nhiều lần tạo thành một nội nhũ đa nhân, nhưng không phát triển màng tế bào Nội nhũ sẽ cung cấp nguồn dinh dưỡng cần thiết cho
sự phát triển của phôi Tiếp theo là sự phát triển của hợp tử Hợp tử thường phát triển theo một trình tự nhất định Hợp tử sẽ ưu tiên phân chia theo chiều dài, sau đó sẽ phân chia theo chiều ngang Dần dần, phôi sẽ có dạng dùi cui Phần ngoại biên của phôi trở thành trung tâm phân chia tế bào và phát triển thành dạng khối cầu Tiếp theo của quá trình phân chia
sẽ hình thành các cấu trúc chuyên biệt Cuối cùng là quá trình phát triển của hạt giống Nội nhũ sẽ gia tăng kích thước Nhân phôi có thể phát triển trước khi quá trình phân chia tế bào trứng diễn ra Túi phôi sẽ dần được thay thế bằng phôi và phôi nhũ, sau đó túi phôi sẽ được tiêu hóa Các cấu trúc khác tiếp tục phát triển và trở nên hoàn thiện hơn
1.3 YÊU CẦU CỦA GỐC THÁP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC THÁP 1.3.1 Yêu cầu của gốc tháp
Kỹ thuật tháp nói chung và kỹ thuật tháp mắt nói riêng được khuyến cáo áp dụng nhiều vì đây là kỹ thuật tiên tiến, không lạc hậu đối với ngành sản xuất cây có múi trên thế giới Ưu điểm của phương pháp tháp so với phương pháp chiết cành thể hiện rất rõ ở khả năng miễn nhiễm bệnh do virus, nấm bệnh Phytophthora Bên cạnh, phương pháp tháp cho hệ số nhân giống cao, dễ kiểm soát độ đồng đều và tính sạch bệnh, tận dụng được ưu thế gốc tháp
Điều quan trọng nhất ảnh hưởng đến kết quả tháp là quan hệ họ hàng của gốc tháp và mắt tháp, cành tháp hay ngọn tháp Tháp giữa các dòng/giống dễ cho kết quả nhất Kế đến là các cá thể cùng một chi, cùng loài
Gốc tháp phải có khả năng tiếp hợp tốt với thân cành tháp Khả năng tiếp hợp này là sự hài hòa về nhiều mặt: hình thái giải phẩu, quan hệ sinh lý giữa gốc tháp và thân cành tháp Mô tiếp hợp có hình thành được thì cành tháp mới nhận được nhựa
do gốc tháp cung cấp và mới có khả năng sống (Vũ Công Hậu, 2000) Theo tác giả,
Trang 22gốc tháp phải còn một bộ phận của mô phân sinh tiếp xúc tương đối chặt với mô phân sinh ở cành tháp
Gốc tháp và cành tháp phải có sức sinh trưởng tương đương nhau để có khả năng tiếp hợp tốt (Trần Thượng Tuấn, 1994) Nếu không sẽ xuất hiện sự bất tương hợp, điển hình là hiện tượng “chân voi” hay “chân hương” Điều này dẫn đến sự lưu thông của nước và dưỡng chất sẽ bị giảm khi đi ngang qua nơi tiếp giáp giữa ngọn
tháp và mắt tháp, khiến cây dễ bị héo rũ Theo Davis và ctv (2008), hiện tượng này
xuất hiện do ảnh hưởng từ sự khác nhau của mô và cấu trúc, đặc điểm sinh lý và sinh hóa, giai đọan sinh trưởng của gốc tháp và ngọn tháp, các hormones sinh trưởng (phytohormones) và môi trường Sự bất tương hợp sinh lý cũng có thể xảy ra
vì không diễn ra sự xác nhận tế bào, xuất hiện phản ứng chống tế bào vết thương, sự hiện diện của chất điều hòa sinh trưởng, hoặc chất kháng tương hợp (Andrews and
Marquez, 1993, được trích dẫn bởi Davis và ctv., 2008) Sự lựa chọn gốc tháp và
mắt tháp thích hợp có thể giúp hạn chế bệnh phát sinh từ đất và tăng năng suất cùng
phẩm chất trái (Davis và ctv., 2008)
1.3.2 Ảnh hưởng của gốc tháp đến đặc tính của ngọn tháp
Hầu hết các báo cáo về ảnh hưởng của sự tháp đều cho rằng: những thay đổi của ngọn tháp được điều khiển bởi gốc tháp thông qua các quá trình tổng hợp, sự di chuyển của nước, khoáng chất và các hormone sinh trưởng Tác dụng chủ yếu của gốc tháp là ảnh hưởng đến sự sinh trưởng ở giai đoạn đầu của thân tháp Ngoài ra gốc tháp còn có thể phá vỡ sự ngủ nghỉ của mầm nách thân tháp và ảnh hưởng tới
sự sinh ra chồi cành Ngược lại cành tháp cũng ảnh hưởng tới sự phát triển rễ của gốc tháp
Theo Nguyễn Quốc Thái (2004), khi dùng cây Bầu làm gốc tháp, cây có tỉ lệ sống cao, khả năng tăng trưởng kích thước chồi tháp mạnh, số lá trên chồi cũng nhiều hơn khi dùng gốc tháp là cây Bí và nghiệm thức không tháp Kết luận từ thí nghiệm về ảnh hưởng gốc tháp trên giống dưa Xuân Lan của Nguyễn Khánh Lâm (2008) lại cho thấy gốc Bầu địa phương giúp cho giống dưa này sinh trưởng mạnh hơn Nguyễn Trần Anh Huấn (2006), được trích bởi Phan Xuân Hà (2007) nhận thấy khi tháp chồi đậu nành trên gốc đậu xanh cho tỉ lệ sống cao, khả năng sinh
Trang 23trưởng và phát triển tốt hơn, cây tháp thường chín sớm hơn những cây tháp có gốc đậu nành hoang, đậu nành cùng giống, đậu đũa và đậu Cô ve Bên cạnh đó, chồi tháp trên đậu Cô ve và đậu Đũa có khả năng sinh trưởng và phát triển kém nhất, số trái trên cây thấp và có tỉ lệ trái một hạt cao hơn nghiệm thức không tháp
Một số nhà khoa học trên thê giới lợi dụng đặc tính tác động qua lại giữa gốc tháp và mắt tháp nhằm điều khiển khả năng sinh trưởng của cây tháp, quản lý mật
độ cây trong vườn Muốn thế, người ta đem tháp cành tháp của một thứ thông thường lên gốc tháp có kích thước không lớn và hệ rễ ít phát triển (là đặc tính di truyền) (Nguyễn Bá, 1977, được trích bởi Nguyễn Quốc Thái, 2004) Phan Xuân Hà (2007),ở xoài Cát Hòa Lộc, gốc tháp khác nhau làm ảnh hưởng đến: (1) đặc tính cây tháp như kích thước cây, kích thước lá và tổng số chồi trên cây, (2) năng suất và thành phần năng suất, (3) khối lượng trung bình trái, kích thước trái, tỉ lệ phần ăn được và phẩm chất trái Tác giả còn kết luận: hàm lượng chất khô, hàm lượng chất
Mg trong lá, độ rộng lá và dầy vỏ trái thì không bị ảnh hưởng bởi yếu tố gốc tháp
Từ dữ liệu thu thập được trong 3 năm nghiên cứu, Trần Văn Hâu và Nguyễn Bảo
Vệ (2004) có được nhận định: “Khi xoài ở giai đoạn từ 1,5 đến 2 năm tuổi, gốc tháp
đã có ảnh hưởng rất rõ trên đặc tính sinh trưởng như chiều cao cây, đường kính gốc thân, tổng số chồi trên cây và đường kính tán cây của xoài Cát Hòa Lộc” Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy ngọn tháp Cát Hòa Lộc sinh trưởng tốt trên gốc tháp từ xoài Thơm, Châu Hạng Võ và Cát Chu, trong khi Thanh Ca là gốc tháp duy nhất biểu hiện ức chế trên tất cả các đặc tính sinh trưởng của cây xoài Cát Hòa Lộc Hơn thế, nghiên cứu trên cũng cho kết quả rằng gốc tháp đã tác động lên hàm lượng
GA nội sinh trong lá của cây tháp và cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra hoa, nhưng không ảnh hưởng đến năng suất và thành phần năng suất của cây
Theo Noda và csv (2000), được trích dẫn bởi Phan Xuân Hà (2007), trên gốc
tháp có đặc tính sinh trưởng mạnh thì trên mắt tháp (chanh Eureka) có sự tích lũy chất khô trên thân và lá cao hơn các gốc tháp khác, nhưng không có sự khác biệt về hàm lượng chất khô trong phần rễ của các loại gốc tháp trên Điều đó đồng nghĩa hàm lượng chất khô tại phần trên mặt đất cao hơn hàm lượng chất khô trong phần rễ cây của gốc tháp sinh trưởng mạnh
Trang 24Một vài báo cáo khác lại cho rằng ngọn tháp chịu ảnh hưởng của các ADN,
plasmid, mARN và protein di động từ gốc tháp (Davis và ctv., 2008) Trên cây thuốc lá, Stegemann và ctv.(2009) đã cho tháp hai dòng cây chuyển gen được đánh
dấu khác nhau và tiến hành ghi nhận sự có mặt của gen đánh dấu ấy trên hai bào quan: Nhân và Plastid Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả cho thấy có sự trao đổi thông tin di truyền (cả DNA trong nhân và plastid) giữa gốc tháp và mắt tháp Điều
này hoàn toàn phủ định ý kiến của Donor và ctv khi họ khẳng định dù các mô tháp
tiếp hợp và phát triển tốt thì vẫn không có hiện tượng trao đổi gen giữa gốc tháp và
mắt tháp Các tác giả Ruiz-Medrano et al (1999), Xoeonostle-Cázares et al (1999) Kudo và Harada (2007) (được trích dẫn bởi Davis và ctv., 2008) cho rằng mRNA từ
gốc tháp có thể di chuyển sang mô libe của ngọn tháp và tích tụ ở mô libe và mô
chồi ngọn Theo Ruiz-Medrano et al (1999) Một trong số các mRNA đó là một
phần của tập đoàn gene có liên quan đến sự phát triển mô phân sinh ngọn Golecki
et al (1998) và Gómez et al (2005) (được trích dẫn bởi Davis và ctv., 2008) cho
rằng hiện tượng này cũng xảy ra trên protein có trong mô libe
Dạng hoặc dòng mới của cây trồng có thể xuất hiện một cách tự nhiên như một biến dị từ cây áp dụng phương pháp nhân giống vô tính nhưng tỉ lệ xuất hiện
rất ít (August và ctv., 1961) Từ những kết quả thí nghiệm của mình trên cây Ớt,
Yagishita (1961), được trích bởi Trần Văn Hâu (2004), khẳng định: nếu tháp liên tiếp nhiều lần (như lai hồi giao trong lai hữu tính) thì chắc chắn tạo thể lai tháp (Graft Hybrids) Đặc tính của gốc tháp sẽ truyền cho mắt tháp càng nhiều nếu sự tháp lặp lại nhiều lần Ông cũng cho rằng những đặc tính này có thể là sự kết hợp lại của những đặc tính có từ gốc tháp và mắt tháp hoặc cũng có thể là một dạng hoàn toàn mới
Việc tháp cũng gây ra những biến đổi tính trạng từ lặn sang trội và ngược lại
Taller và ctv (1998), được trích từ Phan Xuân Hà (2007), sử dụng mắt tháp mang
gene biểu hiện tính trạng trội trên gốc tháp mang gene biểu hiện tính trạng lặn Kết quả ông thu được cho thấy sau ba thế hệ tự thụ, tính trạng của gene lặn thể hiện rõ ràng trên ngọn tháp, còn tính trạng mang gene trội của ngọn tháp thì không biểu hiện Ông cũng kết luận tính trạng không cay của gốc tháp dần chuyển sang mắt tháp và biểu hiện rõ qua những thế hệ tự thụ Bên cạnh, những tính trạng như dạng
Trang 25cây, sự phân nhánh và số nhánh trên cây cũng thay đổi nhiều Ông cũng kết luận quá trình di chuyển các tính trạng của gốc tháp sang mắt tháp càng tăng nếu việc tháp tiến hành lặp lại nhiều lần Bên cạnh đó, ông cũng nhận thấy những đặc tính mới sẽ biểu hiện rõ thông qua việc tự thụ ở thế hệ sau của cây tháp
Trang 26CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN 2.1.1 Thời gian và địa điểm
Địa điểm: khu thí nghiệm và bộ môn Khoa học Cây trồng, khoa Nông nghiệp
và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ, khu 2, đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Thời gian: từ tháng 02/2010 đến tháng 03/2011
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
* Mắt tháp
Mắt tháp lấy từ cây quýt Đường không hột mã số 1 (QĐKH 1) và cây quýt
Đường không hột mã số 80 (QĐKH 2) (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2007), tương ứng
với nghiệm thức thí nghiệm, cụ thể như sau:
Thế hệ I: mắt tháp lấy từ cây QĐKH 1 và QĐKH 2
Thế hệ II: mắt tháp lấy từ cây thế hệ I (được tháp trên gốc cam Mật)
Thế hệ III: mắt tháp lấy từ cây thế hệ II (được tháp trên gốc cam Mật)
* Gốc tháp
Cam Mật có tên khoa học Citrus sinensis Cam Mật có khả năng chống chịu
khá tốt với điều kiện môi trường, và chống chịu sâu bệnh tốt hơn những giống cam khác, nên được trồng phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long, ngay cả trên vùng đất sét nặng xa sông (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Gốc cam Mật khi tháp có đường kính khoảng 5 mm (cách gốc 20 cm), khoảng 8 tháng tuổi
* Cây giống
Tương ứng theo từng nghiệm thức, được tháp đồng thời bằng phương pháp tháp mắt, vị trí tháp cách gốc khoảng 20 cm Khi trồng, cây giống có 2 cơi lá hoàn chỉnh, chiều cao cây khoảng 60 cm, tuổi cây khoảng 5 tháng (sau khi tháp)
Trang 272.2 PHƯƠNG PHÁP 2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số hai nhân tố khối hoàn toàn ngẫu nhiên Nhân tố thứ nhất là ba thế hệ tháp Nhân tố thứ hai là hai dòng quýt Đường không hột Hai nhân tố này được tổ hợp thành 6 nghiệm thức, với 10 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 cây (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Các nghiệm thức thí nghiệm (Khu 2, trường Đại học Cần Thơ)
10 tấn/ha Mô được đấp thành liếp (từ đất mặt đã được cải tạo), với bề ngang liếp là
1 m và chiều cao liếp là 0,5 m
Cây được trồng vào tháng 2/2010.Khoảng cách trồng là 1,5 m (trên liếp) và hàng cách hàng là 2,5 m
Mỗi hố trồng được bón lót 25 g DAP (18-46-00) ở đáy hố (có lấp 10 cm đất mặt để tránh rễ tiếp xúc trực tiếp với phân)
* Chăm sóc:
Cây được tưới đủ ẩm để bảo đảm sinh trưởng tốt nhất
Được che sáng bằng lưới che sáng 50% ở độ cao 3 m, từ đầu tháng 2 đến hết tháng 7 (các tháng có cường độ ánh sáng cao trong năm)
Trang 28Cây được cắt đọt để kích thích ra nhiều đọt, mỗi lần ra đọt chỉ chừa lại 3 – 4 cành và chiều dài cành được cắt ngắn còn khoảng 20 – 25 cm
Sử dụng hổn hợp phân DAP, Urea và KCl theo công thức 30 N - 20 P2O5- 10
K2O, bón khoảng 50 g/gốc vào thời điểm lá già (khoảng 2 tháng/lần) Có bổ sung dinh dưỡng bằng các loại phân bón lá vào thời điểm “lá lụa”
Sử dụng luân phiên các loại thuốc trừ sâu như Actara, Regent, Confidor, …
và các loại thuốc trừ bệnh như Topsin, Zineb, … vào thời điểm cây ra đọt non để phòng trừ sâu bệnh Có áp dụng Trichoderma bằng cách tưới vào gốc (6 tháng/lần)
* Xử lý ra hoa:
Xới đất bằng cuốc răng, không tưới nước khoảng 40 ngày Phun 4 lần MKP (00-52-34) 1% (10 ngày/lần) Khi cây chuẩn bị ra hoa, bón phân hổn hợp DAP và KCl với công thức phân 10 N - 30 P2O5- 20 K2O (150 g/gốc)
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
a/ Chỉ tiêu về sinh trưởng
Các chỉ tiêu sinh trưởng được lấy 3 tháng/1 lần vào những ngày cuối tháng
Sự tăng trưởng được đánh giá bằng sự gia tăng kích thước (hiệu của hai lần đo):
- Đường kính gốc tháp (mm/3 tháng): đường kính gốc tháp được đo ở vị trí phía dưới mắt tháp 10cm
- Đường kính thân tháp (mm/3tháng): đường kính thân tháp được đo ở vị trí phía trên mắt tháp 10cm
Trang 29b/ Đặc tính hình thái thực vật
Các chỉ tiêu về đặc tính cây, đặc tính lá và đặc tính hoa được ghi nhận theo
mô tả cam quýt của IPGRI (1999), cụ thể như sau:
+ Đặc tính cây:
- Dạng tán cây: (1) dạng elip, (2) dạng cầu, (3) dạng elip ngang
- Dáng cây: (1) thẳng đứng, (2) xòe ngang, (3) dạng rũ, (4) dạng khác
- Mật độ cành: (1) thưa, (2) dày
- Cấu trúc mặt thân: (1) trơn láng, (2) có rãnh và gân dọc
- Góc cành: (1) hẹp, (2) trung bình, (3) rộng
- Màu sắc đọt non: (1) xanh, (2) tím, (3) khác
- Bề mặt đọt non: (1) không lông, (2) ít lông, (3) nhiều lông
- Dạng gai: (1) thẳng, (2) cong
- Mật độ gai: (1) dày, (2) trung bình, (3) thưa
- Dài gai (cm): đo 10 gai khoảng giữa cây, ở trong tán và không đo cành vượt
+ Đặc tính lá: quan sát 10 lá/cây
- Kiểu lá: (1) đơn, (2) hai lá kép, (3) ba lá kép, (4) bốn lá kép, (5) năm lá kép
- Màu lá : (1) xanh sáng, (2) xanh, (3) xanh đậm, (4) màu khác
- Màu mặt trên so với mặt dưới: (1) giống nhau, (2) sáng hơn, (3) tối hơn
- Sự điểm màu trên lá: (0) không, (1) có
- Khớp nối cuống lá và phiến lá: (0) không, (1) có
- Cánh lá: (1) không cánh lá, (2) cánh lá hẹp, (3) cánh lá rộng
- Dạng đỉnh lá: (1) nhọn thon, (2) nhọn, (3) tròn, (4) có xẻ
- Rìa lá: (1) khía nhỏ, (2) răng cưa, (3) phẳng trơn, (4) dợn sóng
- Sự vặn phiến lá: (0) không, (1) ít, (2) trung bình, (3) nhiều
- Sự phồng phiến lá: (0) không, (1) ít, (2) trung bình, (3) nhiều
- Gợn sóng mép: (0 )không, (1) ít, (2) trung bình, (3) nhiều
- Mặt cắt ngang: (1) phẳng, (2) lõm ít, (3) lõm trung bình, (4) lõm nhiều
- Dạng lá: (1) dạng ellip, (2) dạng trứng, (3) dạng trứng ngược, (4) dạng mác, (5) dạng cầu, (6) dạng tim ngược và (7) dạng khác
- Dài lá (cm): Đo từ nơi giáp cuống lá đến chóp lá
- Rộng lá (cm): Đo chỗ rộng nhất
Trang 30- Tỉ số dài lá/rộng lá
- Dày lá (mm): đo phần thịt lá ở khoảng giữa lá
- Số gân lá: đếm gân lá phụ mọc từ gân chính về phía hai mép lá, nổi rõ và dài hơn hai phần ba của nữa phiến lá
- Số lỗ dầu/cm2
- Dài cuống (cm): đo từ chỗ nối với phiến lá đến cành mang lá
- Loại hoa: (1) lưỡng tính, (2) hoa đực, (3) hoa cái
- Loại phát hoa: (1) đơn, (2) chùm
- Vị trí hoa: (1) nách lá, (2) tận ngọn
- Sắp xếp hoa: (1) đơn độc, (2) thành phát hoa
- Số hoa trên phát: đếm tất cả hoa trên phát
- Vị trí bao phấn so với nướm; (1) thấp hơn, (2) bằng, (3) cao hơn
- Màu bao phấn: (1) trắng, (2) vàng nhạt, (3) vàng, (4) màu khác
- Màu nướm nhụy: (1) trắng, (2) vàng nhạt, (3) vàng, (4) màu khác
- Số cánh/hoa: đếm tất cả các cánh hoa trên một hoa
- Màu hoa búp: (1) hơi xanh, (2) trắng, (3) vàng, (4) tím, (5) hồng, (6) khác
- Màu hoa nở: (1) trắng, (2) vàng, (3) đỏ tím, (4) màu khác
- Dài cuống hoa (mm): đo từ nơi giáp đài đến chỗ gắn vào phát hoa
- Đường kính đài (mm): đo chỗ rộng nhất bằng thước kẹp
- Số cánh hoa
- Dài cánh hoa (mm): đo từ nơi gắn vào đài hoa đến chóp cánh hoa
- Rộng cánh hoa (mm): đo chỗ rộng nhất
- Tỉ số dài/rộng cánh hoa
- Số nhị hoa: đếm số nhị đực trong một hoa
- Dài chỉ nhị (mm): đo từ cuống chỉ nhị đến chỗ gắn với bao phấn
- Dài bao phấn (mm)
- Đường kính bầu noãn (mm)
- Dài vòi nhụy (mm): đo từ nơi gắn với bầu noãn đến nơi gắn với nướm nhụy
- Dày nướm nhụy (mm)
Trang 31c/ Sự hiện diện của tiểu noãn trưởng thành
Chọn 5 hoa ở các giai đoạn: hoa nở và 3 ngày sau khi hoa nở Bầu noãn được cắt thành những lát mỏng (khoảng 0,2 mm) và rửa bằng nước cất 2 - 3 lần Để tất cả các lát cắt của một bầu noãn lên lam, nhỏ thêm một giọt nước cất và đậy lamell lại Quan sát tất cả các lát cắt của một bầu noãn, quan sát và đếm số tiểu noãn trưởng thành (là giai đoạn túi phôi có 8 nhân, trứng sẽ trưởng thành và sẳn sàng thụ tinh) (Hình 2.1) trên lát cắt có hiện diện tiểu noãn nhiều nhất (thường trên lát cắt có đường kính lớn nhất) (Hình 2.2)
Hình 2.1 Tiểu noãn trưởng thành theo Jackson và Gmitter (1997)
Hình 2.2 Phẫu diện cắt ngang (a) bầu noãn quýt Đường có hột ở mức phóng đại 100
lần và (b) tiểu noãn trưởng thành ở mức phóng đại 400 lần
Trang 322.2.4 Xử lý số liệu, thống kê
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý số liệu Phân tích phương sai bằng phần mềm SPSS So sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức bằng phương pháp kiểm định Duncan ở mức ý nghĩa 5%
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 SỰ SINH TRƯỞNG CỦA BA THẾ HỆ NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH
Ở HAI DÒNG QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT
TRÊN GỐC THÁP CAM MẬT
3.1.1 Sự tăng trưởng đường kính gốc tháp
Sự tăng trưởng đường kính gốc tháp của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật qua các giai đoạn trong khoảng thời gian
từ tháng 03/2010 đến tháng 03/2011 được đánh giá bằng sự gia tăng đường kính gốc tháp (Bảng 3.1) Qua các giai đoạn, kết quả phân tích thống kê cho thấy không
có khác biệt về sự gia tăng đường kính gốc tháp giữa ba thế hệ tháp Tương tự, sự gia tăng đường kính gốc tháp giữa hai dòng quýt Đường không hột cũng không có khác biệt Đồng thời, giữa hai nhân tố thế hệ tháp và dòng quýt Đường không hột không có sự tương tác
Bảng 3.1 Sự gia tăng đường kính gốc tháp (mm/3 tháng) của ba thế hệ tháp ở hai
dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, 03/2010 – 03/2011)
Nghiệm thức 04 - 06/2010 07 - 09/2010 10 - 12/2010 01 - 03/2011 Thế hệ
QĐKH 1: dòng quýt Đường không hột 1; QĐKH 2: dòng quýt Đường không hột 2
ns: khác biệt không ý nghĩa
Giai đoạn 04 - 06/2010, đường kính gốc tháp của ba thế hệ tháp gia tăng trong khoảng 2,76 - 3,04 mm và không khác biệt qua phân tích thống kê Đường
Trang 34kính gốc tháp dòng quýt Đường không hột 1 tăng 2,87 mm, đường kính gốc tháp dòng quýt Đường không hột 2 tăng 2,96 mm và giữa hai dòng quýt Đường không hột không có sự khác biệt Bên cạnh đó, không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Trung bình đường kính gốc tháp của các nghiệm thức gia tăng 2,92 mm trong giai đoạn này
Giai đoạn 07 - 09/2010, ba thế hệ tháp gia tăng đường kính gốc tháp trong khoảng 5,44 - 6,14 mm và giữa ba thế hệ tháp không có sự khác biệt Khác biệt về
sự gia tăng đường kính gốc tháp của dòng quýt Đường không hột 1 (5,72 mm) và dòng quýt Đường không hột 2 (6,00 mm) cũng không có ý nghĩa về mặt thống kê Đồng thời, kết quả phân tích thống kê trong giai đoạn này cũng cho thấy giữa nhân
tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột không có sự tương tác Trung bình đường kính gốc tháp của các nghiệm thức trong giai đoạn này tăng 5,86 mm
Giai đoạn 10 - 12/2010, đường kính gốc tháp của ba thế hệ tháp gia tăng biến thiên 8,81 – 9,75 mm vàkhông khác biệt qua phân tích thống kê Sự gia tăng đường kính gốc tháp giữa dòng quýt Đường không hột 1 (9,30 mm) và dòng quýt Đường không hột 2 (9,49 mm) cũng không khác biệt qua phân tích thống kê Bên cạnh, không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Trung bình đường kính gốc tháp của các nghiệm thức tăng 9,40 mm trong giai đoạn này
Giai đoạn 01 - 03/2011, đường kính gốc tháp của ba thế hệ tháp gia tăng cụ thể như sau: thế hệ thứ nhất trung bình gia tăng 5,09 mm, thế hệ thứ hai trung bình gia tăng 4,83 mm và thế hệ thứ ba trung bình gia tăng 4,58 mm Tuy nhiên, khác biệt về sự gia tăng đường kính gốc tháp của ba thế hệ tháp không có ý nghĩa khi phân tích thống kê Dòng quýt Đường không hột 1 tăng 4,60 mm đường kính gốc tháp và dòng quýt Đường không hột 2 tăng 5,06 mm đường kính gốc tháp nhưng cũng không có sự khác biệt về sự gia tăng đường kính gốc tháp giữa hai dòng trên Đồng thời, kết quả phân tích thống kê cho thấy không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Trung bình đường kính gốc tháp các nghiệm thức trong giai đoạn này gia tăng 4,83 mm
Trang 35Tóm lại, kết quả phân tích thống kê sự gia tăng đường kính gốc tháp qua các giai đoạn trong khoảng thời gian 03/2010 - 03/2011 cho thấy giữa ba thế hệ tháp không khác biệt sự tăng trưởng đường kính gốc tháp Đồng thời, giữa hai dòng quýt Đường không hột cũng không có sự khác biệt về sự tăng trưởng đường kính gốc tháp, phù hợp với kết luận của Nguyễn Minh Sang (2010) khi tác giả khảo sát sự sinh trưởng của hai dòng quýt Đường không hột ở thế hệ thứ nhất trên gốc tháp cam Mật Điều này cho thấy sự tăng trưởng đường kính gốc tháp không khác biệt giữa
hai dòng quýt Đường không hột qua ba thế hệ tháp
3.1.2 Sự tăng trưởng đường kính thân tháp
Sự tăng trưởng đường kính thân tháp của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật qua các giai đoạn trong khoảng thời gian
từ tháng 03/2010 đến tháng 03/2011 được đánh giá bằng sự gia tăng đường kính thân tháp (Bảng 3.2) Qua phân tích thống kê, kết quả cho thấy sự gia tăng đường kính thân tháp giữa ba thế hệ tháp không khác biệt Sự gia tăng đường kính thân tháp giữa hai dòng quýt Đường không hột cũng không khác biệt Đồng thời, không
có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột
Bảng 3.2 Sự gia tăng đường kính thân tháp (mm/3 tháng) của ba thế hệ tháp ở hai
dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, 03/2010 - 03/2011)
Nghiệm thức 04 - 06/2010 07 - 09/2010 10 - 12/2010 01 - 03/2011 Thế hệ
QĐKH 1: dòng quýt Đường không hột 1; QĐKH 2: dòng quýt Đường không hột 2
ns: khác biệt không ý nghĩa
Giai đoạn 04 - 06/2010, đường kính thân tháp của ba thế hệ tháp gia tăng dao động trong khoảng 3,16 – 3,60 mm và sự khác biệt giữa ba thế hệ tháp không có ý
Trang 36nghĩa qua phân tích thống kê Hai dòng quýt Đường không hột gia tăng đường kính thân tháp cụ thể như sau: dòng quýt Đường không hột 1 (3,39 mm), dòng quýt Đường không hột 2 (3,23 mm) và cũng không có sự khác biệt giữa hai dòng quýt Đường không hột khi phân tích thống kê Bên cạnh đó, kết quả phân tích thống kê cũng cho thấy không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Trung bình đường kính thân tháp của các nghiệm thức tăng 3,31
mm trong giai đoạn này
Giai đoạn 07 – 09/2010, ba thế hệ tháp gia tăng đường kính thân tháp trong khoảng 4,45 – 4,75 mm và không khác biệt nhau qua phân tích thống kê Đường kính thân tháp dòng quýt Đường không hột 1 tăng 4,68 mm, đường kính thân tháp của dòng quýt Đường không hột 2 tăng 4,59 mm và giữa hai dòng quýt Đường không hột cũng không có sự khác biệt Không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Vào giai đoạn này trung bình đường kính thân tháp ở nghiệm thức gia tăng 4,63 mm
Giai đoạn 10 - 12/2010, ba thế hệ tháp gia tăng đường kính thân tháp cụ thể như sau: thế hệ tháp thứ nhất (6,22 mm); thế hệ tháp thứ hai (6,00 mm); thế hệ tháp thứ ba (5,30 mm), và không có sự khác biệt về sự gia tăng đường kính thân tháp giữa ba thế hệ tháp qua kết quả phân tích thống kê Tương tự, qua phân tích thống
kê, sự gia tăng đường kính thân tháp ở dòng quýt Đường không hột 1 (6,04 mm) không khác biệt với dòng quýt Đường không hột 2 (5,64 mm) Đồng thời, không có
sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Trung bình các nghiệm thức gia tăng 5,84 mm đường kính thân tháp
Giai đoạn 01– 03/2011, ba thế hệ tháp gia tăng đường kính thân tháp dao độngtrong khoảng 2,95 – 3,52 mm và sự khác biệt giữa ba thế hệ tháp không có ý nghĩa qua phân tích thống kê Đường kính thân tháp dòng quýt Đường không hột 1 gia tăng 3,44 mm, đường kính thân tháp dòng quýt Đường không hột 2 gia tăng 3,00 mm và không có sự khác biệt giữa chúng Đồng thời, không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Trong giai đoạn này, trung bình đường kính thân tháp các nghiệm thức tăng 3,22 mm
Trang 37Tóm lại, kết quả phân tích thống kê về sự gia tăng đường kính thân tháp qua các giai đoạn trong khoảng thời gian 03/2010 - 03/2011 cho thấy ba thế hệ tháp ở của hai dòng quýt Đường không hột không có sự khác biệt về sự tăng trưởng đường kính thân tháp Sự tăng trưởng đường kính thân tháp giữa hai dòng quýt Đường không hột cũng không có sự khác biệt, phù hợp với kết quả nghiên cứu thế hệ thứ nhất của hai dòng quýt Đường không hột trên gốc cam Mật của Nguyễn Minh Sang (2010) Điều này cho thấy sự tăng trưởng đường kính thân tháp không khác biệt giữa hai dòng quýt Đường không hột qua ba thế hệ tháp
Hình 3.1 Thân tháp và gốc tháp của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt Đường không
hột trên gốc cam Mật (khu 2, Đại học Cần Thơ, 03/2011)
a, b, c: thế hệ tháp thứ I, II, III quýt Đường không hột 1
d, e, f: thế hệ tháp thứ I, II, III quýt Đường không hột 2
Qua kết quả phân tích thống kê tỉ số thân tháp/gốc tháp từ 03/2010 đến 03/2011 được trình bày ở Bảng 3.3 tại các thời điểm khảo sát, giữa ba thế hệ tháp
Trang 38không có sự khác biệt và giữa hai dòng quýt Đường không hột cũng không khác biệt Không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột
Bảng 3.3 Tỉ số thân tháp/gốc tháp của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt Đường không
hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, 03/2010 – 03/2011)
QĐKH 1: dòng quýt Đường không hột 1; QĐKH 2: dòng quýt Đường không hột 2
ns: khác biệt không ý nghĩa
Thời điểm tháng 03/2010, ba thế hệ tháp có tỉ số thân tháp/gốc tháp dao động trong khoảng 0,55 – 0,56 và khác biệt giữa ba thế hệ tháp không có ý nghĩa qua phân tích thống kê Tỉ số này ở dòng quýt Đường không hột 1 là 0,55 và ở dòng quýt Đường không hột 2 là 0,56 và sự khác biệt giữa hai dòng quýt Đường không hột không có ý nghĩa qua phân tích thống kê Không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Trung bình tỉ số thân tháp/gốc tháp của các nghiệm thức là 0,55 tại thời điểm này
Tại tháng 06/2010, kết quả phân tích thống kê cũng cho thấy giữa ba thế hệ tháp không khác biệt nhau về tỉ số thân tháp/gốc tháp khi tỉ số này ở thế hệ tháp thứ nhất là 0,67; ở thế hệ tháp thứ hai là 0,65 và ở thế hệ tháp thứ ba là 0,64 Tỉ lệ này ở dòng quýt Đường không hột 1 (0,65) cũng không khác biệt với dòng quýt Đường không hột 2 (0,66) qua phân tích thống kê Không có sự tương tác giữa nhân tố thế
hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Trung bình tỉ số thân tháp/gốc tháp
ở các nghiệm thức là 0,66 tại thời điểm này
Trang 39Vào tháng 09/2010, tỉ số thân tháp/gốc tháp của ba thế hệ tháp biến thiên giữa 0,69 – 0,71 và không có sự khác biệt giữa ba thế hệ tháp qua phân tích thống
kê Đồng thời, kết quả phân tích thống kê tại thời điểm này cũng không có sự khác biệt giữa hai dòng quýt Đường không hột: dòng quýt Đường không hột 1 (0,70) và dòng quýt Đường không hột 2 (0,69) Không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Tại thời điểm này, trung bình tỉ số thân tháp/gốc tháp ở các nghiệm thức là 0,70
Thời điểm tháng 12/2010, tỉ số thân tháp/gốc tháp giữa ba thế hệ tháp không khác biệt qua phân tích thống kê và biến thiên ở khoảng 0,67 – 0,68 Tỉ số này ở dòng quýt Đường không hột 1 là 0,68; tỉ số này ở dòng quýt Đường không hột 2 là 0,67 và cũng không cho thấy có sự khác biệt qua phân tích thống kê Giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột cũng không có sự tương tác Trung bình tỉ số thân tháp/gốc tháp tại thời điểm này của các nghiệm thức là 0,68
Vào tháng 03/2011, tỉ số thân tháp/gốc tháp ở thế hệ tháp thứ nhất là 0,69; ở thế hệ tháp thứ hai là 0,67 và ở thế hệ tháp thứ ba là 0,68 Khác biệt giữa ba thế hệ tháp về tỉ số thân tháp/gốc tháp không có ý nghĩa qua phân tích thống kê Tương tự, dòng quýt Đường không hột 1 (0,69) không khác biệt với dòng quýt Đường không hột 2 (0,68) Đồng thời, kết quả phân tích thống kê còn cho thấy không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Trung bình tỉ
số thân tháp/gốc tháp của các nghiệm thức là 0,68 tại thời điểm này
Tóm lại, tại các thời điểm trong khoảng thời gian 03/2010 - 03/2011, tỉ số thân tháp/gốc tháp của ba thế hệ tháp không khác biệt Giữa hai dòng quýt Đường không hột, tỉ số thân tháp/gốc tháp cũng tương đương nhau, phù hợp với kết quả nghiên cứu thế hệ tháp thứ nhất của hai dòng quýt Đường không hột trên gốc cam Mật của Nguyễn Minh Sang (2010) Có thể kết luận rằng tỉ số thân tháp/gốc tháp không khác biệt giữa hai dòng quýt Đường không hột qua ba thế hệ tháp
3.1.4 Sự tăng trưởng chiều cao cây
Sự tăng trưởng chiều cao cây của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật từ tháng 03/2010 đến tháng 03/2011 được đánh giá bằng sự gia tăng chiều cao cây (Bảng 3.4) Qua phân tích thống kê, kết quả cho
Trang 40thấy sự gia tăng chiều cao cây không khác biệt giữa ba thế hệ tháp Giữa hai dòng quýt Đường không hột, sự khác biệt về sự gia tăng chiều cao không có ý nghĩa qua phân tích thống kê Không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột
Bảng 3.4 Sự gia tăng chiều cao cây (cm/3 tháng) của ba thế hệ tháp ở hai dòng quýt
Đường không hột trên gốc tháp cam Mật (khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, 03/2010 – 03/2011)
Nghiệm thức 04 - 06/2010 07 - 09/2010 10 - 12/2010 01 - 03/2011 Thế hệ
Số liệu giai đoạn 01- 03/2011 được chuyển đổi qua (√x+0,5) để phân tích thống kê
QĐKH 1: dòng quýt Đường không hột 1; QĐKH 2: dòng quýt Đường không hột 2
ns: khác biệt không ý nghĩa
Giai đoạn tháng 04 – 06/2010, chiều cao cây của ba thế hệ tháp gia tăng thêm 28,6 – 29,8 mm và không có sự khác biệt giữa ba thế hệ về mặt thống kê Giữa hai dòng: dòng quýt Đường không hột 1 (28,9 cm) và dòng quýt Đường không hột 2 (29,8 cm) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê Đồng thời, không có sự tương tác giữa nhân tố thế hệ tháp và nhân tố dòng quýt Đường không hột Trung bình chiều cao cây ở giai đoạn này gia tăng 29,4 cm
Giai đoạn 07 - 09/2010, chiều cao cây thế hệ tháp thứ nhất tăng thêm 38,6
cm, thế hệ tháp thứ hai tăng thêm 35,2 cm và thế hệ tháp thứ ba tăng thêm 36,1 cm Tuy nhiên, khác biệt giữa ba thế hệ tháp về sự gia tăng chiều cao cây không có ý nghĩa về mặt thống kê Chiều cao cây của dòng quýt Đường không hột 1 tăng thêm 38,7 cm, chiều cao cây dòng quýt Đường không hột 2 tăng thêm 34,6 cm và không
có sự khác biệt giữa hai dòng quýt Đường không hột qua phân tích thống kê Bên cạnh đó, giữa hai nhân tố thế hệ tháp và dòng quýt Đường không có sự tương tác Trung bình trong giai đoạn này, các nghiệm thức tăng 36,6 cm chiều cao cây