PHẠM THỊ PA RI ĐIỀU TRA SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA MÔ HÌNH SẢN XUẤT CHUYÊN LÚA VÀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TÍCH HỢP CỎ-BÒ-TRÙN-CÁ ; HEO-BIOGAS-CÁ QUI MÔ NÔNG HỘ Ở HUYỀN HỘI - CÀNG LONG
Trang 1PHẠM THỊ PA RI
ĐIỀU TRA SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA MÔ HÌNH SẢN XUẤT CHUYÊN LÚA VÀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TÍCH HỢP (CỎ-BÒ-TRÙN-CÁ ; HEO-BIOGAS-CÁ)
QUI MÔ NÔNG HỘ Ở HUYỀN HỘI -
CÀNG LONG - TRÀ VINH
*********
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH TRỒNG TRỌT
Cần Thơ Tháng 2 năm 2006
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
1 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN MÔN NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG CANH TÁC 3
1.1 Trên thế giới 3
1.2 Ở Việt Nam 4
2.1 HỆ THỐNG CANH TÁC (farming system) 5
2.1.1 Định nghĩa 5
2.1.2 Các loại hệ thống canh tác chính 6
3.3 NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG CANH TÁC 6
3.3.1 Định nghĩa 6
3.3.2 Mục tiêu của nghiên cứu hệ thống canh tác 7
3.4.3 Các đặc điểm 7
3.4.4 Các nguyên lý 8
4.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA TỈNH TRÀ VINH VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU 9
4.1.1 Một số đặc điểm của tỉnh Trà Vinh 9
4.4.2 Đặc điểm của xã Huyền Hội 10
1.5 HỆ THỐNG CANH TÁC CHUYÊN LÚA VÀ HỆ THỐNG CANH TÁC TÍCH HỢP 11
1.5.1 Hệ thống canh tác chuyên lúa 11
1.5.2 Hệ thống canh tác tích hợp (intergrated farming system) 18
5.2.3 Một số hệ thống canh tác tích hợp ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Và mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống tích hợp đó 23
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 26
2.1 PHƯƠNG TIỆN 26
2.1.1 Địa điểm 26
2.1.2 Thời gian 26
2.2 PHƯƠNG PHÁP 26 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp 26
2.2.2 Điều tra 26
2.2.3 Phân tích số liệu 27
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 THÔNG TIN VỀ NÔNG HỘ 28
3.1.1 Số nhân khẩu 28
3.1.2 Trình độ văn hóa 28
3.1.3 Tuổi của chủ hộ 29
3.2 SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA MÔ HÌNH CANH TÁC CỦ VÀ KHI THỰC HIỆN MÔ HÌNH CANH TÁC NÔNG NGHIỆP TÍCH HỢP (CỎ-BÒ-TRÙN-CÁ) (tính cho một năm) 29
3.2.1 So sánh từng hợp phần giữa hai mô hình 29
3.2.2 So sánh giữa mô hình canh tác củ và mô hình canh tác tích hợp (cỏ-bò-trùn-cá) 42
3.3 SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA MÔ HÌNH CANH TÁC CỦ VÀ KHI THỰC HIỆN MÔ HÌNH CANH TÁC NÔNG NGHIỆP TÍCH HỢP (HEO-BIOGAS-CÁ) (tính cho một năm) 45
3.3.1 So sánh từng hợp phần giữa hai mô hình 45
3.3.2 So sánh giữa mô hình canh tác củ và mô hình canh tác tích hợp (heo-biogas-cá) 49
3.4 SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA MÔ HÌNH CANH TÁC CỦ VÀ KHI THỰC HIỆN MÔ HÌNH CANH TÁC NÔNG NGHIỆP TÍCH HỢP (CỎ-BÒ-TRÙN-CÁ; HEO-BIOGAS-CÁ) (tính cho một năm) 52
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55
4.1 KẾT LUẬN 55
4.2 ĐỀ NGHỊ 55 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4Hình 3: Trình độ văn hóa trung bình của chủ hộ tại các điểm điều tra 28
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5Bảng 4: Diện tích, tổng chi, tổng thu, tiền lời, hiệu quả đồng vốn (HQĐV), lao
động gia đình (LĐGĐ) cho nuôi trùn 36
Bảng 5: Diện tích nuôi cá, lượng cá giống, tổng chi, tổng thu, tiền lời, hiệu quả
đồng vốn (HQĐV), lao động gia đình (LĐGĐ) 39
Bảng 6: Diện tích, tổng chi, tổng thu, tiền lời, hiệu quả đồng vốn (HQĐV), lao
động gia đình (LĐGĐ) cho trồng lúa 41
Bảng 7: Diện tích canh tác, tổng chi, tổng thu, tiền lời, hiệu quả đồng vốn (HQĐV),
lao động gia đình (LĐGĐ) 43
Bảng 8: Tiền lời (đồng/người), thời gian lao động (ngày/người), số hợp phần trong
mô hình chuyên lúa và tích hợp (cỏ-bò-trùn-cá) 44
Bảng 9: Lượng heo nuôi, diện tích chuồng trại, tổng chi, tổng thu, tiền lời, hiệu quả
đồng vốn (HQĐV), lao động gia đình (LĐGĐ) 46
Bảng 10: So sánh diện tích canh tác, tổng thu, tổng chi, hiệu quả vốn, lao động gia
đình cho việc làm túi ủ 48
Bảng 11: Diện tích canh tác, tổng chi, tổng thu, tiền lời, hiệu quả đồng vốn
(HQĐV), lao động gia đình (LĐGĐ) 50
Bảng 12: Tiền lời (đồng/người), thời gian lao động (ngày/người), số hợp phần trong
mô hình chuyên lúa và tích hợp (heo-biogas-cá) 51
Bảng 13: Diện tích canh tác, tổng chi, tổng thu, tiền lời, hiệu quả đồng vốn, lao
động gia đình trong mô hình 53
Bảng 14: Tiền lời (đồng/người), thời gian lao động (ngày/người), số hợp phần trong
mô hình chuyên lúa và tích hợp (cỏ-bò-trùn-cá; heo-biogas-cá) 54 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6Tóm lược
Huyền Hội là một Xã nghèo, trong những năm gần đây để tăng thu nhập của nông hộ, người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất nông nghiệp tích hợp Do đó, đề tài được thực hiện nhằm mục đích so sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình sản xuất chuyên lúa và mô hình sản xuất nông nghiệp tích hợp
Đề tài thực hiện với phương pháp gởi sổ ghi chép cho nông hộ, điều tra phỏng vấn theo phiếu 14 hộ áp dụng mô hình tích hợp tại xã Huyền Hội – Càng Long – Trà Vinh
Kết quả phân tích cho thấy
Mô hình canh tác tích hợp (cỏ-bò-trùn-cá), tích hợp (heo-biogas-cá), tích hợp (cỏ-bò-trùn-cá; heo-biogas-cá) có hiệu quả vốn khác biệt không ý nghĩa so với mô hình canh tác chuyên lúa của nông hộ Tiền lời từ mô hình canh tác tích hợp cao hơn mô hình canh tác chuyên lúa, nhưng vốn đầu tư cho mô hình canh tác tích hợp cao hơn mô hình canh tác chuyên lúa Trong
mô hình canh tác tích hợp tận dụng được nguồn lao động của gia đình nhất
là lao động nhàn rỗi của nông hộ, thành phần canh tác cũng đa dạng hơn mô hình canh tác chuyên lúa, nên tính rũi ro trong sản xuất sẽ giảm Khi thực hiện mô hình canh tác tích hợp phụ phẩm từ trồng trọt được tận dụng và chất thải từ chăn nuôi được xử lý, do đó sẽ an toàn cho môi trường hơn mô hình canh tác chuyên lúa
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7MỞ ĐẦU
Huyền Hội là một xã nghèo, với diện tích đất tự nhiên là 3447 ha nền kinh tế của xã chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp chiếm 92% tổng giá trị toàn xã, với 92,7% diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp, lao động sản xuất nông nghiệp chiếm 90% tổng lao động toàn xã
Bà con nông dân sản xuất nông nghiệp chủ yếu là độc canh cây lúa, mà tổng thu từ trồng lúa độc canh thường thấp và không ổn định do giá cả thị trường biến động (giá lúa, giá vật tư nông nghiệp, …) Ngoài ra, việc trồng lúa liên tục có thể có nhiều rủi ro, bất lợi về mặt môi trường và thu nhập không cao do chưa tận dụng hết tìm năng đất đai cũng như lao động nhàn rỗi của nông hộ, đất canh tác trên đầu người lại ít dẫn đến thu nhập của người dân từ lúa độc canh thấp
Trong những năm gần đây, để tăng thu nhập của mình người dân đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi theo nhiều hướng khác nhau, trong những hướng
đó thì hướng “nông nghiệp tích hợp” được đa số bà con nông dân thực hiện, để khai thác tiềm năng và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất, tận dụng được sức lao động gia đình, luân chuyển đồng vốn, tận dụng triệt để các phụ phẩm và phế phẩm, kết hợp đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào mô hình sản xuất tạo thành một chu trình sản xuất khép kín Mô hình tích hợp có nhiều thành phần hơn, nên cho nhiều loại sản phẩm hơn mô hình độc canh cây lúa, tính rũi ro trong sản xuất sẽ giảm đi Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống canh tác dựa vào các thuộc tính của hệ thống canh tác như sức sản xuất cao, lời nhiều, ổn định, bền vững, công bằng và tự chủ là rất cần thiết
Hiện nay, những nhà khoa học luôn kêu gọi xây dựng một hệ thống canh tác mang tính bền vững, trong đó chỉ tiêu rất được chú ý là ít gây ô nhiễm môi trường Đối với người dân thì việc chọn lựa một mô hình canh tác chủ yếu dựa vào hiệu quả kinh tế mà hệ thống canh tác đó mang lại
Vậy, việc chuyển sang hướng sản xuất nông nghiệp tích hợp của nông dân ở Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8đề tài “ĐIỀU TRA SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA MÔ HÌNH SẢN XUẤT CHUYÊN LÚA VÀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TÍCH HỢP (CỎ-BÒ-TRÙN-CÁ; HEO-BIOGAS-CÁ) QUI MÔ NÔNG HỘ Ở HUYỀN HỘI - CÀNG LONG –TRÀ VINH ” được thực hiện với mục đích so sánh hiệu quả kinh tế giữa
mô hình sản xuất chuyên lúa và mô hình sản xuất nông nghiệp tích hợp cá; heo-biogas-cá) qui mô nông hộ
(cỏ-bò-trùn-Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN MÔN NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG CANH TÁC
1.1 Trên thế giới
Theo Nguyễn Văn Sánh (1997) hệ thống nghiên cứu cây trồng Á Châu được thành lập vào năm 1975 Đầu tiên có 5 quốc gia tham gia mạng lưới: Bangladh, Indonesia, Philippines, Thái Lan Đến nay có 16 quốc gia từ Châu Mỹ La Tin, Á và Phi Châu là thành viên của mạng lưới Mạng lưới này hằng năm có những cuộc họp tại IRRI và đã đề ra 4 giai đoạn để nghiên cứu hệ thống cây trồng: quan sát mô tả, nhận ra vấn đề, thiết kế thí nghiệm, thử nghiệm và phổ biến ra diện rộng Qua chương trình này, những khái niệm về hệ thống canh tác, kế hoạch hợp tác nghiên cứu và thảo luận phương pháp nghiên cứu ngày càng phát triển
Đến nay, các nhà khoa học trong mạng lưới nghiên cứu hệ thống cây trồng qua
6 giai đoạn: chọn vùng chiến lược để nghiên cứu, mô tả điểm nghiên cứu, thiết kế
hệ thống cây trồng, thử nghiệm hệ thống cây trồng, sản xuất thử và đánh giá, đưa ra sản xuất đại trà, tiến trình này được thực hiện cho hệ thống cây trồng trên nền đất lúa Sau đó, các nhà khoa học nhận thấy hoạt động sản xuất của nông dân không phải riêng về cây trồng mà còn cả chăn nuôi, cây đa niên, thủy sản và những hoạt động khác
Ngoài yếu tố tự nhiên và sinh học, nhân tố kinh tế - xã hội cũng rất quan trọng
để một hệ thống canh tác phát triển Do vậy, các khái niệm cũng rất quan trọng để một hệ thống canh tác phát triển Các khái niệm và phương pháp nghiên cứu về phát triển nông nghiệp một cách có hệ thống càng ngày càng phát triển và ứng dụng rộng rải trên thế giới
Tại các quốc gia đang phát triển, việc nghiên cứu hệ thống canh tác rất cần thiết để phát triển nông nghiệp Vì tất cả các hoạt động của con người tác động đến Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10và hệ thống hóa sẽ dẫn môi trường tự nhiên bị phá vở và hiệu quả kinh tế không cao trong việc sử dụng tài nguyên nông nghiệp lâu dài
Môn học về khoa học hệ thống canh tác và hệ thống nông nghiệp đã được đưa vào trong nhiều nơi trên thế giới: Anh Quốc, Úc, Mỹ, Viện Kỹ Thuật Á Châu, cũng như một số quốc gia khác: Thái Lan, Philippines, Châu Phi Ngoài ra phương pháp nghiên cứu này đã được nhiều cơ quan quốc tế đưa vào ứng dụng trong nghiên cứu như: FAO, IRRI, CIRCAS, CIAT, CIMMYT,…
1.2 Ở Việt Nam
Theo Nguyễn Văn Sánh (1997) từ năm 1975, trường Đại Học Cần Thơ cũng
có tổ chức các nhà khoa học đơn ngành xuống một địa bàn nào đó ở Đồng Bằng Sông Cửu Long để phục vụ nghiên cứu và phổ biến khoa học Công tác này đã đạt được một số thành công nhất định trong việc giúp lãnh đạo và nông dân ở địa phương Tuy vậy, việc nghiên cứu còn mang tính đơn ngành và chỉ chú trọng đến
hệ thống cây trồng, ít quan tâm đến nhân tố con người trong hệ thống
Đến năm 1988, Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển Hệ Thống Canh Tác của trường Đại Học Cần Thơ được hình thành và hoạt động Năm 1990, mạng lưới
hệ thống canh tác đã từ đó đưa vào chương trình giảng dại ở các trường Nông Nghiệp Việt Nam
Hiện nay, chính sách mới của nhà nước đã chấp nhận đa dạng hóa trong sản xuất nông nghiệp Chiến lược phát triển nông nghiệp Việt Nam năm 2000 theo quan điểm mới đã đặt vấn đề nâng cao thu nhập ở vùng nông thôn lên bằng cách sử dụng đất đai có hiệu quả theo lợi thế tương đối của từng vùng sinh thái Nông Nghiệp phải được đa dạng hóa để vừa đảm bảo nhu cầu trong nước vừa đáp ứng được thị trường xuất khẩu Việc nghiên cứu này không thể giải quyết theo đơn vị ngành mà cần phải nghiên cứu đa ngành và có phương pháp cụ thể, thống nhất “đó là phương pháp nghiên cứu hệ thống canh tác”
Hiện nay, mạng lưới nghiên cứu hệ thống canh tác ở Việt Nam được hình thành với 9 viện, trường Nông Nghiệp từ Bắc chí Nam, để phục vụ công tác nghiên cứu và phát triển hệ thống canh tác trên các tiểu vùng sinh thái khác của đất và Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11nước Nguyễn Văn Sánh (1997) cho rằng điều kiện sinh thái nông nghiệp nước ta có thể chia thành 7 vùng: Trung du và đồi núi phía Bắc, Đồng Bằng Sông Hồng, ven biển miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Đông Bằng Sông Cửu Long Hy vọng hoạt động của mạng lưới này sẽ đóng góp vai trò rất tích cực để tăng thu nhập cho bà con nông dân từng tiểu vùng sinh thái khác nhau góp phần vào sự phát triển Nông Nghiệp Việt Nam
2.1 HỆ THỐNG CANH TÁC (farming system)
2.1.1 Định nghĩa
Theo Nguyễn Bảo Vệ (2005) hệ thống canh tác là một phần của hệ thống nông nghiệp Hệ thống canh tác (HTCT) là sự sắp xếp phối hợp rất năng động các hoạt động của nông hộ trong đó tận dụng các nguồn tài nguyên, yếu tố kinh tế - xã hội và
tự nhiên sao cho phù hợp với mục tiêu, lợi nhuận và sở thích của nông hộ, bao gồm các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản
Điều kiện xã hội Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12Hệ thống canh tác là 1 kiểu sử dụng sản xuất được ổn định hợp lý qua việc sắp xếp năng động của nông hộ, mà hoạt động đó sẽ được nông hộ quản lý để đáp ứng đến điều kiện tự nhiên sinh học và môi trường kinh tế - xã hội cụ thể phải phù hợp với mục tiêu, sở thích và các nguồn tài nguyên nông hộ Những yếu tố này phối hợp, tác động đến sản phẩm làm ra và phương pháp sản xuất
Một hệ thống canh tác là thành phần của hệ thống lớn hơn và có thể chia thành các hệ thống phụ: hệ thống cây trồng, hệ thống vật nuôi, hệ thống nuôi trồng thủy sản Mỗi một hệ thống phụ có được là do các hợp phần kỹ thuật gọp lại hình thành Trong phạm vi một vùng, các hệ thống phi nông nghiệp, hệ thống tín dụng, thị trường và những chính sách điều có tác động đến hệ thống canh tác (Viện Nghiên Cứu Hệ Thống Canh Tác, 1994)
+ Mô hình nổi bật của hoạt động nông trại và kinh tế của hộ gia đình bao gồm hoa màu phụ, cây trồng, nghề nuôi thủy sản, đi săn và hái lượm, chế biến và các hoạt động ngoài nông trại, các ứng dụng khoa học kỹ thuật chủ yếu đã sử dụng để xác định cường độ sản xuất và tổng hợp cây trồng, chăn nuôi và những hoạt động khác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 133.3 NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG CANH TÁC
3.3.1 Định nghĩa
Theo Nguyễn Văn Sánh (1997) thì nghiên cứu hệ thống canh tác là phương pháp nghiên cứu nông nghiệp nhìn toàn bộ nông trại như là một hệ thống Phương pháp này tập trung vào những mối liên hệ hỗ tương giữa những thành phần cấu tạo
hệ thống trong tầm kiểm soát của nông hộ và cách thức mà những thành phần này chụi tác động bởi các điều kiện vật lý, sinh học và kinh tế-xã hội ngoài tầm kiểm soát của nông hộ
3.3.2 Mục tiêu của nghiên cứu hệ thống canh tác
Theo Anaman and Knishnamra (1994) nghiên cứu hệ thống canh tác là cách: + Bố trí sử dụng nguồn tài nguyên: theo ưu thế từng vùng sinh thái trên cơ sở tài nguyên đất, nước, sinh học và nguồn lực sẳn có trong một tiểu vùng sinh thái, việc nghiên cứu bố trí những mô hình canh tác thích hợp nhằm tối ưu hóa việc sử dụng nguồn tài nguyên tại chổ sao cho lâu bền và mang lại hiệu quả cao
+ Tác động những giải pháp kỹ thuật thích hợp: trên cơ sở từng mô hình sản xuất tại mỗi vùng, các biện pháp kỹ thuật cần tác động vào hệ thống canh tác sao cho phù hợp với sản xuất tại địa phương trong bối cảnh kinh tế xã hội và tập quán canh tác cũng như môi trường sống của nông dân Để tác động những giải pháp kỹ thuật thích hợp nhà nghiên cứu cần biết tổng thể về hệ thống canh tác tại đó và mỗi tác động qua lại của những thành phần kỹ thuật trong cùng hệ thống
+ Nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo tính lâu bền: các giải pháp kỹ thuật đưa vào phải đảm bảo thu nhập đồng thời có hiệu quả sử dụng lao động, đồng vốn
và đầu tư vật tư Ngoài ra điều quan trọng là phải đảm bảo tính lâu bền về độ phì nhiêu đất đai, tiểu khí hậu và môi trường sống tại vùng nghiên cứu
Để thỏa mãn mục tiêu cần phải nghiên cứu liên ngành và đối trượng cần giúp
đỡ là nông dân
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14Nghiên cứu hệ thống canh tác là nhìn nông hộ hoặc nông trại như một đơn vị sản xuất và tiêu thụ, nghiên cứu hệ thống canh tác khảo sát những mối liên hệ qua lại giữa những điều kiện tự nhiên môi trường và con người Tiến trình nghiên cứu hướng thẳng vào mục tiêu của nông hộ và vào trở ngại để đạt mục tiêu đó
Nghiên cứu trên một hệ thống phụ có thể xem như một phần của tiến trình nghiên cứu hệ thống canh tác của hệ thống lớn nếu như các mối liên hệ với các hệ thống phụ khác được kể tới và khảo sát xem xét Tính chất này thường được gọi là nghiên cứu với cái nhìn tương lai về một hệ thống canh tác Kết quả của nghiên cứu
hệ thống canh tác được đánh giá về mặt hữu hiệu của những hệ thống phụ riêng biệt
và của toàn hệ thống lớn (Dixon, 2001)
Nghiên cứu hệ thống canh tác là phương pháp giải quyết vấn đề khó khăn: nghiên cứu phương án chủ yếu để xác định các trở ngại về mặt sinh học, kỹ thuật, kinh tế và xã hội ở gốc độ nông hộ cho những thể loại hệ thống canh tác chủ yếu, sau đó phát triển những kỹ thuật đó
Nghiên cứu hệ thống canh tác có tính liên ngành: công tác này dựa vào các nghiên cứu chuyên ngành truyền thống về cây, con, và các ranh giới về chuyên môn Sự hợp tác giữa các nhà khoa học nông nghiệp là rất cần thiết để hiểu rõ các điều kiện mà nông dân đang hoạt động Thông thường gồm các nhà khoa học tự nhiên, kinh tế, xã hội và các chuyên viên nông nghiệp tại địa phương Nhóm nghiên cứu được tăng cường bởi các nhà sinh học, nhà xã hội học trong vùng hoặc gần nơi nghiên cứu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15Nghiên cứu hệ thống canh tác bổ sung các thí nghiệm về loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu về các đơn ngành nhưng không thay thế chúng Những khó khăn được phản hồi lại cho các nhà nghiên cứu để giải quyết, khắc phục
Nghiên cứu hệ thống canh tác thử nghiệm các kỹ thuật mới ở các thí nghiệm trên đồng ruộng, nông dân giúp lập kế hoạch thí nghiệm trên đồng ruộng và thực hiện các thí nghiệm với sự giám sát của cán bộ ở điểm nghiên cứu
Nghiên cứu HTCT dựa các phản hồi từ nông dân đến các nhà nghiên cứu: thu nhận các phản hồi về mục đích, nhu cầu ưu tiên của nông dân và các chỉ tiêu để đánh giá các kỹ thuật mới cho các chuyên viên tại trạm, trại và cho các nhà quyết định chính sách ở cấp vùng và cấp quốc gia Nông dân cho ý kiến liên quan đến kết quả thí nghiệm và đề nghị các thay đổi Phản ứng của nông dân và sự chấp nhận áp dụng các kỹ thuật mới cũng được chỉ đạo sát trong chương trình sản xuất kiểu mẫu (Nguyễn Văn Sánh, 1997)
4.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA TỈNH TRÀ VINH VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU
4.1.1 Một số đặc điểm của tỉnh Trà Vinh
Tỉnh Trà Vinh có tổng diện tích 222,67 km2 chiếm 5,63% diện tích Đồng Bằng Sông Cửu Long và 0,67% diện tích cả nước Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Bến Tre, Phía Nam và Đông Nam giáp biển với hơn 65 km bờ biển, Phía Tây
và Tây Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, Phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long
Tỉnh mang đặc điểm khí hậu Đồng Bằng Sông Cửu Long, chụi ảnh hưởng mạnh mẽ của khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, nhiệt độ cao suốt các tháng trong năm Nhiệt độ trung bình 26–270C, lượng mưa trung bình 1526 mm/năm, lượng bốc hơi 1290 mm/năm Gió mùa Tây Nam có tốc độ 3 - 4 m/s và gió mùa Đông Bắc, Tây Nam 2-3 m/s
Trà vinh ở khu vực cuối của sông Cửu Long chịu ảnh hưởng lưu lượng nước thượng nguồn khá lớn vào mùa mưa lớn hơn 500 m3/s và giảm dần vào đầu mùa khô Tỉnh có mạng lưới sông rạch dày đặc với 2 con sông lớn: sông Cổ Chiên và Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16sông Hậu cùng với thống sông nhỏ, kênh rạch chằn chịt Tuy nhiên, Trà Vinh vẫn thiếu nước ngọt vào mùa khô ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp
Trà Vinh mang tính chất chung của đông bằng ven biển nên tương đối bằng phẳng và có quan hệ chặc chẽ với hệ thống tiến thoái cửa sông biển Độ mặn môi trường nước khu vực ven biển thường xuyên không dưới 10% mùa khô tăng cao 15%-30%, cực đại có thể tới 32% ở vùng bãi bồi ven biển
Nền kinh tế tỉnh tiếp tục phát triển với tốc độ tăng tưởng GDP bình quân hằng năm 8,87%, GDP đầu người đạt 4,5 triệu đồng Trong đó nông nghiệp tăng 6,01%/năm, chăn nuôi tăng 4,26%, thủy sản tăng 10,86% và nền kinh tế Trà Vinh vẫn là nền kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp là ngành chiếm vị trí hàng đầu trong các nền kinh tế của tỉnh Năm 2000 ngành chiếm 55,6% GDP nền kinh tế, đạt khoảng 2012 tỷ đồng Sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung vào trồng trọt và chiếm tỷ trọng 80%, chăn nuôi chiếm tỉ lệ nhỏ
Tỉnh Trà Vinh có hơn 973 ngàn người, bao gồm các dân tộc kinh, hoa, Khơmre và một số dân tộc khác (chăm…) Dân số Trà Vinh thuộc loại dân số trẻ Mật độ dân số dân số trung bình của tỉnh cao hơn trung bình của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (414 người/km2) Năm 1999 tỉnh có 87% dân số sống ở khu vực nông thôn, tỉnh có tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn cao 1,65%, gần 50% dân số hiện nay ở dưới độ tuổi dưới 20 nên tiềm năng lao động và khả năng sinh đẻ rất lớn
Lao động và việc làm năm 1999 có hơn 52 vạn người trong độ tuổi lao động chiếm 53% Trong đó lao động của ngành nông-lâm-thủy sản là 90% Nhìn chung lao động của tỉnh đông nhưng trình độ thấp, đa số là lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo
4.4.2 Đặc điểm của xã Huyền Hội
Theo Niên giám Thống kê huyện Càng Long (2001), Huyền hội nằm ở hướng Đông của huyện Càng Long cách trung tâm huyện lỵ 12 km, Đông giáp xã Bình Phú, Tây giáp xã Tân An, Nam giáp xã Hiếu Tử (huyện Tiểu Cần) và Bắc giáp Xã
An Trường Diện tích tự nhiên của toàn xã là 3447 ha, chiếm 11,9% diện tích tự nhiên của huyện, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 3101,89 ha
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17Toàn xã có 9 ấp bao gồm: Cầu Xây, Kinh A, Lưu Tư, Bình Hội, Trà On, Giồng Bèn, Ấp Sóc, Kinh B và Giồng Mới Có 2958 hộ với 14181 nhân khẩu, trong
đó người dân tộc khmer có 260 hộ với 1276 nhân khẩu, chiếm 9% dân số trong toàn
xã Phần lớn dân cư sống ở vùng nông thôn, chiếm 92,7% Bình quân có 4,79 người trên hộ dân Lao động trong nông nghiệp chiếm 51,38% dân số
Nền kinh tế của xã chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, chiếm gần 92% tổng giá trị của toàn xã; 92,7% quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp; lao động sản xuất nông nghiệp chiếm 90% tổng lao động trong xã Xét về mặt kinh tế thì xã Huyền Hội vẫn còn là xã nghèo và được trung ương ghi nhận, số hộ nghèo và cực nghèo là 599 hộ, chiếm 20,16% tổng số hộ trong toàn xã, trong đó: Khmer nghèo có
151 hộ, chiếm 25,21% tổng số hộ nghèo với 661 nhân khẩu
Theo báo cáo tổng kết của xã Huyền Hội (2005) sản lượng lương thực (cây có hạt) của toàn xã là 33743 tấn (t) trong đó cây lúa đạt sản lượng 33348 (t), sản lượng thủy sản 360 tấn, giá trị sản xuất công nghiệp – trồng trọt, chăn nuôi là 2,8 tỷ đồng Diện tích lúa năm 2005 là 6500 ha, năng suất 4,57 (t), sản lượng là 33348 (t) trong đó lúa vụ Đông Xuân có diện tích 2440 ha năng suất là 5,7 (t), sản lượng là
13908 (t), diện tích vụ Hè Thu 2440 ha, năng suất 4 (t), sản lượng 9760 (t), vụ Thu Đông diện tích 2420 ha năng suất 4 (t), sản lượng 9680 (t)
Chăn nuôi tổng đàn heo của toàn xã 2005 là 6000 con, đàn bò là 1600 con, đàn trâu là 117 con, gia cầm và thủy cầm là 97976 con
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 181.5 HỆ THỐNG CANH TÁC CHUYÊN LÚA VÀ HỆ THỐNG CANH TÁC TÍCH HỢP
1.5.1 Hệ thống canh tác chuyên lúa
* Vai trò của trò của cây lúa
Lúa là cây lương thực quan trọng nhất của nước ta, đặc biệt là Đồng Bằng Sông Cửu Long và nó cũng là loại lương thực chính của người dân Châu Á (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Trước năm 1996, Đồng Bằng Sông Cửu Long chỉ trồng lúa 1 vụ mùa địa phương vào mùa mưa là lúa nổi hay lúa nước sâu năng suất thấp
Từ khi có giống ngắn ngày, năng suất cao, cùng với sự phát triển của hệ thống thủy lợi, thủy nông và đê bao ngăn lũ, ngăn mặn thì hệ thống canh tác lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long dần chuyển sang 2 vụ rồi 3 vụ và có nơi trồng 7 vụ trong 2 năm Chuyên canh lúa nhiều vụ đã làm tăng thêm công ăn việc làm và góp phần cải thiện đời sống cho nhân dân (Nguyễn Bảo Vệ, 2005)
* Những điều cần lưu ý trong hệ thống canh tác lúa
- Canh tác lúa liên tục ảnh hưởng đến năng suất lúa
Theo Nguyễn Hữu Chiếm và ctv (1999) thâm canh lúa sẽ làm giảm năng suất lúa theo thời gian, kết quả nghiên cứu hệ thống canh tác lúa 3 vụ, năng suất có khuynh hướng giảm theo thời gian canh tác cả 3 vụ Đông Xuân, Hè Thu, Thu Đông Cassman et al (1992) cũng kết luận rằng năng suất lúa có khuynh hướng giảm theo thời gian từ 50-240 kg/ha mỗi năm trong thời gian canh tác liên tục gần 30 năm trong những thí nghiệm thâm canh lúa ở Philipin và Ấn độ, việc này cũng chẳn xảy
ra trong nghiệm thức có bón đầy đủ NPK và vi lượng, mà còn cả trong nghiệm thức đối chứng không bón N hoặc không bón NPK, không có trường hợp nào cho thấy
sự gia tăng năng suất theo thời gian canh tác, ngay cả những giống cũ được thay bằng giống mới có tiềm năng năng suất cao hơn Giảm năng suất ngoài những yếu
tố do giống, do yếu tố bức xạ mặt trời còn do những yếu tố khác của đất như: sự mất cân đối về dưỡng chất, ngộ độc hữu cơ và những thay đổi của sinh vật đất do áp dụng nhiều hóa chất nông nghiệp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19-Canh tác lúa liên tục ảnh hưởng đến độ phì nhiêu của đất
Việc trồng lúa liên tục ảnh hưởng đến độ phì nhiêu của đất (Huỳnh Hiệp Thành, 1997) Thâm canh, không hoàn trả lại các chất của đất sẽ giảm độ phì nhiêu theo (Huỳnh Thu Hòa, 2002) Trên vùng thâm canh lúa 2-3 v ụ tại huyện Chợ Mới –
An Giang thì nông dân không sử dụng phân hữu cơ cho lúa và rơm rạ bị lấy đi hoặc đốt ngoài đồng sau thu hoạch Nếu chỉ bón phân khoáng và canh tác độc canh, không chú ý đến bón phân hữu cơ thì trong vòng 20-50 năm đất sẽ bị bạc màu, mất cấu trúc rời rạt và năng suất cây trồng giảm mạnh Khi sử dụng phân vô cơ thường xuyên đất cũng thoái hóa do bị mất cấu trúc vì một lượng lớn bazơ bị đẩy ra khỏi keo đất vào dinh dưỡng đất và có thể rữa tôi làm cho đất bị cement hóa (Trần Thành Lập, 1999) Nếu dùng quá mức lượng phân hóa học nào đó lâu dài sẽ làm cho kết cấu đất bị phá hoại, làm cho chất dính của đất bị phân tán, acid hóa, đất bị cứng (Nguyễn Đức khiển, 2002)
Thay đổi N trong đất, đối với tất cả các nhóm đất thì phân N là nguyên tố dinh dưỡng cơ bản, nên việc sử dụng phân giúp tăng năng suất rất rõ Tuy nhiên, không phải là nguyên tố duy nhất có thể cải tạo độ phì nhiêu của đất, sử dụng phân
N không cân đối với các nguyên tố khác sẽ là nguyên nhân quang trọng làm suy thóai đất (Nguyễn Văn Bộ, 1999) Việc canh tác lúa 3 vụ càng làm càng ảnh hưởng đến đất đai, đạm tổng số trong tầng mặt giảm dần theo thời gian canh tác lúa (Trần Quang Tuyến, 1997) Hàm lượng đạm trong đất có khuynh hướng giảm dần từ 0,24% N thời gian canh tác 3 vụ dưới 8 năm, đến 0,2 % N ứng với thời gian canh tác 15 năm trở lên (Kolar và Greenland, 1960) trích bởi (Tôn Bình Minh, 2003) Nguyên nhân quan trọng làm suy giảm độ phì nhiêu đất, là do cây trồng đã lấy đi từ đất một lượng chất dinh dưỡng đáng kể mà không hoàn trả lại cho đất đầy đủ, do thâm canh tăng vụ và việc sử dụng phân bón không cân đối với các nguyên tố khác
sẽ là nguyên nhân quan trọng trong việc làm suy thoái đất (Nguyễn Văn Bộ, 1999) Hằng năm cây trồng lấy đi P của đất nhiều hơn trả lại cho đất (Trương Thị Nga Và Trần Thượng Tuấn, 1999)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20Hầu hết đất lúa Đồng Bằng Sông Cữu Long đều có sự cố định K, nhưng cố định K nhiều nhất là đất lúa 3 vụ, có lẽ sau nhiều năm canh tác không bón K hoặc bón K không đủ lượng K lấy đi, K hữu dụng trong đất không đủ cho cây lúa, nên lúa đã lấy K ở vị trí giữa các phiến sét, vị trí này trở nên thiếu K, nên khi bón K vào dẫn đến sự hấp thụ mạnh K để bù đấp vào vị trí trên, gây sự cố định K Nhiều nơi trồng lúa có bón K nhưng với lượng rất ít khoảng 25 kg K20/ha (Nguyễn Bảo Vệ, 2005), còn lượng phù sa bồi lắng hằng năm từ sông Cửu Long không làm gia tăng đáng kể độ phì của đất, K chỉ tăng thêm 3,2 kg/ha khi lớp phù sa bồi dầy 1m (Uehara và ctv., 1974) Vậy K bổ sung hằng năm là không đáng kể so với lượng K mất đi (Nguyễn Bảo Vệ, 2005) Dobermann (1995) cho rằng trung bình để có 1 tấn lúa cây lúa cần từ 17-30 kg K, lúa 3 vụ năng suất tổng cộng là 15 tấn/ha đã lấy đi của đất khoảng 300-350 kg/ha, nếu hiệu quả sử dụng dưỡng chất 60% thì mỗi năm đất mất đi từ 500-600kg K/ha Hàm lượng K tổng số ở lớp đất mặt là 15% thì chỉ trong vòng 60 năm đất mất hết K, Nếu đất không được bổ sung thêm Theo Nguyễn Bảo Vệ (2005) K là thành phần cân bằng điện của khoáng sét, K mất đi dẩn đến sự mất cân bằng, phá vở khoáng sét hiện tại hình thành những khoáng sét mới có chất lượng kém hơn, dẩn đến sự suy thoái đất Do đó dù cây lúa không đáp ứng với phân
K nhưng cần bón để duy trì sự bền vững của đất
Chua hóa trên đất thâm canh lúa sử dụng nhiều phân bón vô cơ nhất là loại phân thuộc nhóm sinh lý chua như: (NH4)2SO4, KCl, super photphat, còn tồn dư acid luôn làm cho đất chua, đất chua dẫn đến nghèo kiệt ion bazơ làm xuất hiện nhiều chất độc mà chủ yếu là: AL3+, Fe3+… di dộng trong đất gây độc cho lúa, có hại cho cây trồng và làm giảm hoạt tính sinh học của đất Thí nghiệm bón phân đạm (NH4)NO3 ở nhà lưới liên tục 4 năm trên đất phù sa Sông Hồng thấy rằng pH của đất thay đổi từ 6,9 xuống 5,5 Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có 27% đất canh tác có
pHkcl<5,2 sau 10 năm (1972) diện tích đất này tăng lên 2 lần do sử dụng liên tục phân bón vô cơ (Hội Khoa Học Đất Việt Nam, 2000) trích bởi Tôn Bình Minh (2003) Nguyên tố vi lượng trong đất thâm canh lúa 3 vụ: Ngoài N, P, K nguồn dinh dưỡng khoáng chủ yếu, cây lúa còn hút các chất khoáng khác: S, Ca, Mg, Mn, Cn, Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21Zn, Si, B, Cl, …Đất ngập nước có ảnh hưởng lớn đến dinh dưỡng, các nguyên tố vi lượng trong đất làm tăng lượng dể tiêu của nguyên tố Ca, Mg, Fe, Mo và ngược lại làm giảm lượng dể tiêu của nguyên tố S, Si, Cu, Zn (Đổ Thị Ren, 1999) Sự độc canh cây lúa nước hàng năm đã dẫn đến sự suy thoái đất thể hiện là sự nghèo kiệt chất mùn, keo đất, và hàng loạt các nguyên tố vi lượng khác (Phan Đình Thái, 1993) trích (Tôn Bình minh, 2003)
- Canh tác lúa liên tục ảnh hưởng đến môi trường
Thâm canh hóa làm tăng thêm việc sử dụng phân vô cơ và hóa chất, ngoài ra việc sử dụng thuốc hóa học một cách quá mức nhiều nơi, nhiều lúc làm mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường (Lê Xuân Sinh, 2005) Do sức ép của sự gia tăng dân số và do yêu cầu của sản xuất hàng hóa các kỹ thuật thâm canh đã được chú ý vào áp dụng trong sản xuất Các kỹ thuật: trồng dầy, bón nhiều phân, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đã thay thế kỹ thuật canh tác cổ truyền Phân hóa học được sản xuất hàng loạt với một lượng khổng lồ và thay thế cho nguồn phân hữu cơ ngày càng ít, để phục vụ cho thâm canh tăng vụ, và các vùng chuyên canh, đơn canh, rộng lớn đã hình thành thay cho hình thức canh tác cổ truyền, các thay đổi đó làm cho nhiều loài sâu bệnh phát triển thuận lợi và phát thành dịch Sau đó là sự ra đời của hàng loạt thuốc trừ sâu tổng hợp hữu cơ (Nguyễn Công Thuật, 1996)
Theo Bùi Thị Nga (1998) nguồn gây ô nhiễm nước ở Việt Nam là phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, chất thải sinh hoạt Huỳnh Thu Hòa (2000) cho rằng nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều thuốc nhất, dùng tưới lúa và hoa màu, chủ yếu là Đồng Bằng Sông Cữu Long và Đồng Bằng Sông Hồng việc sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường ở nông thôn
Trồng lúa liên tục trong nhiều năm và tránh lũ nên một số vùng Đồng Bằng Sông Cữu Long (ĐBSCL) các vụ lúa diễn ra liên tục trong năm, đất trồng lúa luôn ở dạng khử, do ít thời gian nghĩ giữa 2 vụ, thiếu oxy nên chậm sự phân hủy lining, phenol và sự tích lũy các chất ngày càng nhiều, các hợp chất phenol không có lợi cho sự phát triển của cây trồng và khoáng hóa N (Nguyễn Bảo vệ, 2005)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22Thiệt hại do các sinh vật gây nên đối với cây trồng trên ruộng có thể làm giảm 20-25% năng suất có khi lên đến 50% (Lê Huy Bá, 2000) Thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) có khả năng ngăn chận các dich sâu, bệnh gây ra, góp phần tích cực trong việc bảo vệ mùa màng, làm tăng năng suất của cây trồng, mang lại hiệu quả kinh tế
Ở nước ta do sự phát triển của trồng trọt, nhu cầu về thuốc BVTV tăng lên dần cả
về số lượng và chủng loại, cục BVTV năm 1994 ngành BVTV đã cung ứng 130 loại thương phẩm thuốc BVTV Trong lúc thế giới có chiều hướng giảm thì ở nước ta thuốc BVTV sử dụng ngày càng nhiều Lượng thuốc năm 1997 gấp 3 lần năm 1991
và lượng thuốc sử dụng cho lúa là 97% tổng lượng thuốc sử dụng (Trần Thị Hải Giác, 2005) Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất người dân lại có tập quán dùng thuốc bảo vệ thực vật quá liều, đây là nguồn gây ô nhiễm đáng chú ý trên một diện rộng Hằng năm Việt Nam dùng 15-20 ngàn tấn thuốc trừ dịch hại và bảo vệ thực vật, bình quân sử dụng trên gieo trồng là 0,4-0,5
kg a.i/ha, có lượng khoảng 50%- 60% tồn động lại trong môi trường đất Thuốc vào môi trường sinh thái làm cho cơ, lý đất giảm sút và làm cho hoạt tính sinh học đất giảm sút Khi có mưa hoặc lũ thì ô nhiễm môi trường đất chuyển sang môi trường nước làm bẩn nguồn nước, ô nhiễm môi trường nước (Lê Huy Bá, 2000) Dư lượng thuốc trừ sâu ở ruộng lúa ở Ninh Bình, Tam Điệp vào mùa khô là 0,85-3,4 mg/L, ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (Cần Thơ) 0,9-5,24 mg/L (Lê Huy Bá, 1996) Việc sử dụng thuốc BVTV cũng gây ô nhiễm không khí một cách đáng kể là do khi tiến hành phun thuốc cho cây trồng thì một phần thuốc BVTV trực tiếp bay vào không khí, thuốc có thể bay hơi từ mặt đất, từ mặt thảm thực vật được phun thuốc, trừ mặt
ao hồ sông suối bị nhiễm thuốc, … Thuốc BVTV không tồn tại nguyên trong khí quyển mà chúng tham gia vào quá trình tuần hoàn của các chất hóa học trong khí quyển, một phần thuốc BVTV cùng với sự ngưng tụ của hơi nước đã rơi, sông, hồ, ao… một phần bị ánh sáng mặt trời tạo ra những hợp chất đơn giản: nước, CO2… phần khác bị oxy hóa bởi oxy và ozon, một phần bị khuếch tán lên phần trên của khí quyển nhưng các hợp chất thủy ngân, asen, chì, và một số nguyên tố khác nữa không thể chuyển hóa thành các chất không độc, vì vậy chúng lại từ khí quyển cùng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23với nước mưa, tuyết bay, trở lại mặt đất, ao, hồ Và có thể đi vào chuổi thức ăn (Phạm Văn Lầm, 1997) Theo Lưu Đức Hải (2001) Trong quá trình sử dụng hóa chất BVTV, một lượng lớn thuốc không được cây trồng tiếp nhận, chúng sẽ lang tuyền và tích lũy trong đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp, làm suy thoái chất lượng môi trường khu vực canh tác nông nghiệp: phú dưỡng đất nước, ô nhiễm đất, nước, giảm tính đa dạng sinh học, suy giảm các loài thiên dịch, tăng khả năng chống chụi của sâu bệnh đối với thuốc BVTV Nguyễn Đức khiển (2002) muốn ngăn ngừa sâu bệnh hợp lý nhất thì phải sử dụng nhiều biện pháp: canh tác, sinh học, vật lý, hóa học,….chỉ có thể tổng hợp phong ngừa mới có hiệu quả tốt nhất Nguyễn Xuân Thành (1997) tình hình sử dụng phân hóa học ở Việt Nam đã tăng từ 172 tấn/ha trong những năm 1980-1981 tăng lên tới 620 tấn/ha trong năm 1992-1993 mà năng suất tăng không đáng kể Nông dân bón phân hóa học tăng cường chất dinh dưỡng mong thu hoạch được nhiều nông sản nhưng lượng phân phải thích hợp, dùng nhiều thì hiệu quả ngược lại Lưu Đức Hải (2001) cho rằng phân bón và chất điều hòa sinh trưởng có khả năng tạo ra năng suất cây trồng cao và gia tăng sản lượng lương thực, thực phẩm phân bón khi bón vào đất, cây không sử dụng được hoàn toàn, đối với đạm hệ số sử dụng của cây trồng cạn 60%, của lúa nước 20-30% Theo Nguyễn Đức Khiển (2002) hệ số sử dụng phân N khoảng 30-60%, P 3-25%, K 30-60% Nếu dùng quá mức lượng lớn phân hóa học nào đó lâu dài khiến cho kết cấu đất bị phá hoại, làm cho chất dính của đất bị phân tán, acid hóa, đất bị cứng còn Lưu Đức Hải (2001) phần phân không được cây trồng sử dụng
sẽ chuyển thành chất ô nhiễm môi trường nước, tích lũy trong đất và duy chuyển vào khí quyển Đối với lúa Nitơ của phân hóa học không sử dụng sẽ chuyển thành N03-, NH4+, N02-, đạm hữu cơ và đạm ở dạng lơ lửng trong dung dịch nước, nó sẽ làm thay đổi tính chất của đất: chua đất, giảm lượng vi sinh vật có ích, tăng khả năng tích lũy hợp chất bên trong sản phẩm nông nghiệp, sử dụng P, K cũng tạo ra hiệu ứng giống Nitơ Sử dụng N, P, K mang vào môi trường đất kim loại nặng, các chất độc hại khác Ngoài ra, người ta còn sử dụng các loại phân vi lượng có tác Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24như các hợp chất hóa học đi kèm trong phân bón, chất kích thích sinh trưởng tạo ra năng suất cao hơn nhưng để lại dư lượng trong sản phẩm Tất cả các tác hại này cuối cùng đều đưa vào môi trường đất và gây ra sự mất cân bằng sinh thái đất, ô nhiễm môi trường đất (Lưu Đức Hải, 2001)
Thâm canh lúa thì lượng phân hóa học dùng để tăng năng suất lúa là chủ yếu
Sử dụng phân hóa học với liều lượng cao liên tục trong nhiều năm đã ảnh hưởng đến vi sinh vật sống trong môi trường đất Ví dụ các Rhizobium sẽ bị giảm khả năm
cố định đạm khi hàm lượng đạm hữu dụng trong đất cao hoặc bón quá nhiều đạm (Đổ Thị Ren, 1999) các tạp chất trong phân hóa học uranium, cadimi, gây ảnh hưởng hệ sinh vật đất Những kim loại nặng tồn tại trong phân bón đi vào đất gây nên những thay đổi số lượng và chất lượng trong quần thể vi sinh vật (Trần Dương Xuân Vĩnh, 2000) Trung bình sử dụng phân năm 1965 là 62,7 kg/ha/vụ đến năm
1990 là 73,5 kg/ha/vụ Hàm lượng nitrat tồn động trong đất chuyển sang môi trường nước Như vậy nguồn nước ở ĐBSCL ô nhiễm hết sức trầm trọng, nhất là các vùng tập trung dân ở các kênh rạch (Lê Huy Bá, 2000) Nông nghiệp hiện đại phải sản xuất một lượng lớn thức ăn trong khi đất trồng tính theo đầu người ngày càng giảm
đi vì gia tăng dân số, người ta cần phải thâm canh mạnh hơn, dẫn đến việc xáo trộn dòng năng lượng và chu trình vận chuyển trong hệ sinh thái nông nghiệp Nitrat, phosphate rải một cách dư thừa sẽ chải theo nước mặt và làm ô nhiễm các mực nước thủy cấp (Huỳnh Thu Hoà, 2000) Sử dụng phân hóa học làm tăng hàm lượng các hợp chất N, P, K trong nước ngầm và nước mặt, tạo ra khả năng phú dưỡng nước mặt ở các thủy vực (Lưu Đức Hải, 2001) Thực vật không quay về với đất mà chất đống sẽ gây ô nhiễm thủy cấp sau khi lên men ammoniac (Huỳnh Thu Hoà, 2000) Nguyễn Đức khiển (2002) sử dụng phân hóa học quá mức còn gây nên hàm lượng hóa chất oxit nitrơ trong không khí tăng cao là do phân N bón ruộng, có một lượng lớn nitrơ trực tiếp từ đất bốc lên không khí Ngoài ra, một lượng khí nitrơ dưới dạng hữu cơ hoặc vô cơ xâm nhập vào đất, dưới tác dụng của vi khuẩn chúng
sẽ trở thành chất rất khó tan, khó hấp thu và kết hợp với nitrơ ở trạng thái nước chuyển hóa thành các hợp chất của nitrơ và oxit nitrơ bay vào không khí Thực vật Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25đem thiêu đốt bỏ, không về đất được, sự đố rác có nghĩa là thay thế sự ô nhiễm địa phương của đất bằng sự ô nhiễm không khí ở diện rộng (Huỳnh Thu Hòa, 2000) Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường và kết cấu đất bị phá hoại, nên quản lý khống chế dung phân hóa học và không nên làm dụng nhiều (Nguyễn Đức Khiển, 2002)
1.5.2 HỆ THỐNG CANH TÁC TÍCH HỢP (intergrated farming system)
*Định nghĩa
Tích hợp là nông hộ cùng lúc có nhiều hoạt động sản xuất nông-lâm-thủy sản kết hợp nhau, chúng không đứng riêng lẽ mà cùng hiệp lực nhau, hổ trợ nhau cùng phát triển Sản xuất của một lĩnh vực này sẽ tạo ra nguyên liệu phục vụ cho sản xuất của lỉnh vực kia trong một chu trình kép kín với mức độ đầu trư thấp nhất
* Vai trò của hệ thống canh tác tích hợp
Hệ thống canh tác tích hợp kết hợp giữa 3 bộ phận trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản theo đó sản phẩm hay phế phẩm của bộ phận này có thể dùng để tạo nên sản phẩm của bộ phận khác có giá trị cao hơn (gọi là VAC) Hệ thống canh tác VAC có nhiều ưu điểm so với việc sản xuất riêng lẽ từng đơn vị Hệ thống canh tác tích hợp là những hệ thống sản xuất nông nghiệp khác nhau, nhưng có mối liên
hệ gắn bó, kết hợp chặc chẽ để sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên của nhau (Nguyễn Bảo Vệ, 2005)
Hiện nay, trong điều kiện lao động ở nông thôn của Đồng Bằng Sông Cửu Long còn quá nhiều (Nguyễn Bảo Vệ, 2005), còn 75% dân số lao động trong nông nghiệp (Lê Xuân Sinh, 2005) và (Phạm Đổ Chí, 2003), diện tích đất canh tác của mỗi hộ gia đình lại ít (Nguyễn Bảo Vệ, (2005), người đông, nhiều người/hộ, tỉ lệ nông dân không đất sản xuất còn chiếm khoảng 8-14% tổng số hộ nông dân của Việt Nam (Lê Xuân Sinh, 2005), khoảng 20 triệu hộ nông dân sở hữu vẻn vẹn 0,38
ha đất (Phạm Đổ Chí, 2003), giá cả nông sản luôn biến động thì chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng “canh tác tích hợp” tỏ ra hiệu quả nhất, nó có tác dụng lớn đến sự phát triển của người dân trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội, Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26trường sinh thái và vì vậy môi trường sinh thái và vì vậy môi trường sản xuất sẽ bền vững và đời sống của nông dân cũng được ổn định Trọng tâm của canh tác tích hợp
là tối ưu việc sử dụng tài nguyên chớ không tối đa hóa tạo ra một loại nông sản đơn
lẻ Kiểu canh tác này tạo thêm công ăn việc làm trên cùng một quỷ đất đai của nông
hộ, giảm rất đáng kể chi phí đầu vào, hiệu quả lao động cao hơn nhờ vậy giá thành của sản phẩm thấp hơn Hệ thống sản xuất tích hợp có nhiều ưu điểm so với việc sản xuất riêng lẽ từng đơn vị (Nguyễn Bảo Vệ, 2005)
Hình 2: Hệ thống sản xuất kết hợp (Phạm Trần Côn và Phạm Thị Hương, 2002)
Tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong sản xuất đặc biệt là đối với các gia đình tiểu nông có nguồn lực hạn chế, thông qua việc tân dụng khá triệt để các nguồn lực đó như: đất, vốn, sản phẩm phụ của các thành phần trong hệ thống Thêm vào
đó đầu ra của thành phần này cũng có thể sử dụng làm đầu vào của thành phần khác
có hiệu quả hơn bán trực tiếp ra thị trường
Đất dùng làm VAC thường có hiệu quả kinh tế cao gấp 2-3 lần diện tích tương đương với trồng lúa VAC trong nhiều trường hợp, đòi hỏi đầu tư về vốn không cao như các ngành nghề phụ khác, vốn vay vòng khá nhanh Nhiều nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ hoàn vốn từ VAC cao hơn hẳng so với đầu tư vào cây lúa (Phạm Trần Côn và Phạm Thị Hương, 2002)
Theo Nguyễn Bảo Vệ (2005) diện tích bờ ao được tận dụng để trồng rau xanh, một đoạn bờ nào đó dùng để làm chuồng trại, chuồng có thể nuôi heo, trâu bò hoặc
Trang 27gà vịt, số lượng tùy thuộc vào khả năng đầu tư chăm sóc Dưới ao nuôi cá, có thể thả ghép nhiều loại cá trong đó chủ yếu là cá rô phi loại cá ăn tạp thiên về phiêu sinh và mụn bã, thứ đến là cá mè trắng, cá trôi, cá chép, … là những loại cá thích hợp cho các ao chỉ dùng phân chuồng và rau xanh bờ ao Phân gia súc bón thẳng vào ao hoặc cho cá ăn theo định lượng cùng với nước rữa chuồng như là phân bón cho ao Phần còn lại được gom vào hầm ủ để bón cho rau màu Hoa màu tùy th ời vụ
và khả năng lao động có thể là rau cải, đậu các loại, đu đủ,… bùn ao dùng để làm nền cho hoa màu, đây là lớp đất tốt cho trồng trọt nhờ tích lũy nhiều dưỡng chất Việc kết hợp trong hệ thống đã làm giảm bớt sự cạnh tranh nguyên liệu thậm chí xóa bỏ sự cạnh tranh này, trong sản xuất kết hợp các nguyên liệu sẽ được điều phối và sử dụng hợp lý hơn, phế liệu của đơn vị này được tận dụng cho đơn vị khác, nhờ đó mà tăng năng suất và sản lượng của tất cả các hợp phần đều được cải thiện với chi phí thấp hơn rỏ rệch Phương thức khai thác này cho phép khai thác triệt để, hiệu quả cao các nguồn tài lực, vật lực của hệ thống, tăng năng suất của sản phẩm trên đơn vị diện tích đất, nước được quản lý bởi nông dân
Đặc điểm sinh học chính yếu của hệ thống canh tác tích hợp là sự tái sử dụng phụ phẩm cũng như cải thiện sự sử dụng không gian mà trong đó hai hệ thống có thể khai thác cùng một khoảng không gian trước đó chỉ chiếm cứ bởi một hệ thống Đây có thể là một phương hướng quan trọng để làm tăng khả năng sản xuất (Nguyễn Bảo Vệ, 2005)
Cung cấp nguồn tiền mặt để chi tiêu và mua sắm các vật dụng cần thiết cho gia đình, đầu tư trở lại và mở rộng sản xuất (Phạm Trần Côn và Phạm Thị Hương, 2002)
Góp phần cân đối cải thiện bữa ăn của gia đình từ nhiều loại sản phẩm sẳn có trong nông hộ (Nguyễn Bảo Vệ, 2005) Cung cấp nguồn thực phẩm tại chổ và thường xuyên cho gia đình, đặc biệt là các nguồn đạm động vật rẽ tiền: trứng, cá, nguồn vitamin phong phú cho việc cải thiện bữa ăn hằng ngày: rau, các loại quả khác nhau Hệ thống VAC là nguồn cung cấp thực phẩm nhiều loại đáp ứng các nhu Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28cầu dinh dưỡng phức tạp của người lao động (Phạm Trần Côn và Phạm Thị Hương, 2002)
Tính tự cung, tự cấp cao và đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm cho gia đình quanh năm Bản thân hệ thống sản xuất kết hợp là cung cấp 2 hoặc nhiều hơn các sản phẩm chính, đó là các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi Những sản phẩm này trước hết là để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong gia đình, còn lại để dự trử và trao đổi trên thị trường Ngày nay, với sự phát triển thâm nhập ngày càng cao của nền kinh tế thị trường, các hệ thống sản xuất kết hợp cũng ngày càng phát triển cao hơn với các sản phẩm mang tính thương mại cao (Phạm Trần Côn và Phạm Thị Hương, 2002)
Một lợi điểm quản lý kinh tế - xã hội khác của hệ thống canh tác tích hợp là tính cung cấp nội tại, có thể giúp nông dân giảm bớt sự phụ thuộc vào các nguồn cung cấp từ bên ngoài (Nguyễn Bảo Vệ, 2005)
Hệ thống sản xuất bền vững: Tích hợp đa dạng hóa sinh học, đa dạng hóa thu nhập (Nguyễn Bảo Vệ, 2005), đa dạng hóa sản xuất là mục tiêu lâu dài của việc phát triển bền vững (Nguyễn Ngọc Đệ, 2001)
Hệ thống bền vững vì ít đầu tư từ ngoài vào và tận dụng triệt dể các chất thải, sản phẩm phụ trong hệ thống, hạn chế gây ô nhiễm môi trường Về thu nhập thì hệ thống này thường cho thu nhập cao hơn và ổn định, thu nhập rải điều quanh năm nhờ sự đa đạng và tính rải vụ của sản phẩm trong hệ thống (Phạm Trần Côn và Phạm Thị Hương, 2002) Hệ thống canh tác tích hợp gia tăng tính đa dụng của sản phẩm, nhờ đó hạn chế phân tán sự rủi ro gắn liền với nghề nông (Nguyễn Bảo Vệ, 2005)
Bảo vệ môi trường: Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc mỗi năm trái đất mất đi gần 20 triệu ha màu xanh, khoảng 25 tỷ tấn đất mầu mở, rất nhiều loại vi sinh vật bị diệt Trước nguy cơ môi trường sinh thái bị ô nhiễm ngày càng tăng, khí hậu có thể thai đổi thế giới đang kiêu gọi: “hãy bảo vệ môi trường” Vì vậy cần phát triển VAC mọi nơi: từ vùng núi, đồng bằng, duyên hải đến thành phố (Phạm Trần Côn và Phạm Thị Hương, 2002)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29Hệ thống VAC có nhiều ưu điểm so với việc sản xuất riêng lẽ trừng đơn vị trong hệ thống này không có phế liệu dư thừa, kiểu sản xuất tích hợp không tạo ra thứ phế phẩm hoặc chất thải gây nguy hại đến môi trường sống hay làm biến đổi hệ sinh thái của khu vực theo xu hướng xấu Chất thải chăn nuôi được sử dụng cho cá hoặc làm phân bón (Nguyễn Bảo Vệ, 2005)
Sử dụng hiệu quả nguồn lao động: Nguồn lực lao động là lực lượng sản xuất quan trọng nhất của xã hội Việc nghiên cứu nguồn lực trong nông nghiệp có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển của nông nghiệp Nguồn lực trong nông nghiệp là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng của lao động Về số lượng bao gồm những người trong
độ tuổi (nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi, nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi, những người trên và dưới độ tuổi nói trên cũng tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp) Như vậy về lượng của nguồn nhân lực trong nông nghiệp khác ở chổ nó không phải bao gồm những người trong độ tuổi lao động mà bao gồm cả những người trên và dưới độ tuổi có khả năng tham gia lao động Về lượng bao gồm thể lực và trí lực của lao động cụ thể là trình độ, sức khỏe, nhận thức, trình độ chính trị, trình độ văn hóa, nghiệp vụ và tay nghề của lao động (Nguyễn Thế Nhã, 2002)
Trong sản xuất riêng lẽ sức lao động không được sử dụng đúng mức, thời gian nhàn rỗi còn nhiều, còn trong sản xuất tích hợp lao động được sử dụng hợp lý và đúng mức, không bị lãng phí lao động, giá trị lao động tăng lên, tăng sản phẩm xã hội và tất nhiên là tăng thu nhập của gia đình (Nguyễn Bảo Vệ, 2005)
5.2.3 Một số hệ thống canh tác tích hợp ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Và mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống tích hợp đó
* Một số hệ thống tích hợp ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Theo Nguyễn Bảo Vệ (2005) đến nay trên thế giới cũng như ở nước ta tổng hợp được nhiều hệ thống canh tác tích hợp khác nhau Tùy điều kiện sinh thái, nguồn lao động, thị trường của từng nơi mà chọn hay tạo ra hệ thống cho phù hợp Một vài hệ thống canh tác sa đây đã được áp dụng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long: Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30* Mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống tích hợp: cỏ-bò-trùn-cá, biogas-cá-rau
heo Mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống cỏheo bòheo trùnheo cá
Trồng cỏ để nuôi bò, cỏ đồng có nhiều loại bò ăn rất thích nhưng chỉ có thể nuôi bò vào mùa mưa với lượng bò ít, trong mùa nắng hầu hết các loại cỏ bị héo, nếu nuôi trâu bò không chủ động được cỏ trong mùa nắng bò sẽ bị đói, chúng sống được là nhờ vào rơm, hoặc ăn đọt mía, xác mía, vỏ thơm,… tùy thuộc vào điều kiện của từng vùng Với lượng bò nhiều như hiện nay, cỏ tự nhiên sẽ không đủ sức cung cấp nổi Muốn đủ cỏ cho bò ăn thì phải trồng cỏ mới đáp ứng được nhu cầu Điều này mở ra một hướng mới cho những ai còn dư đất canh tác hoặc tận dụng những khu đất xấu trồng hoa màu không có lời để dành vào việc trồng cỏ cho chăn nuôi (Việt Chương, 2005) Ngoài việc trồng cỏ chủ động được nguồn cỏ tươi có chất lượng tốt, trồng cỏ còn làm tăng độ phì nhiêu của đất, chống xói mòn đất, và bảo vệ môi trường (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2002)
Lấy phân bò để nuôi trùn, chăn nuôi trâu, bò thịt là hướng phát triển cơ bản trong chăn nuôi trâu, bò ở nước ta (Nguyễn Thế Nhã, 2002) Chăn nuôi để cung cấp thực phẩm cho xã hội (Phạm Trần Côn và Phạm Thị Hương, 2002) Khi chăn nuôi tăng lên thì lượng chất thải và phế thải từ chăn nuôi ngày càng nhiều là nguồn ô nhiễm môi trường sống cho con người và vật nuôi (Lăng Ngọc Huỳnh, 2004) Nếu phân không được xử lý từ các hộ chăn nuôi qui mô nhỏ và các trại chăn nuôi gia súc
là một nguồn chất thải lớn gây ô nhiễm môi trường (Vỏ Thị Minh Trang, 2005) Phân gia súc có thể gây ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm, không khí và gây hậu quả xấu đối với đất trồng, phân không được quản lý tốt sẽ gây ô nhiễm bởi
vì trong phân có nitơ, phosphat, vi sinh vật gây bệnh,… Nếu xử lý không tốt sẽ tạo mùi hôi, phân hấp dẫn ruồi nhặng, chất thải tực tiếp ra môi trường đất, nước là nguyên nhân lây truyền bệnh tật cho con người, có khi gây tử vong (Nguyễn Văn Thưởng, 1986) Hiện nay, môi trường sống, đặt biệt ở khu vực nông thôn đã bị ô nhiễm nặng do nhiều lý do, trong đó việc chăn nuôi rất sát nhà ở, phân gia súc, gia cầm là nguồn gây ô nhiễm nặng nề do đó ta có thể dùng biện pháp nuôi trùn để Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 31giảm bớt ô nhiễm cho khu vực này (Nguyễn Lân Hùng, 2002) Khi nhận chất thải hữu cơ, các loài trùn đất sẽ sử dụng chất hữu cơ có trong phân để tiến hành các quá trình trao đổi chất và đưa ra khỏi hệ tiêu hóa của chúng các chất hữu cơ đã qua xử
lý Loại phân này không có mùi hôi và sử dụng cho trồng trọt rất tốt (Nguyễn Đức Lượng, 2003) Chất thải được xử lý tốt không chỉ bảo vệ môi trường mà còn là nguồn phân hữu cơ tốt cho cây trồng và góp phần cải tạo kết cấu đất, vì trong phân gia súc chứa đầy đủ những chất đa, vi và trung lượng (Lê Văn Căn, 1982)
Lấy trùn để nuôi cá, trùn là nguồn thức ăn cao cấp dùng cho vật nuôi Trong chăn nuôi hàm lượng đạm trong thức ăn sẽ góp phần quyết định tăng trọng và chất lượng thịt của vật nuôi Trùn là thức ăn hấp dẩn đối với các loài thủy sản: cá, ba ba, ếch,… Ngoài ra trùn còn là thức ăn của nhiều loài khác: gà, vịt, … (Nguyễn Lân Hùng, 2002)
- Mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống heo-biogas-cá-rau
Heo – biogas, dân số ngày càng tăng, nhu cầu ngày càng nhiều thực phẩm với chất lượng cao, do đó phải tăng chăn nuôi để cung cấp thực phẩm cho con người Khi chăn nuôi tăng lên thì lượng chất thải và phế thải từ chăn nuôi ngày càng nhiều là nguồn ô nhiễm môi trường sống cho con người và vật nuôi Quá trình phân giải các chất tạo mùi hôi thối và lôi cuốn các loại ruồi nhặng tập trung làm mất vệ sinh (Lăng Ngọc Huỳnh, 2004)
Với bất cứ một hình thức chăn nuôi nào, thì việc thải bỏ chất thải vào môi trường là điều tất yếu và sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường nếu không xử lý Có rất nhiều cách để xử lý chất thải Ủ biogas là một trong những biện pháp xử lý chất thảy gia súc Việc xử lý chất thải bằng túi ủ biogas có các lợi ích sau: vệ sinh môi trường, ngăn ngừa mầm bệnh, lấy khí đốt, khép kín mô hình VAC theo (Lê Nguyễn Thủy, 1987)
Biogas – cá, chất thải của hầm ủ còn chứa hàm lượng chất hữu cơ và vi sinh vật gây bệnh khá cao, cho nên chúng phải được xử lý tiếp Lấy chất thải lỏng trừ hầm ủ biogas bón cho ao cá, ao tảo, Trong ao chứa nhiều loại thủy thực vật, tảo, vi Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32trò quan trọng trong quá trình vô hiệu hóa các hợp chất hữu cơ của nước thải (Lăng Ngọc Huỳnh, 2004)
Biogas – rau, nước thải biogas và bùn đáy ao sử dụng làm phân bón trở lại cho rau Rau phế phẩm dùng làm thức ăn cho cá, heo (Nguyễn Bảo Vệ, 2005) Ngoài việc sử dụng chất thải biogas làm phân bón người còn sử dụng chất thải biogas vào nhiều mục đích khác làm thức ăn cho trùn, thức ăn cho gia súc, … (Lăng Ngọc Huỳnh, 2004)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 33CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập số liệu thứ cấp về sản xuất nông nghiệp (điều kiện tự nhiên, kinh
tế-xã hội, hiện trạng sử dụng đất đai, cơ cấu sản xuất, chính sách nhà nước, …) của tế-xã Huyền Hội
2.2.2 Điều tra
* Chọn nông hộ điều tra và số hộ điều tra
Các hộ được chọn đã thực mô hình canh tác tích hợp ít nhất một năm, trước kia canh tác chuyên lúa Số hộ điều tra là 14 hộ
* Phương pháp điều tra
Gởi sổ ghi chép và điều tra theo phiếu hỏi trực tiếp thông tin từ nông hộ, nội dung điều tra gồm
- Thông tin chung: thông tin về nông hộ (tuổi, trình độ văn hóa, nhân khẩu,…), diện tích đất và các thành phần sản xuất của nông hộ
- Thông tin về mô hình canh tác chuyên lúa: diện tích canh tác, kỹ thuật canh tác, chi phí đầu tư, thu nhập từ 3 vụ lúa trong năm, lao động, … ngoài canh tác lúa ra Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu