1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát sự HÌNH THÀNH mầm HOA THEO sự PHÁT TRIỂN CHỒI ở MAI VÀNG ẢNH HƯỞNG GIBBERELLIC ACID lên sự nở HOA TRÊN MAI GIẢO và ẢNH HƯỞNG của THIOUREA lên sự RỤNG lá của MAI VÀNG, MAI GIẢO

81 289 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ NGUYỄN VĂN ĐẠI KHẢO SÁT SỰ HÌNH THÀNH MẦM HOA THEO SỰ PHÁT TRIỂN CHỒI Ở MAI

Trang 1

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

NGUYỄN VĂN ĐẠI

KHẢO SÁT SỰ HÌNH THÀNH MẦM HOA THEO SỰ

PHÁT TRIỂN CHỒI Ở MAI VÀNG (Ochna integerrima)

NỞ HOA TRÊN MAI GIẢO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THIOUREA LÊN SỰ RỤNG LÁ CỦA MAI VÀNG, MAI GIẢO

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT

Cần Thơ 2008

Trang 2

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

NGUYỄN VĂN ĐẠI

KHẢO SÁT SỰ HÌNH THÀNH MẦM HOA THEO SỰ

PHÁT TRIỂN CHỒI Ở MAI VÀNG (Ochna integerrima)

NỞ HOA TRÊN MAI GIẢO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THIOUREA LÊN SỰ RỤNG LÁ

CỦA MAI VÀNG, MAI GIẢO

Giáo viên hướng dẫn

TS Trần Văn Hâu

Trang 3

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Luận văn kỹ sư Trồng trọt

ĐỀ TÀI

KHẢO SÁT SỰ HÌNH THÀNH MẦM HOA THEO SỰ

PHÁT TRIỂN CHỒI Ở MAI VÀNG (Ochna integerrima)

NỞ HOA TRÊN MAI GIẢO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THIOUREA LÊN SỰ RỤNG LÁ

CỦA MAI VÀNG, MAI GIẢO

Do sinh viên Nguyễn văn Đại thực hiện

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Trang 4

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn kỹ sư nông nghiệp với đề tài:

“KHẢO SÁT SỰ HÌNH THÀNH MẦM HOA THEO SỰ PHÁT TRIỂN CHỒI

Ở MAI VÀNG (Ochna integerrima) ẢNH HƯỞNG GIBBERELLIC ACID (GA3 ) LÊN SỰ NỞ HOA TRÊN MAI GIẢO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THIOUREA LÊN

SỰ RỤNG LÁ CỦA MAI VÀNG, MAI GIẢO.“

Do sinh viên Nguyễn Văn Đại thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Luận văn tốt nghiệp đã được Hội đồng đánh giá ở mức

Cần Thơ, ngày…….tháng…….năm 2008

Chủ tịch hội đồng

Trang 5

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Ngày…….tháng…….năm 2008

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Văn Đại

Trang 6

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI CẢM TẠ Kính dâng Cha Mẹ

Lòng nhớ ơn nuôi dưỡng suốt đời, tận tụy vì sự nghiệp tương lai của con, sự thành công hôm nay không thể thiếu sự hy sinh, chia sẻ và động viên của cha, mẹ tôi

Trang 7

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Họ và tên: Nguyễn văn Đại

Ngày sinh: 15/07/1982

Nơi sinh: ẤP Bắc Sơn – Núi Sập – Thoại Sơn – An Giang

Là con ông Nguyễn Văn Thọ và bà Huỳnh Thị Như

Đã tốt nghiệp năm 1999 - 2000 tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Văn Thoại Năm 2004 – 2008 học tại Trường Đại học Cần Thơ, thuộc Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, lớp Trồng Trọt khóa 30

Tốt nghiệp Đại học năm 2008

Trang 8

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TÓM LƯỢC

Đề tài được thực hiện nhằm mục đích xác định một số yếu tố có liên quan đến sự hình thành mầm hoa mai Vàng Đồng thời đánh giá hiệu quả kích thích lá rụng của Thiourea trên mai Vàng, mai Giảo và hiệu quả GA3 lên sự nở hoa tập trung trên mai Giảo trong điều kiện khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long Hai thí nghiệm trên mai Vàng được thực hiện trên cây mai ở nhiều độ khác nhau được trồng dưới đất ở Trại Thực Nghiệm Cây Trồng, Trường Đại Học Cần Thơ và trồng trong chậu ở vườn mai tại thành phố Cần Thơ Hai thí nghiệm trên mai Giảo được thực hiện cùng độ tuổi, cành ghép được 1-2 năm tuổi và được trồng trong chậu tại vườn mai thành phố Cần Thơ Lá ở 75 ngày tuổi thì lấy mẫu đầu tiên, ghi nhận màu lá Mẫu được cắt bằng máy cắt vi mẫu và mầm hoa được theo dõi dưới kính hiển vi Số lá rụng trên mai Vàng, mai Giảo được quan sát sau khi phun Thiourea Số hoa nở được theo dõi sau khi phun

GA3 10 ngày Kết quả cho thấy chồi đủ khả năng xuất hiện mầm hoa khi chồi đạt được

75 ngày tuổi và màu lá có màu xanh đậm Mầm hoa phát triển rõ rệt khi tuổi chồi được

150 ngày tuổi, đỉnh mầm hoa kéo dài, có sự chênh lệch giữa chiều dài, rộng mầm hoa

Ở tuổi chồi 75 ngày tuổi và lá có màu đỏ, xanh nhạt thì chưa đáp ứng sự khởi phát mầm hoa Mầm hoa nhú ra ngoài ở 135 ngày Thiourea (2%) có tác dụng làm rụng lá mai Vàng, mai Giảo và sau 5 ngày xử lý Thiourea có tỉ lệ lá rụng đạt gần 100% Các lá rụng là những lá trưởng thành (màu xanh đậm) Thiourea không ảnh hưởng đến kích thước nụ, bông mai, sự nở hoa và phát triển của cây, mặc dù gây rụng lá và cháy lá non Có thể áp dụng quy trình xử lý lá rụng cho mai Vàng, mai Giảo ở đồng bằng sông Cửu Long bằng cách phun Thiourea với nồng độ 2% trước rằm tháng chạp 5 ngày Việc sử dụng GA3 kích thích hoa nở tập trung hơn bằng cách phun vào nụ liên tiếp 10 ngày (mỗi ngày phun 1 lần) GA3 (40 ppm) có tác dụng phá miên trạng mầm hoa, kích thích sự ra hoa tập trung, sau 3 ngày kể từ khi phun thì tỉ lệ nở gần 100% Khi xử lý

GA3 không thấy ảnh hưởng đến đến kích thước nụ, bông và sự phát triển của cây Có thể áp dụng quy trình xử lý ra hoa tập trung cho mai Giảo ở đồng bằng sông Cửu Long bằng cách phun GA3 với nồng độ 40 ppm trước tết 10 ngày

Cần tiếp tục khảo sát sự hình thành mầm hoa theo sự phát triển của tuổi chồi, tìm

Trang 9

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nghiệm xử lý GA3 trên nụ mai Giảo để tìm ra đúng nồng độ và giúp bông nở tập trung hơn, để có kết luận chắc chắn hơn

Trang 10

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan iv

Lời cảm tạ v

Lý lịch cá nhân vi

Tóm lược vii

Mục lục ix

Danh sách bảng xiii

Danh sách hình xiv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 2

1.1.1 Đặc diểm sinh học 2

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 2

* Đất đai 2

* Khí hậu 2

* Ánh sáng 3

* Nước 3

* Gió 4

* Dinh dưỡng 4

1.2 ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA MAI VÀNG 4

1.2.1 Rễ 4

1.2.2 Thân 4

1.2.3 Lá 5

1.2.4 Hoa 5

1.2.5 Trái và hạt 5

1.3 PHÂN LOẠI 5

1.3.1 Mai vàng thường 6

Trang 11

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.3.3 Mai vàng khác 6

1.4 KỸ THUẬT TRỒNG CÂY MAI VÀNG 6

1.4.1 Phương pháp nhân giống 6

* Phương pháp nhân giống hữu tính 6

* Phương pháp nhân giống vô tính 7

1.4.2 Đất trồng 8

1.5 KỸ THUẬT CHĂM SÓC 8

1.5.1 Tưới nước 8

1.5.2 Bón phân 8

1.5.3 Tỉa cành và tạo tán 9

1.5.4 Một số sâu bệnh chủ yếu 10

* Sâu đục thân 10

* Bọ trĩ (bù lạch) 10

* Nhện đỏ (Panonychus) 10

* Rệp sáp (Icerya.sp – Pseudococidae) 11

* Rầy đen, rầy bông 11

* Bệnh nấm hồng 11

* Bệnh cháy lá 11

* Bệnh thán thư 11

* Bệnh rỉ sắt 12

* Bệnh đốm rong 12

1.6 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HOA 12

1.6.1 Nguồn gốc và sự hình thành hoa 12

1.6.2 Cảm ứng của sự ra hoa 13

1.6.3 Sự tượng hoa 14

1.6.4 Tăng trưởng hoa 15

1.7 CÁC YẾU TỐ KIỂM SOÁT SỰ RA HOA 16

1.7.1 Yếu tố nội sinh 16

* Tuổi cây 16

* Số lá tối thiểu 16

* Không đủ diện tích lá 17

Trang 12

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

* Tỉ lệ không thích hợp giữa những lá non và lá trưởng thành 18

* Tính không nhạy cảm của lá với ngày dài 18

* Ảnh hưởng của hệ thống rễ 18

* Sự không nhạy cảm của mô phân sinh với chất thúc đẩy sự ra hoa 19

* Tỷ số C/N 20

1.7.2 Yếu tố môi trường 20

* Nhiệt độ 20

* Sự khô hạn 20

1.8 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG SỰ RA HOA 21

1.9 SỰ PHÂN HOÁ VÀ KÍCH THÍCH RA HOA 22

1.10 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC VẬT 22

1.10.1 Gibberellin (GA) 22

1.10.2 Thiourea 24

1.11 ĐIỀU KHIỂN MAI RA HOA ĐÚNG NGÀY TẾT 25

Chương II: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 27

2.1 VẬT LIỆU 27

2.1.1 Cây mai Vàng, mai Giảo 27

2.1.2 Hoá chất kích thích rụng lá và hoa nở tập trung và dụng cụ thí nghiệm 27

2.2 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 27

2.2.1 Số liệu khí tượng 27

2.2.1 Nách lá 27

2.2.3 Cắt mẫu 28

2.2.4 Chiều dài chồi, số lá, chồi bên và màu sắc lá 28

2.3 NỘI DUNG THÍ NGHIỆM 28

2.3.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát mầm hoa qua các giai đoạn của tuổi chồi từ sau khi nhú đọt đến khi xuất hiện mầm hoa và phát triển thành nụ mai Vàng 28

2.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của Thiourea lên sự rụng lá mai Vàng 29

2.2.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của Thiourea lên sự rụng lá mai Giảo 29

2.2.4 Thí nghiệm 4: Khảo sát ảnh hưởng của Gibberellic acid (GA3) lên sự nở hoa mai Giảo 29

Trang 13

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT 30

3.2 KHẢO SÁT MẦM HOA QUA CÁC GIAI ĐOẠN CỦA TUỔI CHỒI TỪ SAU KHI NHÚ ĐỌT ĐẾN KHI XUẤT HIỆN MẦM HOA VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH NỤ MAI VÀNG 31

3.2.1 Sự xuất hiện mầm hoa theo tuổi chồi, màu lá và mầm hoa nhú ra bên ngoài 31 3.2.2 Sự xuất hiện mầm hoa theo chiều dài chồi, chồi cấp 1 và số lá 34

* Sự phát triển của chiều dài chồi 34

* Sự phát triển của lá 35

* Quá trình hình thành và phát triển của chồi cấp 1 36

3.3 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NỒNG ĐỘ THIOUREA LÊN SỰ RỤNG LÁ MAI VÀNG 36

3.3.1 Sự rụng lá 36

3.3.2 Đặc tính hoa 39

3.4 ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ THIOUREA LÊN SỰ RỤNG LÁ MAI GIẢO 41 3.4.1 Sự rụng lá 41

3.4.2 Đặc tính hoa 43

3.5 KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦ GIBBERELLIC ACID (GA3) LÊN SỰ NỞ HOA MAI GIẢO 45

3.5.1 Sự trổ hoa 45

3.5.2 Đặc tính hoa 47

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

4.1 Kết luận 49

4.2 Đề nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ CHƯƠNG

Trang 14

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Sự tăng trưởng chồi thứ cấp, màu lá mai Vàng

Kích thước búp và cánh hoa mai Vàng trên 4 nồng độ Thiourea khác nhau tại Cần Thơ

Kích thước búp và cánh hoa mai Giảo trên 4 nồng độ Thiourea khác nhau tại Cần Thơ

Kích thước nụ, cánh mai sau khi xử lý GA3 ở các nộng độ 0 ppm,

5 ppm, 10 ppm, 20 ppm và 40 ppm sau khi phun liên tục GA3 10 ngày tại Cần Thơ

Trang 15

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Số liệu khí tượng tại Trạm khí tượng Cần Thơ từ tháng từ 11/2007

- 3/2008 a) Nhiệt độ tối cao, tối thấp và trung bình hành tháng; b) Lượng mưa và ẩm độ tương đối của không khí trung bình hàng tháng

Nách lá cắt dọc của mai Vàng ở tuổi chồi 75 và 150 ngày tuổi (a):

chồi 75 ngày tuổi (lá có màu xanh đậm); (b): 150 ngày tuổi (lá có màu xanh đậm)

Sự gia tăng kích thước mầm hoa theo thời gian của mai Vàng

Sự thay đổi màu lá của mai vàng (a) màu đỏ; (b) xanh nhạt; (c) đạt đến màu xanh đậm khi tuổi chồi 75 ngày

Sự phát triển chiều dài chồi (cm) ở từng cơi đọt và của cả cơi đọt

Sự phát triển của lá theo từng cơi đọt và cả cơi đọt

Sự thay đổi màu lá mai Vàng từ lúc ra chồi đến hình thành từng cơi đọt (a): màu lá khi chồi nhú ra ngoài; (b): màu lá đang phát triển;

(c): màu lá ở tuổi thành thục

Tỉ lệ (%) và thời gian (ngày) rụng lá mai Vàng có xử lý Thiourea ở các nồng độ: 0%, 1,5%, 1,75%, 2%

(a) màu lá mai xử lý Thiourea (xanh đậm); (b) lá non (xanh nhạt)

(a) lá có hiện tượng héo lá; (b) lá rụng sau sau khi xử lý Thiourea

(a) kích thước cánh mai lúc nở; (b) kích thước nụ sau khi phun Thiourea

Tổng số lá rụng sau khi xử lý Thiourea ở các nồng độ khác nhau trên mai Vàng tại Cần Thơ

Tỉ lệ rụng lá mai Giảo sau khi phun Thiourea ở các nồng độ khác nhau tại Cần Thơ

Lá có hiện tượng héo lá trước khi rụng

Trang 16

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

(a) kích thước cánh; (b) kích thước nụ khi xử lý GA3

Tổng số hoa nở sau khi xử lý GA3 trên mai Giảo tại Cần Thơ

Trang 17

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỞ ĐẦU

Hoa cảnh là một trong những thú vui cũng như là niềm đam mê đối với những người yêu thích Hàng năm, gần đến tết cổ truyền dân tộc thì các nhà vườn trồng hoa cảnh rất tấp nập và bận rộn với công việc của mình, đặc biệt là những nhà vườn trồng mai Theo quan niệm của người xưa thì chưng mai vào dịp tết sẽ đem lại sự may mắn cho năm mới Cho nên, cây mai không thể thiếu vào ba ngày tết Từ đó, những nhà vườn trồng mai họ tính toán rất cẩn thận từ khâu sang chậu, tháo dây quấn và điều quan trọng là chăm sóc, canh thời gian lặt lá mai để hình thành nụ, cho mai nở đúng vào dịp tết Tuy nhiên, những năm thời tiết không thuận lợi thì mai trổ sớm hơn hoặc lặt lá rồi mà chậm nở hoa, có những trường hợp nụ ngủ dẫn đến không thể nở hoa nên

đã gây thất thu lớn cho các chủ vườn

Đối với những chủ vườn lớn thì việc lặt lá mai vẫn theo truyền thống thủ công

là lặt bằng tay, rất tốn công và thời gian, chưa từng sử dụng bất kỳ hóa chất để làm rụng lá mai cũng như chưa có kinh nghiệm trong việc thúc cho phân hóa mầm hoa và kích thích mai ra hoa đồng loạt

Vì vậy, đề tài: “Khảo sát sự hình thành mầm hoa theo sự phát triển tuổi chồi

trên mai Vàng (Ochna integerrima), Gibberellic acid (GA 3) lên sự nở hoa mai Giảo

và ảnh hưởng Thiourea lên sự rụng lá của hai loại mai”. Được thực hiện nhằm xác định giai đoạn tượng mầm hoa và thời gian phân hóa mầm hoa để thuận tiện cho việc quản lý mai ra hoa, đồng thời tìm ra nồng độ thích hợp của GA3 lên sự nở hoa và Thiourea lên sự rụng lá mà không ảnh hưởng đến sự hình thành mầm, nụ, sự nở hoa và

sự sinh trưởng của mai Để giúp điều khiển mai nở hoa vào đúng trong những ngày đầu năm mới

Trang 18

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1.1.1 Đặc điểm sinh học

Cây mai có tên khoa học Ochna integerrima (Lour) Merr, thuộc họ Ochnaceae

(Thái Văn Thiện, 2007) Mai vàng còn gọi là Huỳnh mai, là cây đa niên có thể sống trên 100 năm, gốc to rễ lồi lõm, thân xù xì, cành nhánh nhiều, lá mọc xen (Huỳnh Văn Thới, 2005), chiều cao có thể từ 3 - 8 m, lá đơn, mép lá có răng cưa, màu xanh bóng, cụm hoa màu vàng mọc thành chùm ở nách lá, cuống hoa ngắn, lá đài thường năm cánh có màu xanh nhạt bóng, số lượng cánh hoa dao động từ 5 - 9 cánh màu vàng Đế hoa có nhiều khía, có từ 5 - 10 múi, mỗi múi một noãn, hột lúc nhỏ màu xanh khi chín chuyển sang màu đen Trong tự nhiên nó rụng lá khi nhiệt độ xuống thấp và ra hoa vào mùa xuân khi tiết trời ấm áp Mai vàng mọc hoang dại nhiều nơi, kể từ Huế trở vào Nam (Thái Văn Thiện, 2007)

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

* Đất đai

Cây mai dễ trồng, dễ sống (Việt Chương và Phúc Quyên, 2005) Cây mai vàng không kén đất: đất cát, đất thịt, đất pha sét , nhưng thích hợp nhất vẫn là đất phù sa ven sông, độ pH thích hợp 5,5 - 7, cây mai vẫn chịu được đất có độ phèn nhẹ (Thái Văn Thiện, 2007), ở những chỗ đất xốp thoát nước tốt thì nó sinh trưởng mạnh (Nguyễn Văn Hai, 2007) Ở những vùng đất cao rễ cọc phát triển nhiều hơn trong khi

đó đất có mực nước ngầm cao và giàu chất hữu cơ thì rễ cám phát triển nhiều hơn (Thái Văn Thiện, 2007)

* Khí hậu

Cây mai vàng có khả năng sống tốt từ các vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt

Trang 19

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nhiệt độ từ 25 - 30oC là tốt nhất Cây mai có thể sống được ở môi trường khắc nghiệt trên 300C nhưng nhiệt độ dưới 100C thì cây sinh trưởng kém (Việt Chương và Phúc Quyên, 2005), nếu ở nhiệt độ cao cây mai dễ bị cháy lá, lá mau già và rụng sớm, cây phát triển chậm lại nhưng vẫn chịu được 2 - 3 tháng Cây mai chịu hạn cũng tương đối tốt Ở giai đoạn có nụ nếu nhiệt độ thấp dưới 150C thì cây có hiện tượng kéo dài thời gian nở hoa (Thái Văn Thiện, 2007)

Mai vàng có khả năng thích nghi từ nơi đất có độ ẩm quanh năm và những nơi khô cằn của dãy đất miền Trung Nhưng không thích nghi với nơi ngập úng kéo dài thường xuyên (Nguyễn Văn Hai, 2007) Thích hợp môi trường nhiều nắng và đất luôn

ẩm (Vương Trung Hiếu, 2006)

* Ánh sáng

Ánh sáng là yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của mai vàng (Nguyễn Văn Hai, 2007) Theo Thái Văn Thiện (2007), cây mai là loại cây ưa nắng, ưa sáng suốt ngày, ở nơi đầy đủ ánh sáng suốt cả ngày cây sinh trưởng và phát triển tốt, cây hình thành nhiều nụ hoa hơn

Cây mai ưa nắng, số giờ nắng trong năm trên dưới 2.000 giờ tại Nam Bộ rất thích hợp với cây mai (Việt Chương và Phúc Quyên, 2005) Số giờ nắng trong năm dưới 1.600 giờ không thích hợp với cây mai (Hà Thiện Thuyên, 2007) Cây mai sinh trưởng

và phát triển mạnh ánh sáng thích hợp 6 - 8 giờ mỗi ngày (Nguyễn Văn Hai, 2007) Nếu thời gian chiếu sáng ít hơn 1.000 giờ/năm cây mai sẽ hình thành nụ kém, cành lá phát triển yếu ớt (Thái Văn Thiện, 2007)

* Nước

Mùa mưa giúp cho mai sinh trưởng tốt, mùa mai thay lá và trổ hoa nếu trùng với mùa nắng ấm rất thích hợp với mai Cây mai thích hợp với những vùng đất có hai mùa mưa và nắng rõ rệt (Việt Chương và Phúc Quyên, 2005) Cây mai chịu hạn rất tốt có thể sinh trưởng phát triển ở nhiều vùng có lượng mưa khác nhau, tuy nhiên ở những vùng có lượng mưa nhiều và ẩm độ không khí cao cây sinh trưởng tốt hơn, lượng nước

Trang 20

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

dao động 1.200 - 2.500 mm/năm (Thái Văn Thiện, 2007) Chính vì vậy, ở miền Nam nước ta rất thích hợp với sự phát triển của cây mai

Gió

Tốc độ gió vừa phải, lưu thông không khí, điều hòa ẩm độ, giảm sâu bệnh, cây sinh trưởng tốt Tuy nhiên tốc độ gió lớn ảnh hưởng đến khả năng đồng hóa của cây,

gây gãy cành rụng quả (Trần thế Tục và ctv., 1998)

Cây mai thích hợp với vùng có gió nhẹ sức gió từ 2 - 3 m/giây là vừa Đến mùa cây ra hoa, nếu gặp gió lớn sẽ làm hoa nhỏ, chậm phát triển, rụng nhiều (Hà Thiện Thuyên, 2007) Gió lớn thường xuyên làm cho cây khô héo (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)

* Dinh dưỡng

Bón phân hữu cơ giúp mai vàng có tốc độ sinh trưởng ổn định, ít bị rụng lá cội sớm và đặc biệt là ít trổ hoa nhiều một cách đột ngột vào những tháng cuối năm (Nguyễn Văn Hai, 2007) Dùng NPK pha loãng với nước (Hà Thiện Thuyên, 2007)

1.2 ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA MAI VÀNG

1.2.1 Rễ

Rễ mai thuộc loại rễ trụ, cứng, giòn nhiều rễ phụ, có rễ cái khá dài, cây già rễ cái dài hơn một mét (Hà Thiện Thuyên, 2007) Nếu trồng ở cao như đồi núi thì rễ có khả năng ăn rất sâu (Thái Văn Thiện, 2007)

1.2.2 Thân

Thân gỗ đa niên xù xì, cành nhánh nhiều, thân mai rất cứng nhưng có độ dẻo nên

có thể uốn sữa cành, nhánh theo ý muốn (Huỳnh Văn Thới, 2005)

Trang 21

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.2.3 Lá

Mai có lá đơn mọc cách Phiến lá mỏng hình bầu dục, không có lông, có 8 - 10 cặp răng phụ, bìa lá có răng thấp (Phạm Hoàng Hộ, 1994) Kích thước lá thay đổi theo giống và điều kiện dinh dưỡng Khi còn non lá có màu đỏ nâu, khi trưởng thành

chuyển sang màu xanh có nhiệm vụ quang hợp (Thái Đàm Minh Thư, 2002)

Mỗi hoa có 5 lá đài màu xanh, có một hay nhiều lớp cánh màu vàng (Đặng Phương Trâm, 1999) Ở giữa là một chùm nhụy mang phấn màu vàng đậm hơn (Huỳnh Văn Thới, 2005)

1.2.5 Trái và hạt

Sau khi thụ tinh xong phần tiểu noãn hình thành hạt và bầu noãn hình thành trái (Thái Đàm Minh Thư, 2002) Hạt non màu xanh, hạt già màu đen, hạt chín rụng xuống đất mọc lên cây con (Huỳnh Văn Thới, 2005) Hạt mai nhỏ, hình bầu dục khi già thì chuyển từ màu xanh sang màu đen, hạt nảy mầm tốt (Đặng Phương Trâm, 2005)

1.3 PHÂN LOẠI

Cây mai vàng có nhiều loại rất đa dạng Các giống mai được phân biệt dựa vào nguồn gốc, màu sắc, kích thước và cấu trúc hoa (Huỳnh Văn Thới, 2002 và Đặng Phương Trâm, 2005)

Theo Huỳnh Văn Thới (2005), thì cây mai vàng có thể phân loại như sau:

Trang 22

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.3.1 Mai vàng thường

Mai vàng 5 cánh, mai sẻ, mai châu, mai liễu, mai chùm gởi, mai thơm, mai hương, mai ngự, mai cánh nhọn, mai cánh tròn, mai cánh dún, mai rừng Cà Ná, mai rừng Bình Châu, mai Vĩnh Hảo, mai chủy Hóc Môn, mai lá quắn, mai vàng lá trắng,…

1.3.2 Mai vàng nhiều cánh

Mai 9 cánh, mai giảo 12 cánh Thủ Đức, mai 12 cánh Bến Tre, mai 18 cánh Bến Tranh, mai 12 - 14 Tư Giỏi, mai 24 cánh Cửu Long, mai cúc 24 cánh Thủ Đức, mai 32 cánh Ba Bi, mai 24 cánh Huỳnh Tỷ, mai 24 cánh Chín Đợi, mai 48 cánh Gò Đen, mai

1.4 KỸ THUẬT TRỒNG CÂY MAI VÀNG

1.4.1 Phương pháp nhân giống

Có hai phương pháp nhân giống: nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính

* Phương pháp nhân giống hữu tính

Đây là cách trồng mai bằng hột Phương pháp này được ông cha ta áp dụng từ mấy trăm năm trước và ngày nay vẫn còn một số đông người áp dụng (Hà Thiện Thuyên, 2007) Chọn hột giống trên những hoa nở vào dịp tết, gieo ngay khi còn tươi (Đặng Phương Trâm, 2005)

Trang 23

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Hột mai khi đã già đem gieo lên liếp có tỉ lệ nảy mầm rất cao Hoa trổ bao nhiêu cánh thì có bấy nhiêu hột (Việt Chương và Phúc Quyên, 2005) Ưu điểm của phương pháp này là tạo được số lượng mai con một cách dễ dàng, không tốn kém, nhưng thường không mang những đặc tính tốt của cây mai mẹ, hoa có thể đột biến như nhỏ hơn, ít cánh hơn, có khi màu sắc cũng không giống (Hà Thiện Thuyên, 2007)

Nhân giống hữu tính tuy không có nhiều điểm nổi bật hơn nhân giống vô tính nhưng vẫn còn được sử dụng rộng rãi để tạo nên các gốc ghép (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007) Hột mai có khả năng nảy mầm tốt, mười hột có thể lên cây đến tám, chín hột (Hà Thiện Thuyên, 2007) Chọn hột mai già màu đen tuyền trên những cây mai đẹp, gieo hạt nơi đất không bị ngập úng nước thường xuyên, ánh sáng đầy đủ, nên gieo từng hột, đặt gốc hột (nơi gắn vào đế hoa) xuống phía dưới sâu khoảng 0,5 cm vừa kín hột, gieo thẳng hàng với mật độ 5 x 6 cm, gieo theo cách này

bộ rễ mai sẽ phát triển đều và mạnh, dễ tạo dáng (Đặng Phương Trâm, 2005 và Nguyễn Văn Hai, 2007)

* Phương pháp nhân giống vô tính

Đây là cách trồng mai bằng phương pháp giâm cành, chiết cành và tháp ghép cành Trong phương pháp ghép cành lại có nhiều cách ghép tương đối đơn giản và phù hợp với từng cây mai như ghép áp, ghép chẻ ngọn, ghép mắt, ghép chồi non, ghép xuyên thân,…Cây mai nhân giống bằng phương pháp vô tính tuy sản xuất số lượng không đại trà, nhưng có ưu điểm là cây con giữ được trọn vẹn những đặc tính tốt của cây mai mẹ (Hà Thiện Thuyên, 2007; Việt Chương và Phúc Quyên, 2005)

Tuy nhiên, mai là cây rất khó ra rễ bất định hoặc ra với tỉ lệ rất thấp, rễ phát triển cũng kém nên cây mai chiết hay giâm cành không được tốt bằng cây mai trồng bằng hạt do đó người ta ít thực hiện phương pháp nhân giống này mà tiến hành ghép (Đặng Phương Trâm, 2005)

Nhân giống vô tính được thực hiện theo kiểu thủ công nên mất nhiều thời gian, công chăm sóc và bộ rễ cây mai con tạo ra không thích hợp cho việc uốn tỉa sau này (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007) Nhân giống vô tính dù bằng hình thức nào cũng nên tiến hành vào đầu mùa mưa, khi tiết trời mát mẽ, vừa nhẹ công tưới lại dễ thành công (Hà Thiện Thuyên, 2007)

Trang 24

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.4.2 Đất trồng

Đất trồng cây mai bao gồm: 70% đất thịt (đất thịt đi lấy ngay từ chỗ bứng cây mai đem về trồng), đất phù sa ở miền Tây là tốt nhất, 10% đất cát, 10% xơ dừa mục, 10% phân hữu cơ thật hoai Điều quan trọng là đất phải tơi xốp (Huỳnh Văn Thới, 2005)

1.5 KỸ THUẬT CHĂM SÓC

Nếu trồng cây vào chậu khi nó còn non, khoảng hai năm thay chậu và đất một lần Còn khi cây đã trưởng thành thì ba năm thực hiện công việc này một lần, việc thay chậu và đất nên thực hiện vào mùa xuân nếu có bốn mùa, còn nếu chỉ có hai mùa thì nên thay chậu vào mùa mưa, tránh thay vào mùa khô (Vương Trung Hiếu, 2006)

1.5.1 Tưới nước

Nước rất quan trọng đối với cây mai, thiếu nước cây mai khô héo và rụng lá, mà

hễ rụng lá là cây sẽ trổ hoa sớm (Huỳnh Văn Thới, 2005) Nước tưới phải không phèn, không mặn Nếu tưới bằng nước máy có chứa nhiều chất “Clor” thì hứng dự trữ một ngày cho bay hết Clor mới tưới (Huỳnh Văn Thới, 2005)

Không tưới lúc giữa trưa khi trời đang nắng gắt, khi tưới phải tưới từ từ cho nước thấm đều vào chậu (Huỳnh Văn thới, 2005; Việt Chương và Phúc Quyên, 2005) Vào mùa nắng hạn, nên tưới đủ hai lần trong ngày: sáng và chiều (Việt Chương

và Phúc Quyên, 2005)

Đối với mai trồng chậu cần tưới hai lần mỗi ngày, nên tưới từ từ và đều khắp đất trong chậu (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007) Nguồn nước tưới phải đảm bảo độ pH thay đổi trong khoảng 5,5 đến 6,5, để dễ hòa tan phân bón (Nguyễn Văn Hai, 2007)

1.5.2 Bón phân

Phân lân rất cần cho sự phân hóa mầm hoa, thiếu lân dẫn đến cành lá sinh trưởng

Trang 25

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

triển cành lá, sự hình thành các cơi đọt, số lá trên cành ảnh hưởng đến đến tỉ lệ đậu

trái, sự phát triển trái, trọng lượng trái và năng suất (Trần thế Tục và ctv., 1998)

Phân hóa học có tác dụng nhanh về mặt nên bón thúc một năm hai lần, trước và sau mùa mưa (Hà Thiện Thuyên, 2007)

Cần bón phân thường xuyên theo định kỳ Theo Việt Chương và Phúc Quyên (2005), thì có ba cách bón phân thúc như sau:

 Dùng loại phân bón dạng bột hay dạng viên bón vào đất

 Dùng phân nước rưới lên đất chậu

 Bón phân qua lá

Theo Hà Thiện Thuyên (2007), nhà vườn bón phân cho mai kiểng trồng trong chậu, thường dùng hỗn hợp:

+ 80% đất thịt tươi nhuyễn và 20% phân hữu cơ

+ 70% đất thịt tơi nhuyễn và 30% phân hữu cơ trộn với tro trấu

Lượng phân và đất này nên trộn trước vài ba ngày, sau đó mới cho vào chậu trồng Không nên bón phân khi cây đang tạo nụ hay đang ra hoa kết trái, vì như thế chúng sẽ bị rụng hoặc cháy

Cây mai rất hợp với phân hữu cơ Do đó khi thay đất mới trong chậu nên trộn đất với khoảng 1/3 hoặc 1/4 phân chuồng hoai mục, cây mai thích hợp với phân chuồng và phân bổi (phân rác mục) kế đó là phân bánh dầu Về phân vô cơ thì có DAP hoặc Urea, (Hà Thiện Thuyên, 2007) Đối với phân bánh dầu thì mỗi lần bón chỉ cần khoảng 200 gram “bánh dầu miếng” (Huỳnh Văn Thới, 2005)

Trong việc trồng mai nên xem phân hữu cơ là loại phân chính còn phân vô cơ nên xem là phụ chỉ bón kết hợp ít thôi, cây mai có tán lá với đường kính tán khoảng 30 cm

và chiều cao tán 50 cm, trong bốn tháng đầu cần khoảng 200 gram phân hữu cơ hoai mục, 20 gram NPK 20-20-15 bón cách khoảng 2 - 3 lần (Nguyễn Văn Hai, 2007)

Trang 26

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

bằng cách cắt mặt nguyệt, cắt phía trên để điều khiển mầm hướng thẳng lên, cắt phía dưới để điều khiển mầm hướng ngang (Phạm Văn Côn, 2003 )

1.5.4 Một số sâu bệnh chủ yếu

* Sâu đục thân

Sâu này chỉ đục một lỗ vào thân, ăn ruồng tới đâu cây chết tới đó Do đó khi thấy cây mai chết tới héo tàn lá, là phải tìm chỗ nào sâu đục vào thân cây, lấy dao mũi nhọn khoét theo dấu sâu ăn mà bắt giết hoặc đổ thuốc trừ sâu vào (Huỳnh Văn Thới, 2005)

* Bọ trĩ (bù lạch) (Scirtothrips dorsalis)

Đây là đối tượng phá hại nguy hiểm nhất Bọ trĩ sinh sôi nẩy nở trong điều kiện khô và nóng Con trưởng thành có màu đen nhỏ như sợi tóc, dài khoảng 1 - 1,5 mm, con non có màu vàng ngà Chúng đẻ trứng vào các mô non của chồi, con non sau nở

nó cạp trầy mặt dưới các lá non và hút nhựa, làm lá non bị quăn queo (nặng hơn sẽ rụng luôn) (Nguyễn Văn Hai, 2007), còn các chồi non bị khô không phát triển được

(Chu Thị Thơm và ctv., 2005) Khi thấy cây mai vừa nhú chồi từ trong thân, cành và

đầu đọt lá phải phun thuốc ngừa trước Khi chồi ra dài và có 4 - 5 lá lại phun thêm một lần nữa Nên sử dụng luân phiên các loại thuốc để chống kháng thuốc (Nguyễn Văn Hai, 2007)

* Nhện đỏ (Panonychus) Các loại sâu bệnh quan trọng theo (Nguyễn Thị Thu Cúc

và Trần Văn Hai, 2006)

 Nhện đỏ thường làm tổ và chích hút mặt trên của những lá mai gần già, làm cho

lá mai bị hư bề mặt không quang hợp được Trên lá vết cạp, hút để lại những chấm nhỏ

li ti trên mặt lá Lá bị hại có thể khô dính lại trên cây trong một thời gian dài sau đó Nên kiểm tra vườn cây thường xuyên để phát hiện sớm các tác nhân gây ra bệnh khi chúng mới xuất hiện ở mức độ nhẹ, mật độ thấp, và phun xịt thuốc diệt trừ kịp thời

 Đối với nhện có thể dùng luân phiên các lọai thuốc như: Fenpropathrin (Danitol 10EC; Nissorun 5EC), Fipronil (Phironin 50 SC )

Trang 27

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

* Rệp sáp (Icerya.sp - Pseudococidae)

Rệp gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng, thường tụ tập hút nhựa trên cành và lá, làm cho cành khô mà chết (Trần Văn Mười và nguyễn Thanh Minh, 2007) Rệp sáp bám vào cành nhỏ hoặc chồi non để chích hút, chất thải của chúng dính vào đâu là ở đó có nấm bồ hóng (Nguyễn Văn Hai, 2007)

* Rầy đen, rầy bông

Là hai loại rầy hút nhựa đọt non Rầy đen thì ít, nhưng rầy bông thì rất nhiều, có khi đeo dày đặc cả ngọn cây mai Xịt thuốc trừ rầy hai lần một ngày cho đến khi rầy chết hết (Huỳnh Văn Thới, 2005)

* Bệnh nấm hồng

Phát triển mạnh vào những tháng nắng (khoảng tháng 3 - 6 dương lịch) Những cành khoảng 2 - 3 năm sinh trưởng yếu ớt thì dễ bị loài nấm này tấn công Những cành bệnh có những vết màu hồng nằm phía trên của cành, làm da của cành nứt nẻ Nếu thời gian bệnh kéo dài cây mai có thể chết đứng (Nguyễn Văn Hai, 2007)

* Bệnh cháy lá (Pestalozia.sp)

Đầu tiên ở chóp hoặc mép lá có vệt màu nâu hình thù bất định Chúng lan dần giữa lá và có màu xanh xám, ở phần ngoài rìa lá, màu nâu xám phần giáp với chỗ lá chưa bị chúng lan tới (Nguyễn Văn Hai, 2007) Rìa lá có hiện tượng bị khô và lan rộng

ra hết mặt lá làm lá chết khô và rụng đi (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007) Cây bị bệnh thường suy yếu, lá bị bệnh nên lặt bỏ đem tiêu hủy (Phúc Quyên và Việt Chương, 2006)

* Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporides)

Bệnh thán thư phát triển quanh năm Gây hại chủ yếu trên các lá bánh tẻ và non, phần bị bệnh khô và dúm lại, bệnh lan dần ra toàn bộ lá làm lá rụng sớm, bệnh lây lan rất nhanh kể cả cây khỏe mạnh nếu thời tiết ẩm và nóng kéo dài Lá bị bệnh nên lặt bỏ

và đem đốt ngay, cây bị bệnh nên cách ly (Nguyễn Văn Hai, 2007)

Trang 28

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

* Bệnh rỉ sắt

Bệnh rỉ sắt thường xuất hiện vào mùa mưa Bệnh gây hại chủ yếu trên lá, thường tập trung thành quần thể làm hư lá (Nguyễn Văn Hai, 2007) Khi nhiệt độ khoảng 240C

- 250C và ẩm độ 85% bệnh phát sinh và lây lan mạnh (Chu Thị Thơm và ctv., 2005)

Để trừ bệnh này ta dùng các loại thuốc có tên thương mại như: Coc Man, Anvil, Bendazol, (Nguyễn Văn Hai, 2007)

* Bệnh đốm rong (Cephaleuros viresens Kunzze)

Bệnh phát triển mạnh chủ yếu vào những tháng nắng (đặc biệt vào khoảng tháng

3 - 6 dl) Rầy xuất hiện ở những cây có tán lá rậm rạp và bám vào những nơi cành hoặc thân bị nứt nẽ, nếu kéo dài cây có thể chết vì không còn dinh dưỡng (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007) Bệnh chủ yếu xuất hiện trên mặt lá khi gặp độ

ẩm cao và thiếu ánh sáng Trên mặt lá xuất hiện những đốm màu xám xanh hơi tròn Bệnh không làm chết mô lá, nhưng làm cho lá không quang hợp được (Nguyễn Văn Hai, 2007)

1.6 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HOA

1.6.1 Nguồn gốc và sự hình thành hoa

Ra hoa là bước chuyển quan trọng trong đời sống thực vật Đây là quá trình biến đổi hình thái và sinh lý phức tạp Nhiều thực vật chỉ ra hoa khi cây đạt tuổi hay kích thước nhất định Trạng thái phát triển mà cây phải đạt được trước khi có khả năng ra hoa được hiểu một cách chung như điều kiện “chín để ra hoa” (ripeness to flower) Một khi điều kiện này đạt được, một số cây chuyển từ trạng thái dinh dưỡng sang trạng thái sinh dục xảy ra độc lập với môi trường, còn những cây khác đòi hỏi môi trường thích hợp (Trương Thị Đẹp, 1999)

Hoa là một chồi rút ngắn, sinh trưởng có hạn, có mang những lá bào tử tức là nhị đực và lá noãn Trong trường hợp điển hình có mang những lá bất thụ - đài và tràng - tạo thành bao hoa (Nguyễn Bá, 1978) Sự tạo hoa xảy ra ở mô phân sinh ngọn Đỉnh

Trang 29

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thành chồi hoa hay hình thành nên nhiều đỉnh chồi của cụm hoa Khi đó trong đỉnh chồi tổ chức lại quá trình phân chia tế bào để tạo nên các sơ khởi hoa (Trương Thị Đẹp, 1999)

Chu trình sống thực vật hiển hoa gồm hai giai đoạn: giai đoạn ấu niên và giai đoạn trưởng thành do hoa báo hiệu Đặc tính của giai đoạn ấu niên là sự tăng trưởng thường xuyên của các mô sinh chồi dinh dưỡng của chồi ngọn hay chồi nách để thay đổi kích thước tổng cộng và hình dạng cuối cùng của cây Giai đoạn trưởng thành có tín hiệu là sinh mô đỉnh không tăng trưởng nữa mà mô sinh trưởng trở thành mô sinh dục (Mai Trần ngọc Tiếng, 2002)

1.6.2 Cảm ứng của sự ra hoa

Đối với sự ra hoa của cây thì giai đoạn cảm ứng ra hoa của cây là quan trọng nhất Đây là quá trình phức tạp ảnh hưởng của nhiều nhân tố nội tại và các nhân tố ngoại cảnh chủ yếu là ánh sáng và nhiệt độ (Vũ Văn Vụ, 1999) Theo Esau (1967) (trích bởi Bùi Trang Việt, 1989), sơ khởi hoa (flower primordia) được thành lập từ ngọn chồi dinh dưỡng khi thực vật đạt tới giai đoạn trưởng thành Sau khi được thành lập, sơ khởi hoa có thể tăng trưởng nhanh chống hoặc rơi vào thời kỳ nghỉ trước khi hoa nở hoàn toàn sẵn sàng cho việc thụ phấn và thụ tinh

Sự khởi phát hoa sớm của mầm chồi nách, sự tăng tỉ lệ hình thành lá và những phần phụ khác có thể kiểu sắp xếp lá thay đổi xuất hiện như là một dấu hiệu chung nhất cho sự khởi phát hoa Sự khởi phát hoa được đặc trưng bởi sự thúc đẩy quá trình phân chia tế bào ở cả phía ngọn ngoài và ở giữa của mô phân sinh chồi Có vô số sự kiện thay đổi xảy ra ở mô phân sinh khi có sự khởi phát hoa, tuy nhiên, có sự liên hệ lẫn nhau trong các quá trình sinh học khó xác định được những thay đổi nào quyết định sự cảm ứng ra hoa và sự thay đổi nào xảy ra kèm theo mang tính ngẫu nhiên hay tình cờ Sự gợi ra hoa là kết quả sinh ra từ một chất điều hòa sinh trưởng đặc biệt nào

đó mà thúc đẩy ra hoa (Trần Văn Hâu, 2005)

Những sự kiện xảy ra ở ngọn nơi thành lập sơ khởi hoa được gọi là “sự nảy sinh hoa” hay “sự kích thích tạo hoa” (floral evocation) “Sự tượng hoa” (floral initiation) xảy ra khi một hay những tế bào non của mô phân sinh hoa bắt đầu phân cắt để cho ra

Trang 30

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tế bào tạo hoa sau này Sự tượng này sẽ cho ra “sơ khởi hoa” (Phạm Hoàng Hộ, 1967) (trích dẫn bởi Trương Thị Đẹp,1999; Thái Đàm Minh Thư, 2002)

Theo Trần Văn Hâu (2005), về sự cảm ứng ra hoa liên tục bởi những nguyên nhân độc lập nhau ở những phần khác nhau của cây Nhiều thí dụ về sự cảm ứng ra hoa từng phần cho thấy rõ rằng sự cảm ứng ra hoa không cần thiết phải hoàn tất khi

mà một phần của nó được khởi đầu và đề nghị rằng không có một sự khởi đầu riêng lẻ

mà có thể cả hệ thống chuyển động trong tất cả những sự kiện liên tục

1.6.3 Sự tượng hoa

Sự tượng hoa được biểu hiện bằng sự ngừng hoạt động của mô phân sinh dinh dưỡng, sự hoạt động của mô phân sinh hoa (Nguyễn Bá, 1978) Sự tượng hoa (floral initiation) xảy ra khi một hay những tế bào của mô phân sinh hoa bắt đầu phân cắt cho

tế bào hoa sau này Sự tượng hoa sẽ cho sơ khởi hoa (Phạm Hoàng Hộ, 1967) Thông thường là các chồi ngọn, chồi thân hoặc trên thân các tế bào hoạt động dinh dưỡng biến đổi thành các tế bào hoạt động sinh dục hình thành nên mầm nguyên thủy của hoa Các mầm nguyên thủy dần dần u lên thành các phát thể (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2004), quá trình hình thành hoa phát xuất từ phân sinh mô chồi Vùng phân sinh mô chồi sẽ phát triển thành hai vùng riêng biệt là tunica và corpus Vùng tunica phát triển thành cánh hoa và lá đài Vùng corpus

Trang 31

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.6.4 Tăng trưởng hoa

Sự phát triển hoa là giai đoạn quan trong nhất trong đời sống thực vật Vì có sự

phát triển của hoa mới có sự thụ phấn, thụ tinh, hình thành hạt, rất cần cho sự duy trì nòi giống Biểu hiện của sự phát triển hoa bắt đầu từ lúc hình thành nụ hoa và nở ra đến lúc hoa tàn Đây là những biểu hiện mà mắt thường quan sát được Phát thể của hoa khi đã hoàn thành có thể trở vào trạng thái nghỉ một thời gian khi gặp môi trường bất lợi (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Khi môi trường trở nên thuận lợi, hoa sẽ nở Trước hết là sự tăng dài của cọng hoa Sau giai đoạn tăng dài là hoa nở thật sự Lúc hoa nở thật sự các giai đoạn biến dưỡng gia tăng áp suất trương của tế bào lá đài, cánh hoa tăng làm tăng sự hấp thu nước, tăng hô hấp, tăng sự phát nhiệt, phóng thích nhiều hương thơm (Lê Văn Hòa và

ctv., 1999)

Sau khi được thành lập các sơ khởi hoa (nụ hoa) có thể tăng trưởng nhanh chóng hoặc rơi vào thời kỳ nghỉ trước khi hoa nở hoàn toàn Điều kiện cảm ứng cho tượng hoa không cần thiết giống với điều kiện cho sự phát triển của các sơ khởi hoa cho tới khi hoa nở Khi phát hoa tới giai đoạn nghỉ, nó gia tăng bề mặt của nó rất mau Phát hoa chồi ra khỏi thân, cọng hoa dài ra Đài và cánh xòe ra, các chỉ của tiểu nhụy dày hay ngay ra (Trần Văn Hâu, 2005)

Theo Bùi Trang Việt (1998), các giai đoạn của sự ra hoa được tóm tắt như sau:

- Để một chồi dinh dưỡng muốn trở thành sinh sản, thực vật cần phải đạt đến mức tối thiểu hay trưởng thành ra hoa

- Phát thể hoa thành lập trong chồi, khi chồi chuyển từ trạng thái dinh dưỡng sang trạng thái sinh sản Sự chuyển tiếp ra hoa gây nên các biến đổi sâu sắc của mô phân sinh ngọn, từ mô phân sinh sinh dưỡng thành mô phân sinh tiền hoa, dẫn tới sự tượng hoa, tức sự tượng các sơ khởi của các bộ phận hoa

- Sự chuyển tiếp ra hoa đồng thời với sự biến đổi rất rõ của bộ máy dinh dưỡng, đặc biệt là sự kéo dài lóng, như được thấy qua sự hoạt động mạnh của vùng dưới ngọn của mô phân sinh tiền hoa Sự chuyển tiếp ra hoa cần khoảng 2 - 3 ngày để dẫn tới sự tượng hoa

Trang 32

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Sự phát triển của các sơ khởi hoa nói chung xảy ra nhanh chống làm chồi phồng lên thành nụ hoa

- Khi sự tượng hoa hoàn thành, nụ hoa có thể tiếp tục tăng trưởng và nở Tuy nhiên sự ngủ có thể xảy ra sau khi tượng hoa

Sự sinh trưởng của hoa xảy ra dưới ảnh hưởng của các chất có bản chất hoocmon

mà chủ yếu là auxin nội sinh trong mầm hoa Sự sinh trưởng của hoa ban đầu thường

nhanh nhưng khi bắt đầu nở hoa thì sự sinh trưởng có chậm lại (Vũ Văn Vụ và ctv.,

1998)

Hoa thành lập từ chồi ngọn hay chồi nách qua 3 giai đoạn: (1) sự chuyển tiếp ra hoa - mô phân sinh dinh dưỡng thành mô phân sinh tiền hoa - đánh thức mô phân sinh chờ, (2) sự tượng hoa - sự sinh cơ quan hoa, sự phát triển của sơ khởi hoa làm chồi phồng lên thành nụ hoa và (3) sự tăng trưởng và nở hoa - mầm hoa vừa hình thành có thể tiếp tục tăng trưởng và nở hoa hoặc đi vào trạng thái ngủ (Bùi Trang Việt, 1998)

1.7 CÁC YẾU TỐ KIỂM SOÁT SỰ RA HOA

1.7.1 Yếu tố nội sinh

* Tuổi cây

Thời kỳ cây còn tơ (juvenile phase)

Bất chấp cây được trồng trong điều kiện như thế nào, hầu hết các cây đều trãi qua một thời gian sinh trưởng dinh dưỡng sau khi trồng Thời kỳ nầy được gọi là thời kỳ cây còn tơ Trong thời kỳ nầy cây không mẫn cảm với sự kích thích ra hoa Thời kỳ cây còn tơ thường xuất hiện trên cây thân gỗ đa niên hoặc một số ít trên trên cây thân thảo hàng niên hay nhị niên mà thời gian kéo dài từ vài ngày đến vài tháng Khi cây qua giai đoạn ‘tơ’ thì đạt đến tình trạng đủ khả năng ra hoa và sẽ mẫn cảm với điều kiện cảm ứng ra hoa (Trần Văn Hâu, 2005)

* Số lá tối thiểu

Trong một số loài cây thân thảo, số lóng mà cây đạt được như là một thước đo để

Trang 33

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

không đổi một số lóng có lá ở dưới hoa hay phát hoa đầu tiên Những quan sát nầy dẫn đến khái niệm số lá tối thiểu cần thiết để cây ra hoa Thường thường số lá thấp nhất được sản xuất khi cây không những được giữ ở dưới điều kiện tối hảo cho sự ra hoa

mà còn dưới sự thiếu dinh dưỡng cực độ Số lá tối thiểu trong một loài cây bị ảnh hưởng quang kỳ hay đòi hỏi nhiệt độ thấp thường gắn với số mầm lá hiện diện trong phôi trưởng thành Tuy nhiên, một cách không thay đổi thì một số lá tăng thêm ít nhất

là được thêm vào giữa sự bắt đầu của sự nẩy mầm và sự khởi của hoa đầu tiên (Trần Văn Hâu, 2005)

Đặc tính ra hoa sớm hay trễ đều quyết định bởi các đặc điểm di truyền Trên cây Silene, Wellensick đã phân lập từ một quần thể cây không chọn lọc được cây ra hoa sớm được quyết định bởo gene trội E trong khi cây ra hoa trễ được quyết định bởi

gene Hoặc trên cây đậu vườn (Pisum sativum) (garden pea) số loài của giống nầy có

thể được chia thành nhiều dạng được sắp xếp từ cây trung tính đến cây ngày dài

Khi phân tích đặc điểm di truyền của giống nầy, Murfet phát hiện có 4 locus chính là If, e, sn và hr đáp ứng cho sự khác biệt trong đặc điểm ra hoa Gene If e sn hr

là gene ra hoa sớm của cây trung tính trong khi gene If e Sn hr là gene ra hoa trễ định lượng của cây ngày dài Trong đó locus If quyết định số lóng tối thiểu cho sự ra hoa hay thời kỳ tơ của cây

Có nhiều lý do tại sao cây còn tơ không có khả năng ra hoa khi có điều kiện thích hợp Sự phân biệt hoàn toàn giữa các yếu tố nầy trong một vài thí nghiệm thường rất khó bởi vì có thể lẫn lộn Có 5 lý do chính được thảo luận dưới đây

* Không đủ diện tích lá

Điều nầy có thể thường không quan tâm bởi vì có rất ít tế bào lá thì đủ trong nhiều loài bị mẫn cảm bởi quang kỳ để đáp ứng hoàn toàn với sự ra hoa Tuy vậy, diện tích lá không đủ đã làm giảm hoặc kéo dài sự ra hoa trên cây Pharbitis Thí nghiệm trong ống nghiệm cũng cho thấy rằng diện tích lá rất nhỏ thì không đủ co việc kích thích quang hợp, chỉ khi cung cấp đủ chất carbohydrate trong môi trường Trong một

số loài cây hai năm hay cây đa niên sự kích thích bởi nhiệt độ cũng gia tăng cùng với diện tích và số lá Sự mẫn cảm với nhiệt độ có thể bị mất đi nếu số lá bị mất đi Thời

Trang 34

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

kỳ tơ của cây có thể ngắn hơn do cây có đầy đủ ánh sáng cũng có thể phần nào làm sáng tỏ do cây gia tăng nhanh diện tích và số lá trong điều kiện nầy

* Tỉ lệ không thích hợp giữa những lá non và lá trưởng thành

Một số nhà nghiên cứu tin rằng sự tượng hoa không thể xuất hiện trước khi đạt tới một tỉ lệ xác định giữa lá non và lá trưởng thành Bằng chứng trên cây ngày ngắn là đậu nành, cây trung tính như cây cà chua nếu ngắt bỏ những lá non đang mở sẽ thúc đẩy quá trình hình thành hoa trong điều kiện không thích hợp Lá không trưởng thành

có thể tác động bởi sản xuất ra chất ngăn cản sự ra hoa hoặc can thiệp vào sự vận chuyển của những sản phẩm đồng hóa và kèm theo sự kích thích ra hoa từ những lá trưởng thành ở phía dưới đến mô phân sinh Những lá còn non cũng là những tế bào chính gây ra sự ưu thế chồi ngọn và thúc đẩy sự ra hoa khi được ngắt đi Ở một số loài,

sự xuất hiện của mô phân sinh chồi bên cũng có liên quan đến sự ức chế

* Tính không nhạy cảm của lá với ngày dài

Tính không nhạy cảm của lá mầm và lá được hình thành đầu tiên đối với điều kiện ngày dài thích hợp được cho là lý do đầu tiên cho sự chưa trưởng thành của cây

quang cảm Tuy nhiên, ở một số loài như Chinese cabbage (Brassica campestris) cây

có thể ra hoa khi lá còn non

* Ảnh hưởng của hệ thống rễ

Schwabe và Al-Doori (1973), khi nghiên cứu cành giâm của cây thân gỗ đa niên Ribes nigrum đã chỉ ra rằng yếu tố trực tiếp làm cho cây không ra hoa được trong thời

kỳ tơ là do mầm chồi nách quá gần hệ thống rễ Khoảng cách trên 20 lóng thì cần thiết

để gợi sự ra hoa ở các mầm hoa nầy Ảnh hưởng của rễ được chỉ ra rõ bởi sự quan sát những rễ khí sinh trên những chồi trưởng thành đã ngăn cản sự khởi phát hoa Hoặc là ảnh hưởng nầy gây ra hoàn toàn hay một phần điều kiện tơ bình thường của cây thân

gỗ đa niên như đã được biết nhưng một ảnh hưởng của gốc ghép trên sự ra hoa của cây táo thì xuất hiện một cách rõ ràng trong thí nghiệm tháp của Visser Ông đã chỉ ra rằng

Trang 35

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ghép khác đã làm chậm sự ra hoa và những ảnh hưởng nầy trên sự sớm ra hoa thì độc lập với ảnh hưởng của tỉ lệ sinh trưởng của mắt ghép Điều nầy chỉ ra rằng tính chất gì của hệ thống chồi đã bị thay đổi bởi gốc ghép Ảnh hưởng của rễ trên cây thân thảo chưa được nghiên cứu Trên cây đa niên Lunaria annua, việc cắt bớt hệ thống rễ đã làm ngắn thời kỳ tơ Việc cắt bớt rễ cũng thúc đẩy sự hình thành hoa trong nhiều loài

bị ảnh hưởng quang kỳ

* Sự không nhạy cảm của mô phân sinh với chất thúc đẩy sự ra hoa

Cây trồng chuyển sang giai đoạn trưởng thành khi chúng có được khả năng nở hoa Thực vật hoàn thành giai đoạn tăng trưởng nhưng chưa có khả năng để ra hoa thì được thừa nhận rằng chúng phải đạt đến trạng thái chín để ra hoa “ripeness to flower” (Taiz và Zeiger, 1991)

Sự tăng trưởng của thực vật là sự tăng không hoàn nghịch về kích thước hay trọng lượng, biểu hiện trước hết của quá trình tăng trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc của cây được thực hiện ở mô phân sinh sau đó là sự phân hóa các tế bào thành những mô riêng biệt (Mai Trần Ngọc Tiếng, 1989)

Sự chuyển tiếp từ giai đoạn tơ sang trưởng thành thì thường liên quan đến những thay đổi chung với đặ tính sinh trưởng như hình dạng lá, cách sắp xếp của lá trên thân,… Sự đạt đến một kích thước đủ để biểu hiện ra hoa quan trọng hơn tuổi thời gian của thực vật trong việt xác định thay đổi tới trưởng thành

Đối với một số loài hoa, kiểm soát ra hoa hoàn toàn do các yếu tố bên trong thực vật (tuổi hay kích thước) Ở các loài khác sự ra hoa chịu ảnh hưởng của yếu tố môi trường, nhưng trước tiên chúng phải đạt đến trạng thái “chín để ra hoa” đó là sự hoàn thành giai đoạn non trẻ của thực vật đến giai đoạn trưởng thành (Salisbury và Ross, 1992)

Những điều kiện thích hợp để đạt tới trưởng thành là những điều kiện cho phép tăng trưởng nhanh chóng đến kích thước tối thiểu mà cây có khả năng chuyển đổi sang trạng thái sinh sản, khi đạt được kích thước này, xử lý cảm ứng ra hoa thích hợp đưa đến sự ra hoa

Trang 36

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ra hoa được kiểm soát bởi tình trạng dinh dưỡng của cây, đó là sự cân bằng chất dinh dưỡng mà cây lấy được từ không khí và đất Một tỉ lệ C/N nội sinh cao cần thiết cho

sự ra hoa (Trần Văn Hâu, 2005)

1.7.2 Yếu tố môi trường

* Nhiệt độ

Ảnh hưởng quan trọng nhất của nhiệt độ thấp là nhiệt độ dưới nhiệt độ tối hảo

cho sự sinh trưởng Sự thọ hàn chỉ được dùng để kích thích hoặc thúc đẩy sự ra hoa bởi xử lý nhiệt độ thấp Như là một nguyên tắc, sự khởi phát hoa xuất hiện trong thời

kỳ thọ hàn nhưng hoa chỉ xuất hiện ở điều kiện nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng (Trần Văn Hâu, 2005)

Theo Phạm Văn Côn (2004), điều kiện nhiệt độ thấp làm chậm sự sinh trưởng của cây, mất sự hô hấp và thúc đẩy sự phân giải tinh bột và các chất dự trữ khác có thể cải thiện trực tiếp đồng hóa cho đỉnh chồi và thúc đẩy quá trình theo hướng sinh sản

* Sự khô hạn

Cây bị khủng hoảng thiếu nước bộ lá sẽ bị rụng và có hiện tượng ra hoa, nếu bị khô hạn kéo dài, trong lá mai có chiều hướng giảm hàm lượng auxin và absicisic acid tăng lên khiến cây mai có thể ra hoa sớm hơn (Thái Đàm Minh Thư, 2002)

Theo Núnẽz-Elisea và Daventport (1994), trong điều kiện nhiệt độ ấm, trung

Trang 37

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

không kích thích sự ra hoa, điều kiện nhiệt độ lạnh thúc đẩy sự kích thích ra hoa, trái lại sự khô hạn thúc đẩy sự phát triển mầm hoa được kích thích (trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2005)

Do vai trò sinh lý của nước rất quan trọng đối với thực vật, khi thiếu nước tất cả các chức năng sinh lý trong cây như quang hợp, hô hấp, dinh dưỡng khoáng và các hoạt động sống trong cây có thể bị xáo trộn Cây bị mất nước nhiều sẽ tự sắp xếp để tự duy trì sự sống tối thiểu bằng cách rút nước từ những bộ phận có hàm lượng nước cao chuyển tới nơi bị thiếu, và cho rụng bớt những phần cơ thể không cần hoặc không có khả năng nuôi dưỡng vì thiếu nước

Hiện tượng này được minh họa qua sự rụng lá trong mùa khô hay sự rụng nụ hoa, rụng trái trong thời kỳ ra hoa đậu trái mà cây bị khô hạn (Lê Văn Hòa, 2006)

1.8 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG SỰ RA HOA

Theo Davenport (1990), các yếu tố quang trọng liên quan đến sự ra hoa là: các chất đồng hóa, chát điều hòa sinh trưởng, nhiệt độ, chế độ nước và dinh dưỡng (trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2005)

 Lý thuyết về các sản phẩm đồng hóa dựa trên kết quả của biện pháp khoanh cành hay khắc thân đã làm tăng sự kích thích ra hoa Tuy nhiên hàm lượng carbohydrate trong rễ ở một số trường hợp có liên quan đến sự ra hoa hàm lượng carbohydrate trong rễ thấp có ảnh hưởng đến sự ra chồi và ra hoa

 Vai trò của chất điều hòa sinh trưởng lên sự ra hoa cũng đã được nghiên cứu, sự hiện diện của gibberellin có thể ảnh hưởng đến sự ra hoa

 Tình trạng dinh dưỡng của cây có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự ra hoa của cây Hàm lượng đạm cao trong cây còn tơ có thể kích thích sự sinh trưởng quá mạnh và sản xuất chồi sinh trưởng hơn là chồi sinh sản Ngược lại mức độ đạm thấp thúc đẩy sự ra hoa nhiều mặc dù sự đậu trái và năng suất thấp Sự thiếu đạm nghiêm trọng sẽ sản xuất ít hoa

 Thời kỳ tơ của cây tùy thuộc vào điều kiện môi trường và từng giống thời kỳ tơ cũng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, ẩm độ và một số trường hợp bị ảnh hưởng bởi điều kiện đất đai

Trang 38

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.9 SỰ PHÂN HOÁ VÀ KÍCH THÍCH RA HOA

o Sự kích thích mầm hoa bắt đầu với sự dừng sinh trưởng dinh dưỡng trong thời gian khô hạn ở vùng nhiệt đới

o Số hoa sản xuất tỉ lệ với sự khắc nghiệt của khô hạn, sự khô hạn càng khắc nghiệt tỉ lệ ra hao càng cao Ngoài ra tỉ lệ phát hoa có lá hoặc không lá có liên quan đến sự khắc nghiệt của stress, ở ngoài đồng sự khô hạn dài hơn 30 ngày kích thích số mầm hoa có ý nghĩa

o Mầm hoa được kích thích trong điều kiện khô hạn chỉ phát triển nhiệt độ ấm lên hoặc ẩm độ đất tăng thường cây sẽ ra hoa sau khi tưới 3 tuần

1.10 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC VẬT

Chất điều hòa sinh trưởng thực vật là những hợp chất hữu cơ khác với những chất dinh dưỡng, với một hàm lượng nhỏ kích thích, ức chế, hoặc bổ sung bất kỳ một quá trình sinh lý nào trong thực vật (Nguyễn Minh Chơn, 2005)

1.10.1 Gibberellin (GA)

Trong tất cả các bộ phận của cây điều phát hiện có GA, kể cả hột khô Tuy nhiên,

GA hiện diện nhiều ở phôi, lá non, cành non, hột đang nẩy mầm (Mai Trần Ngọc Tiếng, 1989)

Cơ chế thúc đẩy sự tăng trưởng của GA ở tác dụng làm kéo dài tế bào và tăng tốc độ phân bào GA kích thích sự tăng trưởng lá, trái, kéo dài lóng để gợi sự trổ hoa Trong số tất cả các hormon thực vật được áp dụng dưới điều kiện không cảm ứng, chỉ có GA cho thấy hiệu quả gây sự hình thành hoa trong một số loài GA ngoại sinh giúp kéo dài lóng và đáp ứng ra hoa ở những cây ngày dài trong khi cây ngày ngắn và cây bất định không đáp ứng (Lang, 1957; Bernier, 1988, Metzer, 1995; trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2005)

Mức độ của GA bị ảnh hưởng bởi môi trường mà chủ yếu là ngày dài Lượng GA tạo ra trong điều kiện ngày dài nhiều hơn là trong điều kiện ngày ngắn (Railton và Waeing, 1973; trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2005)

Trang 39

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trong số các chất dinh dưỡng thì chất đạm là yều tố quan trọng ảnh hưởng lên mức độ GA Chất đạm có ảnh hưởng gián tiếp lên sự tổng hợp ra GA vì GA được tổng hợp ở lá đã nở hoặc ở chồi ngọn nên những yếu tố ảnh hưởng lên sự hình thành thân,

lá sẽ gián tiếp ảnh hưởng lên sự tổng hợp GA như chất đạm Ảnh hưởng gián tiếp nầy còn thông qua sự tổng hợp ở rễ và sự vận chuyển lên chồi của Cytokinin

Vị trí tổng hợp: GAs được tổng hợp ở lá non, phôi đang phát triển và chóp rễ Trong điều kiện ngày dài GAs được tổng hợp nhiều hơn trong điều kiện ngày ngắn Ngoài ra, sự phát triển của các cơ quan cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến sự tổng hợp

GA, như trường hợp ở phôi sẽ sản xuất nhiều GAs hơn các bộ phận khác (Phillips, 1971) Khác với Auxin chỉ di chuyển theo hướng phân cực nhưng GAs di chuyển mọi hướng trong cây, bao gồm trong mô gỗ và mô li-be (trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2005)

Giai đoạn trước khi hình thành mầm hoa thấp hơn so với giai đoạn lá trưởng thành và hoa nở nhưng khác biệt không có ý nghĩa Paulas và Shanmugavelu (1988) tìm thấy rằng hàm lượng Gibberellin thấp nhất trong thời kỳ nhú mầm và cao nhất là ở thời kỳ ra hoa Ở thời kỳ miên trạng, hàm lượng Gibberellin không khác biệt so với thời kỳ ra hoa và mang trái (trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2005)

Ảnh hưởng lên sự ra hoa: Koshita và ctv., (1999), tin rằng GA có vai trò rất quan trọng trong sự hình thành mầm hoa Kết quả thí nghiệm đã chứng minh rằng GA ngăn cản sự tượng mầm hoa hơn là ngăn cản sự kích thích ra hoa Điều nầy cũng được khẳng định khi Chang và Sung (2000), đã phun GA3 ở nồng độ 500 ppm cho cây

Rhododendron pulchrum khi cây có mầm hoa dài 1,4 - 1,6 cm (đang ở thời kỳ miên trạng) và kết quả là mầm hoa được phá miên trạng và phát triển nhanh hơn so với nghiệm thức đối chứng và một số hóa chất có tác dụng phá miên trạng mầm hoa như Nitrate kali, dầu khoáng và Cyanamid (trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2005)

.Một hiệu quả chủ yếu của Gibberellin là sự huy động chất carbohydrate bằng cách thúc đẩy sự thoái hóa carbohydrate thành glucose (Jacobsen và Chandler, 1987)

do đó trong điều kiện có hàm lượng Gibberellin cao thì tinh bột không thể tích lũy được Sự giảm hàm lượng Gibberellin còn làm gia tăng hàm lượng ABA Điều nầy giải thích vì sao sự giảm hàm lượng Gibberellin trong thân dưới một ngưỡng nào đó là yếu tố đầu tiên thúc đẩy quá trình ra hoa (trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2005)

Trang 40

Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Gibberellic acid là nhóm phytohormone được phát hiện thứ hai sau auxin với việc nghiên cứu trên giống lúa von Có 121 loại gibberellin đã được tìm thấy và đặt tên

là GA1 đến GA121, trong đó có 109 loại được tìm thấy ở thực vật GA3 là gibberellin có hoạt tính sinh học cao và thông dụng thương mãi từ lâu

Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2004), thì Gibberellin có những chức năng sau:

+ Gibberellin kích thích sự phân chia và kéo dài tế bào

+ Gibberellin còn có tác dụng gây nên sự hình thành mầm hoa của những cây ngày dài trồng trong điều kiện ngày ngắn

+ Gibberellin còn có tác dụng lên alơron của phôi nhũ kích thích sự tạo ra enzyme amylase cần thiết cho sự nảy mầm của hột

Cơ chế thúc đẩy sự sinh trưởng của GA ở tác dụng làm kéo dài tế bào và tăng tốc

độ phân bào GA kích thích sự tăng trưởng lá, trái, kéo dài lóng để gợi sự trổ hoa (Trần Văn Hâu, 2005) GA hiện diện nhiều ở phôi, lá non, cành non, hột đang nảy mầm (Mai Trần Ngọc Tiếng, 1989) GA3 thúc sự rụng có thể do thúc sự tỏa khí Etilen, giống như bất kỳ xử lý nào thúc sự tỏa khí etilen nhưng không cản quá trình lão hóa tế bào

1.10.2 Thiourea

Tên hoá học là Thiocarbamide (CH4N2S) trong đó C:15,8%, H: 5,3%, N:36,8%, S:42,1% Thiourea là hoá chất có tác dụng kích thíc sự ra hoa, là tác nhân phá vỡ trạng thái ngủ nghỉ của mầm hoa, tức là thúc đẩy sự sản xuấtt Ethylen, hiệu quả phá trạng thái ngủ, thúc đẩy phát triển mầm hoa của Thiourea còn được giải thích theo cách khác

là tác động giống như Cytokinin vì Halmann (1990), cho rằng hợp chất có chứa urea

có thể thể hiện hoạt tính của Cytokinin (Trần Văn Hâu, 2005)

Thiourea có thể sử dụng để kích thích ra hoa hay phá trạng thái ngủ để ra chồi đồng loạt Trên giống Nam Dok Mai 3 năm tuổi, Tongumpai và ctv., (1997), cho biếtphun Thiourea ở nồng độ 0,5% - 1,0% để kích thích ra đọt tập trung Ở nồng độ 0,5% cây ra đọt rất đồng đều sau 14 - 16 ngày, trong khi ở nồng độ 1% làm rụng lá rất nghiêm trọng

Thiourea là hoá chất có tác dụng phá miên trạng mầm hoa và kích thích sự ra hoa

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm