thuốc được thể hiện qua các chi tiêu: mật số tuyến trùng trên cây, chồi, lá; chỉ số bệnh, tỷ lệ cây có triệu chứng bệnh chai bông và biện pháp xử lý củ với Regent và việc phun Basudin 40
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trần Minh Trung Nguyễn Văn Tràng
HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
BỆNH CHAI BÔNG DO Aphelenchoides besseyi Christie
GÂY RA TRÊN CÂY HUỆ TRẮNG
(Polianthes tuberosa Linn.)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2-OOO-
Trần Minh Trung Nguyễn Văn Tràng
HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
BỆNH CHAI BÔNG DO Aphelenchoides besseyi Christie
GÂY RA TRÊN CÂY HUỆ TRẮNG
(Polianthes tuberosa Linn.)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGs Ts Nguyễn Thị Thu Cúc
Cần Thơ, 2007
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
……….o0o………
Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận Luận văn tốt nghiệp đính kèm với tên đề tài:
“HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
BỆNH CHAI BÔNG DO Aphelenchoides besseyi Christie GÂY RA TRÊN CÂY HUỆ TRẮNG (Polianthes tuberosa Linn)”
Do sinh viên Trần Minh trung và Nguyễn Văn Tràng thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày ……
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức điểm
Ý kiến hội đồng:
Cần thơ, ngày… tháng… năm 2007 DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
CHỦ NHIỆM KHOA
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
……….o0o………
Chứng nhận đã chấp thuận Luận văn tốt nghiệp với tên đề tài:
“HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
BỆNH CHAI BÔNG DO Aphelenchoides besseyi Christie GÂY RA TRÊN CÂY HUỆ TRẮNG (Polianthes tuberosa Linn) ”
Do sinh viên Trần Minh Trung và Nguyễn Văn Tràng thực hiện và đề nạp
Kính trình hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
Cần thơ, ngày… tháng… năm 2007 Cán bộ hướng dẫn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5Xin gởi đến tất cả thầy cô thuộc Khoa Nông Nghiệp và SHƯD - Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt cho chúng em những kiến thức quý báo trong suốt quá trình học tập lòng biết ơn sâu sắc
Xin cảm ơn gia đình anh chị Nguyễn Triệu Phú, xã Định Hoà, huyện Lai Vung, Đồng Tháp và gia đình anh chị Nguyễn Văn Nhiều, phường 7, thị xã Vị Thanh, Hậu Giang đã cộng tác thực hiện thí nghiệm
Thành thật cảm tạ: anh Nguyễn Trọng Nhâm, anh Đặng Tiến Dũng, anh Trần Văn Cầu, anh Nguyễn Thanh Sơn và toàn thể các anh chị, thầy cô trong Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật - Khoa Nông Nghiệp và SHƯD - Đại Học Cần Thơ cùng các bạn Lớp Trồng Trọt K28, các em sinh viên lớp Nông Học K30 đã động viên và giúp đỡ trong quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Văn Tràng Trần Minh Trung
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1 LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ và tên: TRẦN MINH TRUNG Giới tính: Nam
Ngày sinh: 24 - 12 - 1984 Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: Xuân Tô - Tịnh Biên – An Giang
Quê quán: Tịnh Biên – An Giang
Con ông: TRẦN VĂN ẤN và bà: LÊ THỊ TÍM
2 QUÁ TRÌNH HỌC TẬP:
Năm 1990 – 1995: học tại trường Tiểu học “C” Xuân Tô
Năm 1995 – 1997: học tại trường THCS Xuân Tô
Năm 1997 – 1999: học tại trường THCS Nguyễn Trãi
Năm 1999 – 2002: học tại trường THPT Thủ Khoa Nghĩa
Năm 2002 – 2007: học tại trường Đại học Cần Thơ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1 LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN TRÀNG Giới tính: Nam
Ngày sinh: 1984 Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: Thạnh Hưng - Giồng Riềng – Kiên giang
Quê quán: Giồng Riềng – Kiên Giang
Con ông: NGUỄN VĂN NHỊ và bà: PHAN THỊ THU
2 QUÁ TRÌNH HỌC TẬP:
Năm 1990 – 1995: học tại trường Tiểu học Thạnh Hưng
Năm 1995 – 1999: học tại trường THCS Thạnh Hưng
Năm 1999 – 2002: học tại trường THPT Giồng Riềng
Năm 2002 – 2007: học tại trường Đại học Cần Thơ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghịâp là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Trần Minh Trung Nguyễn Văn Tràng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9MỤC LỤC
Tóm lược……… xi
Danh sách hình……… xiii
Danh sách bảng……… xiv
MỞ ĐẦU……….……… ………… 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU……….……… ………… 2
1.1 TỔNG QUAN VỀ TUYẾN TRÙNG……….……….……….…… 2
1.1.1 Sơ lược về tuyến trùng……… ….…….… 2
1.1.2 Phân loại tuyến trùng……… ….…… 3
1.1.3 Đặc điểm hình thái và giải phẫu tuyến trùng……… ……….… 4
1.1.4 Sinh sản và phát triển của tuyến trùng ………….……… ……… 5
1.1.5 Khả năng lưu tồn của tuyến trùng……….…… 7
1.1.6.Triệu chứng và sự gây hại của tuyến trùng ……….……… …… 8
1.1.7 Tuyến trùng ký sinh thực vật……….……… …….…… 10
1.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng lên tuyến trùng thực vật……….……… … 11
1.1.9 Tuyến trùng Aphelenchoides besseyi C ……… …… … 13
1.1.9.1 Vị trí phân loại (Crop Protection Compendium, 2001)……… 13
1.1.9.2 Hình thái giải phẫu……….… … 13
1.1.9.3 Một số đặc điếm sinh học của Aphelenchoides besseyi C trên lúa 14
1.1.9.4 Một số đặc điếm của Aphelenchoides besseyi C trên cây huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.)……… … 16
1.1.10 Các biện pháp phòng trừ tuyến trùng……….…….… 18
1.1.10.1 Biện pháp phòng ngừa……….……….…… 18
1.1.10.2 Biện pháp canh tác……… 19
1.1.10.3 Các biện pháp vật lý……… 19
1.1.10.4 Biện pháp sinh học……… ……….… 20
1.1.10.5 Biện pháp hóa học……… ….….… 20
1.2 CÂY HUỆ (Polianthes tuberose Linn.)……… 21
1.2.1 Phân loại……….……… 21
1.2.2 Đặc điểm hình thái, sinh thái của cây huệ ……….………… 21
1.2.3 Giống huệ……….…… ………… 22
1.2.4 Kỹ thuật trồng huệ……….……… … …… 22
1.2.5 Một số đặc điểm về bệnh chai bông trên cây huệ trắng….……… 23
1.3 ĐẶC TÍNH CỦA MỘT SỐ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT …….… 25
1.3.1 BASUDIN……….… …… 25
1.3.2 REGENT……….……… ……….… 25
1.3.3 BEMYL……….………… 26
1.2.4 MARSHAL……….……… …….…… 26
1.3.5 ACTARA……….…….…… 27
1.2.6 CONFIDOR……….……… … 27
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP…….……….…… 29
2.1 PHƯƠNG TIỆN……….……… ….… 29
2.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện……….……… …… ….… 29
2.1.2 Phương tiện……… ……… …… 29
2.2 PHƯƠNG PHÁP……….……… …… 29
2.2.1 Trong điều kiện phòng thí nghiệm……….……… …… 30
2.2.2 Thí nghiệm ở nhà lưới……….……… … 31
2.2.3 Thí nghiệm ngoài đồng………….……… ………… 32
2.2.3.1 Thí nghiệm ở Lai Vung……….……… 32
2.2.3.2 Thí nghiệm ở Vị Thanh………….……… …… 35
2.2.4 Phương pháp lấy chỉ tiêu các thí nghiệm, nhà lưới và ngoài đồng 36
2.2.5 Phương pháp quan sát đánh giá các chỉ tiêu trong nhà lưới và ngoài đồng vào giai đoạn thu hoạch 38
2.2.6 Phương pháp đếm mật số tuyến trùng……….………….…… 38
2.2.6.1 Phương pháp chuẩn bị mẫu đếm mật số tuyến trùng A besseyi C.… 39
2.2.6.2 Phương pháp đếm tuyến trùng……….………… 39
2.2.7 Phương pháp phân tích mật số tuyến trùng A besseyi C hiện diện trong đất……….…… 39
2.2.7.1 Phương pháp thu mẫu đất……….… … 39
2.2.7.2 Phương pháp phân tích đất……….… 40
2.2.8 Xử lý số liệu……… …… 42
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN……….………….…… 43
3.1 TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM……….… ….…… 43
3.1.1 Hiệu lực của việc xử lý củ huệ nhiễm tuyến trùng với một số loại thuốc hoá học và biện pháp 3 sôi 2 lạnh để phòng trừ tuyến trùng hiện diện trên củ 43
3.1.2 Tác động của việc xử lý củ bằng các loại thuốc hoá học và 3 sôi 2 lạnh đến sức sống của củ 44
3.2 THÍ NGHIỆM TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI……… ………… 47
3.2.1 Hiệu quả của việc xử lý củ với thuốc Basudin 40EC,Regent 800WP và 3 sôi 2 lạnh đối với mật số A besseyi C trong điều kiện nhà lưới 47
3.2.1.1 Tác động của việc xử lý củ đến mật số tuyến trùng A besseyi C trên củ (trước khi trồng) và trên cây (vào giai đoạn thu hoạch) 48
3.2.1.2 Tỷ lệ (%) cây có triệu chứng bệnh “chai bông” 50
3.2.2 Tác động của các biện pháp xử lý củ trên sự phát triển cây huệ trong điều kiện nhà lưới 51
3.2.2.1 Ảnh hưởng của việc xử lý củ đến chiều cao cây huệ trong 16 tuần 51
3.2.2.2 Ảnh hưởng của việc xử lý củ đến số chồi, trọng lượng cây, số lá vào giai đoạn thu hoạch 53
3.3 THÍ NGHIỆM Ở LAI VUNG……… …… 57
3.3.1 Ghi nhận chung về ruộng thí nghiệm 57
3.3.2 Hiệu quả của việc xử lý củ đến mật số tuyến trùng A besseyi C trên cây huệ 58
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 113.3.2.1 Tác động của việc xử lý củ đến mật số tuyến trùng A besseyi C
trên củ (trước khi trồng) và trên cây (vào giai đoạn thu hoạch) 58
3.3.2.2 Mật số tuyến trùng trên lá vào giai đoạn thu hoạch……… ………… 60
3.3.2.3 Chỉ số bệnh và tỷ lệ cây biểu hiện triệu chứng bệnh “chai bông” 61
3.3.3 Tác động của các biện pháp xử lý củ trên sự phát triển cây huệ ở Lai Vung 64
3.3.3.1 Tác động của việc xử lý củ với thuốc hóa học và 3 sôi 2 lạnh đến khả năng sống sót của cây……….………… … 64
3.3.3.2 Ảnh hưởng của việc xử lý củ đến chiều cao cây huệ …….… 65
3.3.3.3 Ảnh hưởng của việc xử lý củ đến số chồi, số lá và trọng lượng cây huệ 66
3.4 THÍ NGHIỆM Ở VỊ THANH……….……….… 68
3.4.1 Ghi nhận chung về ruộng thí nghiệm 68
3.4.2 Hiệu quả của việc xử lý củ đến mật số tuyến trùng A besseyi C trên cây huệ
3.4.2.1 Tác động của việc xử lý củ đến mật số tuyến trùng A besseyi C trên củ (trước khi trồng) và trên cây (vào giai đoạn thu hoạch) 69
3.4.2.2.Mậtsố A besseyi C trên lá và chồi vào giai đoạn thu hoạch 70
3.4.2.3 Chỉ số bệnh và tỷ lệ cây có biểu hiện triệu chứng bệnh “chai bông” 72
3.4.3 Tác động của các biện pháp xử lý củ trên sự phát triển cây huệ ở Vị Thanh 75
3.4.3.1 Tác động của các biện pháp xử lý củ đến khả năng sống sót của cây huệ 75
3.4.3.2 Ảnh hưởng của việc xử lý củ đến chiều cao cây 76
3.4.3.3.Tổng số chồi, số lá, trọng lượng toàn cây……… 77
3.5 THẢO LỤÂN CHUNG VỀ CÁC KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM NGOÀI ĐỒNG 79
3.5.1 Về mật số tuyến trùng……… 79
3.5.1.1 Mật số tuyến trùng trên cây vào giai đoạn thu hoạch…….……… 79
3.5.1.2 Mật số tuyến trùng trên lá vào giai đoạn thu hoạch 80
3.5.2 Chỉ số bệnh và tỷ lệ bệnh cây có biểu hiện triệu chứng bệnh ‘chai bông” 81
3.5.3 Về trọng luợng cây huệ……… 82
3.6 SỰ HIỆN DIỆN CỦ TUYẾN TRÙNG A besseyi C TRONG ĐẤT 83
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……… 85
4.1.KẾT LUẬN……….……… …… 85
4.2 ĐỀ NGHỊ……… … 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ CHƯƠNG 90
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12Trần Minh Trung và Nguyễn Văn Tràng, 2007 “Hiệu quả của một số biện pháp
phòng trừ bệnh chai bông do Aphelenchoides besseyi Christie gây ra trên cây huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.)” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Trồng Trọt,
Đại Học Cần Thơ Giáo viên hướng dẫn: PGs Ts Nguyễn Thị Thu Cúc
TÓM LƯỢC
Nhằm có cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, xây dựng qui trình IPM để quản lý dịch hại cây huệ trắng nói chung và bệnh chai bông nói riêng Chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Hiệu quả của một số biện pháp phòng trừ bệnh chai bông
do Aphelenchoides besseyi C gây ra trên cây huệ trắng (Polianthes tuberosa
Linn.)” trong thời gian từ tháng 6/2006 đến tháng 2/2007 Đề tài được thực hiện theo trình tự 3 bước: khảo sát trong điều kiện phòng thí nghiệm, bố trí thí nghiệm trong nhà lưới và ngoài đồng
Kết quả khảo sát ghi nhận: xử lý củ với 6 loại thuốc hoá học (Actara 25WG, Basudin 40 EC, Bemyl 500 WP, Cofdor, Marshal 200SC, Regent 800WP) và nước nóng (3 sôi 2 lạnh) đều tỏ ra có hiệu quả cao trong việc làm giảm số lượng tuyến
trùng Aphelenchoides besseyi C lưu tồn trên củ Trong đó, hiệu quả cao nhất là
ngâm củ với Basudin 40EC (5,63 ppm) trong 6 giờ hoặc với Regent 800WP (200 ppm) trong 48 giờ hoặc với 3 sôi 2 lạnh (56-57oC) trong 30 phút Ba nghiệm thức này, sau đó tiếp tục được khảo sát trong điều kiện nhà lưới và ngoài đồng trên 2 loại
củ (có bóc lớp vỏ khô và để nguyên củ) và kết quả ghi nhận được từ các biện pháp: biện pháp xử lý củ với 3 sôi 2 lạnh có hiệu quả và xử lý củ với Basudin và Regent cho hiệu quả không cao trong việc hạn chế mật số tuyến trùng trên cây huệ sau thu hoạch Biện pháp bóc vỏ khô trước khi xử lý củ bước đầu có làm giảm mật số tuyến trùng trên cây huệ, nhưng sự khác biệt này không thật sự rõ nét Các biện pháp xử
lý củ khảo sát đều không làm ảnh hưởng khả năng phát triển của cây huệ
Kết quả khảo sát trên 2 địa bàn (Lai Vung - Đồng Tháp và Vị Thanh - Hậu Giang) cũng cho thấy biện pháp xử lý củ với 3 sôi 2 lạnh là tốt nhất trong việc phòng trị bệnh “chai bông”, kế đến là biện pháp xử lý củ với Basudin, hiệu quả của
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13thuốc được thể hiện qua các chi tiêu: mật số tuyến trùng trên cây, chồi, lá; chỉ số bệnh, tỷ lệ cây có triệu chứng bệnh chai bông và biện pháp xử lý củ với Regent và việc phun Basudin 40EC (7,50 ppm) 2 tuần/lần tỏ ra không có hiệu quả trong phòng trừ bệnh “chai bông” trên cây huệ Kết quả này cũng giống như kết quả ghi nhận được từ các thí nghiệm trong nhà lưới cho thấy biện pháp xử ký củ với 3 sôi 2 lạnh
có hiệu quả cao nhất
Kết quả phân tích đất sau khi thu hoạch huệ ở 2 địa bàn khảo sát (Lai Vung - Đồng Tháp và Vị Thanh - Hậu Giang) ghi nhận có sự hiện diện của tuyến trùng
Aphelenchoides besseyi C trong đất trên cả 2 địa bàn khảo sát
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14Sơ đồ bố trí thí nghiệm ở Lai Vung
Sơ đồ bố trí thí nghiệm ở Vị Thanh Phương pháp ly trích theo phương pháp của Cobb (1918) có cải tiến
Củ huệ được bóc vỏ khô sau khi xử lý thuốc (a), Củ huệ không bóc vỏ khô (trên) và bóc vỏ khô (dưới) (b)
Chuẩn bị mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm: Cây huệ (1), chồi (2), củ (3), lá (4)
Tác động của thuốc hoá học và 3 sôi 2 lạnh làm củ bị thối
(hàng dưới) và củ không bị thối (hàng trên)
Biểu đồ chiều cao cây huệ (Nhà lưới – Bm BVTV)
Triệu chứng cây huệ bị nhiễm tuyến trùng A besseyi C trong nhà
lưới
Thí nghiệm tại nhà lưới Bộ môn BVTV – Khoa Nông Nghiệp &
SHƯD – Đại Học Cần Thơ
Thí nghiệm tại Định Hòa- Lai Vung – Đồng Tháp (a), triệu chứng cây huệ bị nhiễm bệnh “chai bông” (b)
Thí nghiệm tại Vị Thanh (a), triệu chứng cây huệ bị bệnh “chai bông” (b)
Trang 15Hiệu quả của biện pháp bóc vỏ khô kết hợp với các loại thuốc hoá
học và 3 sôi 2 lạnh đối với mật số A besseyi C trên củ huệ
Tỷ lệ ( %) củ huệ bị thối sau khi ngâm thuốc hoá học và 3 sôi 2 lạnh
Mật số A besseyi C trước và vào giai đoạn thu hoạch (Nhà lưới –
Bm BVTV)
Tỷ lệ (%) cây có triệu chứng bệnh “chai bông” (Nhà lưới – Bm
BVTV) Chiều cao trung bình cây huệ (Nhà lưới – Bm BVTV)
Số chồi, trọng lượng cây huệ vào giai đoạn thu hoạch (Nhà lưới –
Số chồi, số lá, trọng lượng trung bình/cây (Lai Vung- Đồng Tháp)
Mật số tuyến trùng trước và vào giai đoạn thu hoạch (Vị Thanh - Hậu Giang)
Mật số A besseyi C trung bình trên tổng lá và chồi vào giai đoạn
thu hoạch (Vị Thanh - Hậu Giang)
Trang 16Tỷ lệ (%) cây huệ có biểu hiện triệu chứng bệnh “chai bông”
(Vị Thanh - Hậu Giang) Chỉ số bệnh (%) (Vị Thanh - Hậu Giang)
Tỷ lệ (%) cây huệ sống (Vị Thanh - Hậu Giang) Chiều cao trung bình cây huệ (Vị Thanh - Hậu Giang)
Số chồi, số lá, trọng lượng trung bình vào giai đoạn thu hoạch (Vị Thanh - Hậu Giang)
Mật số tuyến trùng/cây vào giai đoạn thu hoạch (Lai Vung và Vị Thanh)
Mật số tuyến trùng/tống lá/cây vào giai đoạn thu hoạch (Lai Vung
Trang 17Cây huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.) mặc dù không được trồng tập trung
với một diện tích lớn nhưng hầu như khắp các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long đều
có trồng huệ Vùng trồng nhiều huệ trắng nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là Cai Lậy - Tiền Giang và Lai Vung - Đồng Tháp Ngoài giá trị kinh tế cao cây huệ còn là cây dễ trồng, dễ chăm sóc, cho thu hoạch suốt năm, giá cả ổn định, lợi nhuận thu được từ trồng huệ gấp 7 lần trồng lúa.Tuy nhiên một trong những khó khăn cho việc canh tác huệ là vấn đề dịch hại Trong đó, bệnh “chai bông” được xem là một đối tượng khó phòng trị nhất Bệnh này làm cho bông bị chai sượng, phát hoa không phát triển bình thường, bông không nở được, gây thất thoát đáng kể về năng suất và phẩm chất của cây huệ có thể thất thu có thể lên đến 100% năng suất
Kết quả khảo sát của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân (2005), ghi nhận 4/5 địa bàn trồng huệ được khảo sát như (Cai Lậy (Tiền Giang), huyện Lai Vung (Đồng Tháp), thị xã Vị Thanh (Hậu Giang), quận Bình Thuỷ (TP.Cần Thơ), nông trường Sông Hậu (Quận Ô Môn- TP.Cần Thơ) đều bị nhiễm bệnh “chai bông”
do tuyến trùng Aphelenchoides besseyi C gây ra
Trong những năm vừa qua đã có một số nghiên cứu bước đầu về biện pháp phòng trừ bệnh chai bông như xử lý củ bằng các biện pháp ngâm, rãi cùng với thuốc Basudin, Nokaph, Regent,…(Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân, 2005), hoặc xử
lý củ với 3 sôi 2 lạnh (Trần Anh Trọng, 2006), hoặc xử lý củ với Basudin, Actara (Trần Thanh Sơn và Nguyễn Quốc Việt, 2006) tuy nhiên hầu hết các kết quả đạt được đều mang tính chất bước đầu
Nhằm bổ sung cho kết quả của những nghiên cứu trước đó và có cơ sở khoa học cần thiết cho việc nghiên cứu và xây dựng qui trình IPM để quản lý dịch hại
trên cây huệ nói chung và bệnh chai bông nói riêng, nên đề tài “Hiệu quả của một
số biện pháp phòng trừ bệnh chai bông do Aphelenchoides besseyi C gây ra trên cây huệ trắng Polianthes tuberosa Linn.” được thực hiện nhằm tìm ra biện
pháp hữu hiệu nhất để phòng trị và quản lý bệnh chai bông
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
cây trồng (có kim ở đầu) (Phạm Văn Kim, 2000; Dropkin, 1980)
Theo Nguyễn Ngọc Châu (2003), trên thế giới số lượng loài tuyến trùng được phát hiện không ngừng tăng lên theo thời gian: từ 4500 loài (1930), 9000 loài (1950) đến nay đã phát hiện khoảng 25000 loài, trong đó có khoảng 5000 loài ký sinh ở thực vật Ở Việt Nam, đến nay đã phát hiện khoảng 250 loài gây hại trên thực vật
Altman (1965) nhận định tuyến trùng là những động vật không xương sống, mắt thường khó thấy hình dạng của chúng Hình dạng của chúng giống lãi kim nhưng nhỏ hơn, đầu hơi phình to và có kim, cũng có giống có cơ thể phình to (hình quả lê)…Tuyến trùng sống trong đất, nước, có một số ký sinh trên thân, lá, rễ, hoa và một
số hoại sinh
Tuyến trùng được xếp vào ngành Nemata, gồm 2 lớp: Secernente và Adenophorea có 11 bộ, nhiều họ giống và loài Hiện nay có trên 15000 loài đã được khảo sát, trong đó có khoảng 2000 loài sống trong đất Hầu hết tuyến trùng gây bệnh thuộc bộ Tylenchida Với 5 họ chủ yếu là Heteroderidae, Tylenchidae,
Aphelenchidae, Tylenchalidae và Neotylenchidae (Ou, 1985; Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 191.1.2 Phân loại tuyến trùng
Theo Agrios (2003), hầu hết tuyến trùng sống tự do trong nước và trong đất Nhiều loài tấn công và ký sinh trên người và động vật gây ra nhiều bệnh khác nhau Nhiều loài ký sinh trên thực vật gây ra nhiều bệnh quan trọng trên cây trồng, làm giảm năng suất trầm trọng
Tuyến trùng ký sinh thực vật được phân loại trên cơ sở bộ phận bị hại (Nguyễn Trần Oánh, 1997):
Tuyến trùng cố định trên rễ như:
Tuyến trùng tạo nang: Heterodera spp
Tuyến trùng nốt sưng: Meloidogyne spp
Tuyến trùng di chuyển trong rễ như:
Tuyến trùng tổn thương rễ: Pratylenchus spp., Radopholus spp
Tuyến trùng xoắn ốc: Helicotylenchus spp., Trichodorus spp
Tuyến trùng chữ thập: Xiphinema spp
Tuyến trùng thân: Ditylenchus spp., Rhadinaphelenchus spp
Tuyến trùng búp và lá: Aphelenchoides spp., Anguina spp
Dựa vào mối quan hệ của nhóm tuyến trùng này đối với cây trồng, Paramonop (1962) (trích dẫn của Đường Hồng Dật, 1979), chia thành 5 nhóm sinh thái:
1.Nhóm tuyến trùng vùng rễ cây sống tự do trong đất, có khả năng chọc thấu vào rễ cây và hút nhựa
2.Nhóm tuyến trùng hoại sinh thực sự sống trong các môi trường vật chất hữu cơ đang thối rữa
3 Nhóm tuyến trùng hoại sinh không điển hình vừa sống trong các mô tế bào thực vật đang thối rữa cũng như trong các mô chưa có triệu chứng thối rữa
4.Tuyến trùng ký sinh thực vật không chuyên hoá, thường gặp trong các mô
tế bào đã bị các ký sinh khác gây bệnh Nhóm tuyến trùng này chủ yếu ăn sợi nấm
5.Tuyến trùng ký sinh thực vật chuyên tính gây ra những triệu chứng điển hình và chỉ sống trên tế bào sống của cây
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20Cũng theo Paramonop (1962) (trích dẫn của Đường Hồng Dật, 1979), dựa vào chu kỳ sinh sống của tuyến trùng thực vật chia thành 3 nhóm sinh thái:
Nhóm 1: nhóm tuyến trùng này có giai đoạn còn non sống trong đất Con cái bám phía đầu vào rễ cây, còn thân thì vẫn trong đất và đẻ trứng vào đất Con đực
sống hoàn toàn trong đất Ví dụ: tuyến trùng Ditylenchus semipenetrans, Pratylenchus pratensis
Nhóm 2: ở nhóm này, tuyến trùng trưởng thành thành thục và sinh sản trong hạt giống Khi gieo vào đất dưới tác động của độ ẩm, tuyến trùng non ra khỏi hạt tìm đến nách lá cây và gây hại Khi hạt phát triển, tuyến trùng chui vào phôi hạt và
chuẩn bị cho chu kỳ phát triển mới Ví dụ: tuyến trùng Anguina tritici, Heterodera schachtii
Nhóm 3: con cái sống trong rễ cây và đẻ trứng trong đó, trứng có thể phát triển ở trong đất hoặc trong rễ cây Nhóm tuyến trùng này chỉ sống trong mô cây bị hại
1.1.3 Đặc điểm hình thái và giải phẫu tuyến trùng
Theo Đường Hồng Dật (1979), tuyến trùng thực vật có kích thước từ 0.5–5mm và đa số dưới 2mm.Thân cắt ngang bao giờ cũng hình tròn có dạng sợi chỉ hay cái thoi Tuyến trùng phát triển qua 3 giai đoạn: trứng, tuyến trùng non và trưởng thành Trứng phụ thuộc rất lớn vào điều kiện dinh dưỡng, trứng có hình bầu dục hay quả thận, cũng có loại trứng hình tròn Altman (1965) cho rằng, phần lớn tuyến trùng trong giai đoạn phát dục có hình thoi dài, ít nhất một phần cơ thể hay cơ thể
có dạng hình trụ, đôi khi có hình thoi, phần lớn tuyến trùng có dạng này suốt đời Một số tuyến trùng ký sinh thực vật, con cái có hình quả lê, trái chanh, quả thận hay hình túi bất thường Phần đầu cơ thể tròn hay nhọn, phần cuối đuôi biến đổi từ bầu tròn đến nhọn dài như sợi chỉ
Về cơ thể thì Thorne (1961) (trích dẫn của Võ Xuân Tân và Nguyễn Minh Chương, 2005) cho rằng cơ thể tuyến trùng chia ra làm bốn phần: lưng, hông phải, hông trái và bụng Phần lớn các loài tuyến trùng đều uốn cong, ta có thể xác định phần bụng bằng lỗ sinh dục (lúc trưởng thành) và hậu môn (giai đoạn ấu trùng)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21Về cấu tạo cơ thể tuyến trùng được Đường Hồng Dật, (1979) mô tả như sau:
- Vách thân tuyến trùng gồm 3 lớp: lớp cutin, lớp vỏ với các tuyến da và các bắp thịt Lớp cutin là nơi để gắn các bắp thịt đảm bảo cho tuyến trùng có độ căng cần thiết, lớp cutin được tạo ra từ da, các bắp thịt giúp tuyến trùng chuyển động
- Phần đầu gồm có đầu và yết hầu, giữa đầu có miệng với 3 đến 6 môi, trong xoang miệng có răng và một mấu dài gọi là kim chích hút Kim chích hút có thể di chuyển ra phía trước nhờ việc co rút cơ bắp của tuyến trùng Bầu thực quản có chỗ phình to có tác dụng bơm đẩy tuyến dịch
- Hệ thống thần kinh gồm các bó thần kinh chạy dọc theo thân và được các vòng thần kinh nối liền với nhau
- Bộ máy tiêu hóa gồm ống ruột, bắt đầu từ miệng và kết thúc ở hậu môn nằm về phía bụng và được chia làm 3 phần: ruột trên, ruột giữa và ruột dưới Thức
ăn đi vào từ miệng đến thực quản và được tiêu hóa ở ruột giữa, cuối cùng thức ăn không tiêu hóa được ruột dưới đưa ra ngoài
- Bộ máy sinh dục của tuyến trùng bao gồm ống sinh dục và các bộ phận khác tuỳ theo giới tính loài tuyến trùng Bộ phận sinh dục con cái và con đực rất khác nhau Tuyến trùng cái có bộ phận sinh dục gồm buồng trứng (1 hay 2 buồng trứng đối xứng hoặc không đối xứng phụ thuộc vào số lượng phát triển của ống dẫn trứng, tử cung và lỗ giao phối Lỗ giao phối thường nằm giáp thân và cận với lỗ bài tiết, nhiều loài tuyến trùng cái có hệ thống sinh dục khá phát triển nên phình to dạng hình cầu, hình quả chanh Bộ phận sinh dục con đực bao gồm dịch hoàn, ống dẫn tinh và gai giao phối (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề,1998)
- Phần đuôi bắt đầu từ hậu môn Có bộ phận tên là phasmids là những nhú đuôi bên được nối với tuyến trước đuôi bên có chức năng cảm thụ hoá học Đây là một đặc điểm đặc biệt để phân biệt tuyến trùng (Thorne, 1961, trích dẫn của Võ Xuân Tân và Nguyễn Minh Chơn, 2005)
1.1.4 Sinh sản và phát triển của tuyến trùng
Theo Đường Hồng Dật (1979) tuyến trùng sống trong nước ngọt, trong đất, hoại sinh, ký sinh thực vật thường con cái nhiều hơn con đực và thỉnh thoảng có
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22trường hợp không có con đực hoặc lưỡng tính Trong số tuyến trùng ký sinh thực
vật có loài sinh sản không cần con đực như Heterodera Schimidt và Meloidigyne
Goeldi Tuyến trùng gây sần rễ chỉ sản sinh ra con đực trong trường hợp khó khăn, thí dụ như rễ cây bị thối rữa đi một bộ phân tuyến trùng non phát triển thành con đực Tuyến trùng ký sinh thực vât đa số đẻ trứng, có khả năng sinh sản lớn nhưng không bằng tuyến trùng động vật, trứng có hình bầu dục dài hay hình quả thận, trứng tuyến trùng tương đối lớn và thường đường kính gần bằng đường kính thân con cái, tổng số trứng của một con cái có thể đẻ được là 500 trứng ở tuyến trùng
Ditylenchus dipsici
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), trứng của tuyến trùng hình tròn hoặc hình bầu dục Trứng của tuyến trùng ký sinh đa số trứng có hình bầu dục Trứng được bao bọc bởi 3 lớp: lớp ngoài là lớp vỏ protein, giữa là kitin và bên trong
là vỏ mềm Các loài Meloidogyne, Heterrodera và Rotylenchulus đẻ trứng và trứng
nằm trong túi trứng, túi có tác dụng bảo vệ trứng khi gặp điều kiện bất lợi Bird (1971) cho rằng trứng của tuyến trùng hoại sinh và ký sinh có hình thái tương tự nhau ở hầu hết các thời điểm Chiều dài trung bình của trứng từ 50-90 µm và chiều rộng trung bình từ 21-47 µm
Tuyến trùng phát triển qua 3 giai đoạn: trứng, tuyến trùng non và trưởng
thành Một vài loại thuộc bộ Rhabditida hoàn thành chu kỳ phát triển trong mấy
ngày có khi chỉ mấy giờ Tuyến trùng phát triển trong các tế bào cây có chu kỳ phát triển dài nhất Sự phát triển của tuyến trùng thực vật trong điều kiện thích hợp kéo dài 24-25 ngày, trong trường hợp các điều kiện khác giống nhau thì nhiệt độ có ảnh huởng rất lớn đến sự phát triển Thí dụ tuyến trùng gây sần ở rễ 28oC phát triển trong 25 ngày, nhưng nếu nhiệt độ dưới 15oC thì giai đoạn phát triển sẽ là 15 ngày Tuyến trùng non khác tuyến trùng trưởng thành ở bộ phận sinh dục Tuyến trùng non có một lớp vỏ cutin bao bọc và phát triển bằng con đường lột xác
Tuyến trùng thực vật non có bốn tuổi và tuổi thứ năm là trưởng thành, kích thước các tuổi khác nhau (Phạm Văn Kim, 2000 và Đường Hồng Dật, 1979)
Tuyến trùng tuổi 1-2 đã có hốc miệng và thực quản bảo đảm cho sống độc lập Bắt đầu tuổi 3 tuyến trùng non bắt đầu hình thành bộ phận sinh dục, quá trình này làm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23cho bộ phận giữa cơ thể lớn lên nhanh chóng Đặc điểm của tuổi 4 là quá trình phân hóa các tuyến sinh dục Giai đoạn cuối cùng để chuyển sang giai đoạn trưởng thành
là xuất hiện các tế bào chính trong bộ phận sinh dục
Tuyến trùng có hai dạng biến thái: biến thái hoàn toàn ở các loài chuyển động và biến thái không hoàn toàn ở các loài sống cố định Biến thái không hoàn
toàn gặp ở các loài Aphelenchidae, Aphelenchoidae, và một số loài thuộc các họ Hoplolaimidae, Tylenxchidae, Nastylenchidae và Criconematidae Biến thái hoàn
toàn khi tuyến trùng non khác với tuyến trùng trưởng thành vế cấu tạo bên trong lẫn bên ngoài Điều này chỉ xảy ra đối với con cái, con đực thì vẫn giữ nguyên sơ đồ cấu tạo cơ thể Tuyến trùng biến thái hoàn toàn dễ thích nghi với đời sống ký sinh hơn là tuyến trùng có biến thái không hoàn toàn và có một số đặc tính sinh lý giúp chúng sử dụng cây ký chủ làm thức ăn một cách triệt để hơn Biến thái hoàn toàn có các họ như Heteroderidae, Tylenchulidae, các loài của họ phụ Nacobbidae
1.1.5 Khả năng lưu tồn của tuyến trùng
Theo Đặng Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh (1986), khi gặp điều kiện bất lợi (cây khô héo, đất bị hạn…) ấu trùng hình thành một nang được bao bọc trong lớp da ngoài của lần lột xác trước Dưới dạng nang chúng có thể chống chịu được sự khô hạn trong nhiều năm Khi gặp lại điều kiện bình thường tuyến trùng lại hồi sinh và phát triển tiếp tục Nhờ khả năng ấy tuyến trùng có thể tồn tại trong một thời gian nhất định trong đất không trồng trọt và không có ký chủ thích hợp
Một số tuyến trùng thực vật có thể tiềm sinh đến hàng chục năm Tuyến
trùng Ditylenchus angustus gây bệnh tiêm đọt sần cho lúa, lưu tồn trong rơm rạ đến
4 tháng sau khi thu hoạch Tuyến trùng A besseyi C gây bệnh khô đầu lá trên lúa
có thể tồn tại trong hạt lúa giống tồn trữ đến vài tháng và lan truyền cho vụ sau (Phạm Văn Kim, 2000) Tuyến trùng hại lúa mì non trong điều kiện khô trong phòng thí nghiệm có thể sống được 28 năm (Đường Hồng Dật, 1979)
Tất cả tuyến trùng ăn thực vật trãi qua một thời kỳ ngắn hoặc dài của chu kỳ phát triển ở trong đất và sống ở đó một giai đoạn nhất định hoặc gần toàn bộ vòng đời Tuyến trùng không thể di động trong khoảng cách lớn do cơ thể quá bé nhỏ Do
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24đó, chúng phải nhờ các yếu tố khác như gió, mưa, nước tưới, đất, nguồn cây giống
và tàn dư thực vật để lây nhiễm sang cây khác (Đặng Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh, 1986)
Tamura và Kegasawa (1958) đã nghiên cứu cho thấy tuyến trùng rời khỏi hạt ngâm trong nước ở 300C là nhanh nhất so với ngâm trong nước ở 200C và 250C, không thấy tuyến trùng ra khỏi hạt khi ngâm trong nước nóng 350C Ngâm hạt trong nước 200C sau 150 giờ thấy 35% tuyến trùng còn lại trong hạt, 53% bị chết, ở 250C, 22% còn trong hạt, 67% bị chết; ở 300C, 18% còn trong hạt và 91% bị chết và ở
350C tuyến trùng chết hết
1.1.6 Triệu chứng và sự gây hại của tuyến trùng
Theo Phạm Văn Kim (2000), tuyến trùng có 3 cách ký sinh:
Ngoại ký sinh: tuyến trùng chỉ bám bên ngoài mô bị hại, chọc kim vào bên trong mô để hút chất dinh dưỡng
Nội ký sinh: tuyến trùng chui hẳn vào bên trong mô cây, sống và sinh sản ngay bên trong mô, làm mô cây sưng phù lên hoặc tạo thành các u, bướu
Bán nội ký sinh: tuyến trùng chui phần đầu cào trong mô cây còn phần thân nằm ngoài mô cây bị ký sinh
Cũng theo Phạm Văn Kim (2000), tuyến trùng có thể ký sinh ở: rễ cây, lá cây, thân cây, ở hoa và cả ở hạt Mật số tuyến trùng hiện diện trong đất là điều cần quan tâm, bởi vì không phải hễ có tuyến trùng ký sinh trong đất là cây trồng sẽ bị thiệt hại mà chỉ khi nào mật số tuyến trùng đạt đến ngưỡng gây hại thì cây trồng mới bị hại
Đường Hồng Dật (1979) nhận thấy tuyến trùng có khả năng thích ứng với tất cả các bộ phận của cây, chúng có thể sống ở rễ, ở các bộ phận trên mặt đất và ở các bộ phận sinh sản Tác hại cũng như triệu chứng bệnh gây ra rất khác nhau Nhiều trường hợp triệu chứng xuất hiện tương đối rõ nhưng cũng có trưòng hợp không hình thành triệu chứng bên ngoài mà biểu hiện chủ yếu là cây sinh trưởng kém
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25Do quá trình sống và sinh sản trên hoặc trong mô thực vật, tuyến trùng có thể gây ra nhiều biến đổi theo chiều hướng bất lợi đối với thực vật Đó là các biến đổi
về cơ học như phá hủy mô thực vật, tạo ra các vết thương, các biến đổi về sinh lý do các chức năng chính của thực vật như hút và vận chuyển chất dinh dưỡng của rễ thân, quang hợp của lá bị cản trở, các biến đổi sinh hóa bị rối loạn do tuyến trùng tiết ra các enzyme tiêu hóa làm thay đổi các quá trình sinh hóa bình thường của cây (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000)
Theo Agrios (2003), tuyến trùng gây hại trên cây tạo nên triệu chứng trên rễ cũng như các phần khác của cây, tạo nên nốt sần, u bướu, gây tổn thương rễ, tạo tiền đề cho các tác nhân khác gây bệnh
Theo Đặng Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh (1986) tuyến trùng dùng vòi châm hút dinh dưỡng từ mô cây, đồng thời chúng tiêm nước bọt hóa lỏng các dịch của tế bào chất và chuẩn bị tiêu hóa Như vậy các tế bào cây lần lượt bị tiêu hủy và chất độc tiết ra tạo nên hoại thư và biến dạng các mô và tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn xâm nhập
Còn theo Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh (2000) thì tuyến trùng ký sinh thường tạo ra các vết thương cho cây chủ và mở đường cho các tác nhân gây bệnh khác xâm nhập gây hại Chúng làm giảm khả năng miễn dịch của thực vật kháng lại sự xâm nhập của các tác nhân vi sinh vật gây bệnh khác và làm cho tác hại đối với thực vật trầm trọng thêm Một số tuyến trùng có khả năng mang truyền virus gây bệnh cho thực vật
Tuyến trùng A besseyi C gây hại trên lúa làm lá bị biến màu trắng ở đoạn
dài khoảng 5 cm từ đỉnh lá, vết bệnh trở nên nâu nhạt, rách và xoăn lại như sợi chỉ Cây bệnh thấp lùn, yếu ớt và sinh bông nhỏ Chiều dài bông và số gié bị giảm, hạt ở phần chót bông hầu như bị thui hết, bông bệnh cho nhiều hạt lép và quăn queo Bông của các dảnh bệnh nặng thường chín muộn Cây bị bệnh có lá xanh đậm hơn
so với bình thường và hay mọc nhánh từ các đốt trên thân (Ou, 1985)
Theo kết quả nghiên cứu trên 20 loại cây trồng chính ở các vùng khác nhau trên thế giới thì thiệt hại trung bình hàng năm do tuyến trùng ký sinh gây ra là 12,5% tương đương khoảng 77 tỷ USD (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26Ở Liên Xô, năng suất cà chua, dưa chuột bị giảm đến 50% do tuyến trùng, khoai tây bị giảm đến 80%, lượng đường trong củ cải đường giảm 20% Ở Mỹ, hàng năm thiệt hại do tuyến trùng gây ra cho nông nghiệp trị giá đến hàng trăm triệu
đô la (Đường Hồng Dật, 1979)
Đến nay đã điều tra phát hiện khoảng 250 loài tuyến trùng ký sinh cây trồng
ở Việt Nam, trong đó ước đoán số loài tuyến trùng ký sinh đã được phát hiện chiếm 50% số loài tuyến trùng ký sinh thực vật ở Việt Nam (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000)
Ở nước ta, tuyến trùng là một trong những trở ngại chủ yếu cho việc phát triển cây hồ tiêu Ở một số nông trường tuyến trùng cũng gây ra những thiệt hại đáng kể cho cây cà phê Một số cây công nghiệp khác như đay gai, các loại rau như hành, cà bát, khoai tây cũng bị tuyến trùng gây nhiều thiệt hại Tuyến trùng khô đầu
lá trong những năm gần đây cũng đang ngày càng mở rộng diện phá hại (Đường
Hồng Dật, 1979) Tuyến trùng Ditylenchus angustus gây bệnh tiêm đọt sần trên lúa
Vụ mùa năm 1990-1991, riêng huyện Thủ Đức (Thành Phố Hồ Chí Minh) có đến
10000 ha lúa mùa mắc bệnh tiêm đọt sần trong đó có 1000 ha là mất trắng do bệnh gây ra (Phạm Văn Kim, 2000)
1.1.7 Tuyến trùng ký sinh thực vật
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), tuyến trùng thực vật đã được phát hiện vào thế kỷ 18, phần lớn sống trong đất, phá hoại bộ rễ và các bộ phận khác trên thân cây gây tác hại đến sinh trưởng và năng suất của cây trồng, sống tập trung ở tầng đất canh tác, ở độ sâu 5-20cm
Tuyến trùng thực vật có kích thước thân bé từ 0,5-5 mm đa số dưới 2 mm Các loại tuyến trùng ít hoạt động có hình cầu hoặc hình quả lê, tuyến trùng ký sinh trên lá có hình sợi chỉ và các loại tuyến trùng phá hủy mô cây thường có hình trụ hay hình thoi (Đường Hồng Dật, 1979) Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) cho rằng tuyến trùng thực vật có hình giun kim và kích thước nhỏ bé đa số dưới 2mm, chiều rộng thân không đều theo chiều dài cơ thể Hình dạng thân liên quan chặt chẽ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27với đặc tính sinh sống và cây ký chủ nên có hình quả lê, quả chanh, hình tròn, hình cầu, hình giọt nước nhỏ giọt, phần dưới con cái phát triển rộng hơn phần đầu
Tuyến trùng thực vật sống và ký sinh ở tất cả các phần của thực vật bao gồm
rễ, thân, lá và hoa của thực vật đang phát triển (Kleynhans, 1999) Chúng có những tập quán dinh dưỡng rất khác nhau, một số loài dinh dưỡng trên bề mặt những mô ngoài của thực vật, một số khác thâm nhập vào bên trong các mô để ký sinh và một
số khác có thể làm cho cây chủ tạo ra những nguồn dinh dưỡng phù hợp tại nơi chúng ký sinh (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000)
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), tuyến trùng phần lớn là những loại ký sinh chuyên tính và có tính chuyên hóa rõ rệt, trong đó có loại tuyến trùng
có tính chuyên hóa hẹp chỉ ký sinh trên một vài loại cây trồng như tuyến trùng A besseyi C hoặc loại chuyên hóa rộng như tuyến trùng nốt sần Meloidogyne marioni
phá hại trên rễ nhiều loại cây khác nhau như thuốc lá, đậu tương, bầu bí, cây họ đậu…
Bên cạnh tuyến trùng ký sinh thực vật, thì một số tuyến trùng cũng được nghiên cứu tạo ra chế phẩm để sử dụng phòng trừ một số dịch hại như
Romanomermis spp (trừ ruồi đục nõn, sâu năn và ruồi đục lá), tuyến trùng Neoplecta spp (trừ sâu non bộ cánh phấn và mối), Nosema locustae (trừ châu chấu)
(Nguyễn Công Thuật, 1995)
1.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng lên tuyến trùng thực vật
- Loại đất: Tuyến trùng ký sinh ở rễ cây thì các loại đất cát, đất cát pha, đất thịt nhẹ là những loại đất phù hợp cho sự tích lũy và hoạt động của tuyến trùng, giúp di chuyển dễ dàng đến vùng rễ cây để gây hại (Lê Lương Tề, 1977)
- Độ ẩm và nhiệt độ đất: Độ ẩm tối ưu cho tuyến trùng hoạt động dao động từ 40-80% (Kleynhans, 1999) số lượng tuyến trùng tăng nhiều trong mùa mưa ấm áp
và giảm đi nhiều trong mùa khô hạn Độ ẩm cao giúp tuyến trùng di chuyển dễ dàng Vì vậy, trên lớp đất mặt (2-3 cm) khô cứng nên số lượng tuyến trùng ít hơn là các tầng phía dưới Nhiệt độ đất bất lợi làm tuyến trùng chuyển sang trạng thái tiềm sinh, khi gặp điều kiện thuận lợi tuyến trùng hoạt động trở lại (Lê Lương Tề, 1977)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28- Không khí trong đất: Oxy tham gia phần lớn vào quá trình phân giải trong đất, trong môi trường nghèo oxy thì tuyến trùng không hoạt động, tuyến trùng tuổi 2 hại củ cải đường ngừng chuyển động ở điều kiện Oxy trong nước chỉ có 36%, đối với tuyến trùng nốt sưng là 4% (Lê Lương Tề, 1977)
- pH đất: ảnh hưởng của pH thông qua cây ký chủ, cây trồng phát triển tốt trong môi trường đất trung hoà và nó thúc đẩy tăng mật độ của tuyến trùng
- Chất bài tiết của rễ cây trồng: Trong quá trình sinh trưởng, rễ cây tiết ra nhiều chất có tính hấp dẫn tuyến trùng Các chất này có tác dụng kích thích trứng tuyến trùng nở Tuy nhiên, một số loại cây tiết ra các chất có tác dụng xua đuổi tuyến trùng (Lê Lương Tề, 1977)
- Kỹ thuật canh tác: luân canh giúp làm hạn chế hoặc cắt đứt nguồn ký chủ của tuyến trùng, làm giảm sự gia tăng mật số của chúng (Kleynhans, 1999)
- Vi sinh vật đối kháng: Có những loại nấm, vi khuẩn, virus, Rickettsia, Tardigrade, Tuberlaria, Enchytraeid, côn trùng và tuyến trùng đối kháng có khả năng tiêu diệt tuyến trùng hại cây Vi sinh vật đối kháng ở trong đất là một yếu tố quan trọng làm giảm số lượng tuyến trùng hại cây tích lũy tồn tại ở trong đất (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 291.1.9 Tuyến trùng Aphelenchoides besseyi C
1.1.9.1 Vị trí phân loại (Crop Protection Compendium, 2001):
Giới Animalia Ngành Nemata Lớp Secernentea
Bộ Aphelenchida Phân bộ Aphelenchina Liên họ Aphelenchoidoidea
Họ Aphelenchoididae Phân họ Aphelenchoidinae
Giống Aphelenchoides Loài Aphelenchoides besseyi Christie
1.1.9.2 Hình thái giải phẫu
Theo Allen (1952) (trích dẫn của Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000), mô tả cấu tạo của con đực và con cái như sau:
Con cái: (L = 0.62-0.88 mm; a = 38-58; b = 9-12; c = 15-20; V =
43-3366-724-8) Cơ thể của con cái A besseyi C mảnh dẻ, thon, thẳng và hơi cong về
phía bụng khi bất động, phân đốt cutin mảnh, đôi khi không rõ, chiều rộng ở giữa
cơ thể khoảng 0,9 µm Vùng môi tròn, nhẵn, phân biệt với đường viền cơ thể, vòng gốc có đường kính rộng hơn thân và bằng 1/2 chiều rộng cơ thể tại giữa cơ thể Phía trong vùng môi kitin hóa yếu Vùng môi bên với 4 đường Phần hình chóp của kim dài khoảng 45% chiều dài của kim Phần trụ phía sau của kim có núm gốc tròn, hai cạnh ngoài vát ở phía sau, đường kính núm gốc khoảng 1,75μm Diều giữa hình oval với van bên trong rõ, nằm hơi lùi về phía sau của tâm diều giữa Thực quản tuyến dài từ 4- 8 lần chiều rộng của thân, phủ lên đầu của ruột về phía lưng và bên Vòng thần kinh nằm phía sau diều giữa khoảng một lần chiều rộng của thân Vị trí
lỗ bài tiết ngang phía trước của vòng thần kinh Hemizonid nằm ở phía sau lỗ bài tiết khoảng 11- 15 μm Vulva nằm ngang (vuông góc với thân) với mép hơi lồi Túi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30chứa tinh hình oval dài thường có chứa tinh trùng Buồng trứng thường ngắn, không kéo dài đến thực quản, noãn sào xếp thành 2- 4 dãy Tử cung sau hẹp, không rõ nét
và không chứa tinh trùng, có chiều dài từ 2,5- 3,5 lần chiều rộng cơ thể tại hậu môn
và nhỏ hơn 1/3 khoảng cách từ hậu môn đến vulva Đuôi hình chóp dài 3,5- 5 lần chiều rộng cơ thể tại hậu môn Mút đuôi có mucro hình sao với 3- 4 gai
Con đực: (L = 0.44-0.72 mm; a = 36-47; b = 9-11; c = 14-19; T = 50-65) Vùng môi, kim, hệ thực quản tương tự như ở con cái Phần cuối cơ thể khi xử lý nhiệt thường cong 1800 Đuôi hình chóp, tận cùng đuôi có mucro phức tạp với 2- 4
gai
Trong đó :
L : Chiều dài cơ thể (µm, mm)
a : L/Chiều rộng lớn nhất
b : L/Chiều dài từ đỉnh đầu cơ thể đến van ruột - thực quản
c : L/Chiều dài đuôi
T(%) : Chiều dài từ hậu môn đến đỉnh của Testis*100/Chiều dài cơ thể
Theo Crop Protection Compendium (2001) thì A besseyi C là loài có ký chủ
1.1.9.3 Một số đặc điếm sinh học của Aphelenchoides besseyi C trên lúa
Triệu chứng bệnh khô đầu lá lúa: Chóp lá có màu trắng, những lá bị nhiễm
có màu xanh đậm hơn lá bình thường Cây bị bệnh còi cọc và cho những bông nhỏ,
ít hạt hơn Trấu và hạt có thể nhỏ và bị biến dạng (Reissig, Heinrichs, Litsinger, Moody, Fiedler, Mew và Barrion, 1985)
Todd và Atkins (1958) tìm thấy tuyến trùng bên trong vỏ trấu, trên hạt, xung quanh lá non và hạt chưa vào hạt chắc và trên bẹ lá Trong mô lá không có tuyến trùng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 31Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sơn và Trần Quốc Việt (2006)
cho thấy rằng tuyến trùng A.besseyi C xuất hiện trong chồi non (cả chồi vô hiệu và
chồi hữu hiệu), thân lúa với mật số trung bình là 16,67 con/chồi, 2.22con/thân lúa
mật số tuyến trùng A.besseyi C trong thân lúa thấp, điều này cho thấy tuyến trùng A.besseyi C chỉ tập trung chủ yếu ở đỉnh sinh trưởng, ít hiện diện trong thân
Theo Yoshi và Yamamoto (1950), chỉ có một lượng nhỏ tuyến trùng trên hạt nảy mầm, không gặp tuyến trùng trên mạ Khi lúa đẻ nhánh tuyến trùng nằm trong các khoanh phía trên đỉnh sinh trưởng hoặc trong các lá non còn nằm trong bẹ Khi cây lớn số lượng tuyến trùng tăng và xuất hiện trên các lá Khi bông hình thành tuyến trùng tập trung vào bông và tăng số lượng nhưng khi hạt lúa chín số lượng tuyến trùng giảm đột ngột Trong một bông lúa phần giữa gặp nhiều tuyến trùng, phần đầu bông có ít hơn, hạt chắc có nhiều tuyến trùng hơn hạt lép
Cả hạt lép, hạt sữa và hạt chắc đều có sự hiện diện của tuyến trùng
A.besseyi Trong đó, hạt sữa có mật số tuyến trùng thấp nhất, khác biệt rõ nét với
hạt chắc, khi phân tích 2 giống lúa MTL233 và MTL250 (Nguyễn Thanh Sơn và Trần Quốc Việt 2006)
Yamamoto và Yoshi (1950) cho rằng chúng bám bên trong lá non ở các giai đoạn đầu của lúa Sau khi hình thành bông xâm nhập vào các gié, rồi nằm trong vỏ trấu khi hạt chín Sau khi tuốt một số nhỏ tuyến trùng lẫn với rơm và trong các hạt lép
Tuyến trùng tồn tại giữa hai vụ lúa bằng cách ở trong vỏ hạt trấu hoặc ở trên mặt vỏ hạt lúa bị nhiễm Suốt thời gian đầu thời kỳ tăng trưởng của lúa, tuyến trùng được tìm thấy ở bên trong những lá non còn cuộn lại Khi lúa lớn, tuyến trùng lan truyền qua nhiều cách hoặc nhờ nước ruộng mang đến những cây khác Lúc này mật
số tuyến trùng phát triển và di chuyển trên gié lúa (Reissig, Heinrichs, Litsinger, Moody, Fiedler, Mew và Barrion, 1985)
Vào cuối giai đoạn sinh trưởng của cây lúa nhiều A besseyi C chuyển sang
trạng thái tiềm sinh ở dưới lớp vỏ của hạt lúa Nó không tồn tại trong đất (Taylor, 1969)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32Khi gặp điều kiện khô, cơ thể A besseyi C từ từ mất nước và chúng chuyển
sang trạng thái ngủ yên trong trạng thái thiếu nước và có thể sống sót trong một trạng thái im lìm trên hạt bị nhiễm trong một thời gian dài từ 8 tháng đến 2 năm
(Cralley, 1949; Yoshi và Yamamoto, 1950) Sự sống sót được tăng khi A besseyi
C tụ họp và tốc độ hạt khô chậm nhưng sự nhiễm A besseyi C giảm đi khi tuổi hạt tăng lên A besseyi C không tồn tại trong đất vào giai đoạn giữa các vụ mùa
(Cralley, 1952)
Tuyến trùng tồn tại lâu trong hạt bị bệnh Cralley (1949) chúng sống được 8 tháng trên hạt sau khi thu hoạch Yamamoto và Yoshi (1950) chúng có thể sống được 2 năm trong hạt khô
Nhiệt độ và ẩm độ không khí có ảnh hưởng đến vòng đời tuyến trùng Ở
250C và 31,30C vòng đời của tuyến trùng A besseyi C kéo dài từ 3-6 ngày, ở
20,60C-14,70C vòng đời kéo dài từ 9-24 ngày Tuyến trùng chết ở 420C trong 16 giờ
và ở 440C trong 4 giờ Và để phát triển bình thường tuyến trùng cần ẩm độ thấp nhất là 70%, ẩm độ bão hòa giúp chúng di chuyển dễ dàng Khi hạt lúa khô tuyến trùng trở nên tiềm sinh (Ou, 1985)
1.1.9.4 Một số đặc điếm của Aphelenchoides besseyi C trên cây huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.)
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân (2005)
chứng tỏ A besseyi C là ký chủ chính gây bệnh chai bông trên huệ Bệnh gây hại
trong suốt giai đoạn của cây từ khi cây còn nhỏ đến lúc ra bông, thể hiện rất rõ trên thân lá và bông Chiều dài con đực biến động 0,52 - 0,62 mm và ở con cái 0,54 - 0,8
mm, với chiều dài kim chích từ 10 đến 13μm, phổ biến là 12,5μm A besseyi C chủ yếu sống ngoại ký sinh được Trần Anh Trọng (2006) xác đinh khi nhuộm mô 20 bông huệ thì chỉ có 6 bông phát hiện được tuyến trùng này Tuy nhiên mật số tuyến trùng hiện diện rất thấp 0.18 con/bông Tất cả ở phần đế bông mà không hiện diện cánh bông Sự hiện diện của một vài con trong mô có thể là do sự xâm nhập qua vết thương
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 33Từ kết quả của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân (2005) cho thấy rằng
con đực trong quần thể A besseyi C chiếm tỷ lệ tương đối ít so với con cái, khi
mẫu bông càng nặng (càng ít dinh dưỡng) thì tỷ lệ con đực lại tăng so với bông chớm bệnh Điều này được tác giả giải thích trong điều kiện đủ dinh dưỡng
A.besseyi C sinh sản vô tính và khi gặp điều kiện nghèo dinh dưỡng A besseyi C
chuyển sang sinh sản hữu tính, nên số lượng con đực tìm thấy nhiều ở bông bị hại năng và ngược lại
Nghiên cứu của Trần Anh Trọng (2006), bệnh chai bông do tuyến trùng
A.besseyi C gây ra thường có triệu chứng rất rõ ràng và đặc trưng trên cây huệ như
bông không phát triển (nông dân gọi là chai bông), lá quăn queo và đọt xoăn lại Không những các bộ phận mang triệu chứng rõ ràng trên cây như bông, nụ, lá mà cả những bộ phận ít thấy triệu chứng cũng thấy sự hiện diện của tuyến trùng Bông nở
và bông búp có mật số tuyến trùng cao nhất (bông nở là 811,00 con/bông, bông búp
là 1025,57 con/bông), nụ có triệu chứng bệnh có mật số tuyến trùng thấp hơn (229,00 con/bông), thấp nhất là nụ không có triệu chứng bệnh (136,86 con/bông) Mật số tăng dần theo tuổi bông và dần dần thể hiện triệu chứng, tuy nhiên bông nở
mật số giảm dần A.besseyi C cũng được phát hiện trên lá huệ, nhưng chỉ được ghi
nhận vào giai đoạn cây con, trung bình 223con/các lá non Khi cây có hoa thì không
hoặc ít thấy sự hiện diện của A.besseyi C trên lá, đến lúc lá khô thì không tìm thấy tuyến trùng A.besseyi C
Về khả năng lưu tồn của A.besseyi trong củ huệ (Polianthes tuberosa Linn.),
tuyến trùng vẫn còn hiện diện trong củ ít nhất là 2 tháng sau khi phơi nắng với mật
số biến động 0-175 con/củ (trung bình 60con/củ) điều này cho thấy A.bessyi C có
sức sống mạnh khi gặp điều kiện bất lợi (Trần Anh Trọng, 2006) Củ huệ của nông dân phơi nắng khoảng 1 tháng nhằm hạn chế mật số tuyến trùng, được trồng trên đất được thanh trùng trong điều kiện nhà lưới cũng xuất hiện bệnh và có xu hướng tăng lên khi tuổi cây huệ càng cao (Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân 2005) Điều này cho thầy củ huệ giống chính là nguyên nhân gây bộc phát bệnh cho vụ mùa sau
Sức sống mãnh liệt của tuyến trùng A.besseyi C còn được ghi nhận bởi
Trần Anh Trọng (2006), khi quan sát mật số trên bông huệ đặt trong điều kiện khô
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 34tự nhiên trong 4 tháng Kết quả cho thấy mật số tuyến trùng cao nhất là bông được
để khô sau 1 tháng (700 con/bông) và sau 2 tháng để khô là 485,84 con Tuy nhiên, sau 3 tháng để khô mật số chỉ còn 127,5 con, và thấp nhất là bông sau 4 tháng 103 con Mật số của bông để khô sau 1 tháng cũng thấp hơn nhiều so với bông tươi (811 con/bông) Mặc dù mật số có giảm theo thời gian để bông khô, nhưng vào 4 tháng
để khô mật số A.besseyi C vẫn còn rất cao (103 con/bông) Yoshii và Yamamoto (1950) cho rằng khi gặp điều kiện khô, cơ thể A besseyi C từ từ mất nước và chúng
chuyển sang trạng thái ngủ yên trong trạng thái thiếu nước và có thể sống sót trong một trạng thái im lìm trên hạt bị nhiễm trong một thời gian dài từ 8 tháng đến 3 năm
Đặc biệt qua 2 năm nghiên cứu về tuyến trùng A.besseyi C gây hại trên huệ
cả Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân (2005), Trần Anh Trọng (2006) ghi nhận
có sự hiện diện của loài tuyến trùng này trong đất Còn Taylor (1969), thì cho rằng
tuyến trùng A.besseyi C không tồn tại trong đất
Một vài biện pháp phòng trừ tuyến trùng A.besseyi C đã được thử nghiệm
như ngâm, rãi: Basudin, Nokarp, Padan, Regent….cho thấy không có hiệu quả trong
phòng trừ tuyến trùng A.besseyi C (Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân 2005)
1.1.10 Các biện pháp phòng trừ tuyến trùng
1.1.10.1 Biện pháp phòng ngừa
Theo Nguyễn Ngọc Châu (2003), ngăn ngừa là giải pháp đầu tiên quan trọng nhất trong quản lý tuyến trùng Ở quy mô quốc tế các vấn đề kiểm dịch thực vật quan trọng được quản lý bởi các công ước kiểm định thực vật Danh sách đối tượng kiểm dịch thực vật tuyến trùng của EPPO (Tổ Chức Bảo Vệ Thực Vật Châu Âu và
Địa Trung Hải) Bao gồm các loại sau: A besseyi C., Globodera papilla, G rostochiensis, Radopholus similis và Xiphinema americanum Việt Nam cũng đã
ban hành danh mục các loài tuyến trùng kiểm dịch thực vật bao gồm 9 loài:
Globodera rostochiensis, Ditylenchus destrustor, D dipsici, Radopholus similis, A fragariae, A ritzemabosi, Heterodera schachtii, Bursaphelenchus xylophyluss, Rhabdinaphelenchus cocophilus
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 35Trồng luân canh cây cà chua bằng cây lạc để tránh sự gây hại của tuyến
trùng Meloidogyne arenaria trên cà chua Trồng xen hoa màu chính với các loại cây
có tính ức chế tuyến trùng như cây hoa vạn thọ cũng là biện pháp tốt nhất (Phạm Văn Kim, 2000)
Dùng giống kháng bệnh sẽ loại trừ được khả năng gây hại của A besseyi C (Atkins và Todd, 1959)
1.1.10.3 Các biện pháp vật lý
Yoshi và Yamamoto (1950) ngâm hạt trong nước nóng 50-520C trong 5-10 phút, tiếp theo 16-20 giờ ngâm trong nước dưới 200C cũng diệt được tuyến trùng Hạt lúa chỉ bị hại khi ngâm quá 20 phút trong nước nóng 600C
Tiến hành ngâm nước khoảng 2 giờ trước khi xử lý nước nóng là thực tế phổ
biến để phòng trừ A besseyi C nhiễm trong hạt lúa giống Xử lý nước nóng kết hợp
với việc bóc hết phần mô bị hoại tử bên ngoài thân củ chuối để phòng trừ
Radopholus similis (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
Theo Cralley (1949) thì xử lý hạt lúa giống trước khi gieo bằng nước nóng (55-610C trong 10-15 phút) có thế hạn chế được tuyến trùng A besseyi C gây bệnh
khô đầu lá trên lúa, làm tỉ lệ bệnh giảm từ 75% xuống còn 1% trong thí nghiệm nhà kính
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 36Cralley (1952) ngâm trong nước lạnh 8-12 giờ rồi ngâm trong nước nóng
550C trong 15 giây, tiếp theo ngâm trong nước nóng 500C khoảng 15 phút và ngâm trong nước lạnh 5 phút sau đó phơi khô để làm hạt sạch hết tuyến trùng
Người ta dùng nước nóng, hơi nhiệt để xử lý lớp đất mặt, hạt giống ở vườn ươm Các thí nghiệm đã cho thấy khi đốt một lớp lá khô dày 10 cm trên mặt đất có thể giết tuyến trùng ở độ sâu 9 cm (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
Theo kết quả thí nghiệm của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân (2005) khi phơi nắng củ huệ trong thời gian dài (phơi nắng 30 và 45 ngày) làm mật số của
tuyến trùng A besseyi C khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với đối chứng
1.1.10.5 Biện pháp hóa học
Phần lớn các chế phẩm diệt tuyến trùng được dùng để xử lý đất trước khi trồng như Methyl Bromide, Vapam, Mocap, Nemagin hay Furadan có tác dụng diệt
tuyến trùng (Đặng Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh, 1986)
Tuyến trùng A besseyi C và Anguina tritici có thể bị giết bằng thuốc xông
Methyl Bromide trong một phòng kín khí Nhúng chồi giống vào đất sét và nước có thuốc Carbofuran và Ethoprophos mang lại hiệu quả cao trong phòng trừ tuyến
trùng Radopholus similis trên chuối (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
Còn theo Đường Hồng Dật (1979) thì một số thuốc trừ sâu hữu cơ có tác dụng phòng trừ tuyến trùng: ngâm hạt giống vào nước thuốc 0,1% Photphamidon
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 37trong 24 giờ, trộn thuốc Thimet (40 kg/ha) vào phân bón rồi rải vào ruộng trước khi cày 1-2 tuần lễ, trộn thuốc Diazinon hay Dixiston với lượng 80 kg/ha vào ruộng Nhiều loại thuốc xông hơi như Methyl Bromide, Clopicrin cũng có tác dụng phòng trừ tuyến trùng
Xử lý hạt lúa bằng thuốc hóa học Benomyl có tác dụng làm giảm mật số
trung bình của A besseyi C Khi chủng A besseyi C lên cây lúa một ngày, tiến
hành phun thuốc Benomyl có hiệu quả diệt tuyến trùng hơn là xử lý hạt trước khi gieo (Gergon và Prot, 1993)
1.2 CÂY HUỆ (Polianthes tuberose Linn.)
1.2.2 Đặc điểm hình thái, sinh thái của cây huệ
Cây huệ thuộc thảo, không có thân, lá mọc thành hình tròn quanh đỉnh chồi Huệ có giả hành dạng củ, có rễ chùm Huệ có bông dài thẳng đứng, cao vượt lên khỏi củ mang nhiều hoa trắng thơm ngào ngạt nhất là về đêm
Cây huệ rất ưa nắng, khi trồng ở vùng nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm, nhiều ánh sáng cho hoa quanh năm, trồng ở vùng có nhiệt độ thấp trung bình dưới 200C kéo dài như mùa đông ở miền Bắc nước ta huệ ra bông rất kém, thậm chí bông không nở được
Huệ trồng một lần nếu chăm sóc đúng kỹ thuật có thể thu hoạch được nhiều lần trong 2-3 năm (Đặng Phương Trâm, 2005)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 381.2.3 Giống huệ
Theo Đào Mạnh Khuyến (1992) và Đặng Phương Trâm (2005) thì huệ trồng
ở Việt Nam có hai giống:
- Huệ đơn (huệ sẻ, huệ ta): cây thấp mảnh khảnh, cành hoa nhỏ nhắn, bông hoa chỉ có một lớp cánh nhưng huệ có mùi thơm đậm hơn so với huệ kép
- Huệ kép (huệ tàu, huệ trâu, huệ tứ diện): cây cao, hoa to và nhiều nhưng kém thơm Huệ kép phổ biến hơn huệ đơn vì cây mọc khỏe hơn
+ Củ lớn: đường kính củ khoảng 3 cm + Củ vừa: đường kính củ khoảng 2-2,5 cm + Củ nhỏ: đường kính củ nhỏ hơn 2 cm
Xử lý củ giống: phơi củ vài ngày cho lá héo, cất vào nơi thoáng mát,
để khoảng 2-3 tháng, sau đó đem trồng
- Chuẩn bị đất
Đào liếp sâu 0,5 mét, liếp rộng khoảng 1,5 mét và rảnh rộng 0,5 mét
Để huệ có nhiều bông và bông dài đẹp nên chọn loại đất sét trắng, mịn Do huệ rất kén đất nên chỉ trồng được tối đa vài năm phải đổi đất trồng
- Bón phân
+ Bón lót: bón phân hữu cơ theo định mức 3 m3/1000 m2 kết hợp với
10 kg phân lân, 80-100 kg vôi rải đều Bón vào lúc 10 ngày trước khi trồng
+ Từ 30 ngày sau khi trồng: dùng hỗn hợp urea lân và kali hòa nước tưới cho cây định kì 20 ngày trên lần cho đến lúc cây có hoa Theo Nguyễn Khang
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 39Thái (2003) thì cứ 15 ngày kể từ lúc trồng bón phân với liều lượng 15 kg NPK (loại 16-16-8) + 3 kg Urea
- Chăm sóc
+ Tưới nước: Sau khi trồng, cứ vài ngày phải tưới nước để cây bén rễ Khi cây bắt đầu phát triển lá sẽ tưới đẩm Thiếu nước hoa nhỏ, cánh phát triển không hoàn hảo, bông ngắn
+ Vun đất, làm cỏ: Thường xuyên làm cỏ để cây không bị cạnh tranh, vun gốc để gốc và rễ phát triển
+ Sâu bệnh Sâu: các loại côn trùng chích hút gồm rệp sáp, nhện đỏ và nhất là tuyến trùng Bệnh tuyến trùng là nguyên nhân làm cho hoa và cả phát hoa cây huệ
bị thoái hóa Tuyến trùng cũng rất khó kiểm soát, các biện pháp canh tác giúp giảm thiểu tác hại của bệnh
Bệnh: thối củ hay thối nhũn do vi khuẩn Ralstonia solanacerum
gây ra, giảm tác hại bằng biện pháp chuẩn bị đất thông thoáng, rải vôi và bón phân hữu cơ, bổ sung lân, kali cân đối để tăng sức đề kháng
- Thu hoạch
Từ khi trồng đến khi thu hoạch khoảng 100 ngày Dùng chân để giữ gốc không bị bật lên rồi dùng tay nắm nhánh hoa giật mạnh ngang mặt đất
1.2.5 Một số đặc điểm về bệnh chai bông trên cây huệ trắng
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân (2005), bệnh chai bông có thể gây hại trong suốt các giai đoạn của cây, từ giai đoạn khi cây còn nhỏ cho đến lúc trổ bông và thể hiện rất rõ trên thân, lá và bông Triệu chứng
được ghi nhận như sau:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 40* Triệu chứng:
- Giai đoạn trước khi ra bông:
Bệnh có thể bắt đầu xuất hiện khi củ huệ đã trồng ra những lá đầu tiên và gây hại nặng dần Nếu bệnh nhẹ có thể để lại trên một số lá những đường gân sọc màu nâu đỏ kéo dài từ bẹ lá đến chót lá Nếu bệnh nặng có thể làm cho tất cả các lá quăn queo và đọt xoăn lại, trên lá phủ đầy những đường gân sọc màu nâu đỏ ở dạng nứt đủ hướng Nếu tách phần đọt xoăn ra quan sát bên trong, ta sẽ thấy phần lá non
và đặc biệt là đỉnh sinh trưởng hầu như bị hư hại và có màu nâu đỏ hoặc thui đen Những cây bị xoăn nếu để lâu, trên phần lá và đọt xoăn sẽ xuất hiện những đường nứt theo chiều ngang làm cho lá và đọt rất giòn, khi chạm đến rất dễ gãy
- Giai đoạn ra bông:
Triệu chứng rất đặc trưng của bệnh là làm cho bông bị chai nên nông dân ở Cai Lậy – Tiền Giang còn gọi là bệnh chai bông Khi cây bệnh nặng làm cho bông không trổ lên được giống như lúa ngẹn đồng Phát bông thấp hơn lá, trên bông bị thui đen và khô đi, làm cho phát bông ở dạng búp màu vàng nâu, bông không thể tách ra để nở và khô đen dần Trên bẹ lá hầu như bị thâm màu nâu đỏ, phần bẹ lá sát thân bị hư có màu nâu đen Thân bị lùn đi và trên vỏ thân bị biến dạng với những nốt gai sần dầy đặc có màu nâu hoặc xanh
Khi bệnh nhẹ hơn, bông trổ cao hơn chiều cao của lá và triệu chứng trên thân
và bẹ lá có thể ít hơn, trên phát bông mặc dù các bông tách ra được và không còn dạng búp nhưng vẫn không nở được do các cánh hoa bên trong bị chai với những vết sọc vàng nâu từ những cánh hoa bên trong ra cánh ngoài, nhụy bên trong bị khô đen và dần dần bông sẽ bị khô đi Những bông bị bệnh thường bị teo hoặc không phát triển nên bông không thon dài như bông bình thường
Theo quan sát của nông dân ở Cai Lậy – Tiền Giang thì bệnh chai bông xuất hiện quanh năm, trong một bụi Huệ có thể có bông bị chai và có bông không bị, có cây mẹ bị chai nhưng có khi đời con không bị chai và ngược lại
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu