Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài : “GIÁM ĐỊNH THÀNH PHẦN NẤM GÂY BỆNH TRÊN HẠT LÚA TẠI AN GIANG VÀ ĐỒNG THÁP TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN 2005-2006, HÈ THU 2006 VÀ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ
Trang 1NẤM Trichoconis padwickii VÀ Diplodina sp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH TRỒNG TRỌT
Cần Thơ, 2007
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2NẤM Trichoconis padwickii VÀ Diplodina sp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH TRỒNG TRỌT
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts Trần Thị Thu Thủy ThS Lê Hoàng Lệ Thủy
Cần Thơ-2007
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3ii
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
………
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài :
“GIÁM ĐỊNH THÀNH PHẦN NẤM GÂY BỆNH TRÊN
HẠT LÚA TẠI AN GIANG VÀ ĐỒNG THÁP TRONG
VỤ ĐÔNG XUÂN 2005-2006, HÈ THU 2006 VÀ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC ĐỐI VỚI
NẤM Trichoconis padwickii VÀ Diplodina sp.”
Do sinh viên Hồ Văn Thơ thực hiện và đề nạp
Kính trình Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày 28 tháng 02 năm 2007
Cán bộ hướng dẫn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4NẤM Trichoconis padwickii VÀ Diplodina sp.”
Do sinh viên Hồ Văn Thơ thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng, ngày 07 tháng 03 năm 2007
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức:…………điểm
Trang 5iv
Họ và tên sinh viên: Hồ Văn Thơ Giới tính: Nam
Nơi sinh: Thị Xã Châu Đốc – An Giang
Quê quán: Khóm Châu Long 4, phường Châu Phú B, Thị xã Châu Đốc, An Giang Cha: Hồ Văn Tùng
Mẹ : Lê Thị Tuyết
Quá trình học tập:
Năm 1990 – 1995: học tại trường Tiểu học “A” Châu Phú B
Năm 1996 – 1999: học tại trường THPT Thủ Khoa Nghĩa Năm 1999 – 2002: học tại trường PTTH Thủ Khoa Nghĩa Tốt nghiệp tú tài năm 2002 tại trường PTTH Thủ Khoa Nghĩa Trúng tuyển ngành Trồng Trọt Khoá 28 – Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ năm 2002
Tôt nghiệp Kỹ sư chuyên ngành Trồng Trọt năm 2007
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7vi
Kính dâng lên Cha Mẹ, người đã chăm lo con ăn học cho đến ngày hôm nay
Chân thành biết ơn:
+ Cô Trần Thị Thu Thủy và chị Lê Hoàng Lệ Thủy đã tận tình hướng dẫn, giúp tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
+ Cô Nguyễn Thị Thu Cúc và cô Nguyễn Thị Diệu Hương đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
+ Quý Thầy cô và toàn thể Cán bộ Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp
& Sinh Học Ứng Dụng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
+ Chân thành cảm ơn anh Huỳnh Minh Châu, anh Lê Bảo Ti và anh Dương Kế Truyền đã giúp đỡ tôi trong thời gian làm luận văn
+ Cám ơn các bạn Trần Nguyên, Nguyễn Văn Đệ Em, La Chí Khôn, Huỳnh Ngọc Thi và các bạn cùng nhóm với tôi đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Thân ái gởi về:
+ Tất cả các bạn lớp Trồng Trọt K28 và toàn thể các bạn sinh viên Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ, những lời chúc tốt đẹp
và thành đạt nhất
HỒ VĂN THƠ Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8loại thuốc đối với nấm Trichoconis padwickii và Diplodina sp.” được thực hiện từ
tháng 09 năm 2006 đến tháng 02 năm 2007 tại Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ nhằm mục đích: (1) Xác định thành phần nấm gây bệnh trên hạt lúa tại An Giang và Đồng Tháp (2)
So sánh tần số xuất hiện của các loại nấm này trong điều kiện ánh sáng đèn huỳnh quang và ánh sáng đèn cận cực tím (3) Thử nghiệm hiệu quả của các loại thuốc đối
với nấm Trichoconis padwickii và Diplodina sp Sau đây là một số kết quả đã ghi
nhận được
+ Kết quả giám định thành phần nấm gây bệnh trên 23 mẫu lúa thu thập tại
An Giang và Đồng Tháp ghi nhận có 11 tác nhân gây bệnh trên hạt là Fusarium spp., Helminthosporium spp., Curvularia spp., Trichoconis padwickii, Nigrospora spp., Cercospora oryzae, Trichothecium sp., Tilletia barclayana, Diplodina sp.,
Alternaria sp và Pyricularia oryzae
Điều kiện ánh sáng cũng ảnh hưởng đến tần số xuất hiện ở một số loại nấm Điều kiện ánh sáng đèn huỳnh quang và ánh sáng đèn cận cực tím có sự khác biệt có ý nghĩa
về tần số xuất hiện của bốn loài nấm Fusarium spp., Helminthosporium sp., Curvularia spp., và Trichoconis padwickii Tần số xuất hiện của bảy loài nấm Nigrospora spp.,
Cercospora oryzae, Trichothecium sp., Tilletia barclayana, Diplodina sp., Alternaria sp
và Pyricularia oryzae khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Trong điều kiện phòng thí nghiệm, hai loại thuốc Tilt Super 300 EC và Dithane M-45 80 WP cho hiệu quả cao nhất trong việc ức chế sự phát triển khuẩn ty Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9viii Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 101.2.3 Bệnh gạch nâu (Narrow Brown Leaf Spot) 6
1.2.10 Bệnh lem lép hạt (Grain Discoloration) 13
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11CỦA SÁU LOẠI THUỐC HÓA HỌC
ĐỐI VỚI NẤM Trichoconis padwickii & Diplodina sp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12xi
3.1.3 Mô tả đặc điểm của các tác nhân gây bệnh trên hạt lúa 41
nấm Trichoconis padwickii thu thập tại ĐBSCL
3.3.2 Hiệu quả của sáu loại thuốc đối với 70
các chủng nấm Diplodina sp
khuẩn ty ở thời điểm 7 ngày sau khi thử thuốc
* Hiệu quả của sáu loại thuốc đối với sự 71
hình thành bào tử trên ba chủng nấm Diplodina
Trang 13Bảng 3.1 Danh sách 23 mẫu lúa bệnh thu thập tại An Giang và Đồng
Tháp Vụ lúa Đông Xuân 2005-2006 và Hè Thu 2006
37
Bảng 3.2 Sự hiện diện của các loại nấm có trong các mẫu hạt lúa được
thu thập tại An Giang và Đồng Tháp Vụ Đông Xuân
2005-2006 và Hè Thu 2005-2006
39
Bảng 3.3 Tần số xuất hiện của 11 chủng nấm gây bệnh trên hạt tại An
Giang trong hai điều kiện ánh sáng đèn huỳnh quang và đèn cận cực tím
62
Bảng 3.4 Tần số xuất hiện của 11 chủng nấm gây bệnh trên hạt tại Đồng
Tháp giữa hai điều kiện ánh sáng đèn huỳnh quang và đèn cận cực tím
63
Bảng 3.5 Tần số xuất hiện của 11 loại nấm gây bệnh trên hạt tại An Giang
và Đồng Tháp giữa hai điều kiện ánh sáng
64
Bảng 3.6 Hiệu quả của sáu loại thuốc hóa học đối với các chủng nấm
Trichoconis padwickii ở thời điểm 7 ngày
66
Bảng 3.7 Hiệu quả của sáu loại thuốc hóa học đối với sự phát triển
khuẩn ty của ba chủng nấm Diplodina sp ở thời điểm 7 ngày
70
Bảng 3.8 Hiệu quả của sáu loại thuốc hóa học đối với sự hình thành bào
tử của ba chủng nấm Diplodina sp ở thời điểm 8 ngày
71 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14xiii
Hình 2.2 Cách đặt khoanh khuẩn ty trên đĩa môi trường 36
Hình 3.1 Triệu chứng bệnh trên bông lúa do nấm Diplodina sp gây ra 40
Hình 3.2 Triệu chứng bệnh trên bông lúa do nấm Trichothecium sp gây ra 40
Hình 3.3 Sự phát triển của Helminthosporium spp từ hạt bệnh khi
Hình 3.5 Triệu chứng bệnh và nấm Helminthosporium spp gây
Hình 3.6 Sự phát triển của nấm Trichoconis padwickii từ hạt bệnh
Hình 3.7 Triệu chứng và nấm Trichoconis padwickii gây bệnh trên hạt 45
Hình 3.8 Sự phát triển của nấm Curvularia spp từ hạt bệnh khi quan
Hình 3.10 Triệu chứng bệnh và nấm Curvularia spp gây bệnh trên hạt 48
Hình 3.11 Sự phát triển của nấm Trichothecium sp từ hạt bệnh khi quan
Hình 3.12 Khuẩn ty và bào tử của nấm Trichothecium sp 50
Hình 3.13 Triệu chứng bệnh và nấm Trichothecium sp gây bệnh trên hạt 51
Hình 3.14 Sự phát triển của nấm Nigrospora spp từ hạt bệnh khi
Hình 3.15 Đính bào đài và bào tử nấm Nigrospora spp 53 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15xiv
Hình 3.17 Đính bào đài và bào tử nấm Fusarium spp 55
Hình 3.18 Triệu chứng bệnh và nấm Fusarium spp gây bệnh trên hạt 56
Hình 3.19 Sự phát triển của nấm Diplodina sp từ hạt bệnh khi quan
Hình 3.21 Triệu chứng bệnh và nấm Diplodina sp gây bệnh trên hạt 59
Hình 3.23 Sự phát triển của nấm Alternaria spp từ hạt bệnh khi
Hình 3.25 Khuẩn ty Alternaria spp trên môi trường PDA 61
Hình 3.26 Hiệu quả của sáu loại thuốc lên chủng nấm Trichoconis
Trang 16MỞ ĐẦU
Hạt giống khoẻ, sạch bệnh và có phẩm chất tốt chính là tiền đề cho sản lượng
và chất lượng nông sản cao Tuy nhiên hầu hết các bệnh trên lúa đều có nguồn gốc
từ hạt giống như lúa von (Fusarium moniliform), đốm nâu (Bipolaris oryzae), bạc lá (Xanthomonas oryzae), đốm vòng (Trichoconis padwickii), lem lép hạt (grain
Bệnh trên hạt lúa do nhiều tác nhân gây ra, hạt lúa có thể bị nhiễm bệnh trước hay sau khi thu hoạch, mức độ nhiễm bệnh thay đổi tùy theo mùa vụ và tùy địa phương Triệu chứng điển hình là hạt lúa bị biến màu gây nên hiện tượng lem hoặc lép hạt và ảnh hưởng đến năng suất cho nhiều khu vực trồng lúa (Trần Văn Hai, 1999)
Vì vậy, nhằm góp phần nâng cao chất lượng hạt giống lúa và phẩm chất gạo
cho xuất khẩu, đề tài “GIÁM ĐỊNH THÀNH PHẦN NẤM GÂY BỆNH TRÊN HẠT LÚA TẠI AN GIANG VÀ ĐỒNG THÁP TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN
2005 – 2006, HÈ THU 2006 VÀ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC
ĐỐI VỚI NẤM Trichoconis padwickii VÀ Diplodina sp.” được thực hiện với
mục đích: (1) Xác định thành phần nấm gây bệnh trên hạt lúa tại An Giang và Đồng Tháp (2) So sánh tần số xuất hiện của các loại nấm này trong điều kiện ánh sáng đèn huỳnh quang và ánh sáng đèn cận cực tím (3) Thử nghiệm hiệu quả của các
loại thuốc đối với nấm Trichoconis padwickii và Diplodina sp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17Trấu trên, trấu dưới, mày, và trục gié hoa hợp thành trấu của lúa Trấu dưới lớn hơn trấu trên và bao khoảng hai phần ba bề mặt gạo lức trưởng thành (Yoshida, 1992) (Hình 1.2)
Hình 1.1 Cấu tạo hạt lúa Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 181.2 SƠ LƯỢC VỀ CÁC BỆNH TRÊN HẠT LÚA
An Giang, Cần Thơ (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Bệnh làm cho lúa bị cháy rụi hoàn toàn nếu bị nhiễm bệnh ở giai đoạn mạ và khi nhiễm ở giai đoạn trổ bệnh làm thối đốt thân, thối cổ gié làm đổ gẫy, làm hạt lép
và giảm trọng lượng hạt Ước tính 10% gié bị nhiễm bệnh thì thất thu năng suất 6%
và tỷ lệ hạt kém phẩm chất gia tăng 5% (Vỏ Thanh Hoàng, 1993)
Bệnh làm gãy thân, gãy gié, lép hạt hay giảm trọng lượng hạt (Nguyễn Phú Dũng, 2004-2005)
Năng suất lúa bị giảm do bệnh gây ra ở Philippines năm 1962 và 1963 ước tính là 90% ở một số nơi (Nuque và CTV, 1979 trích dẫn từ Hoàng Đình Định, 1998)
Ở Việt Nam liên tiếp trong những năm 1980, 1981, 1982 dịch bệnh gây hại nặng ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang thiệt hại về năng suất khoảng 40% Năm 1995, bệnh gây hại ở hầu hết các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long với trên 200.000 ha, mức thiệt hại chung từ 10 – 15% (Phạm Văn Dư, 1977; Sang và CTV, 1997 trích dẫn từ Hoàng Đình Định, 1998)
b Triệu chứng bệnh trên hạt
Nấm bệnh có thể tấn công ở lá, đốt thân, cổ gié, nhánh g ié và hạt Trên hạt vết bệnh là những đốm tròn, viền nâu, tâm xám trắng, đường kính 1-2 mm (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Các vị trí khác nhau của bông lúa đều có thể bị bệnh với các vết màu nâu xám tro thắt lại Vết bệnh trên cổ bông xuất hiện sớm thì bông lúa bị lép, lững còn Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19muộn thì gây hiện tượng gãy cổ bông Vết bệnh ở hạt thì không có hình dạng nhất định (Nguyễn Phú Dũng, 2004-2005)
Nấm ký sinh ở vỏ trấu và có thể ở bên trong hạt Hạt giống bị bệnh là nguồn bệnh truyền từ vụ này qua vụ khác (Nguyễn Phú Dũng, 2004-2005)
e Biện pháp phòng trị
Có thể phòng trị bệnh bằng một số loại thuốc hoá học như Fuji-one, Rabcide, Benlate, Topsin-M ở nồng độ 0,1 – 0,2% Ngoài ra có thể sử dụng một số biện pháp khác như sử dụng giống kháng, không bón nhiều đạm, không gieo sạ quá dầy…để phòng trị bệnh (Võ Thanh Hoàng, 1993)
1.2.2 Bệnh đốm nâu (Brown Spot)
a Phân bố và thiệt hại của bệnh trên năng suất và phẩm chất hạt lúa
Bệnh có phạm vi phân bố rộng, xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa của Châu Á, Châu Mỹ và Châu phi (Trần Thị Thu Thuỷ, 1980) Tại Đồng Sông Cửu Long, bệnh đã gây thành dịch ở Tiền Giang, Bến Tre và Hậu Giang (Trần Văn Hai, 1999)
Bệnh làm giảm năng suất và phẩm chất hạt lúa Về năng suất giảm 30 – 40%
ở Nigeria (Aluko, 1975), 50% ở Surinam (Klomp, 1977) (Trích dẫn từ Võ Thanh Hoàng, 1993) Còn ờ Ấn Độ năng suất giảm 40-90% làm hai triệu người chết vì đói vào năm 1943 (Padmanabhan, 1973 trích dẫn từ Trần Thị Thu Thủy, 2002)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20Về phẩm chất hạt: Bệnh làm giảm phẩm chất và trọng lượng hạt từ 4,58 – 29,10% (Trần Văn Hai, 1999), từ 4,58 – 29,1% trọng lượng hạt (Bedi – Gill, 1960), gây đốm nâu hạt cho khoảng 50% hạt có triệu chứng lem lép của vụ Hè Thu và Thu Đông (Võ Thanh Hoàng, 1993)
b Triệu chứng của bệnh trên hạt
Vết bệnh ban đầu là những điểm lấm chấm nâu sau lan ra làm cả hạt có màu nâu, đặc biệt trong điều kiện thời tiết mưa ẩm thì trên vết bệnh ở hạt dễ dàng mọc ra một lớp móc màu đen, đó là các đính bào đài và bào tử của nấm (Trần Thị Thu Thủy, 1980) Nấm có thể xâm nhập vào bên trong, làm cho phôi nhủ có những đốm đen (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Mathur và ctv (1989) cho rằng những hạt lúa bị nhiễm bệnh thể hiện những đốm nâu và đôi khi có màu nâu đậm của đính bào tử và cuống đính bào tử (ISTA, 1964) Trên vỏ hạt xuất hiện các vết đen hoặc nâu đậm, trường hợp bệnh nặng các vết bệnh có thể bao phủ phần lớn hay toàn bộ hay bề mặt vỏ hạt (Võ Thanh Hoàng, 1993; Ou, 1985)
c Tác nhân gây bệnh
Helminthosporium oryzae (Trần Văn Hai, 1999)
Hoặc Bipolaris oryzae (Breda de Haan) Shoem (syn Drechslera oryzae
(Breda de Haan) Subram & Jain) (Mathur, 1989)
d Lưu tồn
Nấm bệnh lưu tồn chủ yếu trên xác bã cây bệnh, hạt bệnh (Võ Thanh Hoàng, 1993), trên rơm rạ, hạt giống (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 1998) và cả hạt khỏe mạnh (Trần Văn Hai, 1999) Đất cũng là nguồn dự trữ bệnh (Thomas, 1949; Ganguly, 1946 trích dẫn từ Trần Văn Hai, 1999)
e Biện pháp phòng trị
Phun Kitazin hột 20 – 30kg/ha, hoặc Kitazin nước (10 – 15ml/bình 8 – 10 lít)
để trừ nấm khi cây lúa chớm bệnh (Võ Tòng Xuân, 1986; Võ Tòng Xuân và CTV, Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 211983 trích dẫn từ Trần Văn Hai, 1999), Rovrval 50 WP hay Copper Zine ở nồng độ 0,2% (Võ Thanh Hoàng, 1993) Dithane M-45 và Ceresan có thể phòng trừ hiệu quả nấm H.oryzae (Dharam Vir, Mathur & Neergaard, 1970; Park & Cho, 1972 trích dẫn từ Mathur el al, 1989) Ngoài ra có thể sử dụng một số biện pháp khác như sử dụng giống kháng, cải tiến tình trạng đất và bón phân thích hợp, đốt rơm lúa bệnh,
xử lý hạt giống bằng nước nóng hoặc ngâm hạt trong CuSO4 (0,1%) (Võ Thanh Hoàng, 1993)
1.2.3 Bệnh gạch nâu (Narrow Brown Leaf Spot)
a Phân bố và thiệt hại của bệnh đến năng suất và phẩm chất hạt lúa
Bệnh có mặt ở nhiều nơi trên thế giới như China, India, Indonesia, Malaysia, Venezuela, Châu phi, Châu úc,…Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, bệnh phân bố rộng
và thường thấy ở vụ Hè Thu (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Bệnh gây thất thu nặng cho các giống nhiễm và gây thất thu năng suất khoảng 40% ở Surinam năm 1953 – 1954 Một số nơi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long vào vụ Hè Thu và Thu Đông, bệnh có thể gây 20% trong tổng số hạt bị lem lép (Võ Thanh Hoàng, 1993)
b Triệu chứng bệnh trên hạt
Vết bệnh là những vạch màu nâu, ngắn, dài 2-10 mm, rộng 1 mm trên lá, bẹ
lá và trên vỏ trấu Kích thước và màu sắc của vết bệnh phụ thuộc vào tính kháng và tính mẫn cảm của giống (Mathur, 1989)
c Tác nhân gây bệnh
Cercospora janseana (Racib.) O Const (syn Cercospora oryzae Miyake)
(Teleomorph Sphaerulina oryzina Hara) (Mathur, 1989)
Trang 22Bệnh còn làm giảm sự nảy mầm, làm nâu tử diệp và chết mạ (Kauraw pers Comm.; Ou, 1985 trích dẫn bởi IRRI, 1988)
Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long: Bệnh có thể tham gia 20% tổng số hạt lem lép của lúa Hè Thu và Thu Đông (Võ Thanh Hoàng, 1993)
b Triệu chứng của bệnh trên hạt
Trên vỏ hạt nhiễm có đốm nâu nhạt hay trắng bạc bìa vết có màu nâu sậm, tâm vết có đốm đen nhỏ Nấm có thể xâm nhập vào hạt gạo bên trong làm biến màu hạt, hạt biến dạng, giòn, dễ vỡ khi xay (Trần Văn Hai, 1999)
Sợi nấm phát triển bên trong biểu bì của vỏ trấu, phôi nhủ và phôi Trên vỏ trấu xuất hiện những đốm bệnh lớn với những vòng sáng hơi tím Ngoài ra, bệnh còn làm giảm sự nảy mầm, làm nâu tử diệp và chết mạ (Kauraw pers Comm.; Ou
Trang 23d Lưu tồn
Tisdale (1922) chắc chắn rằng nấm sống qua đông trong đất và rơm rạ lúa, và gây bệnh cho lúa trong vụ sau OU (1983) cho biết đã phân lập được nấm từ 60% hạt bị biến màu ở Thái và có lẽ đó là một nguồn bệnh ban đầu quan trọng khác
e Biện pháp phòng trị
Dithane M-45 và Ceresan có thể phòng trừ hiệu quả nấm Alternaria padwickii ở nồng độ 0,3% trong điều kiện phòng thí nghiệm (Dharam Vir, Mathur
& Neergaard, 1971 trích dẫn bởi Mathur & Mortensen, 1989)
Xử lý hạt với Dithane M-45 (Zineb) hay Rovral ở nồng độ 0,2%, hoặc bằng nước nóng 540C Phun Rovral 50WP nồng độ 0,2% từ khi lúa trổ trở về sau Không lấy giống ở ruộng bị nhiễm bệnh (Võ Thanh Hoàng, 1993)
1.2.5 Bệnh lúa von (Bakanae Disease)
a Phân bố và thiệt hại của bệnh đến năng suất và phẩm chất hạt lúa
Bệnh khá phổ biến trên thế giới, ngoài Ấn Độ và Nhật Bản bệnh còn thường xuất hiện ở nhiều nước như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, (Võ Thanh Hoàng, 1993) và gây thất thu năng suất rất đáng kể ở nhiều nơi như 20 - 40% ở Nhật; 15%
Ấn Độ; 3,7 – 14,7% ở Thái Lan (Ou, 1983)
Ở nước ta, bệnh này rất phổ biến, đâu cũng có, vụ nào cũng có (Trần Văn
Hai, 1999) Năm 1956, bệnh gây hại rất nặng và trên diện rộng ở vùng đồng bằng sông Hồng, có nơi thiệt hại tới 2/3 sản lượng (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 1998)
Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long: Bệnh cũng có mặt ở nhiều nơi, nhất là Đông Xuân Bệnh có khi thành dịch trên diện rộng như vào năm 1980 ở Đồng Thấp (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24b Triệu chứng bệnh trên hạt lúa
Hạt bị bệnh thường bị lửng, lép, vỏ hạt màu xám, trên vỏ hạt có thể quan sát thấy lớp nấm trắng phớt hồng trong điều kiện ẩm ướt Trong điều kiện khô, trên đốt thân và vỏ hạt có nhiều chấm nhỏ li ti màu xanh đen, đó là quả thể của nấm (Vũ Triệu Mân – Lê Lương Tề, 1998) Khi bị bệnh nặng, hạt bị biến màu đỏ nhạt do sự
có mặt của các bào tử nấm gây bệnh, thường toàn bộ hạt bị biến màu (Ou, 1983)
c Tác nhân gây bệnh
Fusarium moniliforme Sheld (Teleomorph Gibberella fujikuroi (Saw.)
Wollenw.) (Mathur & Mortensen, 1989)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25b Triệu chứng bệnh trên hạt lúa
Hạt lúa nhiễm bệnh thường có thể bị biến mà thành màu trắng, vàng, đỏ hay
là các đốm bao phủ một phần hay hoang toàn bề mặt hạt lúa, những đốm nầy thường là nơi mang rất nhiều bào tử kèm theo Hạt nhiễm bệnh thường nhẹ, biến hình dễ gãy và thường không có khả năng nảy mầm, nếu nảy mầm được thì các hạt lúa được sản xuất ra cũng nhiễm bệnh (Mathur & Mortensen, 1989)
c Tác nhân gây bệnh
Fusarium graminearum Schwabe (Teleomorph Gibberella zeae (Schw.)
Petch) (Mathur & Mortensen, 1989)
d Biện pháp phòng trị
Xử lý hạt bằng thuốc Rhodane ở nồng độ 2,3% (Mironenko, 1960 trích dẫn
từ Mathur & Mortensen, 1989)
1.2.7 Bệnh thối bẹ (Sheath Rot)
a Phân bố và thiệt hại của bệnh đến năng suất và phẩm chất hạt lúa
Hiện nay bệnh có ở Nhật và rất phổ biến ở các quốc gia Đông Nam Á, ở Mỹ,
Ấn Độ và Tây Phi Châu…(Võ Thanh Hoàng, 1993) Bệnh đã gây tổn thất lớn và làm biến màu hạt ở Ấn Độ (Upadhay & Diwakar, 1984) Chất lượng gạo bị giảm, hàm lượng protein giảm từ 8 – 2,2% hạt bị lép và tỷ lệ nẩy mầm giảm từ 94 – 58% (Vidhyasekaran, Ranganathan, Rajamanickam & Radhakrishnan, 1984 trích dẫn từ Mathur & Mortensen, 1989)
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, có khi bệnh gây nghẹn trổ hầu như cả ruộng, gié hoàn toàn lép, thiệt hại cũng rất cao (Võ Thanh Hoàng, 1993)
b Triệu chứng bệnh trên hạt lúa
Bệnh thối bẹ làm cho gié lúa bị nghẹn trổ hoàn toàn hay chỉ trổ được một phần, hạt trên gié hầu như bị lép hoàn toàn và có màu nâu (Nguyễn Thị Nghiêm –
Võ Thanh Hoàng, 1999; Mathur và ctv,1989)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26Gié bị nghẹn trổ hoàn toàn hay chỉ trổ được một phần, hạt trên gié hầu như bị lép
hoàn toàn và cũng có màu nâu
Không lấy hạt giống ở các ruộng có bệnh, không gieo sạ quá dầy, ngừa sâu đục thân hay các tác nhân gây tổn thương khác (Nguyễn Thị Nghiêm và Võ Thanh Hoàng, 1999)
1.2.8 Bệnh than vàng hạt (False Smut)
a Phân bố và thiệt hại của bệnh đến năng suất và phẩm chất hạt lúa
Bệnh có thể gây một ít thiệt hại trong những điều kiện đặc biệt, tuy nhiên có khi cũng gây hại nặng như ở Philippines (Reinking, 1818), ở Burma năm 1935 (Seth, 1945) Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, bệnh có mặt ở nhiều nơi, nhưng thiệt hại không đáng kể (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27b Triệu chứng bệnh trên hạt lúa
Hạt bị nhiễm bệnh bị bao phủ bởi một bứu bào tử có màu xanh, lúc đầu nhỏ, nằm giữa hai vỏ trấu sau đó lớn dần lên và bao phủ cả hạt Thường trên gié lúa chỉ vài hạt bị nhiễm (Võ Thanh Hoàng, 1993)
e Biện pháp phòng trị
Có thể sử dụng các biện pháp như hạn chế nguồn bệnh lây lan, sử dụng giống ít nhiễm Khi cần thì phun thuốc có chứa oxychlorure đồng trước khi trổ vài ngày (Võ Thanh Hoàng, 1993)
1.2.9 Bệnh than đen hạt (Kernel Smut)
a Phân bố và thiệt hại của bệnh đến năng suất và phẩm chất hạt lúa
Bệnh thường không quan trọng do chỉ có một số ít hạt bị nhiễm và chỉ bị nhiễm một phần chứ không hoàn toàn Tuy nhiên, bệnh có khi gây thất thu 2-5% ở Mandalay (Su, 1933), 87% gié bị nhiễm, trung bình 20-40% gié ở Ấn Độ (Hanssan, 1971) Bệnh có thể làm giảm chất lượng hạt (Mew & Misra, 1994)
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, dịch bệnh đã xảy ra ở Đồng Tháp năm 1984, làm hạt gạo bị nhiễm đen khi xay xát (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28b Triệu chứng bệnh trên hạt lúa
Nhiễm nhẹ, hình dạng hạt trong vẫn bình thường, nhìn kỹ thấy bện trong hạt
có màu tối hay hơi đen Nhiễm nặng hơn vỏ trấu của hạt sẽ bị hở Hạt gạo bên trong
có thể bị nhiễm một phần hay toàn hạt bên trong chỉ còn là một khối bột bào tử đen của nấm (Võ Thanh Hoàng, 1993)
e Biện pháp phòng trị
Xử lý hạt với thuốc trừ nấm, nước nóng hoặc cả hai để phòng trị (Mew & Misra, 1994) Hoặc phun thuốc Benlate hoặc Thiophanate methyl trong thời kỳ ra hoa (Mathur & Mortensen, 1989) Đồng thời có thể sử dụng giống ít nhiễm bệnh, vệ sinh cỏ dại (Võ Thanh Hoàng, 1993)
1.2.10 Bệnh lem lép hạt (Grain Discoloration)
a Phân bố và thiệt hại của bệnh đến năng suất và phẩm chất hạt lúa
Tại Việt Nam: Bệnh được ghi nhận đầu tiên vào năm 1991 trên diện tích 20.000 ha Năm 1992, bệnh xuất hiện thành dịch tại Đồng Bằng Sông Hồng, các vùng Trung Du và ven biển miền Trung với diện tích bị hại trên 100.000 ha; năm
1993 là 350.000 ha; năm 1994 – 1995 khoảng 37.000 ha Đến nay bệnh đã phát Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29sinh gây hại phổ biến trên diện rộng Bệnh hại trên cả 3 vụ lúa trong năm, bệnh có
xu hướng ngày càng gia tăng cả về diện tích lẫn mức độ tác hại Diện tích gây hại hàng năm trên 12000 ha vào giai đoạn lúa trổ vào chắc, gây lép lửng, thối đen hạt, giảm năng suất từ 20 – 30% (Trần Văn Hai, 1999)
Vi sinh vật gây bệnh hại hạt thể hiện nhiều tác động khác nhau làm hạt kém phẩm chất và nẩy mầm kém, làm mạ bị cháy và bị nhiều bệnh khác (Ou, 1983)
Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, bệnh gây hại nặng cho vụ lúa Hè Thu và Thu Đông, thiệt hại về sản lượng và chất lượng rất đáng kể; có những nơi ước tính
từ 20 – 50% do hạt bị lép lửng (Trần Văn Hai, 1999)
b Triệu chứng bệnh trên hạt lúa
Triệu chứng trên vỏ hạt thay đổi tùy theo nấm gây bệnh và mức độ bệnh Trên vỏ hạt xuất hiện nhiều đốm nhỏ màu nâu hoặc đen nhạt, các đốm này có thể lớn và phủ kín cả bề mặt vỏ hạt (Võ Thanh Hoàng, 1993; Ou, 1983; Lê Thị Dự
và ctv 2005) Tâm đốm bệnh có thể nâu nhạt hay xám, viền nâu sậm Hạt gạo bên trong bị đổi sang màu đen, đỏ, cam, xanh… tùy loài nấm (Võ Thanh Hoàng, 1993)
c Tác nhân gây bệnh
Bệnh do nhiều loài nấm và vi khuẩn phối hợp (Ou, 1972; Nguyễn Thị Nghiêm – Võ Thanh Hoàng, 1993; Trần Văn Hai, 1996, 1999; Nguyễn Đức Cương, 1998; Phạm Văn Dư và ctv, 2001; Lê Thị Dự và ctv, 2006)
Có hai nhóm Nhóm nhiễm vào hạt trước khi thu hoạch gồm Drechslera
oryzae và các loài Helminthosporium khác; Pyricularia oryzae, Trichoconis
padwickii, Fusarium moniliforme; Alternaria spp.; Nigrospora spp.; Curvularia
spp., Sarocladium oryzae,… (Mathur & Mortensen, 1989) Chúng thuộc nhóm ký
sinh yếu hoặc mạnh gây bệnh cho hạt (Ou, 1983)
Võ Thanh Hoàng và ctv (1993) đã xác định trên các hạt có triệu chứng bệnh
có 9 loài nấm ký sinh gồm: Helminthosporium oryzae, Fusarium moniliforme,
Trichoconis padwickii, Curvularia lunata, Tilletia barclayana, Garlachia oryzae, Cercospora oryzae, Ustilaginoidea virens và Alternaria spp Trong đó phổ biến
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30nhất là Helminthosporium oryzae, kế đó là Fusarium moniliforme, Trichoconis
padwickii và Curvularia lunata
Nhóm nấm mốc nhiễm vào hạt trong quá trình tồn trữ gồm nhiều loài như
Aspergillus, Penicillium, Absidia, Murco, Rhizopus, Monilia,… (Mathur &
Mortensen, 1989) Chúng thường là các nấm phụ sinh (Ou, 1983)
Phần lớn thuộc nhóm một và thay đổi nhiều tùy theo các địa phương được lấy mẫu hạt để xét nghiệm (Tullis, 1963; Baldacci và Picco, 1948; Padmanabhan, 1949; Teunisson, 1954; Rao và Salam, 1954; Chevangeon và Ravisé, 1957; Baldaci
và Corbetta, 1964 trích dẫn từ Ou, 1983)
d Biện pháp phòng trị
Trong điều kiện phòng thí nghiệm, các loại thuốc Tilt 250 EC, Appencard super 50 FL và Anvil 5 SC có hiệu quả trong việc ức chế khả năng phát triển của bốn loài nấm gây bệnh lem lép hạt lúa: Fusarium moniliforme, Alternaria padwickii, Curvularia lunata và Helminthosporium oryzae (Trần Văn Hai, 1999)
Xử lý hạt bằng thuốc Starner 20 WP nồng độ 0,2% trong 24 giờ sẽ hạn chế được 50% bệnh thối hạt Có thể ngâm hạt giống trong nước nóng 54o
C từ 15 – 30 phút hoặc Rovral 0,1% cũng có tác dụng hạn chế nấm bệnh trên hạt (Nguyễn Văn Tuất và ctv, 1997)
Phun thuốc Starner 20 WP 0,2% cho cây lúa ở giai đoạn trổ 5% và trổ hoàn toàn sẽ có hiệu quả rất tốt và làm tăng năng suất từ 11 – 21% (Nguyễn Văn Tuất và ctv, 1997) Ngoài ra có thể phun Rovral 50 WP, nồng độ pha loãng 0,1% trong thời gian lúa trổ đến trước lúc thu hoạch (Võ Thanh Hoàng - Nguyễn Thị Nghiêm, 1993) R Singh (1985) chi biết ở Ấn Độ dùng Mancozeb và Edifenphos có hiệu quả trong việc trị bệnh lem lép hạt vào lúc lúa trổ bông (Nguyễn Đức Cương, 1998) Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 311.2.11 Bệnh đốm đen hạt (Hà Minh Trung, 2002)
hay bệnh vết nâu (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
a Phân bố và thiệt hại của bệnh đến năng suất và phẩm chất hạt lúa
Salam (1954) cho biết ở Ấn Độ 60% hạt bị đen là do các loại Curvularia
Martin (1930, 1940) phát hiện thấy các hạt thóc bị bệnh sinh ra đen hạt sau khi xay xát (Ou, 1983)
Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long thì vụ Đông Xuân 1979 – 1980 bệnh vết nâu
do Curvularia lunata gây ra rất phổ biến và gây hại nặng tại huyện Châu Thành-An Giang (Trần Thị Thu Thuỷ, 1980)
Bệnh làm tăng số lượng hạt lép, làm giảm trọng lượng hạt, ảnh hưởng tới năng suất Khi bệnh nặng làm cho cây lúa bị cằn lại, trổ kém hạt bị đen, tỷ lệ lép lên tới 60 – 70% (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
b Triệu chứng bệnh trên hạt lúa IRRI (1988) cho biết nấm bệnh gây ra sự biến màu của lớp aleurone và lớp
tinh bột Vỏ trấu cũng trở nên nâu (Taketani and Yagi 1982, Tullis 1936, Umehara
et al 1979) Loài Curvularia lunata tấn công lên hạt làm hạt lép hoặc vỏ hạt bị đen
Triệu chứng thể hiện trên hạt là những chấm nhỏ như đầu kim màu nâu hơi vàng, nằm chìm trong vỏ hạt (Nguyễn Văn Mai, 1980) Trần Thị Thu Thuỷ (1980) mô tả vết bệnh ban đầu là những điểm lấm chấm nâu sau lan ra làm cả hạt có màu nâu
Martin (1939, 1940) đã nghiên cứu lây bệnh cho hạt bằng nấm C lutana qua
tiêm chủng cho hạt vào giai đoạn phơi màu Tác giả đã nhận được một số lớn hạt bị
bệnh biến màu (Ou, 1983) Hạt lúa bị bệnh Curvularia sp có vết tròn nhỏ màu nâu
tương tự vết bệnh đốm nâu (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
c Tác nhân gây bệnh
IRRI (1988) cho biết có nhiều loài nấm Curvularia gây bệnh trên hạt gồm
Curvularia lunata (Wakker) Boedijn, C intermedia Boedijn, và C clavata Jain gây ra
Còn theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) thì bệnh là do Curvularia sp gây ra
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32và Lê Lương Tề, 1998)
1.2.12 Bệnh đốm nâu xám (Hà Minh Trung, 2002)
a Thiệt hại của nấm bệnh trên lúa
Khi cây lúa bị suy yếu do điều kiện dinh dưỡng hoặc thời tiết… nấm có thể gây hại hạt hoặc các bộ phận khác của cây lúa Dưới một số điều kiện đặc biệt chúng gây bệnh cháy hạt hoặc đen hạt (Hopkins 1950; Prasad CTV 1960) (Ou, 1983)
b Triệu chứng bệnh trên hạt
Triệu chứng điển hình của bệnh là có rất nhiều mụn nhỏ xíu màu đen, đường kính bé hơn 0,5 mm Các mụn đó dễ bị nhầm lẫn với các bào tử khí nhưng khi phóng đại có thể nhìn thấy thể hiện dạng bột của chúng (Ou, 1983)
c Tác nhân gây bệnh
Nigrospora oryzae (Hà Minh Trung, 2002)
OU (1983) cho biết trên lúa có 4 loại Nigrospora là N oryzae (Berk Và Br) Peteh; N sphaerica (Sacc) Mason; N panici Zimm và N padwickii Prasad, Agnihotri và Agarnal Trong đó N oryzae và N sphaerica là những loài phổ biến
nhất trên lúa
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 331.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN
NẤM GÂY BỆNH TRÊN HẠT LÚA 1.3.1 Trên thế giới
IRRI (1984 – 1986) đã phát hiện 20 loài từ 4,744 lô hạt được kiểm tra bằng
phương pháp chuẩn blotter Nấm chiếm tỷ lệ cao gồm: Trichoconiella padwickii (96.6%), Curvularia spp (87.8%), Phoma spp (40%), Nigrospora oryzae (38.3%),
Tilletia barclayana (8.3%) và Phyllosticta glumarum (4.5%) Trong số những mầm
bệnh quan trọng trên lúa thì Sarocladium oryzae được phát hiện trong đa số những mẫu hạt đươc kiểm tra (55.6%), tiếp theo là Gerlachia oryzae (28.7%), Drechslera
oryzae (24.4%), Fusarium moniliforme (21.8%), Cercospora oryzae (3.9%), Nakataea sigmoidea (1.3%) và Pyricularia oryzae (0.5%)
Mew et al (1988) cho biết Richardson (1979, 1981) đã phát hiện có 41 loài
nấm gây bệnh trên hạt, trong đó có một số loài như A padwickii (Ganguly) M B Ellis; Cercospora oryzae Miyake; Cochliobolus miyabeanus (Ito & Kuribay.) Drechsl & Dastur; Curvularia spp.; Diploria oryzae Miyake; Epicoccum spp.;
Fusarium moniliforme Sheld; F graminearum Schwabe; Fusarium spp.; Sclerotium rolfsii Sacc; Phoma spp.; Pyricularia oryzae Cav; Ophiobulus oryzinus Sacc; Sarocladium oryzae (Sawada) W Gams D Hawksw; Tilletia barclayana (Bref.)
Sacc & Syd; Ustilaginoidea virens (Cooke) Tak; Penicillium puberulum Bain;
Myrothecium verrucaria Ditm & Fr…
Trong đó, mầm bệnh sinh ra từ hạt gây bệnh trên thân và lá lúa bao gồm
Drechslera oryzae (brown spot), Cercospora janseana (narrow brown leaf spot), Alternaria padwickii (stackburn), Magnaporthe salvinii (stem rot), Fusarium moniliforme (bakanae), và Sarocladium oryzae (sheath rot) (T.W.Mew et al, 1988)
Nhóm mầm bệnh khác gây ra những chứng bệnh cho hạt gồm có
Ustilaginoidea virens (false smut), Tilletia barclayana (kernel smut), Curvularia
spp (black kernel), Nigrospora oryzae (minute leaf and grain spot), Phoma
sorghina (glume blight) và Fusarium graminearum (scab) (T.W.Mew et al, 1988)
KATO el al (1988) chia thành phần nấm bệnh trên hạt lúa thành 4 nhóm: Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 34· Nhóm 1: Nấm xâm nhập cả phần vỏ trấu (hulls) và hạt gạo (kernels), gây
bệnh cho cây mạ, có thể làm giảm phẩm chất hạt, gồm Pyricularia oryzae Cav.; Drechslera oryzae Subram et Jain; Fusarium moniliforme Sheld;
Alternaria padwickii (Ganguly) M B Ellis; Ephelis oryzae Sydow
· Nhóm 2: Nấm xâm nhập cả vỏ trấu và hạt gạo, làm cho hạt lúa bị biến
màu và giảm phẩm chất, gồm Curvularia lunata (Wakker) Boedijn, C
intermedia Boedijn, và C clavata Jain; Alternaria padwickii (Ganguly)
Ellis; Bipolaris sorokiniana (Sacc.) Shoamaker
· Nhóm 3: Nấm sản sinh ra hàng loạt bào tử truyền nhiễm tập hợp thành cụm
trên gié hoa, là nguyên nhân gây ra sự cố trong tiến trình hình thành hạt Bào
tử của những nấm này làm dơ hạt trong suốt quá trình thu hoạch và suốt lúa
Bao gồm: Nấm gây bệnh than vàng (Ustilaginoidea virens (Cke) Tak); nấm gây bệnh than đen (Tilletia barclayana (Bref.) Sacc Et Syd
· Nhóm 4: Nấm chỉ xâm nhập phần vỏ trấu, gây lem lép và làm giảm phẩm
chất thương mại của hạt lúa, gồm các loại nấm như Nigrospora spp.,
Phyllosticta spp., Fusarium spp., Septoria spp., Trematosphaerella spp., Metasphaeria spp., Melanomma spp., Sphaeropsis spp., Phaeoseptoria
spp., Diplodia oryzae Miyake, Diplodiella oryzae Miyake, và Oospora
oryzae Ferraris (Kitani et al 1970, Ou 1985)
Theo Mathur & Mortensen (1989) thì có 12 loài nấm gây bệnh trên hạt gồm
Pyricularia oryzae, Bipolaris oryzae, Cercospora janseana, Alternaria padwickii, Microdochium oryzae, Fusarium moniliforme, Rhizoctonia solani, Sarocladium oryzae, Ustilaginoidea virens, Tilletia barclayana, Ephelis oryzae và Fusarium graminearum
Mew et al (1994) cho rằng có 13 loài nấm gây bệnh trên hạt, gồm Alternaria
padwickii, Bipolaris oryzae, Cercospora janseana, Curvularia spp., Ephelis oryzae, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae, Nakataea sigmoidea, Pyricularia oryzae, Rhizoctonia solani, Sarocladium oryzae, Ustilaginoidea virens, Tilletia barclayana
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 351.3.2 Tại Việt Nam
Ở nước ta việc nghiên cứu bệnh trên hạt đã được tiến hành từ giữa thập niên
80 của thế kỷ 20 (Phạm Văn Dư, 2004) và bệnh đã trở nên nghiêm trọng trong những năm gần đây
Võ Thanh Hoàng và ctv (1993) đã xác định có 9 loài nấm ký sinh gây bệnh
trên hạt, gồm: Helminthosporium oryzae, Fusarium moniliforme, Trichoconis
padwickii, Curvularia lunata, Tilletia barclayana, Garlachia oryzae, Cercospora oryzae, Ustilaginoidea virens và Alternaria spp Trong đó phổ biến nhất là Helminthosporium oryzae, kế đó là Fusarium moniliforme, Trichoconis padwickii
và Curvularia lunata Đến năm 1995 theo Võ Công Thành thì có 17 loài nấm gây
hại, hai loại vi khuẩn màu vàng và màu trắng, một xạ khuẩn (Trích dẫn bởi Trần Văn Hai, 1999)
Lương Minh Châu và ctv (1997) cho rằng có 7 loài nấm hiện diện và gây
bệnh trên hạt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Trong đó quan trọng nhất là Fusarium
moniliforme (50 – 99%), kế đến là Tilletia barclayana, Curvularia spp., Nigrospora oryzae, Helminthosporium oryzae, Phoma spp và Sarocladium oryzae
Theo Trần Văn Hai (1999) thì có 11 loài nấm gây bệnh trên hạt lúa của 18 tỉnh phía Nam; các tỉnh Tây Ninh, Bình Thuận, Bình Phước và Kiên Giang có nhiều
loài nấm hiện diện nhất; trong đó Curvularia lunata, Aspergillus spp và Alternaria
sp có tần suất xuất hiện cao (55,4%; 51,9% và 36,9%)
Tuy nhiên, qua một số kết quả kiểm tra nấm bệnh trên hạt giống lúa năm
2000 – 2001 của Phạm Thị Thoa và ctv, cho thấy nhiều mẫu giống của các Công ty, Trạm trại và các Viện nghiên cứu có tỉ lệ hạt nhiễm nấm bệnh khá cao, trong đó các
loài nấm bệnh chiếm tỉ lệ cao là Alternaria padwickii (cao nhất là mẫu của viện lúa ĐBSCL – 37.75%), Bipolaris oryzae (cao nhất là mẫu của Trường Đại học Cần Thơ – 18%) , Sarocladium oryzae và Microdochium oryzae
Còn Nguyễn Văn Luật (2001) cho rằng hạt giống ở ĐBSCL bị nhiễm nhiều
loài nấm bệnh, chủ yếu là Fusarium moniliform (gây bệnh thối gốc và lúa von),
Tilletia barclayana (gây bệnh than đen) và Curvularia spp (gây bệnh lem hạt)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 36Gần đây theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuất và ctv (2004) cho thấy hầu hết các mẫu thu thập ở 14 tỉnh trong cả nước đều bị nhiễm năm loại nấm bệnh ở
mức trung bình như sau: Anternaria padwickii: 30%; Bipolaris oryzae: 10%;
Sarocladium oryzae: 5 – 10%; Microdochium oryzae: 10% và Fusarium moniliforme:
Rhizopus sp (4%), Fusarium sp (2,5%) Một số các loài nấm khác cũng xuất hiện
trên hạt như Phoma shorghina, Aspergillus sp., Trichothechium roseum, Verticilium sp., Botrytis sp Pinatubo oryzae và Menoniella sp là hai loài nấm mới, tuy chưa rõ
cách gây hại
1.4 ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ TÁC NHÂN GÂY BỆNH TRÊN HẠT
1.4.1 Nấm Helminthosporium oryzae
Nấm thuộc bộ Moniliales, nhóm Hyphomycestes, lớp nấm Bất toàn (Trần Văn Hai, 1999)
Theo Trần Văn Hai (1999) thì Dreschsler (1934) đã mô tả như sau:
“Sợi nấm phát triển phân cành và nối nhau, màu nâu đậm hoặc ôliu, đường kính 8 – 15 μ hoặc hơn Cành bào tử mọc tựa những nhánh bên của sợi nấm, màu sắc biến đổi từ màu nâu nhạt ở gốc đến màu khói nhạt có khi gần như không màu ở đỉnh Chúng có kích thước 150 – 600 x 4 – 8 μ Bào tử có kích thước 35 – 170 x 11 – 17 μ , đa số có 13 vách ngăn là tối đa Các bào tử điển hình hơi cong, hơi phình ngang ở giữa hoặc hơi dưới giữa, hai đầu thon thon thành đỉnh hình bán cầu Bào tử chín hoàn toàn màu khói hoặc nâu nhạt với một vách ngoại vi tương đối mỏng”
Trần Thị Thu Thủy (1980) đã mô tả như sau:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 37“Khuẩn ty màu nâu nhạt, đường kính trung bình 2,5 μ Đính bào đài màu nâu sậm, to hơn khuẩn ty, kích thước 75 – 182,5 x 4 – 5 μ, có từ 3 – 7 vách ngăn, mọc từng cụm 3 – 4 cái Bào tử màu nâu, hơi cong hoặc thẳng, vách dầy có từ 5 – 9 vách ngăn, kích thứơc 6,50 – 80 x 12 – 1,5 μ”
Nấm phát triển trên PDA có màu xám đến xám hơi xanh đạm Dạng sợi nấm thường mịn, thể sợi nấm khí sinh, cuống bào tử đính duy nhất, đơn độc hoặc trong những nhóm nhỏ, có màu ôliu đến nâu nhạt Bào tử đính có màu nâu nhạt đến nâu ôliu, thường cong lại, rộng nhất giữa hoặc trên ở giữa, thon và tròn ở hai đầu, đôi khi có hình trụ và bằng phẳng, có 6 – 14 vách ngăn đôi, 63 – 153 (109) x 14 – 22 (17) μm (Chidambaram, Mathur & Neergaard, 1973; CMI Descriptions of Pathogenic Fungi and Bacteria, No 302, 1971b trích dẫn bởi Mathur & Mortensen, 1989)
Khuẩn ty của nấm có thể hiện diện trên vỏ hạt (seed coat), vỏ quả (pericarp)
và trấu (glumes) và đôi khi hiện diện trong phôi nhủ (Ocfemia, 1924; Nisikado & Nakayama, 1943; Fazli & Schroeder, 1966) (Mathur & Mortensen, 1989)
Có hai kiểu phát triển của nấm trên hạt (Mathur & Mortensen, 1989):
· Thứ nhất: Khuẩn ty không hiện diện hoặc hiện diện thưa thớt, các cuống bào
tử đính thẳng hoặc ngoằn ngoèo (flexuous) màu nâu, sản sinh ra những bào
tử màu nâu đậm mọc phía trên ngọn Bào tử uống cong và thon dần về phía cuối, có màu ôliu đến nâu đậm
· Thứ hai: Khuẩn ty phát triển mịn, màu đen hơi xám với những cuống bào tử thon dài và bào tử thường trải ra bao phủ một phần hay cả hạt (Chidambaram
et al., 1973)
1.4.2 Nấm Trichoconis padwickii
Theo Trần Văn Hai (1999) thì Ganguly (1947) đã mô tả như sau:
Khuẩn thể: Khá phát triển, rất phân nhánh không màu khi còn non, màu vàng kem khi trưởng thành, dày 3,4 – 5,7 μm, phân vách ở những khoảng cách đều đặn 20 – 25 μm, các nhánh mọc ở góc phải so với trục chính và hơi thắt lại ở điểm xuất phát Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 38Cành bào tử: không phân biệt rõ ràng với sợi nấm trưởng thành, dài 100 –
175 μm và rộng 3,4 – 5,7 μm , đỉnh mang một bào tử
Bào tử: Hình thoi chỉ, thon dài với một bộ phận phụ dài ở đỉnh, cố định, ba đến năm vách ngăn, màu vàng kem, hơi thắt lại ở chổ vách ngăn, vách dày, tế bào thứ hai hoặc thứ ba tính từ gốc lớn hơn các tế bào còn lại, dài 103,2 – 172,7 μm kể
cả bộ phận phụ bộ, rộng 8,5 – 19,2 μm
Theo Mathur & Mortensen (1989) thì nấm phát triển trên môi trường PDA
có màu hơi xám thường có màu hồng đậm hoặc tím Khuẩn ty có vách ngăn, được phân nhánh dồi dào, trong suốt đến màu vàng kem Cuốn bào tử đính không dễ phân biệt với sợi nấm phát triển đầy đủ, và thường phình ra ở đỉnh Bào tử đính thẳng hoặc uống cong, dạng thoi đến dạng chùy ngược và có mỏ, 3 – 5 vách ngăn với một phần phụ dài, trước tiên trong suốt, sau đó có màu rơm đến nâu vàng, vách mỏng, có 2 hoặc 3 tế bào tử thành phần chính lớn hơn phần còn lại, dài 95 – 170 (130) μm (bao gồm cả phần phụ), rộng 11 – 20 (15,7) μm ở phần rộng nhất, và rộng 1,5 – 5 (2,7) μm ở giữa của phần phụ (Ganguly, 1947; CMI Descriptions of Pathogenic Fungi and Bacteria No 345, 1972)
Bào tử của nấm có thể xuất hiện trên bề mặt của hạt lúa và sợi nấm bám trong mô của phôi nhủ, phôi, lớp cám và trấu (Ou, 1985; Cheeran & Raj, 1966 trích dẫn từ Mathur & Mortensen, 1989)
A.padwickii tạo ra hai kiểu phát triển trên những hạt nhiễm bệnh:
· Thứ nhất là: nhiều bào tử và ít sợi nấm
· Thứ hai là: nhiều sợi nấm và ít bào tử hơn
Cách đầu tiên thường phổ biến, hạt có thể bị bao phủ hoàn toàn hoặc một phần
bề mặt Trong phương pháp blotter, các hạt bị nhiễm nấm thường được bao quanh bởi màu đặc trưng từ hồng đến tím (Mathur & Mortensen, 1989)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 391.4.3 Nấm Curvularia spp
Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) mô tả Curvularia sp như sau:
“Trên hạt bị bệnh nấm mọc thành lớp mốc màu xám đến nâu xám Cành bào
tử phân sinh mọc đơn hoặc thành cụm 3 – 10 cành, đa bào màu nâu đậm, đỉnh hơi tròn, kích thước 70 – 220 x 6 – 8 μm Bào tử phân sinh đa bào có từ 1 – 5 ngăn ngang, đa số 3 ngăn, hơi cong Hình dạng cành bào tử và bào tử giống với loại
Curvularia lunata (Wakk) Boed nhưng khác nhau về tỷ lệ giữa chiều dài và chiều
rộng của bào tử”
Boedijn đã mô tả C lunata như sau (dịch từ tiếng Đức, Padwick, 1950):
“Sợi nấm có vách ngăn, phân nhiều nhánh, màu nhạt đến nâu sáng trong cơ chất, ở trên cơ chất có màu nâu; đường kính sợi nấm đơn lẽ là 2 – 5 μ Cành bào tử màu nâu đậm, không phân nhánh, có vách ngăn, gần đỉnh đôi khi cong xuống và có màu, 70 – 270 x 2 – 4 μ Bào tử (một hay nhiều hơn) mọc ở đỉnh thành một vòng chiếc nọ trên chiếc kia hoặc sắp xếp gần thành vòng xoắn ốc; hình thuyền; đỉnh tròn, đại bộ phận hơi thắt lại gốc, có 3 vách ngăn; tế bào thứ hai lớn hơn và màu đậm hơn các tế bào khác, bào tử cong lại (gù) ở tế bào này; 19 – 30 x 8 – 16 μ (đa
số 23 x 11)” (Ou, 1983)
Trần Thị Thu Thuỷ (1980) đã quan sát và đã mô tả C lunata như sau:
“Khuẩn ty màu nâu nhạt, phân nhánh nhiều, có vách ngăn, đường kính trung bình 2,5 μm Đính bào đài ngắn, màu nâu đậm, không phân nhánh, có 3 – 5 vách ngăn, mọc thành cụm (2 – 4 cái), kích thước từ 30 – 40,5 x 2,5 μm Bào tử hình thuyền gồm 4 tế bào, hai tế bào ở giữa to và sậm màu hơn hai tế bào ở hai đầu, kích thước 17,5 – 27,5 x 16 – 18,5 μm.”
1.4.4 Nấm Nigrospora spp
OU (1983) đã mô tả như sau: “Cành bào tử ngắn, đơn giản, phía dưới đỉnh bị bẹt, đỉnh mang các bào tử đơn lẽ, đơn bào, hình cầu hoặc gần cầu, trơn nhẵn, màu đen”
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 40§ N oryzae (Berk Và Br) Peteh – bào tử có xu thế gần cầu, kích thước
12-17x13-18 (13x15) μ
§ N sphaerica (Sacc) Mason – bào tử hoàn toàn hình cầu, rất nhẵn 16-18 μ
§ N panici Zimm Bào tử hình cầu hoặc hơi bẹt, với một cài túi dạng màng
Bào tử nhỏ hình trứng, đơn bào không màu, kích thước 3 -5 x 2 – 4 μm (Trần Thị Thu Thủy, 1980); 3,4 – 20 x 1,3 – 4,1 μm (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Hình thành từ cành phân nhánh dạng chạc đôi hoặc không phân nhánh mọc trực tiếp từ sợi nấm, bào tử nhỏ tụ lại dạng bọc giả trên đầu cành hoặc hình thành dạng chuỗi (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Đài sinh đại bào tử có một tế bào gốc, mang hai đến ba phụ bộ, trên đó sẽ sinh đại bào tử Đại bào tử có hình liềm hay thẳng, hai đầu dẹp, có khi uốn cong như hình móc câu Trên gối đài, đại bào tử tạo thành lớp có màu cam hồng, khi khô
có màu đỏ cà rốt hay nâu vàng (Võ Thanh Hoàng - Nguyễn Thị Nghiêm, 1993)
Bào tử lớn không màu, hình lưỡi liềm, 1 – 4 vách ngăn, kích thước 30 – 45 x 3,5 – 5 μ (Trần Thị Thu Thủy, 1980) Còn Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) thì cho rằng bào tử lớn dài, cong hình trăng khuyết lưỡi liềm, một đầu hơi nhọn còn một đầu có dạng hình bàn chân nhỏ, thường từ 3 – 5 ngăn ngang
Trên những hạt bệnh, nấm được tìm thấy trên mày rỗng (empty glume) và trục gié hoa (Suzuki, 1985) (Kato el all, 1988)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu