1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát sự lưu tồn của TUYẾN TRÙNG (aphelenchoides besseyi) TRÊN cây HUỆ TRẮNG (polianthes tuberosa linn ) và BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

57 732 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 447,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu cho biết sự nhiễm bệnh từ đất rất hiếm, suốt từ năm 1944 - 1948 chỉ có 5 trong 900 cây từ những hạt khoẻ mạnh được gieo trồng trên Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

TRẦN ANH TRỌNG

KHẢO SÁT SỰ LƯU TỒN CỦA TUYẾN TRÙNG

(Aphelenchoides besseyi) TRÊN CÂY HUỆ TRẮNG (Polianthes tuberosa Linn.)

Trang 2

MỤC LỤC

™˜

Cảm tạ iv

Tóm lược v

Mục lục vi

Danh sách hình viii

Danh sách bảng ix

Mở đầu 1

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 TUYẾN TRÙNG 2

1.1.1 Lịch sử phát hiện Aphelenchoides besseyi 2

1.1.2 Chu kỳ đời sống của Aphelenchoides besseyi 4

1.1.3 Khả năng nuôi cấy của Aphelenchoides besseyi 5

1.1.4 Cơ sở định loài của Aphelenchoides besseyi 6

1.1.5 Biện pháp phòng chống tuyến trùng 7

1.2 CÂY HUỆ (Tulinathes tuberosa) 10

1.2.1 Đặc điểm chung 10

1.2.2 Phân loại 10

1.2.3 Kỹ thuật trồng 11

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 15

2.1 PHƯƠNG TIỆN 15

2.1.1 Thời gian và địa điểm 15

2.1.2 Phương tiện 15

2.2 PHƯƠNG PHÁP 15

2.2.1 Thu thập mẫu 15

2.2.2 Phương pháp đánh giá chỉ số bệnh 16

2.2.3 Nghiên cứu ở phòng thí nghiệm 17

2.2.3.1 Xác định sự hiện diện của tuyến trùng Aphelenchoides besseyi

và khả năng lưu tồn trên cây huệ 17

2.2.3.2 Phương pháp nhuộm 18

2.2.3.3 Phương pháp đếm mật số tuyến trùng 18

2.2.4 Bố trí thí nghiệm nhà lưới 19

2.2.5 Xử lý số liệu 20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 21

3.1 XÁC ĐỊNH SỰ HIỆN DIỆN CỦA TUYẾN TRÙNG

TRÊN CÂY HUỆ 21

3.1.1 Sự hiện diện và mật số của tuyến trùng trên bông 21

3.1.2 Sự hiện diện của tuyến trùng trên lá 25

3.1.3 Sự hiện diện của tuyến trùng trên củ 25

3.1.4 Sự hiện diện của tuyến trùng trên rễ 27

3.1.5 Sự hiện diện của tuyến trùng trong mô 27

3.2 KHẢ NĂNG LƯU TỒN CỦA TUYẾN TRÙNG A.BESSSEYI 28

3.2.1 Khả năng lưu tồn của tuyến trùng trên bông 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 3

3.2.2 Khả năng lưu tồn của tuyến trùng trên củ 29

3.3 HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP BÓC BỎ LỚP LÁ KHÔ

CỦA THÂN CỦ KẾT HỢP XỬ LÝ NƯỚC NÓNG

ĐỐI VỚI SỰ LƯU TỒN CỦA TUYẾN TRÙNG

A.BESSEYI TRÊN CỦ HUỆ 31

3.4 ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP BÓC BỎ LÁ KHÔ

KẾT HỢP VỚI XỬ LÝ NƯỚC NÓNG ĐẾN

SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÂY HUỆ 33

3.4.1 Chiều cao thân lá 33

3.4.2 Trọng lượng thân lá, số lá, sức sống 34

CHƯƠNG 4:KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37

4.1 KẾT LUẬN 37

4.2 ĐỀ NGHỊ 37

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

DANH SÁCH BẢNG

1 Mật số trung bình tuyến trùng A.besseyi trên các nhóm bông 23

2 Mật số tuyến trùng A.besseyi trung bình của 4 loại bông

trích được ở các thời gian 24

3 So sánh mật số tuyến trùng giữa 4 vị trí trên thân củ 27

4 So sánh mật số tuyến trùng giữa phần tươi và khô trong thân củ 27

5 Mật số tuyến trùng trên bông khô ở các thời gian 29

6 Mật số của tuyến trùng A.besseyi trong củ đã được phơi 2 tháng 30

7 Mật số tuyến trùng trung bình giữa các nghiệm thức 33

8 Các chỉ tiêu tăng trưởng về trọng lượng, số lá và

chiều cao trung bình của các nghiệm thức 35

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

DANH SÁCH HÌNH

1 Phát hoa có nhiều cấp độ bông 21

2 Các giai đoạn của bông tươi: (a) nụ không có triệu chứng,

(b) nụ có triệu chứng, (c) bông búp, (d) bông nở 22

3 Biểu đồ mật số tuyến trùng ly trích được ở các thời gian 24

4 Củ huệ được cắt ra thành nhiều phần nhỏ để quan sát

sự hiện của tuyến trùng:

(a): bao gồm củ chính và thân củ (1 + 2 + 3 + 4 = thân củ)

(b): bao gồm phần lá tươi = T1+T2+T3+T4 và lá khô = K1+K2+K3+K4 25

5 Bông huệ (a) và phát hoa (b) đã để khô 28

6 Củ huệ không bóc bỏ lá khô (hàng trên) và bóc bỏ lá khô (hàng dưới) trước khi trồng 32

7 Cây huệ được bóc bỏ lá khô và không bóc bỏ lá khô

(xử lý nước nóng 30 phút): (a) sau khi nhổ, (b) còn trong chậu 34

8 Biểu đồ thể hiện chiều cao cây huệ ở các nghiệm thức theo thời gian 34

9 Củ huệ ở nghiệm thức: (a) không bóc bỏ lá khô và (b) bóc bỏ lá khô 35

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

MỞ ĐẦU

Hiện nay, vấn đề bảo vệ thực vật giữ một vai rò rất quan trọng trong sự phát triển của nông nghiệp Vì cây trồng có thể bị phá hoại, gây hại bởi rất nhiều sinh vật Con người đã nhận biết được sự gây hại của côn trùng, bệnh hại do nấm

và vi khuẩn từ rất sớm, và đã tìm được phương pháp quản lý hữu hiệu Nhưng vài thập niên gần đây người ta lại chú ý nhiều tới một sinh vật gây bệnh khác đó là tuyến trùng Theo thống kê cho thấy tuyến trùng chiếm khoảng trên 90% sinh vật đất (Dropkin, 1980) Hàng năm, thiệt hại nông sản do tuyến trùng gây ra là 18% (Allen, 1960)

Tuyến trùng có thể gây hại cho rất nhiều loại cây trồng Nếu chỉ xét riêng về cây lúa thì Ou (1985) khi tổng kết đã thấy là trên cây lúa có những bệnh gây ra do

tuyến trùng như: khô đầu lá (Aphelenchoides besseyi), tiêm đọt sần (Ditylenchus

augutus), bướu rễ lúa (Meloidogyne sp), thối rễ (Hirschmaniella sp) Trong đó,

bệnh khô đầu lá do tuyến trùng Aphelenchoides besseyi gây hại là một trong

những bệnh khá quan trọng trên lúa Trong thời gian gần đây, ở nước ta còn chú

ý đến tuyến trùng Aphelenchoides besseyi gây bệnh “chai bông” trên cây huệ

Bệnh này có thể gây thiệt hại đến 100% năng suất trên cây huệ Tuy nhiên, hiện nay sự hiểu biết về bệnh chai bông cũng như biện pháp phòng trị vẫn còn hạn chế Và cho đến nay vẫn chưa có biện pháp nào có thể phòng trị bệnh chai bông hữu hiệu

Do đó, đề tài “Khảo sát sự lưu tồn của tuyến trùng Aphelenchoides

besseyi trên cây huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.) và biện pháp phòng trừ”

được thực hiện, nhằm mục đích tìm hiểu về sự lưu tồn của tuyến trùng A.besseyi,

từ đó đưa ra biện pháp quản lý bệnh một cách hiệu quả, giúp nông dân trồng huệ

giảm được thiệt hại do bệnh chai bông, tăng năng suất và đạt thu nhập cao

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 TUYẾN TRÙNG Aphelenchoides besseyi

Tylenchida Aphelenchina Aphelenchoidea Aphelenchoididae

Aphelenchoidinae

Aphelenchoides besseyi

1.1.1 Lịch sử phát hiện Aphelenchoides besseyi:

A besseyi gây bệnh khô đầu lá lúa Người ta đã tìm thấy bệnh này ở

Kyushu (Nhật bản) và gọi là bệnh hạt đen Một bệnh tương tự khác cũng được tìm thấy ở Kyushu trên một loại kê của người Ý Yosshi (1950) gọi nó là tuyến trùng gây cháy đọt (heart blight) Loại tuyến trùng này được nghiên cứu về cách nhiễm bệnh và tìm ra biện pháp xử lý hạt để kiểm soát bệnh Ông ta gọi là tuyến

trùng A oryzae Yokoo (trích dẫn S H Ou, 1985)

Ở Mỹ, bệnh cũng được chú ý đến vào năm 1935 (Todd và Atkins, 1959) Nhưng lúc đầu người ta cho rằng triệu chứng do loài tuyến trùng này gây

ra trên cây là do thiếu Fe và Mg Đến năm 1944, ông Cralley đã báo cáo là có một loại tuyến trùng tương tự như tuyến trùng này đã gây ra bệnh ở Nhật Allen

(1960) đã tìm thấy A oryzae Yokoo tương tự như A besseyi và A besseyi là tên

mà người ta thường gọi nhất Ở Liên Xô, bệnh này cũng đã được biết từ năm

1929

Đến năm 1964, bệnh cũng được báo cáo là có ở Cameroon, Kenya, Malaysia, Nigieria, Senegal và nhiều quốc gia khác ở Châu Âu Tuyến trùng sống rất lâu trong các hạt bị nhiễm và có thể sống trong hạt lúa sau khi gặt 8 tháng, cũng như trên các hạt không lá đã được tồn trữ 3 năm (Cralley, 1949; Yoshii và Yamamoto, 1950) Nhưng những quan sát đã cho thấy tại Nhật tuyến trùng không thể sống sót qua khỏi mùa đông ở ngoài trời Ngoài ra, tưyến trùng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

còn khả năng sống sót trên các hạt khô đến 23- 24 tháng (Todd và Atkins (1959), trích dẫn S H Ou, 1985)

Yoshii và Yamamoto (1950) đã tìm thấy A besseyi là một loại ngoại

ký sinh ở những lá non còn cuốn thành ống ở các giai đoạn đầu của cây lúa và xâm nhập vào gié khi mầm gié đã được tạo thành và hầu như hoàn toàn vào bên trong gié khi hạt đã chín Sau khi gặt đập người ta tìm thấy rất ít tuyến trùng trong rơm rạ ngoại trừ một vài gié bị lép

Todd và Atkins (1959) đã dùng kỹ thuật nhuộm màu cho thấy tuyến trùng hoàn toàn ở bên trong lá hạt và hình như ở vào mặt trong của lá trấu

Nhưng những nghiên cứu về số lượng và sự phân bố của tuyến trùng vào các giai đoạn tăng trưởng của cây lúa bệnh cho thấy một vài tuyến trùng vẫn còn tồn tại trong hạt nảy mầm Ở giai đoạn mạ trước khi cấy người ta không tìm thấy tuyến trùng trong thân cây lúa nhưng trong suốt giai đoạn nảy chồi ghi nhận thấy chúng hiện diện ở những chổ lõm trên đỉnh sinh trưởng của những gié còn non chưa trổ ra Cùng với sự tăng trưởng của cây, mật số tuyến trùng gia tăng trên những lá non Khi gié non được thành lập, tuyến trùng tụ tập lại trong khi một số còn bên ngoài vùng tượng khối sơ khởi Ở vào giai đoạn trổ gié, số lượng tuyến trùng ở mặt ngoài lá trấu giảm xuống đột ngột người ta nghĩ rằng chúng đã

đi vào bên trong lá trấu Một số ít tuyến trùng vẫn còn nằm bên trong của bẹ lá cờ sau khi cây trổ gié Và sau đó ít khi tìm thấy chúng ở bên ngoài lá trấu (Yoshii và

Yamamoto, 1950)

Cũng theo Yoshiii và Yamamoto (1950) cây càng bị nhiễm nặng thì mật số tuyến trùng càng nhiều, nhưng những cây trồng có vẻ còn khoẻ mạnh trong những ruộng nhiễm bệnh cũng có chứa nhiều tuyến trùng, các chồi nhánh thường bị xâm nhiễm mạnh hơn những chồi khác và cũng chứa nhiều tuyến trùng hơn Trong một gié thì ở giữa gié số tuyến trùng nhiều hơn và mật số càng ít về phía cuối gié Những hạt có kích thước lớn cũng chứa nhiều tuyến trùng hơn, những hạt lép thì tuyến trùng giảm rõ rệt

Các nghiên cứu cho biết sự nhiễm bệnh từ đất rất hiếm, suốt từ năm

1944 - 1948 chỉ có 5 trong 900 cây từ những hạt khoẻ mạnh được gieo trồng trên

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

đất có nhiễm A besseyi đã thể hiện triệu chứng và chỉ xảy ra trong một năm

(Yoshii và Yamamoto, 1950)

Loại tuyến trùng này có thể sống tiềm sinh trong hạt từ cây lúa bị nhiễm nhưng không thể qua đông trong đất (Cralley, 1952) và không tấn công vào rễ cây mạ (Tamura và Kegasawa, 1958)

Tuyến trùng sẽ rời khỏi hạt khi ngâm vào trong nước ở nhiệt độ 20-

250C và ra nhanh nhất ở 300C (Tamura và Kegasawa, 1958) Ở nhiệt độ 350C thì tuyến trùng sẽ không rời khỏi hạt dù ngâm sau 150 giờ Ở nhiệt độ 200C có khoảng 35% số tuyến trùng vẫn còn trong hạt, trong đó có khoảng 53% tuyến trùng đã chết ở nhiệt độ 300C còn khoảng 18% tuyến trùng ở trong hạt, trong đó 91% đã bị chết Và ở 350C thì tất cả tuyến trùng đều bị chết Do đó, nhiệt độ thích hợp để tuyến trùng rời khỏi hạt là 200C

Yoshii và Yamamoto (1950) lưu ý rằng tuyến trùng lội ra mạnh mẽ trong nước ở nhiệt độ 20- 250C và sống trong nước được 30 ngày

1.1.2 Chu kỳ đời sống của Aphelenchoides besseyi trên cây lúa:

Aphelenchoides besseyi có thể tồn tại dưới lớp lá của hạt lúa sau 3

năm Nó không tồn tại trong đất Aphelenchoides besseyi ký sinh bên ngoài những mô non Vào cuối giai đoạn sinh trưởng của cây lúa nhiều Aphelenchoides

besseyi chuyển sang trạng thái tiềm sinh ở dưới lớp lá của hạt lúa (Taylor, 1969)

Khi hạt bị nhiễm A.besseyi được gieo trồng, tuyến trùng sẽ hoạt động

trở lại và tấn công vào những vùng mô phân sinh Vào giai đoạn sinh trưởng sớm

của lúa, Aphelenchoides besseyi được tìm thấy một số ít ở trong bẹ lá, chúng ký

sinh bên ngoài của phần ngọn (Todd và Atkins, 1959) Mật số tuyến trùng tăng nhanh diễn ra vào sau giai đoạn đẻ nhánh và đông đảo vào giai đoạn trổ bông của lúa Tuyến trùng có thể tấn công vào giai đoạn bông trước khi trổ và ký sinh

ngoài hạt và cấu trúc sinh sản của lúa Vào giai đoạn ngậm sữa và chín,

Aphelenchoides besseyi ngừng sinh sản, mặt dù sự phát triển của 3 giai đoạn từ

ấu trùng đến trưởng thành vẫn diễn ra cho đến giai đoạn hạt vào chắc

Trong quần thể Aphelenchoides besseyi thì con cái trưởng thành chiếm

ưu thế và chúng thường sinh sản hữu tính, mặt dù sinh sản đơn tính đã được báo

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

cáo Aphelenchoides besseyi cuộn tròn và tụ họp lại thành cuộn sợi Cả hai con

cái và đực đều gây hại trên cây trồng Loại tuyến trùng này có thể sinh sản đơn tính hay lưỡng tính (Christie, 1942)

Nhiệt độ thích hợp cho đẻ trứng và ấp trứng là 300C Theo Taylor (1969), ở 300C, chu kỳ sống của Aphelenchoides besseyi khoảng 8 – 12 ngày và

không phát triển khi dưới 130C Theo Christie (1942), vòng đời của chúng khoảng 11- 13 ngày và có thể có từ 9- 13 thế hệ trong một mùa vụ Chúng yêu cầu ẩm độ khoảng 85% Khi thời tiết khô ráo thì chúng sẽ kém phát triển và có thể bị chết

Khi gặp điều kiện khô, cơ thể Aphelenchoides besseyi từ từ mất nước

và chúng chuyển sang trạng thái ngủ yên trong trạng thái thiếu nước và có thể sống sót trong một trạng thái im lìm trên hạt bị nhiễm trong một thời gian dài từ

8 tháng đến 3 năm (Cralley, 1949; Yoshii và Yamamoto,1950) Sự sống sót được

tăng khi Aphelenchoides besseyi tụ họp và tốc độ hạt khô chậm nhưng sự nhiễm

A.besseyi giảm đi khi tuổi hạt tăng lên A.besseyi không tồn tại trong đất vào giai

đoạn giữa các vụ mùa (Cralley và French, 1952)

1.1.3 Khả năng nuôi cấy của Aphlenchoides besseyi

Iyatomi và Nishizawa (1954) quan sát thấy A.besseyi sinh sản trên canh trùng của 8 loại nấm, Alternaria citri, A.kikuchiana, A.brassicae,

Pyricularia Oryzae cochliobolus miyabaenus, Helminthosporium sigmoidium (Leptosphaeria salvinii), Colletotrichum lagenarium và Phytophthora sp Trong

số đó, ba loại Alternaria thích hợp với tuyến trùng hơn Chúng sinh sản kém trên canh trùng Cortium sasakii và Fusarium bulbigenum Todd và Atkins (1958) đã

cấy tuyến trung lên thóc bị bệnh đã được xử lý Kết quả cho thấy tuyến trùng

sinh sản khá trên các môi trường có canh trùng nấm Alter aria, Curvularia,

Helminthosporium và Fusarium; chúng sinh sản yếu trên môi trường không có

nấm Lây bệnh cho hạt bằng các tuyến trùng trong hai trường hợp trên đều gây được triệu chứng trắng đỉnh lá

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

1.1.4 Cơ sở định loài của Aphelenchoides besseyi:

Allen (1960) mô ta loài tuyến trùng này như sau:

Tuyến trùng có cơ thể mỏng manh, cấu tạo bởi 5 lớp Vùng lưng chiếm 1/4 chu vi cơ thể cấu tạo bởi 4 đường dọc Vùng môi nở rộng hơn chân môi, biểu bì được kết vòng trên thân có từ 2-4 làn lõm vào Kim chích thon, dài

từ 10- 12mm với u đế kim Có một procorpus thon dài và một metacorpus rộng

có chứa một val lỗ thực quản được nối trực tiếp với ruột ở phần sau của metacorpus, và từ đó tuyến thực quản nở rộng Ở phía sau của metacorpus có một vòng thần kinh (cách metacorpus bằng chiều rộng của nó), vòng thần kinh sẽ cuộn cả phần trước của ruột và tuyến thực quản Lỗ bài tiết thường ở gần vòng thần kinh nhưng có thể trước hoặc sau tuỳ theo loài Ngoài ra, ở phía sau lỗ bài tiết có Hemizonid Buồng trứng trải dài ra và chứa nhiều tế bào trứng xếp thành dãy Tử cung của con cái mọc nhánh kéo dài về phía sau, dài từ 2- 4 lần chiều rộng của thân Lỗ sinh dục nằm khoảng 65- 75% chiều dài thân Đuôi hình nón đều cuối đỉnh chứa 4 u nhọn Con đực có dạng thân dài tương tự con cái nhưng ngắn hơn con cái một ít Đuôi thường cong về phía bụng và có 3 cặp gai thịt cũng nằm về phía bụng

Những đặc tính dùng để phân loại: dạng của vùng môi, chiều dài của tuyến sinh dục, cấu trúc của đỉnh môi, chiều dài thân, số đường bên

Christie (1942), mô tả hình thái loài tuyến trùng này như sau:

Con cái: Cơ thể thẳng hoặc hơi cong về phía bụng sau khi xử lý bằng nhiệt Phân đốt cutin mảnh, đôi khi không rõ; chiều rộng vòng cutin ở giữa cơ thể khoảng 0,9 mm Vùng môi tròn, nhẵn, phân biệt với đường viền cơ thể; vòng gốc

có đường kính rộng hơn thân và bằng 1/2 chiều rộng cơ thể tại giữa cơ thể Phía trong vùng môi kitin hóa yếu Vùng môi bên với 4 đường Phần hình chóp của kim dài khoảng 45% chiều dài của kim Phần trụ phía sau của kim có núm gốc tròn; hai cạnh ngoài vát ở phía sau; đường kính núm gốc khoảng 1,75mm Diều giữa hình oval với van bên trong rõ, nằm hơi lùi về phía sau của tâm diều giữa Thực quản tuyến dài từ 4- 8 lần chiều rộng của thân, phủ lên đầu của ruột về phía lưng và bên Vòng thần kinh nằm phía sau diều giữa khoảng một lần chiều rộng của thân Vị trí lỗ bài tiết ngang phía trước của vòng thần kinh Hemizonid nằm ở

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

phía sau lỗ bài tiết khoảng 11- 15 mm Vulva nằm ngang (vuông góc với thân) với mép hơi lồi Túi chứa tinh hình oval dài thường có chứa tinh trùng Buồng trứng thường ngắn, không kéo dài đến thực quản; noãn xào xếp thành 2- 4 dãy

Tử cung sau hẹp, không rõ nét và không chứa tinh trùng; có chiều dài từ 2,5- 3,5 lần chiều rộng cơ thể tại hậu môn và nhỏ hơn 1/3 khoảng cách từ hậu môn đến vulva Đuôi hình chóp dài 3,5- 5 lần chiều rộng cơ thể tại hậu môn Mút đuôi có mucro hình sao với 3- 4 gai

Con đực: Vùng môi, kim, hệ thực quản tương tự như ở con cái Phần cuối cơ thể khi xử lý nhiệt thường cong 1800 Đuôi hình chóp, tận cùng đuôi có mucro phức tạp với 2- 4 gai

1.1.5 Ký chủ:

A.besseyi là một loài có ký chủ rất rộng Lúa là ký chủ quan trọng của

loài tuyến trùng này Ngoài ra còn có các ký chủ khác như: dâu tây, củ hành, củ tỏi, bắp ngọt, khoai ngọt, đậu nành, bắp cải, củ cải đường, cúc vạn thọ, phong

lan, cao su, huệ trắng… (Franklin và Siddiqi, 1972)

1.1.6 Biện pháp phòng chống tuyến trùng

• Biện pháp canh tác:

Công việc cày ải và phơi đất đúng kỹ thuật trước khi vào vụ gieo trồng

sẽ làm giảm mật số tuyến trùng một cách đáng kể Việc luân canh thay đổi cơ cấu cây trồng liên tục làm nguồn thức ăn biến đổi sẽ hạn chế được sự gia tăng mật số (Phan Văn Phú, 1986- 1987)

Kết quả thí nghiệm trong chậu của Tamura và Kegasawa (1959) cho thấy khả năng gây bệnh của tuyến trùng trong đất ẩm ướt kém hơn so với trong đất ngập nước

Gieo mạ sớm hơn 60 ngày sẽ tránh được sự nhiễm của tuyến trùng (Yoshii và Yamamoto, 1950) Gieo thẳng vào trong nước thay vì cho ngập nước trước thì có rất ít cây bị nhiễm (Cralley, 1959)

Dùng giống kháng bệnh sẽ loại trừ được khả năng gây hại của A

besseyi (Cralley và French, 1952; Atkins và Todd, 1959)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

• Biện pháp sinh học:

Tuyến trùng cũng như côn trùng có nhiều kẻ thù tự nhiên Thiên địch giữ một vai trò quan trọng trong việc hạn chế sự lây nhiễm của tuyến trùng trong điều kiện tự nhiên Đó là những nguyên sinh động vật, nấm, nhện sử dụng trong đấu tranh sinh học đã được nghiên cứu nhiều nhưng khó áp dụng thực tiễn, bón phân, tạo điều kiện phát triển những loài thiên địch nói trên (Võ Văn Phú, 1986- 1987)

• Biện pháp vật lý:

Nhiệt độ là yếu tố vật lý ảnh hưởng đến tuyến trùng Người ta dùng nước nóng, hơi nhiệt để xử lý đất mặt, hạt giống ở vườn ươm Theo Cralley (1949) xử lý hạt giống bằng nước nóng 52- 530C trong 15 phút sẽ làm giảm mức

độ nhiễm bệnh từ 75% xuống còn 1% trong các thí nghiệm ở nhà kiến Hoặc ngâm hột giống trong nước lạnh từ 8- 12 giờ, sau đó xử lý bằng nước nóng 550C trong 15 giây, rồi ngâm 15 phút ở 500C và 5 phút ở nước lạnh, sau đó để khô sẽ

có được những hạt giống tương đối tốt

Theo Todd và Atkins (1959), trước hết hột giống được nhúng trong nước lạnh 24 giờ và sau đó ngâm trong nước 51- 530C trong 15 phút, cách xử lý này đã được chứng minh là có thể diệt được tuyến trùng mà không làm hại đến cây Với biện pháp này tốt nhất là ngâm ở 55- 610C trong 10- 15 phút hay là ngâm ở 540C trong 15 phút

Theo Christie (1942), ngâm hột giống ở 52 –550C có khả năng diệt 100% tuyến trùng gây hại

Ngoài ra còn có biện pháp xử lý bằng cách là đầu tiên ngâm hột giống trong nước ở nhiệt độ 50- 520C trong 5- 10 phút Sau đó ngâm trong nước nguội hơn 200C trong 16- 20 giờ rồi để khô Các hột này sẽ được ngâm trong nước nóng 56- 570C trong 10- 15 phút vào 60 ngày trước khi gieo sẽ diệt được tất cả những mầm bệnh trong hột Hột giống sẽ bị ảnh hưởng đến khả năng nảy mầm khi ngâm ở nhiệt độ 600C và ngâm trong 20 phút (Yoshii và Yamamoto, 1950)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

DD (Dicloropropane) dùng bơm tiêm vào đất khoảng 2.5- 10 lít/

1000m3 ở độ sâu ít nhất 15 cm, khoảng cách giữa các mũi tiêm là 25- 30 cm

Nemagin (1,2 Dibromo- 3 cloropropan) là chất xông hơi đất, tác động chậm chạp và đòi hỏi nhiệt độ đất từ 10- 250C mới có hiệu quả

Mocap 10G sử dụng trị tuyến trùng trên chuối, tiêu có thể dùng 20- 40

kg rắc cho mỗi gốc cách khoảng 30 cm

Ngoài ra còn có Vapam, Furadan cũng trị được tuyến trùng một cách có hiệu quả

Việc nhúng rễ cây mạ bệnh vào Folidol trong 24 giờ (Folidol là một thuốc sát trùng gốc lân hữu cơ) sẽ cho kết quả là cây lúa cao và nặng hạt hơn cũng như cho nhiều gié hơn và phương pháp này có thể coi như hiệu quả hơn là dùng nước nóng (Gergon và Prot, 1993)

Các thí nghiệm ở trong phòng và ngoài đồng cho biết có thể kiểm soát hoàn toàn bệnh bằng cách ngâm hạt trong 24 giờ vào Ethythiocyanoacetate 20%

nhũ dầu ở nồng độ 1/200 và 1/400 (Yoshii và Yamamoto, 1950)

Đối với củ huệ, A besseyi cũng có thể sống tiềm sinh trong củ khi nông dân phơi nắng Cũng như trên hạt lúa, khi củ huệ phát triển thì A besseyi bắt đầu hoạt động và gây hại (Võ Xuân Tân và Nguyễn Minh Chương, 2005)

Theo Cralley và French (1952) thì Aphelenchoides besseyi không tồn

tại trong đất Và theo Taylor (1969) thì cũng cho rằng loài tuyến trùng này không bao giờ tồn tại trong đất

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

1.2 CÂY HUỆ (Polianthes tuberosa)

Nghành ngọc lan (hạt kín)- Magnoliophyta (Angiospermae)

Lớp hành (một lá mầm)- Liliopsida (Monocoty ledones)

Phân lớp hành- Liliidae

Bộ hành- Liliales

Họ hành- Liliaceae

Chi- Polianthes Loài- Polianthes tuberosa L (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến,

Dễ trồng ở các luống đất làm kỹ Trồng bằng củ, xếp cách nhau đều đặn (20- 25 cm) Khoảng 3 tháng sẽ cho hoa và nở liên tiếp trong 3- 4 tháng Sau 2- 3 năm phải trồng lại, có thể gây trồng và cho hoa quanh năm (Trần Hợp, 2000)

1.2.2 Phân loại

Có hai dạng hoa khác nhau:

Huệ đơn (Huệ xẻ, Huệ hương): Cây thấp, hoa ngắn, thưa và có hai vòng bao hoa (6 cánh), hương thơm ngát

Huệ kép (Huệ tứ diện, Huệ sậy): Cây cao, hoa dài, dày và cánh hoa có nhiều lớp, ít thơm, cánh hoa kép (Trần Hợp, 2000)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

1.2.3 Kỹ thuật trồng

• Chọn giống:

Huệ được trồng bằng củ Củ giống khi thu hoạch thường có kích cỡ khác nhau, nhưng khi trồng nên chia thành ba cỡ: cỡ có đường kính khoảng 2cm, 1,5cm và 1cm Nên trồng củ có đường kính 1,5cm Tuy nhiên để có thời gian thu hoạch kéo dài, trong một ruộng huệ nên trồng xen kẽ cả ba cỡ củ giống với nhau, nhưng những củ trồng trong cùng một bụi bao giờ cũng phải cùng cỡ

• Thời vụ:

Có thể trồng quanh năm, nhưng tốt nhất là trồng vào khoảng tháng hai

âm lịch để kịp có bông bán vào dịp Tết Đoan Ngọ, rằm tháng 7, Tết Trùng cửu (mồng 9 tháng 9), rằm tháng 10

• Cách trồng:

Mỗi mô trồng ba hàng, cách nhau khoảng 30cm, mỗi bụi cánh nhau khoảng 20cm, mỗi bụi trồng 3-4 củ, nên trồng củ giống trong một bụi theo hàng ngang Trước khi trồng băm đất dưới mương tạo bùn nhuyễn móc đặt lên mặt mô (chỗ định đặt củ giống) sau đó trồng, bằng cách nhấn ngập sâu khoảng 1/2 củ giống xuống lớp bùn

Khi trồng vào vườn, củ to thì trồng nông, củ nhỏ trồng sâu, lúc phủ đất phải để lộ chồi ra ngoài mặt đất, từ khi trồng đến khi nảy chồi mất 1 tháng (Jiang Qing Hai và Trần Văn Mão, 2002)

• Tưới nước:

Sau khi trồng mỗi ngày phải tưới hai lần, nếu cây huệ xuất hiện nhện

đỏ thì mỗi ngày phải tưới 3-4 lần Không tưới bằng máy bơm vì dễ làm dập lá

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

huệ, cũng không tưới bằng bình có vòi hoa sen vì cả hai cách tưới này nước không làm ướt lá huệ và rửa trôi được nhện đỏ nằm ở mặt dưới của lá huệ Có thể dùng tô hoặc chậu nhỏ lội dưới mương múc nước tạt té ngược lên liếp huệ và cách tưới này có tác dụng phòng trừ nhện đỏ

Theo Jiang Qing Hai và Trần Văn Mão (2002), sau khi trồng 1 tháng mọc chồi thì mới tưới nước; khi ra lá bộ rễ sinh trưởng và phát triển, tưới nước không nên quá nhiều, chờ hoa lên đòng mới tưới đủ nước

• Bón phân:

Trước khi trồng nếu có điều kiện nên bón phân chuồng đã ủ mục cho huệ với liều lượng phân chuồng mục khoảng 1,5-2 tấn + 50 kg Super lân Sau khi trồng khoảng 10 ngày bón 12 kg DAP + 6kg Urê bằng cách hoà nước tưới vào gốc Sau lần bón nầy cứ định kỳ khoảng nửa tháng bón một lần, mỗi lần bón khoảng 15 kg NPK (loại 16-16-8) + 3kg Urê ( khi cây đã có bông thì ở mỗi lần bón thêm 5kg Kali để kích thích cây cho bông to, đẹp) Trong quá trình chăm sóc nếu thấy cây huệ quá xanh tốt thì giảm lượng phân Urê, nếu không cây huệ sẽ cho ít bông

• Bồi gốc:

Sau khi trồng khoảng một tháng (khi cây huệ đã có 4-5 lá, cao khoảng

10 cm) thì bồi bùn đều lên mặt mô để đón rễ mới

• Phòng trừ sâu bệnh:

Theo kết quả điều tra của Võ Xuân Tân và Nguyễn Minh Chương (2005), trên cây huệ có một số sâu bệnh chủ yếu như: chai bông, dòi đục bông, rệp sáp, nhện đỏ, cháy lá Trong đó, bệnh quan trọng nhất là bệnh chai bông (do tuyến trùng A.besseyi)

Võ Xuân Tân và Nguyễn Minh Chương (2005) mô tả bệnh chai bông như sau:

- Tác nhân gây bệnh: tuyến trùng Aphelenchoides besseyi

- Triệu chứng:

+ Giai đoạn trước khi ra bông:

Bệnh có thể bắt đầu xuất hiện khi củ huệ đã trồng ra những lá đầu tiên và gây hại nặng dần Nếu bệnh nhẹ có thể để lại trên một số lá những đường gân sọc

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

màu nâu đỏ kéo dài từ bẹ lá đến chót lá Nếu bệnh nặng có thể làm cho tất cả các

lá quăn queo và đọt xoăn lại, trên lá phủ đầy những đường gân sọc màu nâu đỏ ở dạng nứt đủ hướng Nếu tách phần đọt xoăn ra quan sát bên trong, ta sẽ thấy phần

lá non và đặc biệt là đỉnh sinh trưởng hầu như bị hư hại và có màu nâu đỏ hoặc thui đen Những cây bị xoăn nếu để lâu, trên phần lá và đọt xoăn sẽ xuất hiện những đường nứt theo chiều ngang làm cho lá và đọt rất giòn, khi chạm đến rất

dễ gãy

Trong điều kiện ẩm ướt liên tục, bệnh có thể làm cho phần mô bẹ lá bị hư

có màu nâu đen, những lá ở gần gốc có thể bị chết ở dạng nông nước màu vàng nâu Trong một bụi Huệ, có thể có cây có triệu chứng và có cây không có triệu chứng, và có thể có cây bệnh nhẹ và cây bệnh nặng

Triệu chứng bệnh chỉ biểu hiện trên thân lá, nhưng khi nhổ phần rễ lên quan sát chúng tôi lại thấy rễ vẫn trắng như cây bình thường Tuy nhiên trên những cây bị xoăn đọt, số lượng rễ ít hơn cây bình thường và cây có thể chết đi

do cây có sức đề kháng yếu với những tác nhân gây hại khác

+ Giai đoạn ra bông:

Có lẽ triệu chứng rất đặc trưng của bệnh là làm cho bông bị chai nên nông dân ở Cai Lậy – Tiền Giang còn gọi là bệnh “Chai bông” Khi cây bệnh nặng làm cho bông không trổ lên được giống như lúa ngẹn đồng Phát bông thấp hơn lá, trên bông bị thui đen và khô đi, làm cho phát bông ở dạng búp màu vàng nâu, bông không thể tách ra để nở và khô đen dần Trên bẹ lá hầu như bị thâm màu nâu đỏ, phần bẹ lá sát thân bị hư có màu nâu đen Thân bị lùn đi và trên lá thân

bị biến dạng với những nốt gai sần dầy đặc có màu nâu hoặc xanh

Khi bệnh nhẹ hơn, bông trổ cao hơn chiều cao của lá và triệu chứng trên thân và bẹ lá có thể ít hơn, trên phát bông mặc dù các bông tách ra được và không còn dạng búp nhưng vẫn không nở được do các cánh hoa bên trong bị chai với những vết sọc vàng nâu từ những cánh hoa bên trong ra cánh ngoài, nhụy bên trong bị khô đen và dần dần bông sẽ bị khô đi Những bông bị bệnh thường bị teo hoặc không phát triển nên bông không thon dài như bông bình thường

Phòng trị bệnh chai bông: cho đến nay, vẫn chưa có biện pháp nào có thể phòng trị bệnh chai bông một cách hiệu quả Nhưng có thể hạn chế bệnh bằng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

cách phơi nắng củ giống trước khi trồng (Võ Xuân Tân và Nguyễn Minh Chương, 2005)

Phòng trị một số sâu hại khác: bệnh thối gốc và thối tai bông, để phòng trị định

kỳ khoảng 15-20 ngày phun thuốc Anvil 1 lần Về sâu hại chủ yếu là nhện đỏ, phòng trị bằng cách tưới nước theo kiểu tạt từ dưới rãnh lên Có thể dùng luân phiên một trong những loại thuốc sau: Danitol, Ortus, Nissuran, Komite

• Thu hái:

Sau khi trồng khoảng 3 tháng sẽ cho thu hoạch bông, đến khoảng tháng 7 âm lịch sẽ cho thu hoạch rộ, sau đó khoảng 3-5 ngày sẽ cho thu hoạch bông 1 lần (Nguyễn Khang Thái, 2003)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 PHƯƠNG TIỆN : 2.2.1 Thời gian và địa điểm:

• Thời gian: từ tháng 8/2005 – 2 /2006

• Địa điểm:

Ø Địa điểm tiến hành thí nghiệm: phòng thí nghiệm và nhà lưới bộ môn BLTV - khoa Nông nghiệ và Sinh học ứng dụng – trường ĐH Cần Thơ

Ø Địa điểm thu thập mẫu thí nghiệm:

v Tại Tiền Giang: địa điểm được chọn khảo sát là Huyện Cai Lậy

v Tại Đồng Tháp: địa điểm được chọn khảo sát là Huyện Lai Vung

2.2.2 Phương tiện:

• Dụng cụ ly trích mẫu: hệ thống rây, Beaker, đĩa Petri và giấy thấm…

• Dụng cụ quan sát mẫu: kính loupe, kính hiển vi, đĩa đếm, lame đếm, lame, lamelle và kim vớt tuyến trùng…

• Hóa chất: nước cất, nước sơn móng tay, phân bón, phenol, acid lactic, glycerin, acid fuchsin…

Mật số tuyến trùng trong cây, bông, củ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

2.2.2 Phương pháp đánh giá chỉ số bệnh:

Dựa vào triệu chứng đặc trưng của bệnh chai bông, tiến hành phân các mức

độ gây hại của tuyến trùng ra thành các cấp độ bệnh Cụ thể đối với giai đoạn trước khi trổ bông và sau khi trổ bông phân ra các cấp độ gây hại như sau:

v Giai đoạn trước khi trổ bông:

Dựa vào số lá có triệu chứng bị xoăn hay có vết gây hại của tuyến trùng trên lá, tính ra phần trăm số lá bị hại trên tổng số lá của cây và phân ra 6 cấp độ như sau:

v Giai đoạn ra bông:

Dựa vào triệu chứng khác nhau từ bông không bệnh đến bệnh nặng, tiến hành phân ra 5 cấp độ bệnh như sau:

Cấp 0 (không bệnh): không có vết bệnh trên thân, lá và bông

Cấp 1 (nhẹ): trên thân và lá không có vết bệnh, cây vẫn cao bình thường nhưng một số bông hoặc toàn bộ số bông trên phát bông có vết sọc vàng do tuyến trùng ở những cánh hoa bên trong

Cấp 2 (trung bình): trên bẹ lá có vết đen do tuyến trùng, thân hơi gai sần

có màu xanh, toàn bộ số bông đều có vệt sọc nâu ở những cánh hoa bên trong Cấp 3 (khá nặng): cây bị lùn đi, trên thân có nhiều gai sần màu nâu hoặc xanh xen kẽ, toàn bộ bông có vết bệnh thể hiện ra cả những cánh hoa bên ngoài

và bông bị teo lại

Cấp 4 (nặng): tương tự như ở cấp 3 nhưng lá cao hơn bông và bông có dạng búp không nở được

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

2.2.3 Nghiên cứu ở phòng thí nghiệm:

2.2.3.1 Xác định sự hiện diện của A.besseyi và khả năng lưu tồn trên cây

huệ

Sử dụng phương pháp ly trích của Baerman 1917

Mục đích: nhằm xác định sự hiện diện của tuyến trùng A.besseyi ở vị trí

nào trên cây huệ và khả năng lưu tồn của tuyến trùng này trên bộ phận đó

Cây huệ được quan sát ở tất cả các bộ phận như:

Mục đích: xác định sự hiện diện và mật số A.besseyi trong bông

Chọn bông còn tươi ở các cấp độ khác nhau: bông nở, bông búp, nụ không thể hiện triệu chứng và nụ có thể hiện triệu chứng Ở mỗi loại bông chọn các bông có kích thước đều nhau, triệu chứng thể hiện giống nhau Tách từng cánh bông ra và ngâm vào đĩa petri thông qua rây, mỗi đĩa ngâm 3 bông

Sau đó quan sát đếm mật số ở các thời gian: 2’, 5’, 10’, 15’, 20’, 30’, 45’, 60’, 90’, 120’, 150’,…cho đến khi tuyến trùng ra hết

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

• Bông khô:

Mục đích: xác định khả năng lưu tồn của tuyến trùng Aphenlenchoides

besseyi trong bông

Bông được khảo sát là bông đã có triệu chứng bệnh lúc còn tươi và phải để khô trong điều kiện tự nhiên Chọn các bông có kích thước tương tự nhau Tiến hành ly trích và đếm mật số đối với bông được để khô: trong 1 tháng,

2 tháng, 3 tháng, 4 tháng

• Ly trích tuyến trùng từ củ đã được thu hoạch 1 tháng, 2 tháng:

Mục đích: xác định khả năng lưu tồn của tuyến trùng A.besseyi trên củ

Chọn củ từ những bụi huệ có thể hiện triệu chứng ở những ruộng bệnh nặng Sau khi thu về cắt hết rễ, cắt lá chừa lại 1 đoạn từ mí củ lên khoảng 5 cm Tiến hành ly trích đếm mật số và ghi nhận khả năng hoạt động của tuyến trùng

A.besseyi

2.2.3.2 Phương pháp nhuộm mẫu

Mục đích: nhằm phát hiện tuyến trùng bên trong mô của bông, thân và rễ Cho mẫu vật vào beaker B1 (chứa hỗn hợp A (gồm 20g phenol, 20g acid lactic, 40g glycerin, 20ml nước cất) và 5ml acid fuchsin 1%), đem đun thật sôi (ít nhất 5 phút, khi rữa phẩm màu không trôi), sau đó cho vào beaker B2 (chứa hỗn hợp A) để 2-3 ngày cho đến khi mẫu vật trong suốt trở lại

Các bộ phận được nhuộm: rễ, thân, lá, bông Mỗi bộ phận nhuộm 20 mẫu

Thời gian nhuộm: 15’

Mẫu nhuộm xong quan sát dưới kính hiển vi

2.2.3.3 Phương pháp đếm mật số tuyến trùng

Tuyến trùng ở mỗi mẫu sau khi ly trích xong ở đĩa petri được chuyển sang Beaker 50ml, tùy theo mật số cao hay thấp mà thêm số lượng nước cho phù hợp, lắc đều Beaker và dùng pipet 1ml hút cho vào đĩa đếm rồi đặt lên kính loupe để đếm mật số tuyến trùng

Trường hợp sử dụng lame đếm, lắc Beaker cho đều lên sau đó dùng pipet 1ml hút và nhỏ lên lame có chia ô => đem đặt lên kính hiển vi để đếm mật số

tuyến trùng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

=> Mật số tuyến trùng/mẫu = số tuyến trùng đếm được x thể tích nước trong

F Nghiệm thức 1: (KB) trồng củ bệnh lấy từ cây bệnh ở vườn

có nhiễm bệnh, không bóc bỏ lá khô

F Nghiệm thức 2: (BL) trồng củ bệnh lấy từ cây bệnh ở vườn

có nhiễm bệnh, bóc bỏ lá khô

F Nghiệm thức 3: (BL15) trồng củ bệnh lấy từ cây bệnh ở vườn

có nhiễm bệnh, bóc bỏ lá khô, xử lý nước 3 sôi 2 lạnh ở 15’

F Nghiệm thức 4: (BL30) trồng củ bệnh lấy từ cây bệnh ở vườn

có nhiễm bệnh, bóc bỏ lá khô, xử lý nước 3 sôi 2 lạnh ở 30’

F Nghiệm thức 5: (KB15) trồng củ bệnh lấy từ cây bệnh ở

vườn có nhiễm bệnh, không bóc bỏ lá khô, xử lý nước 3 sôi 2 lạnh ở 15’

F Nghiệm thức 6: (KB30) trồng củ bệnh lấy từ cây bệnh ở

vườn có nhiễm bệnh, không bóc bỏ lá khô, xử lý nước 3 sôi 2 lạnh ở 30’

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

Các chỉ tiêu theo dõi:

• Chiều cao cây

lần Khi nhổ củ lên hết thì ly trích đếm mật số

2.2.3.5 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng chương trình Excel và IRRISTAT

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 XÁC ĐỊNH SỰ HIỆN DIỆN CỦA TUYẾN TRÙNG TRÊN CÂY HUỆ

Bệnh chai bông do tưyên trùng A.besseyi gây ra thường có triệu

chứng rất rõ ràng và đặc trưng trên cây huệ như bông không phát triển (nông dân gọi là chai bông), lá quăn queo và đọt xoăn lại

Không những các bộ phận mang triệu chứng rõ ràng trên cây như bông, nụ, lá mà cả những bộ phận ít thấy triệu chứng cũng được quan sát sự hiện diện của tuyến trùng Kết quả khảo sát trên từng bộ phận của cây ghi nhận như sau:

3.1.1 Sự hiện diện và mật số của tuyến trùng trên bông

Sự hiện diện của tuyến trùng A.besseyi trên bông được khảo sát trên 4

nhóm bông: bông nở (có triệu chứng), bông búp (có triệu chứng), nụ có triệu chứng và nụ không có triệu chứng

Hình 1 Phát hoa có nhiều cấp độ bông

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

Hình 2 Các giai đoạn của bông tươi: (a) nụ không có triệu chứng,

(b) nụ có triệu chứng, (c) bông búp, (d) bông nở

Mật số trên 4 loại bông khảo sát được ghi nhận như sau: bông nở và bông búp có mật số tuyến trùng cao nhất (bông nở là 811.00 con/bông, bông búp

là 1025,57 con/bông), nụ có triệu chứng bệnh có mật số tuyến trùng thấp hơn ( 229,00 con/bông), thấp nhất là nụ không có triệu chứng bệnh (136,86 con/bông) Theo Yoshii và Yamamoto (1950), hạt lúa có kích thước lớn chứa nhiều tuyến trùng hơn và những hạt lép thì tuyến trùng giảm rõ rệt Đây có thể là do điều kiện thức ăn và điều kiện nhân mật số Ở bông nở và bông búp, tuyến trùng có thời gian xâm nhiễm lâu hơn nên đã nhân mật số cao hơn Bông nụ không có triệu chứng mặc dù chưa thể hiện triệu chứng gây hại nhưng mật số tuyến trùng vẫn cao

Kết quả ở bảng 1cho thấy mật số tuyến trùng tăng dần theo tuổi bông,

và dần dần thể hiện triệu chứng, tuy nhiên khi bông đã nở thì mật số lại giảm dần Điều này cũng được Võ Xuân Tân và Nguyễn Minh Chương (2005) ghi nhận cấp độ bệnh càng nặng thì mật số trên bông càng giảm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

Bảng 1 Mật số trung bình tuyến trùng A.besseyi trên các nhóm bông*,

ĐHCT- 2006 LOẠI BÔNG MẬT SỐ (con/bông)

: Số liệu được chuyển sang log(X) trước khi phân tích

**: Trong cùng một cột những số theo sau cùng một chữ thì không khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, theo DMRT

Kết quả khảo sát ghi nhận: vào 2 phút sau khi ngâm mẫu vào dung dịch nước, tuyến trùng đã hiện diện với mật số rất cao trong dung dịch nước

(hình 3) Mật số A.besseyi trích được ở bông nở, bông búp, nụ có triệu chứng, nụ

không có triệu chứng lần lượt là: 383 con/bông, 587 con/bông, 60 con/bông, 75 con/bông (kết quả bảng 2) Sau đó mật số đã giảm dần cho đến 96 giờ thì tuyến trùng ở tất cả các loại bông đều ra hết

Việc tuyến trùng A.besseyi ra khỏi mẫu trích một cách nhanh chóng

như vậy, cũng có thể khẳng định rằng tuyến trùng ký sinh trên cây huệ chủ yếu là

ngoại ký sinh Yoshii và Yamamoto (1950), cũng nhận thấy trên lúa A besseyi là

một loại ngoại ký sinh ở những lá non còn cuốn thành ống ở các giai đoạn đầu của cây lúa

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w