Do đó đề tài “ Khảo sát đặc tính hình thái và so sánh năng suất 24 giống lúa cao sản ngắn ngày, vụ Đông Xuân 2009 – 2010 Tại Châu Thành – An Giang ” được thực hiện nhằm mục đích tìm ra đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NN & SHƯD - VIỆN NCPT ĐBSCL
- o0o -
NGUYỄN TẤN ĐỨC
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI VÀ SO SÁNH NĂNG SUẤT 24 GIỐNG LÚA NGẮN NGÀY VỤ
ĐÔNG XUÂN 2009 – 2010 TẠI HUYỆN
CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ Ngành: TRỒNG TRỌT
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NN & SHƯD - VIỆN NCPT ĐBSCL
- o0o -
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Ngành: TRỒNG TRỌT
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI VÀ SO SÁNH NĂNG SUẤT 24 GIỐNG LÚA NGẮN NGÀY VỤ ĐÔNG XUÂN 2009 – 2010 TẠI HUYỆN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Cần thơ, ngày tháng năm 2010
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Tấn Đức
Trang 4XÁC NHẬN VÀ NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Cần thơ, ngày tháng năm 2010 Cán bộ hướng dẫn ………
Trang 5XÁC NHẬN VÀ NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN
Cần thơ, ngày tháng năm 2010 Cán bộ phản biện ………
Trang 6XÁC NHẬN VÀ NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO
Cần thơ, ngày tháng năm 2010 Chủ tịch hội đồng báo cáo ………
Trang 7LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Họ và Tên: Nguyễn Tấn Đức
Ngày sinh: 20/04/1988
Nơi sinh: Ấp Nhơn Hiệp, Xã Nhơn Mỹ, Huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang
Là con ông Nguyễn Văn Hiền và bà Hồ Thị Do
Đã tốt nghiệp năm 2006 tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm Huyện Châu Thành – Tỉnh An Giang
Năm 2007-2011 học tại Trường Đại học Cần Thơ, thuộc Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, lớp Trồng Trọt khóa 33
Cần Thơ, Ngày Tháng Năm 2010
Nguời viết lý lịch
Nguyễn Tấn Đức
Trang 8Cố vấn học tập thầy Trần Văn Hâu và các bạn sinh viên lớp Trồng Trọt khóa
33 đã giúp đỡ, động viên trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp
Gởi lời thân ái đến tất cả các bạn sinh viên của Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng và Viện Nghiên Cứu Phát Triển đồng bằng sông Cửu Long những lời tốt đẹp nhất
Nguyễn Tấn Đức
Trang 9TÓM LƯỢC
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất lúa gạo trọng điểm cả nước Công việc chọn tạo các giống lúa mới có kiểu hình đẹp, năng suất cao được thực hiện liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và xuất khẩu Do đó đề tài “ Khảo sát đặc tính hình thái và so sánh năng suất 24 giống lúa cao sản ngắn ngày, vụ Đông Xuân 2009 – 2010 Tại Châu Thành – An Giang ” được thực hiện nhằm mục đích tìm ra được giống lúa có năng suất cao, kiểu hình đẹp trong bộ giống lúa, qua đó giúp người nông dân dễ dàng hơn trong việc lựa chọn giống cho mùa vụ của mình,
từ đó gia tăng thu nhập cho người nông dân
Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 24 nghiệm thức
là 24 giống lúa (MTL603, MTL631, MTL651, MTL684, MTL685, MTL686, MTL687, MTL618, MTL638, MTL641, MTL655, MTL658, MTL662, MTL664, MTL688, MTL689, MTL690, MTL691, MTL692, MTL693, MTL694, MTL695, OMCS2000 (đc), MTL145 (đc)) Với 3 lần lập lại, các giống lúa được gieo theo phương pháp mạ sân, sau đó cấy xuống ruộng thí nghiệm mật độ 15x15 cm, công thức bón phân 90N - 60P2O5 - 60K2O
Kết quả cho thấy thời gian sinh trưởng từ 88 – 96 ngày, chiều cao biến thiên
từ 91-122 cm, năng suất trung từ 5,7-8,0 tấn/ha
Trong đó các giống được đánh giá cao và có triển vọng là:
- MTL692 năng suất cao 8,0 tấn/ha, hơi kháng rầy nâu và bệnh vàng lùn, hơi kháng cháy bìa lá, chiều cao trung bình 106 cm, thời gian sinh trưởng ngắn 93 ngày, kiểu hình cây lúa lý tưởng
- MTL662 năng suất cao 7,8 tấn/ha, hơi kháng rầy nâu và bệnh vàng lùn, hơi kháng cháy bìa lá, chiều cao trung bình 107 cm, thời gian sinh trưởng ngắn 92 ngày, kiểu hình cây lúa lý tưởng
- MTL695 năng suất cao 7,7 tấn/ha, hơi kháng rầy nâu và bệnh vàng lùn, hơi kháng cháy bìa lá, chiều cao 122 cm, thời gian sinh trưởng ngắn 92 ngày, kiểu hình cây lúa đẹp
Trang 10- MTL688 năng suất cao 7,5 tấn/ha, hơi kháng rầy nâu và bệnh vàng lùn, hơi kháng cháy bìa lá, chiều cao trung bình 99 cm, thời gian sinh trưởng ngắn 92 ngày, kiểu hình cây lúa đẹp
- MTL693 năng suất cao 7,4 tấn/ha, hơi kháng rầy nâu và bệnh vàng lùn, hơi kháng cháy bìa lá, chiều cao trung bình 101 cm, thời gian sinh trưởng ngắn 92 ngày, kiểu hình cây lúa đẹp
Trong các giống trên, triển vọng là 2 giống MTL692, MTL662 năng suất cao, và kháng bệnh, thân thấp hạn chế đổ ngã
Trang 11MỤC LỤC
Tóm lược viii
Mục lục x
Danh sách hình xii
Danh sách bảng xiii
Mở đầu 1
Chương 1: Lược khảo tài liệu 2
1.1 Vai trò của giống trong sản xuất nông nghiệp 2
1.1.1 Giống lúa 2
1.1.2 Vai trò của giống lúa trong canh tác 2
1.2 Tiến trình chọn giống lúa 3
1.2.1 Chọn vật liệu khởi đầu 3
1.2.2 Thí nghiệm sơ khởi 3
1.2.3 Thí nghiệm hậu kỳ 3
1.2.4 So sánh năng suất 4
1.2.5 Chọn giống phổ biến và đặt tên 4
1.3 Quan điểm về kiểu hình cây lúa năng suất cao 4
1.4 Đặc điểm nông học 5
1.4.1 Thời gian sinh trưởng 5
1.4.2 Chiều cao cây lúa 5
1.4.3 Tỉ lệ chồi hữu hiệu 6
1.4.4 Chiều dài bông 6
1.5 Năng suất và thành phần năng suất 7
1.5.1 Số bông trên mét vuông 7
1.5.2 Số hạt chắc trên bông 7
1.5.3 Phần trăm hạt chắc 8
1.4.4 Trọng lượng 1000 hạt 8
1.6 Tính kháng – nhiễm bệnh 9
Chương 2 Phương tiện và phương pháp 10
2.1 Phương tiện 10
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 10
2.1.2 Bộ giống lúa 10
2.2 Phương pháp thí nghiệm 11
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 11
2.2.2 Phương pháp thí nghiệm 12
2.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 13
2.2.4 Phương pháp tính thành phần năng suất và năng suất 16
2.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 17
Chương 3 Kết quả thảo luận 18
3.1 Ghi nhận tổng quát 18
3.2 Đặc tính cây lúa 18
3.2.1 Các hình tính của lá 20
3.2.2 Các hình tính của thân và bông 23
3.2.3 Thời gian sinh trưởng 25
Trang 123.2.4 Tính đổ ngã 25
3.2.5 Chiều cao cây 25
3.2.6 Số chồi trên bụi 26
3.2.7 Chiều dài bông 26
3.3 Tình hình sâu bệnh 28
3.3.1 Rầy nâu 28
3.3.2 Bệnh cháy bìa lá 28
3.3.3 Bệnh vàng lùn 29
3.4 Thành phần năng suất và năng suất thực tế 30
3.4.1 Thành phần năng suất 30
3.4.2 Năng suất thực tế 32
Chương 4 Kết luận và để nghị 35
4.1 Kết luận 35
4.2 Đề nghị .35
Trang 13DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ thí nghiệm của 24 giống lúa ngắn ngày vụ Đông Xuân 2009-2010 tại trại giống Bình Đức, huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang 11
Hình 2.2 Mạ sân sau khi gieo 12
Hình 2.3 Phân lô và cấy mạ 12
Hình 2.4 Sơ đồ lấy mẫu năng suất và thành phần năng suất .17
Trang 14DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Danh sách 24 giống lúa 10
Bảng 3.1 Các hình thái về lá lúa cùa 24 giống lúa ngắn ngày vụ Đông Xuân
2009-2010 tại trại giống Bình Đức, huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang 20
Bảng 3.2 Các hình thái về thìa lá và góc độ lá của 24 giống lúa ngắn ngày
vụ Đông Xuân 2009-2010 tại trại giống Bình Đức, huyện Châu Thành,
Tỉnh An Giang 22
Bảng 3.3 Các hình thái về thân và hoa lúa của 24 giống lúa ngắn ngày
vụ Đông Xuân 2009-2010 tại trại giống Bình Đức, huyện Châu Thành,
Tỉnh An Giang 24
Bảng 3.4 Các đặc tính nông học của 24 giống lúa ngắn ngày vụ Đông Xuân
2009-2010 tại trại giống Bình Đức, huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang 27
Bảng 3.5 Tình hình sâu bệnh của 24 giống lúa ngắn ngày vụ Đông Xuân
2009-2010 tại trại giống Bình Đức, huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang 29
Bảng 3.6 Năng suất và thành phần năng suất của 24 giống lúa ngắn ngày vụ Đông Xuân
2009-2010 tại trại giống Bình Đức, huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang 34
Trang 15MỞ ĐẦU
Lúa là cây lương thực quan trọng nhất ở nước ta và đặc biệt là ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Trồng lúa là một nghề truyền thống của nhân dân Việt Nam từ rất xưa, những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia vào thị trường lúa gạo quốc tế với sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm đứng thứ 2 trong số các nước xuất khẩu gạo nhiều nhất trên thế giới
Diện tích trồng lúa năm 2008 trong cả nước đạt 7.399,6 nghìn ha, tăng 2,8%
so với năm trước với sản lượng là 38,63 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,869 tỉ USD, chiếm 18% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông-lâm-thủy sản cả năm, trong
đó ĐBSCL đóng góp hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước Hàng năm, ĐBSCL sử dụng khoảng 2 triệu tấn phân bón hóa học và gần 500.000 tấn thuốc bảo
vệ thực vật, việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật quá cao dẫn đến tồn dư hóa chất trong đất, bộc phát rầy nâu mạnh mẽ trong những năm gần đây, giảm năng suất lúa và kết quả là giảm thu nhập của người nông dân
Bên cạnh đó, để gia tăng năng suất lúa cũng như một số cây trồng khác, việc chọn các giống có năng suất cao, chất lượng tốt cho mùa vụ là xu thế mới đã được
áp dụng rộng rãi trên đồng ruộng trong những năm gần đây Việc sử dụng các giống
có năng suất cao, chất lượng tốt, nhằm mục đích nâng cao năng suất và phẩm chất hạt gạo sau mỗi lần thu hoạch, để góp phần vào việc đưa hạt gạo của nước ta lên tầm cao mới trên thị trường thế giới Tuy nhiên, hiện nay trên thị trường giống có rất nhiều loại giống với các đặc tính khác nhau, và năng suất cũng khác nhau, điều này gây khó khăn cho người nông dân trong việc lựa chọn giống cho mùa vụ của mình
Trước thực trạng đó, đề tài: “Khảo sát đặc tính hình thái và so sánh năng suất 24 giống lúa cao sản ngắn ngày, vụ Đông Xuân 2009 – 2010 tại Châu Thành – An Giang” được thực hiện nhằm mục đích tìm ra được giống lúa có năng
suất cao, phù hợp với điều kiện sản xuất, giúp người nông dân dễ dàng lựa chọn giống phù hợp cho mùa vụ của mình, từ đó gia tăng thu nhập cho người nông dân
Trang 16Chương 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Vai trò của giống lúa trong sản xuất nông nghiệp
1.1.1 Giống lúa
Lúa là cây lương thực quan trọng trong nền nông nghiệp với sản lượng gạo xuất khẩu hiện nay đứng hàng thứ hai trên thế giới, ĐBSCL là trọng điểm, là vựa lúa lớn nhất cho cả nước Ngày nay nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật những giống lúa địa phương trước đây dần dần được thay thế bằng những giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, không quan cảm (Võ Tòng Xuân, 1986) Giống được xem là một trong những yếu tố hàng đầu trong việc nâng cao năng suất cây trồng Các nhà khoa học đã ước tính khoảng 30 - 50% mức tăng năng suất hạt của cây lương thực trên thế giới là nhờ đưa vào sản xuất những giống tốt (Trần Thượng Tuấn, 1992) Giống phải cho năng suất cao và ổn định, tính chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi cũng như chất lượng lúa gạo phải đáp ứng được với yêu cầu sử dụng (Vũ Văn Hiến và ctv, 1995) Việc chọn tạo các giống cây trồng nhằm cải tạo và hoàn thiện cấu trúc di truyền của những đặc tính có lợi ở cây trồng tạo những cây trồng mới có tính thích ứng và khả năng chống chịu cao với điều kiện ngoại cảnh bất lợi với côn trùng và dịch hại, có kiểu hình đẹp, năng suất cao, phẩm chất tốt đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của con người (Vũ Hữu Yêm và ctv, 2001)
1.1.2 Vai trò của giống trong canh tác lúa
Giống tốt bao gồm giống lúa có tiềm năng năng suất cao và hạt giống có chất lượng gieo trồng tốt, nó có khả năng thích ứng với tất cả các biện pháp canh tác Ngày nay khi lúa lai ra đời và đi vào sản xuất trên diện tích rộng thì chỉ cần thay giống cũ bằng giống mới có khả năng cho năng suất cao hơn đã có thể tăng năng suất từ 15 - 20% trong cùng điều kiện (Vũ Văn Hiến và ctv, 1999) Khi diện tích lúa gạo đang ngày càng thu hẹp lại do sự phát triển của các cở sở công nghiệp, giao thông, nhà ở và sự thay đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng đã đặt ra cho nền nông nghiệp một nhiệm vụ lớn làm sao để gia tăng năng suất gấp bội Đây là một vấn đề khó
Trang 17khăn nhưng hoàn toàn có thể thực hiện được và giống giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề này (Trần Thượng Tuấn, 1992)
Những thành tựu có tính chất lịch sử trong ngành trồng lúa là đã tạo ra được hàng loạt các giống lúa cao sản mới, ngắn ngày, kháng được một số sâu bệnh quan trọng, cho năng suất cao, có phẩm chất gạo tốt, hạt dài, trong và không bạc bụng (Trần Thượng Tuấn, 1992)
1.2 Tiến trình chọn giống lúa
1.2.1 Chọn vật liệu khởi đầu
Chọn lọc tự nhiên: chọn những cá thể tốt từ những cánh đồng tốt sau đó đem
về quan sát và loại bỏ cây lạ, giữ lại dòng tốt, bước kế tiếp là trắc nghiệm lại năng suất
Chọn lọc nhân tạo: từ hai nguồn
- Giống nhập từ nước ngoài: tiến hành thí nghiệm và trắc nghiệm lại ở điều kiện Việt Nam
- Giống trong nước: lai tạo và tuyển chọn qua nhiều thế hệ theo những mục đích mong muốn của nhà chọn giống
1.2.2 Thí nghiệm sơ khởi
Dùng 100-200 giống/dòng để thí nghiệm sơ khởi Mỗi giống/dòng cấy từ 5-6 hàng, mỗi hàng 4-5 m, không lập lại, cứ 10 - 20 giống/dòng cấy một giống đối chứng (giống tốt ở vùng đó) Từ kết quả thí nghiệm này chọn 30 - 50 giống/dòng có năng suất cao hơn giống đối chứng để trắc nghiệm hậu kỳ
Trang 18
1.2.4 So sánh năng suất
Các giống/dòng triển vọng nhất chọn được ở lô thí nghiệm hậu kỳ được vào thí nghiệm so sánh năng suất tại nhiều địa bàn khác nhau Qua nhiều vụ sẽ chọn một
số giống nổi bật nhất đưa ra khu vực hóa và sản xuất trên một diện tích rộng lớn
1.2.5 Chọn giống phổ biến và đặt tên
Thí nghiệm được tiến hành ở nhiều nơi trên cả nước Thí nghiệm ở cả 3 vụ liên tiếp nhau (Đông Xuân - Hè Thu - Đông Xuân) với bộ giống Bộ giống này được hình thành từ 1- 2 giống/dòng do nhiều cơ quan nghiên cứu phối hợp lại Sau
đó chọn một vài giống nổi bật nhất được Bộ Nông Nghiệp công nhận, đặt tên và phổ biến cho nông dân sản xuất
1.3 Quan điềm về kiểu hình cây lúa năng suất cao
Matsushima (1970) đề nghị kiểu hình cây lúa lý tưởng bao gồm 6 đặc điểm như sau:
- Cây phải có đủ số hạt cần thiết trên đơn vị diện tích để đạt được năng suất mong muốn
- Thân thấp, bông ngắn và có nhiều bông để tránh đổ ngã và gia tăng phần trăm hạt chắc
- Ba lá trên cùng phải ngắn, dầy và thẳng đứng để gia tăng hiệu quả sử dụng ánh sáng và do đó gia tăng phần trăm hạt chắc
- Duy trì khả năng hấp thụ N, ngay cả thời kì sau khi trổ để gia tăng phần trăm hạt chắc
- Có càng nhiều lá xanh trên thân càng tốt (số lá xanh được xem như là chỉ số biểu hiện sức khỏe của cây)
- Trổ lúc thời tiết thuận lợi để nhận được nhiều nắng sau khi trổ, nhằm gia tăng sản phẩm quang hợp ở thời kì chín
Trong đó, đặc tính hình thái quan trọng nhất của cây lúa lý tưởng là 3 lá trên cùng ngắn dầy và thẳng đứng kết hợp với thân thấp (trích từ Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Giống lúa thân thấp, cứng đã được phát triển từ những năm 1960 Đáp ứng mục tiêu thâm canh, không quang cảm, phản ứng cao với phân đạm, năng suất cao
Trang 19và ổn định Thực tế cho thấy, với cây lúa hiện nay, năng suất của nó đã đạt tới tiềm năng tối đa, cần có những cấu trúc mới để có thể đột phá được ngưỡng nói trên (Bùi Chí Bửu, 1998)
Năng suất lúa được đóng góp bởi các thành phần năng suất: số bông/m2, số hạt chắc/bông, trọng lượng 1000 hạt Vào năm 1989, hình dạng cây lúa mới được thiết lập thông qua nguyên lý cơ bản kiểu cây lúa lý tưởng cho kỹ thuật sạ thẳng (Vergara, 1988) Năm 1994, mô hình này được thể hiện chi tiết với đặc điểm cây lúa như sau: thời gian sinh trưởng 100 - 130 ngày, chiều cao 90 - 110 cm, lá dày, ngắn và thẳng đứng, đẻ chồi không nhiều và rễ rất khỏe, khoảng 8 bông/bụi, mỗi bông cho 200 - 250 hạt, chỉ số thu hoạch 0,55 - 0,60 (trích từ Lê Xuân Thái, 2003)
1.4 Đặc tính nông học
1.4.1 Thời gian sinh trưởng
Trong chu kỳ sống, cây lúa hoàn thành cơ bản hai giai đoạn sinh trưởng phân biệt kế tiếp nhau: Sinh trưởng và sinh dục Các giống lúa có thời gian sinh trưởng khác nhau chủ yếu là do sự dài ngắn khác nhau ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, phụ thuộc giống và điều kiện ngoại cảnh
Các giống lúa có thời gian sinh trưởng quá ngắn thì cây lúa sẽ không đủ thời gian tích lũy chất khô trong quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực nên không thể cho năng suất cao được (Yoshida, 1976)
Đối với các giống lúa ngắn ngày, do có thời gian sinh trưởng ngắn nên nó cần sử dụng nhiều dinh dưỡng, năng lượng ánh sáng mặt trời để tạo năng suất, do
đó phải chú ý tạo giống lúa thấp cây, lá đòng thẳng đứng (Bùi Chí Bửu, 1998) Thời gian sinh trưởng thường do nhiều gene điều khiển cho nên sự phân ly
có thể xảy ra đối với cả hai đặc tính chín sớm và chín muộn Những giống lúa mùa
và trung mùa kết hợp dễ dàng với các tính trạng tốt khác (Bùi Chí Bửu và ctv., 1998) Những giống lúa cực sớm kết hợp với đặc tính năng suất cao và các đặc tính khác thì khó hơn nhiều
1.4.2 Chiều cao cây lúa
Theo Jennings và ctv., (1979) thân rạ thấp và cứng là hai yếu tố quyết định tính đổ ngã Thân rạ cao, ốm yếu, dễ đổ ngã sớm làm rối nùi bộ lá, tăng hiện tượng
Trang 20bóng rợp, cản trở sự chuyển vị các dưỡng liệu và các chất quang hợp làm hạt bị lép
và giảm năng suất Thân rạ ngắn và dầy sẽ chống lại sự đổ ngã Không phải tất cả cây lùn đều cứng rạ, một số vẫn có thể bị đổ ngã Nó còn phụ thuộc vào một số đặc tính như đường kính lóng thân, độ dày lóng thân rạ, mức độ bẹ lá ôm lấy các lóng… Cây lúa nào có lóng ngắn, thành lóng dầy, bẹ lá ôm sát thân thì thân lúa sẽ cứng chắc, khó đổ ngã được và ngược lại Nếu đồng ruộng có nhiều nước, sạ cấy dầy, thiếu ánh sáng, bón nhiều đạm thì lóng có khuynh hướng vươn dài và mềm yếu làm cây lúa dễ đổ ngã Lúa bị đổ ngã thì sự hút dinh dưỡng và quang hợp bị trở ngại, sự vận chuyển các chất bị cản trở, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ, đưa đến hạt lép nhiều làm giảm năng suất Sự đổ ngã càng sớm, lúa bị thiệt hại càng nhiều và năng suất càng giảm (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Theo Akita (1989) cây cao
từ 90 - 100 cm được coi là lý tưởng cho năng suất cao Cây có chiều cao thích hợp
từ 80 - 100 cm và có thể cao đến 120 cm trong một số điều kiện nào đó (Jennings và ctv., 1979)
1.4.3 Tỷ lệ chồi hữu hiệu
Theo Yoshida (1981) về mặt lý thuyết ở điều kiện đặc biệt, một cây lúa có thể mọc ra 40 chồi Tuy nhiên, trong thực tế tất cả những mầm chồi không nhất thiết phát triển thành chồi Khoảng cách trồng, ánh sáng, nguồn dinh dưỡng và điều kiện môi trường, kỹ thuật canh tác ảnh hưởng đến sự nhảy chồi Ở cây lúa, khoảng 10-30 chồi có được sinh ra trong khoảng cách trồng hợp lý, nhưng chỉ 2 - 5 chồi được hình thành trong lúa sạ thẳng (trích dẫn bởi Nguyễn Thành Phước, 2003) Số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay còn gọi là chồi hữu ích) thấp hơn so với chồi tối đa
và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được số chồi tối đa Các chồi ra sau đó thường sẽ tự rụi đi không cho bông được do chồi nhỏ yếu không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác gọi là chồi vô hiệu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) So sánh chỉ tiêu nhánh hữu hiệu với số nhánh tối đa trên cây, những giống nào đẻ nhánh nhiều thường tỉ lệ chồi hữu hiệu thấp (Vũ Văn Liết và ctv, 2004)
1.4.4 Chiều dài bông
Chiều dài bông là một đặc điểm di truyền của giống, nó được tính từ đốt cổ bông đến đầu mút bông Giống có bông dài, hạt xếp khít, tỷ lệ hạt lép thấp, khối
Trang 21lượng 1000 hạt cao sẽ cho năng suất cao (Vũ Văn Liết và ctv, 2004) Setter (1994) cho rằng chiều dài bông thay đổi tùy giống và góp phần gia tăng năng suất Do vậy trong tương lai việc chọn tạo cây lúa có chiều dài bông bằng nửa chiều cao của thân cây là tốt nhất (trích dẫn bởi Nguyễn Thành Phước, 2003)
1.5 Năng suất và thành phần năng suất
1.5.1 Số bông trên mét vuông
Các giống lúa hiện nay có thể đẻ nhánh lên đến tới 20 - 25 nhánh/bụi trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng nhưng chỉ khoảng 14 - 15 nhánh cho bông hữu hiệu, còn lại là nhánh vô hiệu hoặc bông rất nhỏ (Bùi Chí Bửu và ctv., 1998) Ở canh tác lúa cấy, số bông trên mét vuông tùy thuộc vào sự đâm chồi Tuy nhiên ở hệ thống sạ thẳng số bông trên mét vuông tùy thuộc nhiều vào lượng giống để sạ và phần trăm nầy mầm (Shouichi Yoshida, 1981) Cây lúa chỉ cần có số bông vừa phải, gia tăng
số hạt chắc/bông thì tốt hơn là gia tăng số bông/m2 (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) số bông trên mét vuông được quyết định vào giai đoạn sinh trưởng ban đầu của cây lúa, từ gieo cấy đến 10 ngày trước khi đâm chồi tốt đa Yếu tố này tùy thuộc vào mật độ sạ cấy và khả năng nở bụi của giống lúa thay đổi tùy theo giống lúa, điều kiện đất đai, thời tiết, lượng phân bón, nhất là phân đạm và chế độ nước Số bông/bụi mang đặc tính di truyền định lượng và còn chịu ảnh hưởng bởi điều kiện canh tác Số bông/bụi di truyền độc lập với nhiều đặc tính quan trọng khác Đặc tính này biểu hiện trội hơn so với khối lượng 1000 hạt,
chiều dài hạt và được kiểm soát bởi tính trạng không cộng tính (Ichil và ctv., 1988) 1.5.2 Số hạt chắc/bông
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) số hạt trên bông tùy thuộc vào số hoa được phân hóa và số hoa bị thoái hóa Hai yếu tố này bị ảnh hưởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết Ở các giống lúa cải thiện, số hạt trên bông từ 80-100 hạt đối với lúa sạ, hoặc 100 - 120 hạt đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện đồng bằng sông Cửu Long Tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào số hoa trên bông, đặc tính sinh lý của cây lúa và chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh Thường số hoa trên bông quá nhiều sẽ dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp, muốn có năng suất cao, tỷ lệ hạt chắc phải đạt trên 80% Theo Ahn (1986), hạt to thường kéo theo độ bạc bụng nhiều, nên
Trang 22hạt không có giá trị xuất khẩu và tiêu dùng Hạt có kích thước trung bình và mức độ đóng hạt dày hơn thì được coi là tối ưu Theo Yoshida (1981) số gié hoa trên bông được quyết định vào giai đoạn sinh trưởng sinh dục Khởi đầu sự sinh trưởng sinh dục, số gié hoa tối đa được xác định sự phân hóa của các nhánh và những gié hoa Sau sự phân hóa gié hoa, vài gié hoa có thể thối hóa Số gié hoa quan sát được lúc trổ gié hoặc khi trưởng thành là sự sai biệt giữa số khối sơ khởi phân hóa và thoái hóa
1.5.3 Phần trăm hạt chắc
Theo Yoshida (1981) phần trăm gié hoa được xác định trước trong và sau khi trổ gié Những điều kiện thời tiết không thuận lợi, như nhiệt độ thấp và cao vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm và trổ gié hoa có thể gây ra bất thụ Các điều kiện thời tiết không thuận lợi lúc lúa chín có thể ức chế sự sinh trưởng tiếp của vài gié hoa, cho ra những gié hoa lép Thường số hoa trên bông quá nhiều dễ dẫn đến tỉ lệ hạt chắc thấp Các giống lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và chuyển vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không đổ ngã sớm, lại trổ và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh dưỡng đầy đủ thì tỉ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược lại muốn có năng suất cao tỷ lệ hạt chắc phải đạt đến 80% (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Xu hướng chọn giống hiện nay là chọn giống có mật độ hạt/bông cao cùng với tỉ lệ hạt chắc cao (Vũ Văn Liết và ctv, 2004)
Trang 23mức cân bằng này, nếu một trong bốn thành phần năng suất tăng lên nữa sẽ ảnh hưởng xấu đến các thành phần còn lại, làm giảm năng suất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Các điều kiện thời tiết, sự quản trị canh tác và nguồn cung cấp dinh dưỡng ảnh hưởng nhiều đến mỗi thành phần năng suất Việc hiểu rõ sự liên hệ giữa chúng
là chìa khóa cho sự cải tiến năng suất (Yoshida, 1981)
từ kháng trở thành nhiễm của cây trồng đối với vi sinh vật gây bệnh là do số lượng khác nhau của gen kháng hiện diện ở mỗi giống cây và ảnh hưởng của gen kháng đối với ký sinh Trường hợp giống rất nhiễm đối với vi sinh vật gây bệnh thể hiện
sự kiện không có gen kháng một cách hiệu quả chống lại nòi gây bệnh (Phạm Văn
Dư, 2002) Việc chọn tạo giống lúa chống chịu ổn định với sâu bệnh của địa phương là một vấn đề quan trọng Ứng dụng tính kháng sâu bệnh ra đồng ruộng bằng cách sử dụng các nguồn gen chống chịu bền vững đối với các sâu bệnh một cách hiệu quả Các loại dịch hại thuộc kiểm soát của những yếu tố bên trong (di truyền) là bệnh cháy lá, rầy nâu và bệnh cháy bìa lá (Ông Huỳnh Nguyệt Ánh và ctv., 2005) Theo Phạm Văn Kim (2002) khi cây trồng bị mầm bệnh tấn công, cây
sẽ tạo ra cơ chế tự vệ chống đối lại với mầm bệnh, hạn chế sự tăng trưởng và phát triển của mầm bệnh giúp cây không bị hại hoặc bị thiệt hại không đáng kể Tính kháng hoặc nhiễm với mầm bệnh của cây trồng tùy thuộc vào đặc điểm di truyền Các đặc tính di truyền này giúp cho cây có những cơ chế kháng bệnh khác nhau (trích dẫn bởi Nguyễn Út Em, 2005)
Trang 24Chương 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện thí nghiệm
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành vào vụ Đông Xuân (ĐX) 2009-2010 Tại Trại giống Bình Đức, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
2.1.3 Bộ giống lúa
Bộ A1 gồm 24 giống lúa cao sản
Bảng 2.1: Danh sách 24 giống lúa cao sản tại Trại giống Bình Đức, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
STT Tên giống Tên gốc Cha mẹ
Trang 252.2 Phương pháp thí nghiệm
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
- Bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, ba lần lập lại mỗi lần lập lại có 24 nghiệm thức tương ứng với 24 giống lúa Kích thước mỗi nghiệm thức là 2x5 m, mỗi nghiêm thức cấy 12 hàng 36 bụi, mật độ 15x15 cm Sơ đồ thí nghiệm được bố trí như hình dưới đây
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm của 24 giống lúa cao sản, vụ đông xuân 2009-2010 tại trại giống Bình Đức, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
Trang 262.2.2 Phương pháp thí nghiệm:
- Làm mạ: Áp dụng phương pháp làm mạ sân
Hình 2.2: Mạ sân sau khi gieo
- Chuẩn bị cấy: Đất được xới 1 lần, dọn sạch cỏ, san bằng mặt ruộng, sửa bờ bao,
nước trong ruộng chỉ để xâm xấp để khi cấy không bị nổi Sau đó tiến hành phân lô thí nghiệm và bón lót
- Cấy: Mạ được cấy lúc 12 ngày tuổi, khoảng cách cấy 15 x 15 cm, cấy 1 tép/bụi
và cấy cạn 2 - 3 cm
Hình 2.3: Phân lô và cấy mạ
- Bón phân: Thí nghiệm sử dụng công thức phân N-P-K : 90-60-60, ứng với 172 kg
Mạ sau khi gieo Cuốn mạ chuyển mạ ra đồng
Mạ ra đồng trước khi cấy Mạ được cấy xong Mạ SKC khoảng 12 ngày
Trang 27- Chăm sóc: Sau khi cấy 3 ngày cho nước vào ruộng 5 - 10 cm, giữ mực nước cố
định 7 - 10 ngày trước khi thu hoạch
- Làm cỏ: Làm cỏ bằng tay 15 ngày và 30 ngày sau khi cấy và trước khi lúa trổ
- Thuốc bảo vệ thực vật
Sử dụng một số thuốc phòng trừ sâu bệnh khi có xuất hiện, thuốc trừ cỏ Sofit
300 EC và một số thuốc bảo vệ thực vật khác
2.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Thời gian sinh trưởng
Ghi nhận ngày gieo, ngày cấy, ngày trổ 5%, trổ 80%, ngày thu hoạch
Thời gian sinh trưởng được tính từ lúc nẩy mầm đến khi thu hoạch (80% hạt chín vàng trên bông)
- Chiều cao cây
Chọn ngẫu nhiên 3 điểm trên lô, mỗi điểm đo một bụi và giữ cố định bụi đã
đo cho các lần lấy chỉ tiêu khác
Chiều cao cây tính từ mặt đất đến chóp lá cao nhất khi lúa chưa trổ và đến chóp bông
Chiều cao cây trung bình (cm) = chiều cao 3 bụi/3
- Số chồi:
Ghi nhận cùng lúc với đo chiều cao (3 điểm trên lô trùng với 3 điểm đo chiều cao) Mỗi điểm chọn 4 bụi liên tiếp theo hình vuông Đếm tổng số chồi của 12 bụi
và tính trung bình Chồi được tính là 1 khi có 3 lá thật trở lên
Số chồi trung bình/ bụi = Số chồi 12 bụi/ 12
- Tính đổ ngã: Được ghi nhận vào giai đoạn lúa chín, cấp đánh giá dựa vào phần
trăm cây bị đổ ngã (Theo IRRI, 1988) Chia thành các cấp sau:
Mức độ Đứng thẳng 50% hơi xiên 75% hơi xiên 75% ngã Ngã rạp
- Chiều dài bông: Đo chiều dài bông vào lúc thu hoạch, chọn ngẫu nhiên 10 bông
và đo từ cổ bông đến chóp bông
Chiều dài bông TB (cm) = ∑ chiều dài 10 bông / 10