Tổng nhiệt lượng này là một hằng số nhiệt độ có hiệu quả cho sự phát dục của côn trùng Qui luật về sự bền vững nhiệt độ được áp dụng khi côn trùng hoạt động trong các điều kiện nhiệt độ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
˜ & ™
TÊN ĐỀ TÀI:
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN VÀ KHẢ NĂNG ĂN MỒI CỦA BỌ ĐUÔI KÌM
VÀNG Chelisoches sp VÀ BỌ ĐUÔI
KÌM ĐEN Chelisoches morio
LUẬN VĂN TỐT NGHI ỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
Trang 2Hà Thanh Liêm, 2006 Khảo sát một số đặc điếm sinh học có liên quan đến sự
phát triển và khả năng ăn mồi của bọ đuôi kìm vàng Chelisoches sp và bọ đuôi kìm đen Chelisoches morio Luận văn tốt nghiệp Đại Học, Khoa Nông Nghiệp &
Sinh Học Ứng Dụng, Đại Học Cần Thơ
TÓM LƯỢC
Nhằm khảo sát một số đặc điểm sinh học và khả năng ăn mồi của hai loài
đuôi kìm Chelisoches sp và Chelisoches morio đối với một số loại sâu hại quan
trọng để từ đó có cơ sở khoa học để xây dựng quy trình IPM trong phòng trừ bọ dừa nói riêng và dịch hại nói chung theo hướng bền vững Đề tài: “Khảo sát một
số đặc điếm sinh học có liên quan đến sự phát triển và khả năng ăn mồi của bọ
đuôi kìm vàng Chelisoches sp và bọ đuôi kìm đen Chelisoches morio” đã được
thực hiện từ tháng 04/2005 đến tháng 02/2006 bằng phương pháp nuôi bọ đuôi kìm trong hai điều kiện nhiệt độ là 250C và 300C và thử khả năng ăn mồi của bọ đuôi kìm trong điều kiện phòng thí nghiệm đối với một số loại sâu hại như sâu ăn
tạp, bọ dừa, rầy mềm, mối Loài Chelisoches sp trong điều kiện nhiệt độ 250C và
300C có vòng đời trung bình lần lượt là 119 ngày và 86 ngày Nhiệt độ phát dục
của Chelisoches sp là 120C và tổng nhiệt lượng cần thiết để Chelisoches sp hoàn
thành vòng đời phát triển là 15470N Loài Chelisoches morio trong điều kiện
nhiệt độ 250C và 300C có vòng đời trung bình lần lượt là 118 ngày và 89 ngày
Nhiệt độ phát dục của Chelisoches morio là 9,70C và tổng nhiệt lượng cần thiết để
Chelisoches morio hoàn thành vòng đời phát triển là 1805,40N Trong hai loài
đuôi kìm khảo sát, loài Chelisoches sp tỏ ra có khả năng thích nghi với sự với sự biến đổi nhiệt độ cao hơn loài Chelisoches morio Kết quả khảo sát cho thấy cả hai loài đuôi kìm Chelisoches sp và Chelisoches morio đều có khả năng ăn mồi rất cao Chúng có thể ăn ấu trùng sâu ăn tạp (Spodoptera litura), ăn ấu trùng, nhộng và thành trùng bọ dừa (Brontispa longissima) Hai loài đuôi kìm này ăn
được ấu trùng, thành trùng rầy mềm các loại (Aphididae) và thành trùng mối (Isoptera)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ ……….i
TÓM LƯỢC ……….….ii
MỤC LỤC ………iii
DANH SÁCH BẢNG……… v
DANH SÁCH HÌNH vii
MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU ……… 2
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ……… 12
2.1 Phương tiện ……… 12
2.2 Phương pháp ……… 12
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 15
3.1 Đặc điểm hình thái của Chelisoches morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ 250C và 300C: 15 3.1.1 Kích thước các giai đoạn phát triển của Chelisoches morio ở 2 điều kiện nhiệt độ 250C và 300C: 15
3.1.2 Kích thước các giai đoạn phát triển của Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ 250C và 300C: 16
3.1.3 Kích thước thành trùng của Chelisoches morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ 250 C và 300C: 17
3.2 Một số đặc điểm sinh học ở các giai đoạn phát triển của Chelisoches morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ 250C và 300C: 18
3.2.1 Thời gian sinh trưởng ở giai đoạn ấu trùng các tuổi của Chelisoches sp và C.morio trong 2 điều kiện nhiệt độ 250C và 300C: 18
3.2.2 Thời gian ấu trùng của C.morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ 250 C và 300C: 20
3.2.3 Tổng tích ôn hữu hiệu cần thiết cho sự phát triển của bọ đuôi kìm đen C morio và bọ đuôi kìm vàng Chelisoches sp.: 22
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 43.2.4 Tỷ lệ đực và cái của Chelisoches sp và C morio: 24
3.2.5 Tỉ lệ sống sót của ấu trùng C.morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau: 25
3.2.6 Khả năng đẻ trứng của C morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau: 26
3.2.7 Trọng lượng của thành trùng Chelisoches sp và C morio : 28
3.3 Khả năng ăn mồi của Chelisoches sp và C morio: 30
3.3.1 Khả năng ăn mồi của thành trùng Chelisoches sp và C morio trên sâu ăn tạp (Spodoptera litura): 31
3.3.2 Khả năng ăn mồi của thành trùng Chelisoches sp và C morio với bọ dừa (Brontispa longissma): 33
3.3.3 Khả năng ăn mồi của thành trùng Chelisoches sp và C morio với rầy mềm (Aphididae): 35
3.3.4 Khả năng ăn mồi của Chelisoches sp và C.morio với thành trùng mối không cánh (Isoptera): 36
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
4.1 Kết luận 38
4.2 Đề nghị 39 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5Bảng 3.3: So sánh chiều dài và chiều rộng của thành trùng C.morio và
Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau 17 Bảng 3.4: So sánh thời gian sinh trưởng các giai đoạn ấu trùng của Chelisoches
sp và C.morio ở 2 điều kiện nhiệt độ 250C và 300C 18
Bảng 3.5: So sánh thời gian sinh trưởng các giai đoạn ấu trùng của C.morio và
Chelisoches sp ở từng điều kiện nhiệt độ 250C và 300C 19
Bảng 3.6: So sánh giai đoạn ấu trùng của C.morio và Chelisoches sp ở 2 điều
Bảng 3.13: Khả năng đẻ trứng của bọ đuôi kìm đen Chelisoches morio ở 2 điều
kiện nhiệt độ khác nhau 26 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6Bảng 3.14: Khả năng đẻ trứng của bọ đuôi kìm vàng Chelisoches sp ở 2 điều
kiện nhiệt độ khác nhau 27
Bảng 3.15: Trọng lượng cơ thể của thành trùng Chelisoches sp và C.morio ở 2
điều kiện nhiệt độ khác nhau 28
Bảng 3.16: Trọng lượng cơ thể của Chelisoches sp và Chelisoches morio trong
cùng điều kiện nhiệt độ 29
Bảng 3.17: Khả năng ăn mồi của thành trùng Chelisoches sp và C morio với sâu
ăn tạp các tuổi 31
Bảng 3.18: Khả năng ăn mồi của thành trùng Chelisoches sp và C morio với
từng tuổi sâu ăn tạp 32
Bảng 3.19: Khả năng ăn mồi của thành trùng Chelisoches sp và C morio đối với
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Hình 3.1: Ấu trùng T3, T4, thành trùng của Chelisoches sp 21
Hình 3.2: Ấu trùng T1, T2, T3, T4 của Chelisoches morio 21
Hình 3.3: Thành trùng đực và cái của Chelisoches morio 24
Hình 3.4: Thành trùng cái và đực của Chelisoches sp .24
Hình 3.5: Con cái Chelisoches sp và ổ trứng 26
Hình 3.6: Con cái Chelisoches morio và ổ trứng 26
Hình 3.7: Hai loại rầy mềm (Aphididae) 30
Hình 3.8: Sâu ăn tạp Spodoptera litura 30
Hình 3.9: Mối đất (Isoptera) 30
Hình 3.10: Bọ dừa (Brontispa longissima) 30
Hình 3.11: Thành trùng Chelisoches morio đang trong tư thế tấn công ấu trùng sâu ăn tạp (Spodoptera litura) 31
Hình 3.12: Thành trùng Chelisoches sp đang trong tư thế tấn công ấu trùng sâu ăn tạp (Spodoptera litura) 31
Hình 3.13: Thành trùng Chelisoches sp đang ăn ấu trùng bọ dừa 33
Hình 3.14: Thành trùng Chelisoches morio đang ăn rầy mềm (Aphididae) 35
Hình 3.15: Thành trùng Chelisoches sp đang trong tư thế tấn công mối (Isoptera) .36
Hình 3.16: Thành trùng Chelisoches morio đang trong tư thế tấn công mối (Isoptera) 36 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8MỞ ĐẦU
Ngày nay vấn đề phòng trừ dịch hại tổng hợp được xem là thành phần cơ bản để phát triển nền nông nghiệp bền vững Trong đó thiên địch của các loài sâu hại ngày càng được sử dụng rộng rãi trong việc khống chế sự bộc phát của chúng Nhiều kết quả khảo sát đã cho thấy bọ đuôi kìm (Dermaptera) là nhóm có khả năng ăn mồi rất cao Chúng có thể tấn công các loài sâu hại quan trọng như bọ dừa, sâu ăn tạp, rầy mềm, mối và nhiều loại sâu có kích thước nhỏ khác Kết quả khảo sát của Nguyễn Thị Thu Cúc và ctv (2005) đã ghi nhận có 2 loài bọ đuôi
kìm Chelisoches morio và Chelisoches sp hiện diện phổ biến trên dừa Kết quả khảo sát bước đầu của các tác giả trên cũng ghi nhận loài Chelisoches sp có khả
năng thích nghi tốt trên một số vùng trồng dừa tại Đồng Bằng Sông Cửu Long và
đảo Phú Quốc Loài Chelisoches morio chỉ hiện diện trên các vườn dừa ở đảo Phú Quốc
Vì thế để hiểu rõ hơn về các đặc điểm hình thái và sinh học cũng như khả năng ăn mồi của bọ đuôi kìm (Dermaptera) chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Khảo sát một số đặc điểm sinh học có liên quan đến sự phát triển và khả năng ăn
mồi của bọ đuôi kìm vàng Chelisoches sp và bọ đuôi kìm đen Chelisoches
morio” Đề tài thực hiện nhằm mục tiêu: khảo sát sự phát triển, khả năng sống sót
của thành trùng và ấu trùng, khả năng sinh sản của 2 loài Chelisoches morio và Chelisoches sp trong 2 điều kiện nhiệt độ 250C và 300C, khả năng ăn mồi của 2 loài đuôi kìm trên một số loại sâu hại phổ biến như: bọ dừa, sâu ăn tạp, rầy mềm, mối
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Thành phần loài và sự phân bố của bọ đuôi kìm
Bọ đuôi kìm phân bố khắp nơi trên thế giới ngoại trừ vùng cực Tuy nhiên, chúng phân bố đa dạng chủ yếu ở các vùng nhiệt đới ( Haas, 1996)
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1800 loài được tìm thấy (Rentz và Kevan, 1991; Haas, 1996) Tại Mỹ có khoảng 22 loài được phát hiện (Steve Jacobs, 2003) Đặc biệt bọ đuôi kìm phân bố nhiều nhất tại Úc với khoảng 60 loài hiện diện khắp cả nước (Rentz và Kevan, 1991)
Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long trên cây dừa loài Chelisoches sp hiện diện
phổ biến nhất, hiện diện trên tất cả địa bàn khảo sát thuộc 8 tỉnh, thành phố điều
tra nhưng tập trung chủ yếu ở đất liền, trong khi đó loài Chelisoches morio hiện
diện duy nhất ở Phú Quốc (Đặng Tiến Dũng và Phan Kim Ngọc, 2005)
1.2 Một số đặc điểm hình thái của bọ đuôi kìm
Trứng mới đẻ có màu trắng sữa, đường kính trứng khoảng 0.75 mm và có hình hơi tròn Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của phôi thì trứng hơi vàng và bóng hơn, cho đến khi gần nở thì trứng có màu vàng sậm và hơi nâu Đồng thời thì kích thước trứng cũng tăng lên và dài khoảng 1,25 mm và có hình oval ( Capinera, 1999) Tuy nhiên, tùy theo từng loài mà trứng có kích thước và màu sắc
khác nhau Ở loài Forficulidae auricularia Linnaens trứng có màu trắng sáng và dài khoảng 1,5 mm (Weems, 1998) Loài Chelisoches morio trứng mới đẻ có màu
vàng rất tươi, trứng có hình bầu dục, rất bóng, dài trung bình: 1,19 ± 0,01 mm, rộng 0,85 ± 0,01 mm Đối với loài Chelisoches sp., trứng mới đẻ màu trắng sữa,
sau đó chuyển dần sang màu vàng, trứng có hình bầu dục rất bóng, kích thước trung bình dài 1,01 ± 0,01 mm, rộng 0,87 ± 0,01 mm (Đặng Tiến Dũng và Phan Kim Ngọc, 2005)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10Theo Capinera (1999) giai đoạn ấu trùng có hình dạng rất giống thành trùng, tuy nhiên, chúng cũng có một số điểm khác với thành trùng như: ấu trùng có kích thước ngắn và nhỏ hơn thành trùng Bên cạnh đó thì màu sắc của ấu trùng nhạt và đuôi kìm ít cong hơn thành trùng Ngoài ra, vào giai đoạn ấu trùng cánh chưa xuất hiện, chỉ mới xuất hiện mầm cánh trên lưng Cuối cùng là số đốt râu giữa các tuổi
và thành trùng luôn khác nhau nhưng chúng có số đốt bụng bằng nhau Đây là những điểm giúp phân biệt giữa thành trùng và ấu trùng bọ đuôi kìm
Bọ đuôi kìm có cơ thể thon dài, dẹp Tùy theo loài mà chúng có chiều dài
khác nhau: Forficulidae auricularia Linnaens dài 13-19mm, loài Euborellia annalipes Lucas dài 13-16 mm Màu sắc biến đổi từ màu đỏ nâu cho tới màu đen
Thông thường thì con cái có màu nhạt hơn con đực và có kích thước lớn hơn con đực, đồng thời có sự khác biệt giữa số đốt bụng giữa con đực và con cái Con cái
có 8 đốt bụng còn con đực có 10 đốt (Capinera, 1999) Loài Chelisoches morio
con cái có màu đen bóng, cơ thể dài, mảnh khảnh, chiều dài cơ thể 17,74 ± 0,15
mm, chiều ngang 3,01 ± 0,04 mm, cơ thể có 7 đốt bụng, 6 đốt bụng đầu gần bằng nhau, đốt bụng cuối cùng có kích thước lớn hơn Con đ ực có kích thước nhỏ hơn
so với con cái, kích thước của con đực dài trung bình 17,17 ± 0,15 mm, rộng 3,01± 0,04 mm nhưng con đực có số đốt bụng nhiều hơn có tới 9 đốt bụng Đối
với loài Chelisoches sp con cái cơ thể có màu vàng, kích thước trung bình dài
18,80 ± 0,51 mm, bụng có 7 đốt màu nâu đỏ, 6 đốt bụng đầu có kích thước gần bằng nhau, đốt bụng cuối cùng có kích thước lớn nhất Con đực có cơ thể màu vàng thường có kích thước nhỏ hơn con cái, trung bình dài 17,95 ± 0,57 mm, rộng 3,15 ± 0,07mm, bụng có 9 đốt với kích thước khác nhau (Đặng Tiến Dũng
và Phan Kim Ngọc, 2005)
Điểm nổi bậc dễ nhận thấy ở bọ đuôi kìm là có kìm ở đốt bụng cuối cùng Đây là đặc điểm để phân biệt đực cái một cách dễ dàng, con cái có kìm nhỏ hơn
và thẳng hơn con đực, con đực có kìm to hơn đồng thời cong nhiều hơn con cái
(Lyon, 1991) Loài Chelisoches morio, con cái cuối bụng có đôi kìm dài từ 4 – 5
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11mm, có gai nhỏ ở bên trong của kìm và đối xứng hai bên, râu hình sợi chỉ và có
22 đốt râu với kích thước 13,63 ± 1,41mm, chỉ có đốt râu thứ 12,13 và 14 là có màu vàng tất cả các đốt râu còn lại có màu đen và có gai nhỏ trên các đốt râu
nhiều nhất là ở đốt râu thứ nhất Đối với loài Chelisoches sp con cái có râu hình
sợi chỉ với 23 đốt râu với kích thước trung bình 16 – 17mm, đốt thứ nhất và thứ hai có màu vàng, các đốt còn lại có màu nâu đen và kích thước các đốt râu nhỏ dần tính từ đốt thứ nhất, trên đốt thứ nhất có một ít gai nhỏ Con đực râu có 23 đốt màu sắc và cách sắp xếp các đốt râu cũng tương tự như con cái (Đặng Tiến Dũng và Phan Kim Ngọc, 2005)
Loài Chelisoches morio cánh trước bằng chất sừng, chắc chắn, dài từ 2,8-3,0
mm, cánh sau là cánh màng mỏng, gân cánh xếp theo hình cánh quạt dài từ 12-14
mm Loài Chelisoches sp cánh trước ngắn, hình chữ “U”, màu vàng được bao
quanh bởi màu đen được cấu tạo bằng chất sừng, tương đối cứng Trong khi đó cánh sau thuộc loại cánh màng, hình quạt, rộng hơn so với cánh trước và gấp lại bên dưới cánh trước tạo thành hai đốm trắng phía sau cánh trước (Đặng Tiến Dũng và Phan Kim Ngọc, 2005)
Chân bọ đuôi kìm thuộc nhóm chân chạy nên chúng có khả năng chạy rất nhanh Bàn chân có 3 đốt và đốt cuối bàn có đôi móc câu (Rentz và Kevan, 1991
và Lewis, 1996) Ở loài Chelisoches morio thì bàn chân có nhiều lông mịn bao
phủ, đốt bàn chân cuối cùng có đôi móc câu nhọn màu đen và đốt thứ hai của đốt bàn chân kéo dài về phía dưới của đốt thứ ba, tuy nhiên phần kéo dài này không
phát triển về phía hai bên Loài Chelisoches sp chân ngực màu trắng hơi vàng,
bàn chân có 3 đốt, đốt bàn cuối cùng có đôi móc câu màu nâu đen và có nhiều lông mịn bao phủ trên bàn chân và ngón chân, bàn chân không có miếng đệm và đốt thứ hai của đốt bàn chân kéo dài về phía dưới của đốt thứ ba đồng thời phần kéo dài này rất phát triển và phình to về phía hai bên (Đặng Tiến Dũng và Phan Kim Ngọc, 2005)
1.3 Đặc điểm sinh học của bọ đuôi kìm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12Vòng đời của bọ đuôi kìm bao gồm các giai đoạn: trứng, ấu trùng và thành trùng Thời gian trứng kéo dài khoảng một tuần nhưng tùy theo nhiệt độ mà thời gian trứng có thể kéo dài 10 ngày cho đến 3 tháng Ấu trùng trải qua 3-4 lần lột xác trước khi thành trùng (Lyon, 1991) Thành trùng bọ đuôi kìm có đời sống dài khoảng một năm, con đực có thời gian sống ngắn hơn so với con cái
Theo Rentz và Kevan (1991), trứng được đẻ dưới mặt đất và đôi khi chúng được đẻ ở nách lá và cỏ cây Các trứng được xếp chồng lên nhau, tùy theo loài mà
số lượng trứng trong ổ khác nhau: loài Marava arachidis: 15-17 trứng, loài Forficulidae aricularia: 21-80 trứng, Anioslabis littorea: 60-70 trứng
Thời gian trứng kéo dài từ 1-2 tuần tùy theo thời tiết và loài, thậm chí trứng
có thể trải qua mùa Đông trong đất (Lyon, 1991) Trứng được sự chăm sóc của con cái, con cái dời trứng và thường xuyên liếm trứng để loại bỏ nấm và các vật chất trên vỏ trứng, tuy nhiên theo Lamb (1976) thì việc liếm trứng sẽ cung cấp một chất lỏng trên bề mặt trứng để cho trứng có thể nở tốt Trứng cần có sự chăm sóc của con mẹ nếu chúng không có được sự chăm sóc thì tỷ lệ sống sót rất thấp
so với trứng có sự chăm sóc của con mẹ (Kulzer,1996)
Theo Jacobs (2003), bọ đuôi kìm là loài biến thái không hoàn toàn vì thế ấu trùng có hình dạng giống thành trùng Tùy theo loài mà chúng sẽ trải qua 4-5 lần lột xác trước khi thành trùng Tuy nhiên khi gặp điều kiện thuận lợi thì có thể tới
6 tuổi
Theo Rentz và Kevan (1991) thì tùy theo loài mà thời gian ấu trùng cũng
khác nhau: Labidura riparia: 100 ngày, Marava arachidis: 40-44 ngày, Anisolabis littorea: 165 ngày Tuy nhiên, nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến thời gian phát triển của ấu trùng: loài Forficularia auricularia có thời gian ấu trùng kéo dài
42-49 ngày ở nhiệt độ 25oC còn khi ở 15o có thể kéo dài tới 80-90 ngày Ấu trùng tuổi một được sự chăm sóc của con cái, con cái mang thức ăn về tổ và ợ trở ra cho
ấu trùng ăn Bắt đầu sang tuổi 2 thì con cái mất bản năng làm mẹ, nó không còn chăm sóc con và có thể tấn công con của chúng như con mồi (Lamb, 1976)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13Kết quả nuôi trong phòng thí nghiệm (T0C = 28–30, H% = 75-85) ghi nhận:
loài Chelisoches morio có chu kỳ sinh trưởng biến động từ 69-97 ngày, trung
bình 80,8 ± 2,39 ngày Đối với loài Chelisoches sp có chu kỳ sinh trưởng biến
động từ 64 đến 87 ngày, trung bình 72,3 ± 1,37 ngày (Đặng Tiến Dũng và Phan Kim Ngọc, 2005)
Qua tuổi 2 thì ấu trùng rời ổ và tự đi kiếm thức ăn và chúng cần nhiều ẩm
độ, ấu trùng có tính ăn tạp giống như thành trùng Bắt đầu từ tuổi 3 thì chúng có thể tấn công và ăn lẫn nhau (Lewis,1996)
Đuôi kìm có thế sống ngoài vườn và trong nhà Chúng thường ở những nơi
ẩm và tối như hang, những đống đá có rêu mọc và những đống cây (Lyon, 1991) Ngoài ra chúng còn có thể cư trú ở những nơi như dưới tản đá, lá cây chết, sau tấm bản và dưới vỏ cây (Lewis, 1996)
Vào mùa đông bọ đuôi kìm có thể ở sâu dưới đất 1,8 m để tránh sự giá lạnh
ở bên trên (Lyon, 1991) Bọ đuôi kìm là loài hoạt động về đêm và chúng bị hấp dẫn bởi ánh sáng, đặc biệt là ánh sáng mạnh (Brindle, 1971)
Bọ đuôi kìm thuộc nhóm chân chạy nên chúng có khả năng chạy rất nhanh
và hiếm khi bay mặc dù cánh trong phát triển tốt Khi bay thì bọ đuôi kìm chỉ bay một đoạn rất ngắn và bay trong những trường hợp bất đắc dĩ (Rentz và Kevan,
Theo Rentz và Kevan (1991) thì bọ đuôi kìm có tính ăn tạp, chúng ăn động vật, thực vật và cả chất đang phân hủy, chất thối rửa Thức ăn thực vật bao gồm: rau cải, phần trên và phần dưới mặt đất của cây (Capinera, 1999) Ngoài ra, chúng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14còn có thể ăn cỏ 3 lá, thược dược, cúc, thục quỳ, rau diếp, dâu tây, cần tây, khoai tây, hoa hồng, đậu, củ cải đường và cỏ thân mềm, đặc biệt chúng thích ăn cánh hoa và mầm cây (Weems và Skeylley, 1998) Bên cạnh đó thì bọ đuôi kìm có thể
ăn các thực vật bậc thấp như: rêu, địa y, tảo, nấm (Lyon, 1991) Theo Capinera (1999) bọ đuôi kìm còn là con vật ăn mồi quan trọng, chúng có thể ăn các loài sâu
có kích thước nhỏ hơn hoặc lớn hơn cơ thể chúng, ấu trùng bọ cánh cứng , rầy lá
và mọt Ngoài ra, bọ đuôi kìm còn có thể ăn rệp, nhện, trứng của côn trùng, ve bét (Lyon, 1991), đặc biệt là khi đói chúng có thể ăn lẫn nhau (Smith, 1991)
Hoạt động giao phối diễn ra khi thành trùng được 1-2 ngày và đẻ trứng
15-20 ngày sau khi giao phối (Capinera, 1999) Số lượng trứng biến động từ 15-20-50 trứng trong một ổ (Vandyk, 1996 và Lyon, 1991) và số lượng trứng được đẻ lần thứ hai thường thấp hơn lần thứ nhất (Jacobs, 2003)
Trứng thường được đẻ trong ổ dưới mặt đất, ổ trứng có thể cách mặt đất 8mm (Weems và Skeylley, 1998) Thậm chí trứng có thể được đẻ sâu dưới mặt đất từ 5-7.5 cm (Lyon, 1991) Đôi khi trứng cũng có thể được đẻ trong bẹ lá hoặc
5-vỏ cây (Rentz và Kevan, 1991)
Kết quả nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm (T0C = 28 – 30, H% = 75 –
85) ghi nhận loài bọ đuôi kìm đen Chelisoches morio có số trứng đẻ được trung
bình trong điều kiện phòng thí nghiệm là 33 trứng/ổ, tỉ lệ trứng nở 98% Đối với
bọ đuôi kìm vàng Chelisoches sp., số trứng đẻ trung bình trong một ổ là 55 trứng,
tỉ lệ trứng nở 98% (Đặng Tiến Dũng và Phan Kim Ngọc, 2005)
Tổ được đào bởi con cái, con đực không tham gia đào tổ, nó chỉ sống chung với con cái trong thời gian ngắn và bị đuổi đi khi trứng vừa được đẻ ra vì con đực không có chăm sóc trứng thậm chí chúng còn ăn cả trứng (Fulton,1924)
Theo Kulzer (1996) thì trứng được đẻ dưới ổ Con cái chăm sóc trứng một cách cẩn thận và bảo vệ trứng một cách mãnh liệt cho đến khi trứng nở Con mẹ thường xuyên xoay trứng, lau trứng và tái gom đống trứng Thỉnh thoảng chúng dời trứng đến nơi khác trong tổ Theo Lamb (1976) thì việc lau trứng đồng thời liếm trứng để cung cấp cho trứng một chất lỏng trên bề mặt trứng để bảo vệ trứng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15khỏi nấm bệnh và việc dờì trứng đi là để điều chỉnh nhiệt độ Tuy nhiên theo Capinera (1999) thì con cái bảo vệ trứng khỏi ve, bọ, nấm bệnh, con vật ăn mồi, lau trứng và dời trứng đi khi cần thiết Sự chăm sóc của con cái giảm khi trứng nở
và con mẹ sẽ rời tổ khi ấu trùng chuyển sang tuổi 2
Mặc dù con cái bảo vệ trứng chúng một cách liên tục thậm chí không ăn trong thời gian chăm sóc trứng nhưng nếu bị quấy rầy liên tục thì chì con mẹ sẽ
ăn hết trứng hoặc bỏ tổ đi (Kulzer, 1996 và Lyon,1991)
1.4 Thiên địch của bọ đuôi kìm
Theo Capinera (1999) thì ngoài tự nhiên, thiên địch của bọ đuôi kìm là ruồi
ký sinh và nấm Đặc biệt còn có sự ăn lẫn nhau giữa ấu trùng các tuổi và việc ăn trứng và ấu trùng của thành trùng Ngoài ra theo Rentz và Kevan (1991) thì thiên
địch ngoài tự nhiên của bọ đuôi kìm còn có chim, Mermis (Nematoda), Hymemolepis (Cestoda) nhưng tỷ lệ ký sinh không cao, thấp hơn 10%
1.5 Khả năng sử dụng bọ đuôi kìm trong phòng trừ sinh học
Theo Risbec (1993) thì bọ đuôi kìm có khả năng ăn bọ cánh cứng hại dừa tại Vannuatu Tại Thái Lan bọ đuôi kìm được nông dân nuôi nhân tại nhà để phục vụ cho việc phòng trừ côn trùng gây hại trên đồng Đồng thời trên cánh đồng họ tạo những đống rơm, rạ và tưới nước để cung cấp ẩm độ, tạo nơi ẩn nấp cho chúng vào ban ngày, còn ban đêm thì chúng đi bắt mồi (IPM thailand 2006)
Tại Bến Cát (tỉnh Bình Dương), bọ đuôi kìm được thả để phòng trừ sâu đục
thân mía mình hồng Sesamia sp trong điều kiện nhà lưới và kết quả đạt được là
tỷ lệ lóng bị hại giảm trung bình từ 1.18-1.45%, đồng thời trọng lượng trung bình của cây tăng lên từ 0.074 - 0.122 kg (Đỗ Ngọc Điệp, 2003)
Theo Nguyễn Công Thuật (1996) thì ấu trùng và thành trùng của bọ đuôi kìm có thể tìm ăn trứng và sâu đục thân mía trên ruộng mía và sâu đục thân bắp trên ruộng bắp Ngoài ra chúng còn ăn các côn trùng gây hại trên bắp cải, đậu tương và đậu rau
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16Cả hai loài Chelisoches morio và Chelisoches sp đều có thể tấn công bọ
cánh cứng hại dừa Brontispa longgissima ở khắp các giai đoạn phát triển của ấu trùng và nhộng (Đặng Tiến Dũng và Phan Kim Ngọc, 2005)
1.6 Sự gây hại của bọ dừa (Brontispa longissma)
Đây là loài côn trùng được ghi nhận gây hại khá quan trọng trên dừa và các loại cau kiểng tại Việt Nam và một số nước trên thế giới Bọ dừa có thể tấn công dừa ở các tuổi khác nhau và thường gây hại quan trọng trên dừa dưới sáu năm tuổi, chủ yếu vào mùa khô Khi bị nhiễm nhẹ, chỉ một số ít lá bị hại, sự thiệt hại năng suất không đáng kể Nếu trên tám lá bị tấn công thì sẽ thiệt hại năng suất rõ rệt, khi bị nhiễm nặng cây có thể chết (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
1.7 Sự gây hại của sâu ăn tạp (Spodoptera litura)
Sâu ăn tạp là một trong những loài sâu ăn lá quan trọng, loài này gây hại khoảng 290 loại cây trồng thuộc 99 họ thực vật đặc biệt là các loại rau, đậu ( Hồ Khắc Tín & ctv, 1982; Lương Minh Khôi, 1984, 1981) Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long đây là đối tượng gây hại quan trọng nhất, trên rau cải sâu phá hại vào mọi thời vụ và mọi thời kỳ sinh trưởng của cây Trên dưa hấu, sâu tấn công vào giai đoạn cây con và gây hại trên lá khi cây lớn (Trần Thị Ba, Trần Thị Kim Ba, Phạm Hồng Cúc, 1999)
Đây là một trong những loài côn trùng gây hại quan trọng cho nông nghiệp vùng nhiệt đới, chúng xuất hiện ở hầu hết các nước: Trung Quốc, Nhật, Lào, Việt Nam…(EPPO, 1996)
1.8 Sự gây hại của mối (Isoptera)
Phần lớn các giống mối xâm nhập vào các công trình xây dựng, thuỷ lợi, đường sắt… đều biểu hiện mặt có hại của chúng Hàng năm thiệt hại do mối gây
ra trên thế giới cũng như ở nước ta là rất lớn (PTS Lê Văn Nông, 1999) Ở Trung Quốc nhất là vùng Hoa Nam có đến 80% số nhà cửa, kho hàng, nhà lâu năm bị mối phá hoại (Thái Bang Hoa, 1964) Ở nước ta mối không những xâm nhập vào Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17nhà tranh vách nứa, mà còn xâm nhập vào những nhà xây dựng kiên cố bê tông cốt thép như khách sạn Hà Nội 11 tầng, bệnh viên Nhi Thuỵ Điển 7 tầng, các biệt thự cổ, các thư viện…(PTS Lê Văn Nông, 1999)
1.9 Sự gây hại của rầy mềm (Aphididae)
Theo Phạm Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003 thì sự gây hại của rầy mềm như sau:
Rầy thường tập trung trên phần non nhất của cây, nhất là trái non; trên đọt non chúng chích hút chất auxine làm chậm sự tăng trưởng của cây Trên mỗi loại cây rầy có cách gây hại khác nhau như sau:
- Đối với đậu xanh, nếu mật số cao, rầy bám dày đặc trên trái non thì trái chậm phát triển, lâu chín, vỏ trái có những vết thâm đen, khó tách hạt, hoặc số hạt trên trái bị giảm
- Trên đậu đủa, trái sẽ bị mất phẩm chất, sản phẩm không thu được do rầy tiết dịch mật quyến rủ nấm mốc tới tấn công
- Đối với đậu phộng rầy tập trung trên lá non, ngọn, hoa hút dịch cây và thu hút nấm đen tới làm cho thân lá có màu đen
Rầy mềm còn là môi giới truyền một số bệnh khảm cho cây đậu Phân rầy thải ra thu nấm bồ hóng tới làm ảnh hưởng đến quang hợp và thu hút kiến đến sống cộng sinh (Lê Thị Sen, 2003)
1.10 Tổng tích ôn hữu hiệu cho sự phát triển của côn trùng
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc, 2003 thì quy tắc của sự bền vững nhiệt độ được định nghĩa như sau:
Trong khoảng nhiệt độ mà tốc độ phát triển thay đổi theo một đường thẳng, tích của thời gian phát triển (D) và hiệu của nhiệt độ môi trường (T) và nhiệt độ tối thiểu của ngưỡng sinh học (K) là một hằng số
D(T - K) = C (hằng số nhiệt độ) Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Nếu D được tính bằng ngày, T và K bằng độ thì C được biểu thị bằng 0N (0D), C biểu thị cho tổng nhiệt lượng và được gọi là tổng tích ôn hữu hiệu cần thiết cho sự phát triển của côn trùng Điều này cho thấy để hoàn thành một giai đoạn phát triển mỗi loài côn trùng (cũng như mỗi loài sinh vật nói chung) đều đòi hỏi phải có tổng nhiệt lượng nhất định Tổng nhiệt lượng này là một hằng số nhiệt
độ có hiệu quả cho sự phát dục của côn trùng
Qui luật về sự bền vững nhiệt độ được áp dụng khi côn trùng hoạt động trong các điều kiện nhiệt độ khác nhau như trong các điều kiện tự nhiên với điều kiện nhiệt độ bên ngoài biến động trong khoảng từ Tm – TM trong đó đường biểu diễn về thời gian phát triển theo nhiệt độ là một đường cong hyperbole Như vậy
có nghĩa là từ những hiểu biết về tổng tích ôn hữu hiệu, người ta có thể tính số thế
hệ có thể xuất hiện trong một năm của từng loại côn trùng nhất định ở từng vùng
cụ thể
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 04/2005 đến tháng 02/2006
- Địa điểm nghiên cứu: Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật - Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học Cần Thơ
* Vật tư thu mẫu: Túi nylon, hộp mũ, dây thun, dao, kéo, viết lông
* Vật tư thí nghiệm:
- Hộp nhựa để nuôi đuôi kìm
- Bông gòn, giấy thấm giữ mẫu, cọ, kéo
- Kính phóng đại, thước đo để quan sát và đo kích thước của từng giai đoạn sinh trưởng
- Thức ăn: thức ăn nhân tạo thành phần gồm thịt bò (400mg/kg), chất béo (400mg/kg), vitamin A(5mg/kg), vitamin D3 (0,5 mg/kg), vitamin E (50mg/kg), rau + dầu + tinh bột (phần còn lại), bọ cánh cứng hại dừa, sâu ăn tạp, rầy mềm, mối
- Hoá chất:
+ CCl4 để giết đuôi kìm + Cồn 700: giữ mẫu, sát trùng dụng cụ
- Phòng lạnh để nuôi đuôi kìm trong điều kiện nhiệt độ 250C
- Tủ úm để nuôi đuôi kìm trong điều kiện nhiệt độ 300C
- Cân điện tử để cân đuôi kìm
2.2 Phương pháp
2.2.1 Khảo sát hình thái và sinh học
Bọ đuôi kìm Chelisoches morio và Chelisoches sp được bắt trên các vườn
dừa tại Đồng Bằng Sông Cửu Long và ở đảo Phú Quốc được đem về nuôi trong 2 điều kiện nhiệt độ 250
C và 300C và được nuôi trong hộp nhỏ có lá dừa làm nơi cư trú và bông gòn để tạo ẩm độ, nuôi bằng thức ăn nhân tạo và thức ăn tự nhiên Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20Sau khi con cái đẻ, khảo sát trong cùng ổ trứng từ lúc trứng nở cho tới khi vũ hoá
và đẻ trứng ở 2 điều kiện nhiệt độ trên và sau 24 giờ ghi nhận chỉ tiêu một lần
a Khảo sát hình thái:
- Ghi nhận các đặc điểm hình thái bên ngoài của C.morio và Chelisoches sp
ở 2 điều kiện nhiệt độ
- Đo kích thước về chiều dài và chiều rộng ở các giai đoạn sinh trưởng của
ấu trùng và thành trùng của C.morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ
khác nhau
b Khảo sát sinh học:
- Khảo sát vòng đời: ghi nhận ngày nở của trứng, ngày lột xác của ấu trùng đuôi kìm ở các tuổi ở 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau Khi đuôi kìm đã vũ hoá thì
cân trọng lượng thành trùng của C.morio và Chelisoches sp
- Khả năng sống sót: ghi nhận số lượng ấu trùng và thành trùng của C.morio
và Chelisoches sp chết trong quá trình nuôi ở 2 điều kiện nhiệt độ
- Khả năng sinh sản: khảo sát khả năng đẻ trứng, tỉ lệ nở của trứng của cả 2
loài C.morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau
- Tỉ lệ đực cái: ghi nhận số cá thể đực và cái trong cùng một ổ trứng để tính
tỉ lệ đực và cái
- Công thức tính tổng tích ôn hữu hiệu:
C = D(T – K) Trong đó:
C: Tổng tích ôn hữu hiệu cần thiết cho sự phát triển côn trùng D: Thời gian phát triển
T: Nhiệt độ môi trường K: Nhiệt độ tối thiểu của ngưỡng sinh học
2.2.2 Khả năng ăn mồi của bọ đuôi kìm
Bọ đuôi kìm được bắt trên các vườn dừa về nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm và tiến hành thử nghiệm khả năng ăn mồi của chúng đối với một số loại sâu hại
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21- Đối tượng thử nghiệm khả năng ăn mồi:
+ Sâu ăn tạp Spodoptera litura được bắt từ ruộng đậu
+ Các loại rầy mềm (Aphididae) được bắt trên cỏ và cam quýt
+ Bọ dừa Brontispa longissima được bắt trên dừa và cau
+ Thành trùng mối không cánh (Isoptera): được lấy từ tổ mối tại gốc dừa
- Bọ đuôi kìm được nuôi trong hộp mũ có lá dừa làm nơi cư trú và bông gòn tạo ẩm độ Trước khi thử nghiệm khả năng ăn mồi đối với cả 2 loài đuôi kìm thì chúng bị bỏ đói 1 ngày
- Tiến hành thử nghiệm khả năng ăn mồi trên 5 cặp thành trùng loài C.morio (5con đực và 5 con cái) và trên 5 cặp thành trùng loài Chelisoches sp (5 con đực
và 5 con cái) Mỗi con thành trùng được thả vào mỗi hộp riêng lẻ sau đó thả các loài sâu hại vào hộp
+ Đối với bọ dừa thì giữ lá dừa còn xếp lại và đưa vào hộp đựng đuôi kìm + Đối với sâu ăn tạp: cắt một phần lá bị sâu ăn có sâu trên đó và đưa vào hộp đựng đuôi kìm để thử nghịêm
+ Đối với rầy mềm cũng tương tự như sâu ăn tạp, cũng cắt một phần lá bị rầy mềm tấn công đưa vào hộp
+ Đối với mối: đập vỡ tổ mối và đưa những mãnh vụn trong đó có thành trùng mối ở bên trong sau đó đưa vào hộp để thử nghiệm
- Sau mỗi ngày quan sát một lần, đếm số lượng sâu hại bị đuôi kìm ăn và ghi nhận chỉ tiêu trong vòng 3 ngày liên tiếp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm hình thái của Chelisoches morio và Chelisoches sp ở 2
điều kiện nhiệt độ 250
C và 300C
Kết quả khảo sát trong điều kiện nhiệt độ 250C và 300C ghi nhận không có
sự khác biệt về đặc điểm hình thái chung của hai loài C.morio và Chelisoches sp
3.1.1 Kích thước các giai đoạn phát triển của Chelisoches morio ở 2 điều kiện
nhiệt độ 25 0 C và 30 0 C
Qua kết quả kết quả khảo sát trên 20 con đuôi kìm ở mỗi giai đoạn phát triển trong 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau có thể so sánh kích thước ấu trùng các tuổi
của C.morio ở 2 điều kiện nhiệt độ trên
Bảng 3.1: Kích thước các giai đoạn phát triển của ấu trùng C.morio ở 2 điều kiện
Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy kích thước của ấu trùng C morio tăng dần theo
các tuổi cả về chiều dài lẫn chiều rộng Khi so sánh giữa 2 điều kiện nhiệt độ thì
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23kích thước của ấu trùng C.morio không khác biệt, tuy nhiên chỉ có ở tuổi 2, chiều dài của C.morio ở điều kiện nhiệt độ 250C cao hơn so với điều kiện nhiệt độ 300C
3.1.2 Kích thước các giai đoạn phát triển của Chelisoches sp ở 2 điều kiện
nhiệt độ 25 0 C và 30 0 C
Đối với Chelisoches sp thí nghiệm cũng được tiến hành bằng cách khảo sát
trên 20 con đuôi kìm ở các giai đoạn phát triển trong 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau Từ đó có thể so sánh kích thước ấu trùng các tuổi trong 2 điều kiện nhiệt độ trên
Bảng 3.2: Kích thước các giai đoạn phát triển của Chelisoches sp ở 2 điều kiện
Kết quả ở bảng 3.2 ghi nhận: kích thước bọ đuôi kìm vàng Chelisoches sp
tăng dần theo tuổi cả về chiều dài lẫn chiều rộng Nhìn chung không có sự khác
biệt rõ nét về kích thước ấu trùng Chelisoches sp được nuôi ở 2 điều kiện nhiệt
độ khác nhau ngoại trừ các tuổi 1, tuổi 3 và tuổi 4, chiều dài của cá thể được nuôi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24trong điều kiện nhiệt độ300C dài hơn các cá thể nuôi trong điều kiện nhiệt độ
250C
3.1.3 Kích thước thành trùng của Chelisoches morio và Chelisoches sp ở 2
điều kiện nhiệt độ 25 0 C và 30 0 C
Thí nghiệm được tiến hành bằng cách đo kích thước của 10 thành trùng đực
và 10 thành trùng cái của 2 loài C.morio và Chelisoches sp trong 2 điều kiện
Qua kết quả ghi nhận ở bảng 3.3 thì hầu hết chiều rộng của thành trùng đực
và cái của cả 2 loài ở 2 điều kiện nhiệt độ đều không khác biệt Khi so sánh về
chiều dài thì có khác biệt, ở cả 2 loài C.morio và Chelisoches sp trong mỗi điều
kiện nhiệt độ thì chiều dài của con cái luôn lơn hơn con đực
Nhìn chung qua so sánh kích thước ở các giai đoạn phát triển của C.morio
và Chelisoches sp trong 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau ghi nhận kích thước
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25thành trùng cái lớn hơn kích thước thành trùng đực Đối với C.morio kích thước
ấu trùng các tuổi hầu hết không khác biệt ở 2 điều kiện nhiệt độ, loài Chelisoches
sp thì chiều dài ấu trùng các tuổi ở điều kiện nhiệt độ 300C lớn hơn so với điều
kiện nhiệt độ 250C Điều đó cho thấy ở điều kiện nhiệt độ 300C có thể là điều kiện
nhiệt độ thích hợp cho Chelisoches sp phát triển.
3.2 Một số đặc điểm sinh học ở các giai đoạn phát triển của Chelisoches
3.2.1 Thời gian sinh trưởng ở giai đoạn ấu trùng các tuổi của Chelisoches sp
và C.morio trong 2 điều kiện nhiệt độ 250 C và 30 0 C
Kết quả khảo sát trên 15 con ở mỗi giai đoạn phát triển ở 2 điều kiện nhiệt
độ khác nhau bằng cách ghi nhận thời gian lột xác của ấu trùng
Bảng 3.4: So sánh thời gian sinh trưởng các giai đoạn ấu trùng của Chelisoches
sp và C.morio ở 2 điều kiện nhiệt độ 250C và 300C
Thời gian phát triển (ngày)
Kết quả ở bảng 3.4 ghi nhận: thời gian sinh trưởng của ấu trùng các tuổi của
2 loài C.morio và Chelisoches sp khác nhau giữa 2 điều kiện nhiệt độ Ở điều
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26kiện 300C thì thời gian sinh trưởng của ấu trùng các tuổi của cả 2 loài ngắn hơn so
với điều kiện 250C
Bảng 3.5: So sánh thời gian sinh trưởng các giai đoạn ấu trùng của C.morio và
Chelisoches sp ở từng điều kiện nhiệt độ 250C và 300C
Thời gian phát triển (ngày)
Qua kết quả ghi nhận ở bảng 3.5 khi so sánh thời gian sinh trưởng của ấu
trùng C.morio và Chelisoches sp ở từng điều kiện nhiệt độ thì ở điều kiện 250C
có sự khác biệt về thời gian sinh trưởng ở tuổi 4 giữa 2 loài đuôi kìm khảo sát,
không ghi nhận có sự khác biệt ở các giai đoạn ấu trùng tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 Trái
lại ở điều kiện 300C thì thời gian sinh trưởng của ấu trùng giữa 2 loài có khác biệt
rất rõ nét, và sự khác biệt này được ghi nhận ở tất cả các tuổi từ tuổi 1 đến tuổi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 273.2.2 Thời gian ấu trùng của C.morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt
độ 25 0
C và 30 0 C
Kết quả ghi nhận thời gian phát triển trên 15 con ấu trùng ở các tuổi của cả
2 loài C.morio và Chelisoches sp
Bảng 3.6: So sánh giai đoạn ấu trùng của C.morio và Chelisoches sp ở 2 điều
So sánh về thời gian phát triển của toàn bộ giai đoạn ấu trùng của 2 loài
C.morio và Chelisoches sp., khảo sát trong cùng một loài ghi nhận có sự khác biệt
rất rõ nét về thời gian phát triển giữa 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau Ở điều kiện
250C thời gian phát triển giai đoạn ấu trùng dài hơn so với điều kiện 300C
Bảng 3.7: So sánh giai đoạn ấu trùng của C.morio và Chelisoches sp ở từng điều
Trang 28độ 300C có sự khác biệt rất rõ về thời gian phát triển giữa 2 loài, ở nhiệt độ 300C,
thời gian phát triển ấu trùng của Chelisoches sp ngắn hơn rõ nét so với C.morio
Nhìn chung qua so sánh thời gian sinh trưởng của 2 loài đuôi kìm ở 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau thì ở điều kiện 250C cả 2 loài đuôi kìm đều có thời gian sinh trưởng dài hơn rất rõ so với thời gian sinh trưởng ở điều kiện 300C Điều này phù hợp với định luật VANT HOF (cường độ của tất cả các hiệu lực sinh học và biến dưỡng tuỳ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố nhiệt độ) Bên cạnh đó nhiệt độ có
tác động lớn đến sự phát triển của loài Chelisoches sp hơn so với loài C.morio
Trang 293.2.3 Tổng tích ôn hữu hiệu cần thiết cho sự phát triển của bọ đuôi kìm đen
C morio và bọ đuôi kìm vàng Chelisoches sp
Tổng tích ôn hữu hiệu là tổng nhiệt lượng cần thiết cho sự phát triển của côn trùng Để tính tổng tích ôn hữu hiệu cho một vòng đời của 2 loài đuôi kìm, thời gian của một vòng đời trong từng điều kiện nhiệt độ đã được ghi nhận
3.2.3.1 Vòng đời của loài Chelisoches morio
Bảng 3.8: Chu kỳ sinh trưởng của C.morio trong 2 điều kiện nhiệt độ 250C và
Như vậy nhiệt độ phát dục của C morio là 9,70C và tổng nhiệt lượng cần
thiết để C morio hoàn thành vòng đời phát triển là 1805,40N
Số cá thể quan sát Thời gian của vòng đời (ngày) Giai đoạn sinh trưởng
Trang 303.2.1.2 Vòng đời của loài Chelisoches sp
Bảng 3.9: Chu kỳ sinh trưởng của Chelisoches sp trong 2 điều kiện nhiệt độ 250C
Như vậy nhiệt độ phát dục của Chelisoches sp là 120C và tổng nhiệt lượng
cần thiết để Chelisoches sp hoàn thành vòng đời phát triển là 15470N
Nhìn chung qua 2 thí nghiệm trên, ở cả 2 loài vòng đời trung bình ở điều kiện 300C ngắn hơn so với điều kiện 250C Đối với C.morio vòng đời trung bình ở điều kiện 250C
là 118 ngày, ở điều kiện 300C là 89 ngày Loài Chelisoches sp ở điều kiện 250C có vòng đời trung bình là 119 ngày và 86 ngày ở điều kiện 300
C
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 313.2.4 Tỷ lệ đực và cái của Chelisoches sp và C morio
3.2.4.1 Tỉ lệ thành trùng đực và cái của Chelisoches sp
Kế quả khảo sát trên 60 cá thể ở mỗi điều kiện nhiệt độ được lấy từ trứng của 2 cá thể cái ghi nhận được tỉ lệ đực và cái như sau (bảng 3.10)
Bảng 3.10: Tỉ lệ thành trùng đực và cái của Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ
khác nhau
Thành trùng Nhiệt độ
Con đực (%) Con cái (%)
3.2.4.2 Tỉ lệ thành trùng đực và cái của bọ đuôi kìm đen C morio
Kết quả khảo sát trên 40 cá thể ở mỗi điều kiện nhiệt độ lấy từ trứng của 2
cá thể cái ghi nhận được tỉ lệ đực cái như sau (bảng 3.11)
Bảng 3.11: Tỉ lệ thành trùng đực và cái của C morio ở 2 điều kiện nhiệt độ khác
Trang 32Thành trùng Nhiệt độ
Con đực (%) Con cái (%)
(•) : ẩm độ trung bình: 73% (biến động: 70-76%)
Qua kết quả ghi nhận ở bảng 3.11 cho thấy ở cả 2 điều kiện nhiệt độ, tỉ lệ
con đực có vẽ chiếm ưu thế hơn so với con cái
3.2.5 Tỉ lệ sống sót của ấu trùng C.morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện
nhiệt độ khác nhau
Ở mỗi điều kiện nhiệt độ, khảo sát trên 30 cá thể và ghi nhận tỉ lệ sống sót
Bảng 3.12: Tỉ lệ sống sót của ấu trùng C.morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện
Kết quả ở bảng 3.12 ghi nhận: đối với C morio ở điều kiện nhiệt độ 250C,
ấu trùng các tuổi đều có tỉ lệ sống cao (100%) Ở nhiệt độ 300C tỉ lệ sống của ấu
trùng bọ đuôi kìm đen C morio đều giảm và số cá thể sống sót ở giai đoạn tuổi 3
là thấp nhất (76%) Đều này cho thấy nhiệt độ 250C thích hợp cho C morio sống
và phát triển tốt hơn nhiệt độ 300C Ở loài Chelisoches sp gần như không có sự
khác biệt đáng kể về tỉ lệ sống sót ở các tuổi, ngoại trừ ở giai đoạn ấu trùng tuổi 4
tỉ lệ sống sót ở nhiệt độ 300C là 96% so với 100% ở nhiệt độ 250C
Kết quả cho thấy tỉ lệ sống sót đều rất cao ở nhiệt độ 250C cho cả 2 loài
C.morio và Chelisoches sp Loài Chelisoches sp tỏ ra có khả năng thích nghi với
sự biến đổi nhiệt độ cao hơn so với loài C.morio
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 333.2.6 Khả năng đẻ trứng của C morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt
độ khác nhau
3.2.6.1 Khả năng đẻ trứng của C morio ở 2 điều kiện nhiệt độ
Ở mỗi điều kiện nhiệt độ tiến hành khảo sát trên 5 cá thể cái, ghi nhận số lần
đẻ và số trứng
Bảng 3.13: Khả năng đẻ trứng của bọ đuôi kìm đen Chelisoches morio ở 2 điều
kiện nhiệt độ khác nhau
Số trứng và lần đẻ ở 2 điều kiện nhiệt độ
250C (•)
300C (•)
250C (•)
300C (•)
250C (•)
300C (•)
250C (•)
300C (•)
Trang 34Kết quả khảo sát từ lúc vừa vũ hoá và sau khi bắt cặp của C morio ở 2 điều
kiện nhiệt độ trong vòng 3 tháng cho thấy ở điều kiện nhiệt độ 300C C morio chỉ
đẻ 1 lần và số lượng trứng khá thấp trung bình khoảng 28 trứng/ổ Ở điều kiện
nhiệt độ 250C C morio đẻ từ 2 đến 3 lần với số lượng 37 trứng/ổ và tổng số trứng
là 88 trứng Như vậy ở điều kiện nhiệt độ 250C, C morio đẻ tốt hơn so với điều
kiện nhiệt độ 300C
3.2.6.2 Khả năng đẻ trứng của Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ
Ở mỗi điều kiện nhiệt độ khảo sát trên 7 cá thể cái, ghi nhận số lần đẻ và số trứng
Bảng 3.14: Khả năng đẻ trứng của bọ đuôi kìm vàng Chelisoches sp ở 2 điều
kiện nhiệt độ khác nhau
Số trứng và lần đẻ ở 2 điều kiện nhiệt độ
250C (•)
300C (•)
250C (•)
300C (•)
250C (•)
300C (•)
250C (•)
300C (•)
Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ trong 3 tháng cho thấy ở cả 2 điều kiện
nhiệt độ Chelisoches sp có khả năng đẻ trứng khá tốt Ở điều kiện nhiệt độ 250C
thì số lượng là 49 trứng/ổ, tổng số trứng là 92 trứng Ở điều kiện nhiệt độ 300C thì
số lượng là 50 trứng/ổ, tổng số trứng là 98 trứng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 35Qua 2 kết quả trên, ghi nhận: ở điều kiện nhiệt độ 250C cả 2 loài đuôi kìm
đều đẻ trứng khá tốt nhưng số lượng trứng đẻ của Chelisoches sp nhiều hơn so với C morio Ở điều kiện nhiệt độ 300C, C morio có số lượng trứng đẻ khá thấp,
ngược lại ở điều kiện nhiệt độ 300C Chelisoches sp lại có số lượng trứng đẻ khá
cao
3.2.7 Trọng lượng của thành trùng Chelisoches sp và C morio
Để khảo sát thêm tác động của nhiệt độ đối với 2 loài đuôi kìm chúng tôi
tiến hành ghi nhận trọng lượng cơ thể của 2 loài C.morio và Chelisoches sp ở 2
điều kiện nhiệt độ khác nhau
3.2.7.1 Trọng lượng của thành trùng Chelisoches sp và C morio trong hai
điều kiện nhiệt độ khác nhau
Khoảng 3 ngày sau khi ấu trùng vũ hoá thành thành trùng tiến hành cân trọng lượng ngẫu nhiên trên 10 con thành trùng bao gồm 5 con đực và 5 con cái
Bảng 3.15: Trọng lượng cơ thể của thành trùng Chelisoches sp và C.morio ở 2
điều kiện nhiệt độ khác nhau
Trọng lượng cơ thể (mg) Nhiệt độ
Trang 36với loài Chelisoches sp trọng lượng cơ thể ở điều kiện 300C lại lớn hơn so với điều kiện 250C
3.2.7.2 Trọng lượng của thành trùng Chelisoches sp và Chelisoches morio
trong cùng điều kiện nhiệt độ 25 0 C và 30 0 C
Sau khi ấu trùng vũ hoá khoảng 3 ngày tiến hành cân ngẫu nhiên trọng lượng 10 con thành trùng bao gồm 5 con đực và 5 con cái
Bảng 3.16: Trọng lượng cơ thể của Chelisoches sp và Chelisoches morio trong
cùng điều kiện nhiệt độ
Trọng lượng (mg) Loài đuôi kìm
**: Khác biệt ở mức ý nghĩa 1%
Qua kết quả ghi nhận ở bảng 3.16 cho thấy trọng lượng thành trùng
Chelisoches sp và C.morio trong cùng điều kiện nhiệt độ đều khác biệt khá rõ
nét Ở điều kiện 250C thì trọng lượng thành trùng của C.morio cao hơn so với Chelisoches sp Ngược lại ở điều kiện 300C thì trọng lượng thành trùng
Chelisoches sp lại cao hơn C.morio
Nhìn chung qua kết quả thí nghiệm về trọng lượng thành trùng ở 2 loài
C.morio và Chelisoches sp ở 2 điều kiện nhiệt độ khác nhau cho thấy nhiệt độ
300C tỏ ra thích nghi cho sự phát triển của Chelisoches sp Trái lại ở loài C.morio
nhiệt độ thích hợp lại là 250C so với 300C
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 373.3 Khả năng ăn mồi của Chelisoches sp và C morio
Để khảo sát khả năng ăn mồi của 2 loài đuôi kìm Chelisoches sp và C.morio chúng tôi khảo sát khả năng ăn mồi của chúng trên bốn loại mồi, bao
gồm sâu ăn tạp (Spodoptera litura), bọ cánh cứng hại dừa (Brontispa longissima),
các loại rầy mềm (Aphididae) và mối đất (Isoptera) (Hình 3.7, 3.8, 3.9 và 3.10)
Hình 3.7: Hai loại rầy mềm (Aphididae) Hình 3.8: Sâu ăn tạp Spodoptera
litura
Hình 3.9: Mối đất (Isoptera) Hình 3.10: Bọ dừa (Brontispa longissima)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 383.3.1 Khả năng ăn mồi của thành trùng Chelisoches sp và C morio trên sâu
ăn tạp (Spodoptera litura)
Thí nghiệm được khảo sát trên 10 con thành trùng bao gồm 5 con đực và 5
con cái ở cả 2 loài C.morio và Chelisoches sp
Bảng 3.17: Khả năng ăn mồi của thành trùng Chelisoches sp và C morio với sâu
Trang 39Các giá trị theo sau có cùng chữ giống nhau trong cùng một cột thì không khác biệt ở mức ý nghĩa 5%
**: Khác biệt ở mức ý nghĩa 1%
Kết quả ở bảng 3.17 cho thấy mỗi ngày thành trùng C.morio có thể ăn 7,14
ấu trùng sâu ăn tạp tuổi 1; 4,28 ấu trùng tuổi 2; 3,24 ấu trùng tuổi 3; 1,01 ấu trùng tuổi 4; 0,34 ấu trùng tuổi 5 của sâu ăn tạp Như vậy ấu trùng tuổi 1 bị chúng ăn nhiều nhất và thấp nhất là ấu trùng tuổi 5 Tình hình tương tự cũng được ghi nhận
ở thành trùng loài Chelisoches sp mỗi ngày chúng có thể ăn 3,96 ấu trùng tuổi 1;
3,48 ấu trùng tuổi 2; 1,61 ấu trùng tuổi 3; 0,60 ấu trùng tuổi 4; 0,15 ấu trùng tuổi
5 của sâu ăn tạp Ấu trùng tuổi 1 cũng bị ăn nhiều nhất và thấp nhất là ấu trùng tuổi 5
Bảng 3.18: Khả năng ăn mồi của thành trùng Chelisoches sp và C morio với
từng tuổi sâu ăn tạp
Số lượng sâu ăn tạp bị đuôi kìm ăn (con) Loài đuôi kìm
Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5
Kết quả ở bảng 3.18 ghi nhận: sâu ăn tạp là con mồi ưa thích của cả 2 loài
C.morio và Chelisoches sp Tuy nhiên loài C.morio có khả năng ăn sâu ăn tạp cao hơn loài Chelisoches sp Đặc biệt đối với con mồi là sâu ăn tạp tuổi 1 C.morio có khả năng ăn gần gấp đôi so với loài Chelisoches sp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu