1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH tác mía VÙNG NGẬP nước có đê BAO NIÊN vụ 2010 2011 tại THỊ TRẤN cây DƯƠNG HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH hậu GIANG

71 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 21,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN KHÁNH NHỰT ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC MÍA VÙNG NGẬP NƯỚC CÓ ĐÊ BAO NIÊN VỤ 2010-2011 TẠI THỊ TRẤN CÂY DƯƠNG-HUYỆN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN KHÁNH NHỰT

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC MÍA VÙNG NGẬP NƯỚC CÓ ĐÊ BAO NIÊN VỤ 2010-2011 TẠI THỊ TRẤN CÂY DƯƠNG-HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN KỸ SƯ NGÀNH TRỒNG TRỌT

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

o0o

Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC MÍA VÙNG NGẬP NƯỚC

CÓ ĐÊ BAO NIÊN VỤ 2010-2011 TẠI THỊ TRẤN CÂY DƯƠNG

HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG

Do sinh viên NGUYỄN KHÁNH NHỰT thực hiện và đề nạp

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét

Cần Thơ, ngày tháng năm 2012 Cán bộ hướng dẫn Cán bộ hướng dẫn

Trang 3

PGs.Ts NGUYỄN BẢO VỆ THs BÙI THỊ CẨM HƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

o0o—

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC MÍA VÙNG NGẬP NƯỚC

CÓ ĐÊ BAO NIÊN VỤ 2010-2011 TẠI THỊ TRẤN CÂY DƯƠNG

HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG

Do sinh viên NGUYỄN KHÁNH NHỰT thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

Ngày….tháng….năm 2012

Luận văn được hội đồng đánh giá ở mức:

Ý kiến hội đồng:

Cần thơ, ngày …… tháng ……năm 2012 Thành viên Hội đồng - - -

Trang 4

DUYỆT KHOA Trưởng khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Tác giả luận văn

NGUYỄN KHÁNH NHỰT

Trang 6

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Sinh viên: Nguyễn Khánh Nhựt Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 20/11/1990 Nơi sinh: Cần Thơ

Quê quán: Long Xuyên – An Giang Dân tộc: Kinh

Con Ông: Nguyễn Văn Năm

Con Bà: Nguyễn Thị Ngọc Thủ

Năm 1996 – 2000 học tại Trường Tiểu Học A Mỹ Thới

Năm 2000-2001 học tại Trường Tiểu Học Cái Khế 1

Năm 2001 – 2005 học tại Trường Trung Học Cơ Sở Thới Bình

Năm 2005 – 2008 học tại Trường Trung Học Phổ Thông Châu Văn Liêm

Đã tốt nghiệp tại Trường Trung Học Phổ Thông Châu Văn Liêm, Quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ

Vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2008, theo Ngành Trồng Trọt, khoá 34, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng

Trang 7

LỜI CẢM TẠ Kính dâng

Ba mẹ suốt đời tận tụy hết lòng vì con, sinh con ra, chăm sóc, thương yêu và dạy bảo con nên người, cảm ơn tất cả người thân đã động viên, giúp đỡ con trong suốt thời gian qua

Thành kính biết ơn

Thầy Nguyễn Bảo Vệ và Cô Bùi Thị Cẩm Hường đã tận tình hướng dẫn, gợi ý và cho

em những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cô Nguyễn Thị Xuân Thu, Thầy Phạm Văn Trọng Tính, cố vấn đầy nhiệt huyết vì những đứa con Trồng Trọt 34 sẵn sàng dìu dắt chúng em qua những lúc khó khăn, thử thách

Quý thầy cô Bộ môn Khoa học cây trồng và khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Chân thành cảm ơn

Tập thể lớp Trồng Trọt khóa 34 thân yêu đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp

NGUYỄN KHÁNH NHỰT

Trang 8

NGUYỄN KHÁNH NHỰT, 2011 “Điều tra hiện trạng canh tác mía vùng ngập nước có

đê bao niên vụ 2010-2011 tại thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang” Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ

TÓM LƯỢC

Đề tài “Điều tra hiện trạng canh tác mía vùng ngập nước có đê bao niên vụ

2010-2011 tại thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang” được thực hiện từ tháng 12/2011 đến tháng 4/2012 tại thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang nhằm tìm ra những thuận lợi và khó khăn để từ đó tìm ra hướng khắc phục giúp người dân thu được lợi nhuận cao nhất trong sản xuất Điều tra hiện trạng canh tác bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông hộ với tổng số hộ điều tra là 30 hộ

Qua kết quả điều tra cho thấy Hầu hết người dân tại thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang có kinh nghiệm trồng mía lâu đời và có quy hoạch vùng chuyên canh mía Ngoài ra, nơi đây còn có hệ thống kênh rạch chằn chịt, thuận lợi cho việc tưới tiêu và vận chuyển Bên cạnh đó hầu hết tất cả các nông hộ đều thiếu hiểu biết về việc bón phân cho mía, nông hộ không bón phân hữu cơ mà lạm dụng bón quá nhiều Đạm so với khuyến cáo Việc đó làm chi tăng chi phí sản xuất rất cao Làm giảm lợi nhuận cho các

hộ nông dân trồng mía tại thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang

Trang 9

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1

1.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÂY MÍA 1

1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ 1

1.3 PHÂN LOẠI 2

1.4 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT 2

1.4.1 Rễ mía 2

1.4.2 Thân mía 2

1.4.3 Lóng mía 2

1.4.4 lá mía 3

1.4.5 Hoa mía 3

1.4.6 Hạt mía 3

1.5 YÊU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN SINH THÁI 3

1.5.1 Nhiệt độ 3

1.5.2 Ánh sáng 4

1.5.3 Lượng nước và độ ẩm 4

1.5.4 Gió 4

1.5.5 Đất 4

Trang 10

1.6 KỸ THUẬT CANH TÁC 5

1.6.1 Giống mía 5

1.6.2 Thời vụ trồng 5

1.6.3 Kỹ thuật trồng 6

1.6.4 Bón phân 7

1.6.5 Các loài sâu hại chính trên mía 9

1.6.6 Bệnh hại chính trên mía 11

1.6.7 Chăm sóc 11

1.7 THU HOẠCH 13

1.7.1 Tuổi mía thu hoạch 13

1.7.2 Năng suất 14

1.8 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG1 14

1.8.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 14

1.8.2 Tình hình khí hậu thủy văn 14

1.8.3 Lượng mưa 14

1.8.4 Chế độ thủy văn 14

1.8.3 Dân số 15

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

Trang 11

2.1 PHƯƠNG TIỆN 16

2.2 PHƯƠNG PHÁP 17

2.2.1 Phương tiện điều tra 16

2.2.2 Nội dung điều tra 17

2.2.3 Tổng hợp và xử lý số liệu 17

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 18

3.1 THÔNG TIN CHUNG CỦA NÔNG HỘ 18

3.1.1 Tuổi nông hộ 18

3.1.2 Thành phần lao động 19

3.1.3 Diện tích canh tác 19

3.1.4 Kinh nghiệm trồng mía 20

3.2 KỸ THUẬT CANH TÁC 22

3.2.1 Thời vụ 21

3.2.2 Giống mía 22

3.2.2.1 Tên giống 22

3.2.2.2 Loại hom 23

3.2.2.3 Lượng hom giống 24

3.2.2.4 Xử lý hom 25

Trang 12

3.2.2.5 Khoảng cách hàng 26

3.2.2.6 Cách đặt hom 27

3.2.3 CHĂM SÓC 28

3.2.3.1 Trồng dặm và loại bỏ chồi vô hiệu 28

3.2.3.2 Vô chân 30

3.2.3.3 Đánh lá 31

3.2.3.4 Làm cỏ 32

3.2.3.5 Tưới nước và số lần tưới 33

3.2.4 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG PHÂN BÓN CỦA NÔNG HỘ 35

3.2.4.1 Liều lượng phân N 35

3.2.4.2 Liều lượng phân P2O5 36

3.2.4.3 Liều lượng K2O 37

3.2.5 SÂU HẠI 37

3.2.5.1 Một số loại sâu hại chính 37

3.2.6 THU HOẠCH 39

3.2.6.1 Tuổi mía lúc thu hoạch 39

3.2.6.2 Năng Suất 40

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

Trang 13

4.1 KẾT LUẬN 42

4.2 ĐỀ NGHỊ 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ CHƯƠNG 45

Trang 14

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ xã Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang 16

Hình 3.2 Phần trăm số hộ có diện tích canh tác mía khác nhau tại

huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

20

Hình 3.3

Phần trăm số hộ có kinh nghiệm trồng mía tại huyện Phụng

Hình 3.4 Phần trăm số hộ xuống giống vào những thời điểm khác

nhau tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

22

Hình 3.5 Phần trăm số hộ trồng mía sử dụng loại hom khác nhau tại

huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

24

Hình 3.6 Phần trăm số hộ trồng mía sử dụng lượng hom giống khác

nhau tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

25

Hậu Giang (2010-2011)

26

Hình 3.8 Phần trăm số hộ nông hộ trồng mía với khoảng cách

hàng khác nhau tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

27

Hình 3.9 Phần trăm số hộ nông hộ trồng mía với cách đặt hom

khác nhau tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang 2011)

(2010-28

Hình 3.10 Phần trăm số hộ nông hộ có và không trồng dặm tại

huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

29

Trang 15

Hình 3.11 Phần trăm số hộ trồng mía có và không loại bỏ chồi vô

hiệu tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang 2011)

(2010-30

Hình 3.12 Phần trăm số hộ trồng mía có số lần vô chân khác nhau

tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

31

Hình 3.13 Phần trăm số hộ trồng mía có số lần làm cỏ khác nhau

tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

33

Hình 3.14 Phần trăm số hộ có số lần tưới nước khác nhau tại huyện

Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011) 34

Hình 3.15 Phần trăm số hộ bị các loài côn trùng gây hại chủ yếu

trên ruộng mía tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

38

Hình 3.16 Phần trăm số hộ sử dụng các loại thuốc hoá học phòng

trừ côn trùng gây hại tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

39

Hình 3.17 Phần trăm số hộ thu hoạch tuổi mía khác nhau tại huyện

Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

41

Hình 3.18 Phần trăm số hộ với năng suất mía khác nhau được điều

tra tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

42

Trang 16

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 3.1 Bảng 3.1 Số hộ và phần trăm số hộ theo các độ tuổi khác nhau

tại huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

18

Bảng 3.2 Số hộ và Phần trăm số hộ sử dụng các giống mía khác nhau tại

huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

23

Bảng 3.3 Số hộ và phần trăm số hộ trồng mía có số lần đánh lá khác

nhau tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

32

Bảng 3.4 Số hộ và phần trăm số hộ sử dụng lượng phân N (kg/ha) khác

nhau tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

35

Bảng 3.5 Số hộ và phần trăm số hộ nông hộ sử dụng lượng phân P2O5

(kg/ha) khác nhau tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang

(2010-2011)

36

Bảng 3.6 Số hộ và phần trăm số hộ sử dụng lượng phân K2O (kg/ha)

khác nhau tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)

37

Trang 17

MỞ ĐẦU

Mía (Saccharum officinarum L.) là loại cây dễ trồng, sinh trưởng và phát triển

mạnh, có khả năng canh tác được trên những vùng đất khác nhau từ đất phù sa ven sông đến đất phèn hoặc nhiễm mặn (Nguyễn Huy Ước, 2000a) Tuy nhiên, trên những vùng đất nghèo dinh dưỡng, khó canh tác rau màu hay cây ăn trái thì cây mía vẫn cho hiệu quả tốt Hiện nay cây mía không chỉ là nguyên liệu dùng để sản xuất đường mà còn để sản xuất bánh kẹo, cồn, nước giải khát và còn hứa hẹn một triển vọng rất cao cho ngành sản xuất nhiên liệu sinh học Trên vùng đất nghèo dinh dưỡng thì cây mía vẫn cho hiệu quả tốt, có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc canh tác cây mía Trong năm 2010 diện tích mía trồng tại ĐBSCL là 55.000 ha, chiếm 22% so với cả nước Năng suất mía bình quân đạt được khá cao, từ 80-100 tấn/ha (so với cả nước là 60,5 tấn/ha) (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010) Tỉnh Hậu Giang đã trở thành một trong những nơi có diện tích trồng mía lớn tại ĐBSCL, với hơn 13.000 ha mía trồng tập trung tại các huyện, thị xã như Phụng Hiệp, Ngã Bảy, Vị Thanh, Long Mỹ (Sở Nông nghiệp

& PTNT Hậu Giang, 2010) Năng suất mía trung bình đạt 85 tấn/ha, thậm chí có một số

hộ đạt trên 200 tấn/ha (Công ty Cổ Phần Mía đường Cần Thơ, 2010) Hàng năm, mía góp phần không nhỏ đem lại thu nhập cho người dân Việc nâng cao hiểu biết và khắc phục những khó khăn trong kỹ thuật canh tác mía sẽ giúp người dân huyện Phụng Hiệp làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời giảm giá thành sản xuất, tăng thu nhập, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và cải thiện thu nhập cho người dân

Do đó đề tài “Điều tra hiện trạng canh tác mía vùng ngập nước có đê bao niên vụ 2010-2011 tại xã Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang” nhằm mục đích:

Tìm ra những thuận lợi và khó khăn mà người dân gặp phải trong quá trình canh tác mía

Trang 18

CHƯƠNG 1

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÂY MÍA

Mía là một trong những cây công nghiệp quan trọng của nhiều nước vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới; là nguyên liệu của công nghiệp đường và ngành công nghiệp khác, có giá trị sử dụng tổng hợp cao Hơn 60% sản lượng đường trên thế giới được sản xuất từ nguyên liệu là cây mía (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997)

Mía là cây cung cấp nhiên liệu sinh học Nhiều nhà khoa học và kinh tế dự báo rằng, sang thế kỷ 21 các nhiên liệu lỏng lấy từ lòng đất để dùng trong công nghiệp và giao thông vận tải sẽ ngày càng cạn kiệt dần Để khắc phục tình trạng này đã có nhiều hướng nghiên cứu, trong đó hướng được nhiều người quan tâm là tìm kiếm từ thực vật, đây là nguồn nhiên liệu không bao giờ cạn Cây mía được quan tâm đến nhất và người

ta đã xếp cây mía là cây năng lượng hàng đầu của thế kỷ 21 Nếu đầu tư kỹ thuật sản xuất hợp lý, một ha mía ở Việt Nam, nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long có thể sản xuất ra 150-200 tấn mía/ha, cao hơn năng suất bình quân của thế giới là 71-75 tấn mía/ha, từ đó có thể sản xuất ra 7.000-8.000 lít cồn để làm nhiên liệu (Trần Văn Sỏi, 2001)

Mặc khác, đường lại là mặt hàng chế biến bằng công nghiệp hiện đại nên chất lượng ổn định, cho nên có thể xuất khẩu ra bất cứ nước nào trong khu vực và trên thế giới Vì vậy người trồng mía không có gì lo ngại về thị trường tiêu thụ (Chu Thị Thơm và

ctv., 2005)

1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ

Cây mía được thuần hóa hơn từ 8.000 năm trước công nguyên ở đảo New Guinea sau đó lan truyền đến Trung Quốc, Ấn Độ và các đảo Thái Bình Dương Ngày nay cây mía được trồng trên 70 nước, chủ yếu ở vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới, tập

Trang 19

trung trong phạm vi từ vĩ độ 300 Nam đến 300 Bắc Ở nước ta lịch sử trồng mía từ rất lâu đời, người Việt Cổ đã biết trồng mía từ thời vua Hùng, cách đây 4.000 năm Thời Bắc thuộc nhân dân ta đã biết chế biến mía thành đường, mật để dùng và biết làm

“thạch mật” (đường phèn) (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997)

1.3 PHÂN LOẠI

Mía thuộc ngành có hạt (Spermatophyta), lớp một lá mầm (Monocotyledons), họ hòa thảo (Gramineae), loại Sacharum, tên khoa học thường gọi cây mía là

Saccharum officnarum L… trên thế giới đã phát hiện khoảng trên 30 loài mía phần lớn ở

vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới trong loại Saccharum có 5 loại mía trồng trọt và mía dại

có tầm quan trọng (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997)

1.4 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT

1.4.1 Rễ mía

Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2011), mía thuộc loại rễ chùm, mọc từ các điểm

trên đai rễ của hom hoặc ở chân mầm nơi tiếp giáp giữa mầm và hạt Mía trồng bằng hom khi mọc mầm có 2 loại rễ: rễ hom và rễ chồi

Rễ hom: nhỏ và mọc thành chùm, nhiều xơ, sẽ nuôi chồi từ 4-6 tuần Rễ hom có thể sống lâu hay chết đi sau khi rễ chồi mọc một thời gian, thường khoảng 3 tháng sau khi trồng, rễ chồi đảm nhận được việc hấp thu dinh dưỡng

Rễ chồi: xuất phát từ các vòng rễ đầu tiên của chồi, lúc cây có ba, bốn lá thật Rễ chồi to, trắng, có thể phát sinh ra các rễ hút nước và dinh dưỡng

1.4.2 Thân mía

Thân mía hình thành bởi nhiều lóng mía hợp lại, thân mía không chỉ giữ bộ lá

mà còn là nơi dẫn nước và dinh dưỡng từ rễ tới lá và dự trữ đường nhờ quá trình quang hợp ở bộ lá, mỗi lóng mía có những đặc điểm có thể quan sát như: mầm, rảnh mầm, đai

Trang 20

sinh trưởng, đai rễ, đai phấn, sẹo lá, vết nứt và có sự khác biệt nhau ở từng giống (Trần Thùy, 1996)

1.4.3 Lóng

Theo Trần Văn Sỏi (2001), lóng là bộ phận nằm giữa hai đốt, thường có độ dài trung bình khoảng 10-18 cm Lóng cùng với đốt là đơn vị cơ bản cấu thành thân mía Tùy theo các giống khác nhau mà các lóng cũng có hình dáng, màu sắc to nhỏ, dài ngắn khác nhau Hình dáng lóng mía rất đa dạng, song có thể quy về sáu dạng cơ bản sau đây: hình trụ, hình trống, hình ống chỉ, hình chóp cụt, hình chóp cụt ngược và hình hình cong queo

1.4.4 Lá mía

Lá mía mọc thành hai hàng so le, đối nhau hoặc theo đường vòng trên thân mía tùy giống, mỗi đốt có một lá Lá mía dính vào thân ở phía dưới đai rễ, khi lá rụng tạo thàng sẹo lá hay vết lá Lá mía có hai bộ phận chính: phiến lá và bẹ lá Bẹ lá ôm chặt vào thân cây Chỗ tiếp giáp giữa bẹ lá và phiến lá thường gọi là cổ lá, ở đó có đai dày, lưỡi lá và tai lá (Trần Văn Sỏi, 2001)

1.4.5 Hoa mía

Hoa mía có hình chiếc quạt mở, khi mía kết thúc thời kỳ sinh trưởng, mầm hoa được hình thành ở điểm sinh trưởng và phát triển thành hoa, cây mía có giống ra hoa, giống không hoặc ra hoa ít, có giống ra hoa sớm, giống ra hoa muộn, trong sản xuất người ta thường không thích các giống mía ra hoa (Nguyễn Huy Ước, 2000a)

1.4.6 Hạt mía

Theo Phan Gia Tân (1983), hạt mía thuộc loại hạt rất nhỏ Sau khi thụ phấn, hạt mía phát triển kích thước rất nhanh trong mười ngày đầu Hạt giống thu hoạch khoảng ba mươi ngày sau khi thụ phấn mới thực sự chín hoàn toàn Sau ba tháng hạt sẽ mất sức

Trang 21

nảy mầm

1.5 YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN SINH THÁI

1.5.1 Nhiệt độ

Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv., (2011), nhiệt độ bình quân thích hợp cho sinh

trưởng và phát triển cây mía là 25-35oC Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá ảnh hưởng đến sinh trưởng bình thường và giảm tốc độ quang hợp Trong giới hạn nhiệt độ bình quân từ 26-28,7oC rất phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của mía Khi nhiệt độ vượt quá 38oC, quang hợp của mía bắt đầu có triệu chứng giảm (Hoàng Văn Đức, 1982)

1.5.2 Ánh sáng

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây mía cần cường độ ánh sáng mạnh, thiếu ánh sáng mía phát triển yếu, nhóng cao, hàm lượng đường thấp, dễ bị sâu bệnh, trong một chu kỳ sinh trưởng cây mía cần từ 2.000-3.000 giờ chiếu sáng, tối thiểu từ 1.200 giờ trở lên (Trần Thùy, 1996)

ngập úng càng kém (Trần Văn Sỏi, 2001) Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2011), mía

trồng cần lượng mưa từ 1.500-2.000 mm/năm và phân bố hợp lý trong năm: mùa khô lượng mưa cần khoảng 30%, mùa mưa cần khoảng 70% tổng lượng mưa Ẩm độ tối ưu khoảng 65-80% cho thời kỳ sinh trưởng và 50-65% ở thời kỳ mía chín

Trang 22

tốt từ 5,5-7,5 Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2008), đất thích hợp để trồng mía là đất phù

sa các loại, đất có nguồn gốc núi lửa Thành phần đất từ cát pha đến cát thịt, sét, có kết cấu tơi xốp, thoát nước nhưng có khả năng giữ nước tốt Tầng đất dày lớn hơn 70 cm, mực nước ngầm cao hơn 1,8 m và độ pH thích hợp từ 6-8 Ở Việt Nam, cây mía được trồng tập trung trên các vùng đất như: đất phù sa mới, xám, đỏ vàng, nâu đỏ, bạc màu, đất

có nguồn gốc núi lửa, cát, cát pha ven biển

1.6 KỸ THUẬT CANH TÁC

1.6.1 Giống mía

Giống mía giữ vai trò rất quan trọng trong nghành trồng mía Một giống mía tốt

là giống có các tiêu chuẩn chung là năng suất cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, tỷ lệ đường cao, chống chịu sâu bệnh, thích hợp điều kiện sinh thái và đất đai của từng vùng, để gốc tốt, không hoặc ít ra hoa, thích hợp với điều kiện chế biến của mỗi nơi

(Phan Gia Tân, 1983) Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2011), một số giống đã được

trồng phổ biến ở Việt Nam hiện nay như: Comus, F156, MY-5514, ROC16,

VĐ86-368, ROC20, VN84-4137, QĐ11, QĐ17, QĐ15, K84-200, VN85-1859, ROC10, ROC

22, Co775, F134, F154, …

1.6.2 Thời vụ trồng mía

Đối với sản xuất cây mía, thời vụ là một biện pháp kỹ thuật rất quan trọng, bố trí

Trang 23

đúng thời vụ trồng với từng giống mía thích hợp sẽ góp phần nâng cao năng suất mía cây và hàm lượng đường trên mía, kéo dài thời vụ chế biến đường, tránh được tình trạng lao động khẩn trương trong các mùa vụ tập trung, khắc phục được một số nhược điểm của giống (Trần Thùy, 1996; Nguyễn Huy Ước, 2000a)

Theo Trần Văn Sỏi (2001), mía trồng vào cuối mùa mưa (tháng 11-12 dương lịch) sẽ có thời gian sinh trưởng dài hơn vụ đầu mùa mưa và dễ dàng đạt năng suất cao, đây là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy với tỷ lệ đường cao Bên cạnh đó nhược điểm của thời vụ này là ruộng mía phải trải qua một mùa khô dài, đối với những giống mía chịu hạn kém có thể chết, năng suất giảm, nhưng nếu có điều kiện tưới sẽ khắc phục được nhược điểm này Đối với mía trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5-6 dương lịch) do đất đủ ẩm mía nảy mầm, đẻ nhánh, sinh trưởng và phát triển thuận lợi đảm bảo chắc chắn cho mùa thu hoạch Nhược điểm của thời vụ này là ở những nơi không có điều kiện tưới nước trong các tháng mùa khô, cây mía thực chất chỉ sinh trưởng trong vòng 6 tháng nên năng suất mía cây không cao, vì vậy phải chọn những giống vươn dài mạnh trong các tháng mùa mưa và không hoặc ít trổ cờ để có thể đạt năng suất mía cần thiết (Nguyễn Thị Minh Châu, 2004)

1.6.3 Kỹ thuật trồng mía

Chuẩn bị đất: Theo Nguyễn Huy Ước (2000a), chuẩn bị đất trồng kỹ, chu đáo, đúng yêu cầu kỹ thuật sẽ giúp cho mầm mọc nhanh đạt tỷ lệ cao, cây mía sinh trưởng và phát triển tốt đạt năng suất mong muốn, mặt khác còn tạo thuận lợi cho vụ mía gốc kế tiếp sau đó Đất trồng mía phải bảo đảm giữ ẩm, sạch cỏ, bằng phẳng, tơi xốp Đất cày 2-3 lần và đạt độ sâu cần thiết từ 20-25 cm Sau mỗi lần cày là một lần bừa, đảm bảo đường kính viên đất 3-5 cm Thời gian từ lúc chuẩn bị đất đến lúc đặt hom trồng

khoảng 40-60 ngày Khoảng cách hàng: Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2011), cần chọn

khoảng cách trồng thích hợp để cây mía đạt năng suất và chất lượng đường tối ưu nhất Khoảng cách trồng thay đổi tùy thuộc vào các yếu tố như giống mía, điều kiện khí

Trang 24

hậu, đất đai và tập quán canh tác Các giống mía có thể trồng hàng cách hàng từ 0,6-1,2

m Ở Đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng khoảng cách hàng từ 0,8-1 m đối với vùng lúa-mía, mía 1 vụ hoặc 1-1,2 m cho vùng mía chuyên canh

Chuẩn bị hom giống: Chất lượng hom giống ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ nảy mầm, mật độ và năng suất Phải làm ruộng giống riêng sử dụng toàn bộ cây giống khi mía đạt 7-8 tháng tuổi Đảm bảo chất lượng giống cao và độ đồng điều của hom giống cũng như độ thuần, kiểm tra được sâu bệnh, hệ số nhân giống lớn… Trong sản xuất mía thường có tập quán sử dụng phần ngọn non làm hom giống , đây là cách làm truyền thống, tận dụng được phần ngọn non của cây mía sau thu hoạch Nhược điểm của cách làm này là chất lượng hom giống không đồng đều, dễ bị lẫn giống đưa đến

năng suất, chất lượng mía kém (Đoàn Thị Thanh Nhàn và ctv, 1996) Với những giống

mới, hom giống tốt, kỹ thuật trồng, chăm sóc hợp lý, chỉ cần sử dụng lượng hom giống từ 4-6 tấn/ha sẽ tiết kiệm chi phí đầu tư giống mía (Nguyễn Huy Ước, 2000a)

Đặt hom và lấp đất: Theo Nguyễn Huy Ước (2000a), một số kiểu đặt hom mía được áp dụng phổ biến trong sản xuất là trồng một hàng nối tiếp nhau, trồng hai hàng hom song song, đặt so le kiểu nanh sấu, trồng hom xiên kiểu xương cá Khi chất lượng hom tốt người ta chỉ cần đặt một hàng hom hoặc đặt so le kiểu nanh sấu Trường hợp đặt hai hàng hom song song được áp dụng ở các vụ trồng vào mùa khô, đề phòng khô hạn làm hom bị chết

1.6.4 Bón phân

Trung bình khi đạt 100 tấn/ha, cây mía lấy đi khoảng 120 kg N, 70 kg P2O5, 200

kg K2O (Lê Hồng Sơn và Vũ Năng Dũng, 2000) Thông thường muốn có được 100 tấn mía cây nguyên liệu cây cần 80-180 kg N, 80-170 kg P2O5, 200-270 kg K2O (Trần Văn Sỏi, 2001) Theo Bùi Đình Đường và Dương Văn Chín (2001), trên vùng đất phù sa ở Đồng bằng sông Cửu Long các giống mía có năng suất cao, độ Brix cao ít mẫn cảm quang kỳ và tỷ lệ trổ cờ thấp như: MY-5514, F156, ROC16, VĐ56, ROC10 và VĐ59

Trang 25

cần bón cân đối đạm, lân và kali với liều lượng là 200-300 kg N/ha, 100 kg P2O5/ha và

120 kg K2O/ha sẽ cho hiệu quả nông học và kinh tế cao

Phân đạm: Theo Trần Văn Sỏi (2001), đạm giữ vai trò hết sức quan trọng đối

với năng suất và chất lượng mía, bón 1 kg đạm nguyên chất có thể cho 400-500 kg mía nguyên liệu, thông thường bón từ 100-200 kg đạm nguyên chất cho 1 ha mía Thiếu đạm lá mía có màu vàng nhạt, tốc độ ra lá chậm, cây thấp, bé và đẻ nhánh ít, cây hữu hiệu thấp, sớm bước vào giai đoạn tích lũy đường Một số cách để xác định đúng lượng đạm cần bón: phân tích đất; phân tích lá; quan sát cây và làm thí nghiệm trên đồng ruộng Theo Trần Thùy (1996), bón đạm nhiều không cân đối với các nguyên tố khác (P

và K) và bón quá muộn, cây mía sẽ bị nhóng cao, chứa nhiều nước, dễ bị sâu bệnh, đỗ ngã và hàm lượng saccharose trên mía thấp, chất lượng nước mía ép kém Theo Isa và ctv (2006), ở Tanzania, trong hai niên vụ 2000-2001 và 2001-2002, nghiên cứu sự hấp thu và cân bằng của phân đạm bón cho mía ở dạng urea (60 kg/ha) và ammonium sulphate (40 kg/ha) trên đất mặn (pH =8,8) và đất không mặn (pH =7,8) cho thấy có sự đáp ứng cao (>90%) trong sự phát triển của cây mía trên đất không mặn khi áp dụng cả 2 loại phân Trên đất mặn thì sự đáp ứng của ammonium sulphate tốt hơn

Phân lân: Theo Nguyễn Huy Ước (2000a), lân có tác dụng làm cho cây phát

triển tốt bộ rễ, nhờ đó hấp thu chất dinh dưỡng, nước được tốt hơn, khả năng chịu hạn tăng lên, cây đâm nhánh khỏe và giữ cân bằng đạm-lân-kali, giúp cho mía phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lượng, thiếu lân bộ rễ phát triển kém, đẻ nhánh ít, thân nhỏ, cằn cỗi Để xác định liều lượng phân lân cho cây mía thường dựa vào hàm lượng

P2O5 trong đất ở tầng 30 cm: nếu <75 kg/ha là quá thiếu lân, phải bón >200 kg

P2O5/ha; từ 75-150 kg, nên bón khoảng 100 kg P2O5/ha; Nếu >150 kg/ha là đất đủ lân chỉ cần bón với lượng nhỏ khoảng 50 kg P2O5/ha (Trần Văn Sỏi, 2001) Theo Trần Thùy (1996), lượng phân lân cần bón cho một ha từ 100-120 kg (tương đương từ 600-

700 kg phân lân có 16,5% P2O5) Theo Nguyễn Huy Ước (2000a), để đạt năng suất trung bình 70-80 tấn/ha trở lên cần phải bón từ 90-120 kg P2O5/ha Ở vùng đất phèn có

Trang 26

thể chia lân ra làm 2 lần bón, lần thứ nhất lúc trồng và lần thứ hai lúc nhảy chồi tích

cực (Trần Văn Sỏi, 2001 Theo Rice và ctv (2004), lượng lân cần cho 1 ha là 67,5 kg

P2O5 đối với vụ mía tơ và 36 kg đối với các vụ tiếp theo Theo Trần Thùy (1996), lân cần bón sâu, lấp kín và chỉ bón lót một lần vào rãnh mía trước khi đặt hom hoặc rải vào hai bên hàng mía đối với mía gốc Theo Lê Hồng Sơn và Vũ Năng Dũng (2000), tháng thứ nhất lượng lân được hấp thu khoảng 27% tổng nhu cầu, tháng thứ 6 đạt 50% và đạt 70-72% tổng nhu cầu lân vào tháng thứ 9, vì vậy nên bón lân sớm và bón đủ lượng lân ngay

từ đầu thời kỳ phát triển mầm mía

Phân kali: Theo Humbert (1963), cây mía có thể hấp thụ trên 900 kg K2O/ha

Để tạo ra 1 tấn mía, cây có thể lấy của đất trung bình 2,75 kg K2O Theo Trần Thùy (1996), lượng phân kali cần bón cho một ha: 150-180 kg (250-300 kg KCl loại chứa 60% K2O) Theo thí nghiệm của Lâm Quang Thảo (2003), liều lượng kali cần thiết cho mía là 140 kg K2O/ha Với liều lượng này, chữ đường ở giống ROC16 đã đạt được là

12,2 Ở ĐBSCL, theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2011), bón phân kali liều lượng 180

K2O/ha với công thức phân nền 180 kg N-90 kg P2O5/ha cho giống Co715 trồng trên đất phèn ở huyện Châu Thành, Tiền Giang đạt năng suất 125 tấn/ha Tại huyện Phụng Hiệp, Cần Thơ trên giống Comus năng suất là 119 tấn/ha sau 9 tháng trồng (Nguyễn

Bảo Vệ và ctv 2011) Theo Daryl và Brown (1993), kali là dưỡng chất mà mía cần

nhiều nhất, bón K làm tăng năng suất mía và chất lượng đường

Phân hữu cơ: Theo Nguyễn Huy Ước (2000a), ở những đất nghèo chất hữu cơ,

dù có bón tăng lượng phân khoáng, năng suất mía cũng không thể tăng cao lên được

Shotaro và ctv (2002) cho rằng lá mía sau thu hoạch không nên đốt và cần được giữ lại

cho đất Lượng N cung cấp được mía hấp thu khoảng 34% Hơn nữa sự cố định đạm từ chất hữu cơ giữ vai trò quan trọng trong việc đền bù lượng N mất đi trong đất

Phân vôi: Theo Trần Thùy (1996), tác dụng chính của vôi là khử chua, giúp cho

mía hấp thu có hiệu quả các chất dinh dưỡng, góp phần cải thiện lý tính của đất, làm cho quá trình phân giải các chất hữu cơ và hoạt động của các vi sinh vật trong đất tốt

Trang 27

hơn Nếu độ chua của đất có pH khoảng 4-5 thì bón 500-1.000 kg CaO/ha

Phân vi lượng: Theo Trần Văn Sỏi (2001), phân vi lượng được dùng với số

lượng tương đối ít hoặc rất ít, nhưng thiếu chúng sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và chất lượng mía, thông thường bón phân hữu cơ, phân lân nung chảy, phân phosphate nghiền, đã cung cấp thêm một số phân vi lượng cần thiết cho mía Mg, S,

Fe, Mn, B, Cu, Mo là tác nhân rất quan trọng trong quá trình sinh lý, sinh hóa của cây mía (Trần Thùy, 1996)

1.6.5 Các loài sâu hại chính trên mía

Sâu đục thân: Theo Nguyễn Đức Quang (1997), tỷ lệ cây mía bị sâu đục thân

tấn công trên các giống từ 55-76%, năng suất mía bị giảm do sâu đục thân dao động từ 31-46% Theo Nguyễn Đức Quang và Phạm Văn Lầm (2002), trong 10 giống mía thí nghiệm, giống K84-200 và VN84-4137 có khả năng chống chịu sâu đục thân mình hồng cao Những giống có đặc điểm bẹ lá ôm chặt thân không tự bong ra trong quá trình sinh trưởng và có nhiều lông thì khả năng chống chịu sâu đục thân mình hồng cao hơn Dùng dung dịch thuốc Padan 95SP (0,1%) và Lannate 40SP (0,1%) xử lý hom giống trong 2 giờ diệt được hơn 51,3% sâu non và hơn 60% nhộng sâu đục thân mình hồng sống trong hom giống, đây là biện pháp dễ sử dụng và có hiệu quả cao để xử lý hom giống Dùng thuốc Padan 4H bón vào hàng mía ở liều lượng 60 kg/ha sau khi sâu xuất hiện có hiệu quả diệt sâu đục thân mình hồng cao (Nguyễn Đức Quang, 2002) Theo Khoa Nông Nghiệp, Trường Đại Học Cần Thơ (2002), tại Hậu Giang loại thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến để phòng trừ sâu hại trên mía là Basudin 10H (44,5%) và Padan 4H (12,8%)

Bọ rầy đầu vàng (Eoeurysa flavocapilata Muir): Theo Nguyễn Thanh Minh

(2006), ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 2005 đã bắt đầu xuất hiện rầy đầu vàng Đến cuối tháng 08 năm 2006 có gần 10.000 ha mía ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang bị nhiễm rầy đầu vàng Rầy non và rầy trưởng thành tập trung ở lá đọt hay lá

Trang 28

mới xòe ra chích hút nhựa lá Lá mía bị hại có những chấm vàng về sau liên kết nhau tạo thành vết vàng lớn, trên đó có lớp bọt trắng hoặc lớp dịch trong suốt, sau một thời gian biến thành những chấm tròn màu đen và có mùi hôi Mía 2-3 tháng tuổi bị rầy đầu vàng tấn công không phát triển được và chết dần Mía 7 tháng tuổi trở lên giảm năng suất từ 20-30%, chữ đường thấp… Biện pháp phòng trừ: trồng các giống kháng như: F177, F178, ROC5, ROC16, R570 Kiểm tra ruộng mía khi thấy có 5-10 con/cây thì phun một trong các loại thuốc sau: Applaud 10 WP, Hoppecin 50 EC, Hopsan 75 ND…

Chuột (Rattus argentiventer): Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2011), chuột là đối

tượng gây hại nặng cho mía, nhiều ruộng mía bị chuột phá hết mầm, cắn hết thân cây… đặc biệt trên đồng không còn nguồn thức ăn khác, nhất là những năm hạn hán nặng Phòng trừ: Tỉa dặm đảm bảo mật độ cây, vệ sinh đồng ruộng, phát sạch bờ bụi rậm rạp hạn chế nơi trú ngụ của chuột, bóc thu gom bẹ lá già, luôn tạo ruộng mía thông thoáng; sau khi thu hoạch xong tổ chức diệt chuột đồng loạt trên toàn vùng trồng mía, không để chuột di chuyển sang vùng khác; nên chọn những giống mía cứng cây Theo Phan Gia Tân (1983), chuột thường phá mía trong giai đoạn lóng dài, nhất là lúc mía gần chín Chuột thường đào hang gặm phá các lóng gần sát gốc làm cây mía gãy ngang hoặc gậm đứt thân mía bị đỗ ngã thành nhiều đoạn Cây mía bị chuột phá dễ bị nấm bệnh xâm nhập, dễ đỗ gãy và mất đường

1.6.6 Bệnh hại chính trên mía

Bệnh thối đỏ (Collectotrichum falcatum Went): Bệnh thường phát sinh khi có

các tổn thương cơ giới như vết đục của sâu đục thân, các vết nứt sâu, hoặc gió gãy… Mía nhiễm bệnh đầu tiên phát sinh các điểm đỏ ở mặt trên các gân lá già, sau đó biến thành màu nâu thẫm hoặc đen, thân cây mía bị bệnh nhìn bề ngoài không thấy triệu chứng rõ rệt, song bên trong các bó mạch có màu đỏ, các mô bị nhiễm bệnh lúc đầu ngửi có mùi rượu, sau khô dần từng đoạn hoặc cả thân (Nguyễn Huy Ước, 2000a)

Trang 29

Bệnh than (Ustilago scitaminea Sydow): Triệu chứng bệnh đặc trưng là lá đọt

cây mía biến thành dạng roi cong xuống, có trường hợp dài tới hàng mét, biểu hiện đầu tiên là bên ngoài phủ 1 lớp màng mỏng màu trắng, sau đó chuyển sang màu đen do được phủ bằng vô vàn bào tử dạng bột, cây mía bị bệnh hoàn toàn mất khả năng tạo lóng và ở gốc đẻ nhiều nhánh nhỏ, song mầm nhánh hầu hết bị bệnh (Viện nghiên cứu mía đường Bến Cát, 2004)

1.6.7 Chăm sóc

Tưới tiêu: Theo Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi (1997), để đạt được 100

tấn/ha đòi hỏi lượng nước trung bình là 1.500 mm nước Có nhiều phương pháp tưới nước như tưới phun, tưới thấm, tưới tràn, tưới nhỏ giọt, tưới ngầm Phương pháp tưới tràn dẫn nước vào ruộng mía theo kênh mương là phổ biến nhất Theo Ramesh và Madadevaswamy (2000), khô hạn làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mía vào bất cứ giai đoạn nào, đặc biệt vào giai đoạn 60-150 ngày sau khi trồng sẽ làm giảm số chồi, dẫn đến giảm số chồi hữu hiệu sau này, đồng thời làm giảm chiều cao cây, số lóng và trọng lượng toàn cây, làm giảm năng suất nghiêm trọng Theo kết quả điều tra của Hứa Thanh Xuân (2008), cho thấy tại Sóc Trăng, mía được tưới từ 1-15 lần/vụ Theo Nguyễn Huy Ước (2000a), thông thường nước tưới chỉ thực sự cần thiết lúc mới trồng và trong mùa nắng, trong mùa khô hạn, mỗi lần tưới cần từ 300-500 m3/ha, căn cứ vào tốc

độ bốc hơi nước ở mỗi khu vực mà xác định các lần tưới tiếp theo, khoảng cách mỗi lần

tưới từ 10-15 ngày Theo Chu Thị Thơm và ctv (2005), thông thường mía được tưới

có thể tăng năng suất từ 15-25 tấn/ha/năm, cá biệt có thể tăng tới 30 tấn/ha/năm

Trồng dặm và loại bỏ chồi vô hiệu: Theo Nguyễn Huy Ước (2000b), trong thực tế

sản xuất số mầm mía trồng thường chỉ mọc khoảng 50-70% trở lại, vì thế khi ruộng mía kết thúc giai đoạn mọc mầm, trên hàng mía có nhiều đoạn bị trống do mầm không mọc, nếu để như thế ruộng mía sẽ thiếu cây và năng suất cuối cùng sẽ thấp, không những

vụ mía tơ kém mà còn ảnh hưởng đến vụ mía gốc năm sau, việc trồng dặm vào những

Trang 30

khoảng trống bằng hom dự phòng giâm ở đầu hàng sẽ mang lại hiệu quả rất cao Theo

Nguyễn Bảo Vệ và ctv., (2011), tỉa bỏ những chồi vô hiệu là biện pháp tốt giúp cây phân

bố điều đặn Căn cứ vào số cây hữu hiệu dự định khi thu hoạch, cần tiến hành tỉa nhiều lần

Làm cỏ : Theo Nguyễn Huy Ước (2000b), cỏ dại không chỉ cạnh tranh ánh sáng,

nước, dinh dưỡng với cây trồng mà còn là nơi lưu tồn sâu bệnh Nếu trừ cỏ không kịp thời năng suất ruộng mía có thể bị giảm 20-30% Có nhiều phương pháp diệt trừ cỏ dại cho mía và mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng, có thể áp dụng một trong các phương pháp sau: phương pháp thủ công, cơ giới, hóa học, kết hợp thủ công với cơ giới, cơ giới kết hợp với hóa học, kết hợp cơ giới, hóa học và thủ công Thuốc trừ cỏ Gesapax có hiệu lực trừ cỏ cao, cần kết hợp trừ cỏ bằng thuốc hóa học với làm cỏ bằng tay hoặc trồng xen đậu tương để tiết kiệm chi phí sản xuất và nâng cao năng suất (Hà Thị Thanh Bình, 2002)

Vô chân: Theo Trần Văn Sỏi (2001), khi mía đủ mật độ cần thiết, bắt đầu vô

chân, lấp đất dày khoảng 10-15 cm Khi mía có 3-4 lóng tiến hành vun vồng, từ 15-30

cm Mía càng tốt, càng cao cây thì càng phải vun cao (30 cm), mía xấu, thấp cây thì vun thấp (15-20 cm) Vun vồng vừa có tác dụng phòng chống đổ, vừa thoát nước tốt, điều hòa được nước và không khí, tạo điều kiện đạt năng suất cao Vun gốc cho mía có tác dụng kích thích hay hạn chế mía đâm nhánh, kích thích sự phát triển của bộ rễ, giữ phân, chống đỗ ngã và chống úng cho mía (Phan Gia Tân, 1983) Theo Nguyễn Huy Ước (2000a), thông thường lần vô chân đầu được tiến hành lúc mía được 1 tháng tuổi (vô chân ấm), lần 2 sau lần 1 từ 1-2 tháng (vô chân khỏa), lần 3 lúc mía khoảng 5-6 tháng tuổi (vô chân đạp)

Đánh lá: Đánh lá mía làm ruộng mía thông thoáng ít sâu hại và có tác dụng hạn

chế rễ khí sinh khi trời mưa nhiều, dễ kiểm tra sâu bệnh, dễ đi vào ruộng phun thuốc trừ sâu khi mía đã cao, giảm bớt công lao động lúc thu hoạch (Trần Xuân Lạc, 1994) Đánh lá có lợi là làm cho ruộng mía thông thoáng, vỏ mía cứng cáp hơn, chống chịu

Trang 31

được gió bảo, sâu bệnh (Phan Gia Tân, 1983) Khi khảo sát về ảnh hưởng của việc

đánh lá mía đến sự sinh trưởng và phát triển của cây mía, Miceli và ctv (2004) cho

thấy cây có đánh lá không có sự khác biệt hàm lượng đường so với cây còn nguyên, các thông số nông học và hoạt động của các enzyme không thay đổi ngoại trừ ẩm độ của cây có đánh lá mía thì thấp hơn so với cây không có đánh lá mía

1.7 THU HOẠCH

1.7.1 Tuổi mía thu hoạch

Theo Trần Văn Sỏi (2001), thu hoạch sớm hơn hoặc muộn hơn thời điểm của mía chín đều dẫn tới hiệu quả kinh tế thấp Khi mía được 12 tháng tuổi và gặp điều kiện thời tiết thuận lợi như khô và rét thì hàm lượng trong thân đạt mức tối đa và chủ yếu là đường kết tinh còn đường khử giảm xuống mức tối thiểu (từ 0,3-0,9%) Lúc này mía đã chín công nghiệp, hàm lượng đường giữa gốc và ngọn bằng nhau Tùy giống, điều kiện thời tiết và kỹ thuật bón phân mà mía có thể chín công nghiệp trước 12 tháng hoặc sau 12 tháng Nhưng cùng một thời vụ trồng giống nhau thì giống mía chín sớm có thể chín trước giống mía chín muộn từ 10-20 ngày

1.7.2 Năng suất

Mía là cây trồng có khả năng cho sinh khối lớn Một ha mía trong vòng một năm có thể cho khối lượng 70, 80 đến trên 90 tấn mía cây (Nguyễn Huy Ước, 2001) Theo Hứa Thanh Xuân (2008), năng suất mía trung bình của ở 3 huyện của Sóc Trăng đạt 112,7 tấn/ha Một số giống mía được trồng phổ biến có năng suất cao ở Cù Lao Dung như QĐ11 đạt 106,3 tấn/ha, ROC16 đạt 107,7 tấn/ha, ROC 12 đạt 117,6 tấn/ha, VĐ86-368 đạt 107,7 tấn/ha và một số giống khác như: VĐ93-159, CR74-250 cũng cho năng suất trên 100 tấn/ha

Trang 32

1.8 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

1.8.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Huyện Phụng Hiệp là huyện thuộc tỉnh Hậu Giang Huyện Phụng Hiệp cách TP Cần Thơ khoảng 30km về phía nam, cách thị xã Vị Thanh 38km về hướng nam Phụng Hiệp có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, có truyền thống trồng trọt lâu đời với hệ thống cây ăn trái, mía đường Diện tích canh tác đất nông nghiệp chiếm 48.808 ha

1.8.2 Tình hình khí hậu, thuỷ văn

Khí hậu: Huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang có khí hậu cận xích đạo gió mùa

Tính chất cận xích đạo được thể hiện ở những đặc điểm về quang và nhiệt Số giờ nắng trong năm nhiều, trung bình 2.300 - 2.500 giờ Tổng lượng bức xạ trung bình khoảng 1.500 kcal/cm2/năm Nhiệt độ trung bình cao, khoảng 26,7 - 270C, tổng nhiệt hằng năm

là 9.8000C Biên độ nhiệt trong năm thấp, tháng 4 nóng nhất với khoảng 28,60C, tháng

1 lạnh nhất với khoảng 25,50C Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm dao động lớn, khoảng

70C, mùa khô chênh lệch cao hơn, mùa mưa chênh lệch ít hơn Tính chất mùa thể hiện

rõ nét ở chế độ gió và chế độ ẩm Trong năm, Hậu Giang chịu ảnh hưởng của hai mùa gió: mùa mưa có gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Lượng mưa: khoảng 1.800 mm/năm, tập trung cao nhất từ tháng 9 đến tháng 10

Lượng mưa phân bố không đều theo lãnh thổ, khu vực phía Tây có số ngày mưa nhiều hơn, lượng mưa lớn hơn và mùa khô không gay gắt như khu vực phía Đông

Chế độ thủy văn: Huyện Phụng Hiệp,tỉnh Hậu Giang có một hệ thống kênh rạch

chằng chịt với tổng chiều dài khoảng 2.300 km Các con kênh lớn là: kênh Đông Lợi, kênh Sóc Trăng, kênh Mỹ Thuận, kênh Xáng Xà No, kinh Xáng, kênh Lô Đá, kênh Xáng Nàng Mau, kênh Xáng Bún Tàu, kênh Cái Côn sông Hậu chảy ở phía Đông Bắc

Trang 33

tỉnh với chiều dài khoảng 14-15 km, qua địa bàn huyện Châu Thành Sông có nhiều nhánh tự nhiên chảy vào tỉnh Phía Tây Nam của tỉnh có các con sông như: sông Cái Lớn, sông Ba, sông Nước Đục, sông Nước Trong không chỉ cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất, mà còn là đường giao thông quan trọng đi khắp nơi trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực

1.8.3 Dân số

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm (2008), là 205.460 người, mật độ 237 người/km2

Trang 34

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG TIỆN

Địa điểm: đề tài được thực hiện tại thị trấn Cây Dương, huyện phụng Hiệp, tỉnh Hậu

Giạng (Hình 2.1)

Thời gian thực hiện: từ tháng 12/2011 đến tháng 4/2012

Phương tiện điều tra: bản đồ huyện Phụng Hiệp và phiếu điều tra hiện trạng canh

tác mía (phụ lục)

Trang 35

Hình 2.1 Bản đồ thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang

2.2 PHƯƠNG PHÁP

2.2.1 Phương pháp điều tra

* Các bước tiến hành điều tra:

- Bước 1: Thu thập số thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Phụng Hiệp Các số liệu thu thập bao gồm: đặc điểm tự nhiên, thông tin sơ bộ về giống và kỹ thuật canh tác, các hoạt động khuyến nông phục vụ cho sản xuất mía Từ các thông tin này được sử dụng cho việc vạch kế hoạch điều tra chi tiết

- Bước 2: Khảo sát sơ bộ và chọn hộ điều tra Chọn ngẫu nhiên 30 hộ trồng mía

để điều tra hiện trạng canh tác mía

- Bước 3: Điều tra bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông hộ theo phiếu điều tra đã được in sẵn (phần Phụ lục) theo các nội dung: Thu thập thông tin về các vấn đề thuận lợi và khó khăn trong sản xuất: Điều kiện sinh thái, giống, thời vụ, kỹ thuật canh tác, tình hình sâu bệnh, năng suất, tiêu thụ sản phẩm và ý kiến của người dân

2.2.2 Nội dung điều tra

- Thông tin nông hộ: Số nhân khẩu của nông hộ trồng mía, lao động chính và lao động phụ, tuổi nông hộ, kinh nghiệm trồng mía, trình độ học vấn của nông dân, tập huấn kỹ thuật trồng mía, thời vụ trồng mía, diện tích canh tác mía

- Hiện trạng canh tác mía: giống, thời vụ, kỹ thuật canh tác, tình hình sâu bệnh, năng suất và tiêu thụ sản phẩm Trên cơ sở đó đánh giá được tình hình sản xuất chung của vùng, rút ra được những thuận lợi và khó khăn trong thực tế sản xuất của nông dân trồng mía tại địa phương và các định hướng kế hoạch công tác trong tương lai

2.2.3 Tổng hợp và xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS 16.0

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm