TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN THỊ DIỂM HỒ LÊ TUẤN THANH HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM SINH HỌC VÀ VÒNG ĐỜI CỦA RỆP SÁP GIẢ Planococcus citri Risso
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ DIỂM
HỒ LÊ TUẤN THANH
HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM SINH HỌC VÀ
VÒNG ĐỜI CỦA RỆP SÁP GIẢ Planococcus citri Risso
GÂY HẠI BƯỞI NĂM ROI TẠI
TỈNH TIỀN GIANG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: TRỒNG TRỌT
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM SINH HỌC VÀ
VÒNG ĐỜI CỦA RỆP SÁP GIẢ Planococcus citri Risso
GÂY HẠI BƯỞI NĂM ROI TẠI
TỈNH TIỀN GIANG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: MSSV:
PGs.TS Trần Văn Hai Hồ Lê Tuấn Thanh 3060549
Ks Nguyễn Thị Diệu Hương Nguyễn Thị Diểm 3065354 Lớp: Trồng Trọt K32
Cần Thơ, 2010
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BẢO VỆ THỰC VẬT
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Trồng Trọt với đề tài:
HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM SINH HỌC VÀ VÒNG ĐỜI
CỦA RỆP SÁP GIẢ Planococcus citri Risso GÂY HẠI
BƯỞI NĂM ROI TẠI TỈNH TIỀN GIANG
Sinh viên thực hiện: Hồ Lê Tuấn Thanh và Nguyễn Thị Diểm
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày… tháng…năm 2010
Cán bộ hướng dẫn
PGs Ts Trần Văn Hai
Ks Nguyễn Thị Diệu Hương
Trang 4BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận thực tập tốt nghiệp Kỹ sư
Trồng Trọt với đề tài:
HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM SINH HỌC VÀ VÒNG ĐỜI
CỦA RỆP SÁP GIẢ (Planococcus citri Risso) GÂY HẠI
BƯỞI NĂM ROI TẠI TỈNH TIỀN GIANG
Do sinh viên Hồ Lê Tuấn Thanh và Nguyễn Thị Diểm thực hiện Ý kiến của Hội
đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Đề tài tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
Cần Thơ, ngày … tháng… năm 2010
CHỦ NHIỆM KHOA NN & SHUD
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân chúng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Đồng tác giả luận văn
Hồ Lê Tuấn Thanh
Nguyễn Thị Diểm
Trang 6TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ tên sinh viên: Hồ Lê Tuấn Thanh
Sinh ngày: 22/11/1989
Con ông: Hồ Pha Nhựt Thanh và bà: Lê Thị Tuyết Mảnh
Nguyên quán: Ấp Mỹ Hưng, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Tóm tắt quá trình học tập:
- Tốt nghiệp phổ thông trung học năm 2006, tại trường trung học phổ thông Phạm Thành Trung
- Vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2006, học lớp Trồng Trọt khóa
32 thuộc Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng Tốt nghiệp Kỹ sư Trồng Trọt năm 2010
Trang 7TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ tên sinh viên: Nguyễn Thị Diểm
Sinh ngày: 16/03/1988
Con ông: nguyễn văn E và bà: Nguyễn Ngọc Thưởng
Nguyên quán: ấp An Bình, xã An Lạc Thôn, huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc
Trăng
Tóm tắt quá trình học tập:
- Tốt nghiệp phổ thông trung học năm 2005, tại trường trung học
phổ thông An Lạc Thôn
- Vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2006, học lớp Trồng Trọt khóa
32 thuộc Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng Tốt nghiệp Kỹ sư Trồng Trọt năm 2010
Trang 8LỜI CẢM TẠ
Kính dâng
Cha Mẹ và gia đình đã suốt đời hết lòng vì chúng con
Tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Thầy Trần Văn Hai và cô Nguyễn Thị Diệu Hương đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt nhiều kinh nghiệm quý báu giúp chúng em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
Chân thành cảm ơn
- Các thầy cô, cô cố vấn học tập: Lê Thị Xua cùng toàn thể thầy cô khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức và tâm huyết vô cùng quý báu cho chúng em trong suốt thời gian em học tại trường Đặc biệt là quý thầy cô thuộc bộ môn Bảo Vệ Thực Vật
đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em hoàn thành luận văn này
- Xin cám ơn toàn thể các bạn lớp Trồng Trọt K32 đặc biệt là các bạn: Lê Chí Ngoan, Tống Hồ Nam, Nguyễn Hiền Huỳnh, Lê Thị Cẩm Tú…đã giúp đỡ
và động viên tôi trong suốt quá trình làm thí nghiệm để hoàn thành đề tài
Thân gởi đến các bạn lớp Trồng Trọt K32 và các bạn sinh viên khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng lời chúc tốt đẹp nhất
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM TẠ vi
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT x
DANH SÁCH BẢNG xi
DANH SÁCH HÌNH xii
TÓM LƯỢC xiii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Nguồn gốc và một số đặc tính thực vật của bưởi Năm Roi 2
1.1.1 Nguồn gốc 2
1.1.2 Một số đặc tính thực vật 2
1.1.3 Yêu cầu điều kiện sinh thái 3
1.2 Giới thiệu chung về rệp sáp giả (RSG) 4
1.2.1 Phân loại 4
1.2.2 Ký chủ 4
1.2.3 Thành phần rệp sáp giả trên cây có múi 4
1.2.4 Một số đặc điểm của loài rệp sáp giả (planococcus citri Riso) 5
1.2.5 Biện pháp phòng trừ 7
1.3 Nấm xanh Metarhizium anisopliae (Metch.) Sorok 8
1.3.1 Phân loại và phân bố 8
1.3.2 Một số đặc điểm hình thái 8
1.3.3 Khả năng sinh độc tố diệt côn trùng 9
1.3.4 Cơ chế tác động của nấm xanh Metarhizium anisopliae lên côn trùng 9
1.3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của nấm Metarhizium anisopliae 9
1.3.6 Những thành tựu và ứng dụng 10
1.4 Nấm tím Paecilomyces sp 11
Trang 101.4.1 Phân loại và phân bố 11
1.4.2 Một số đặc điểm hình thái 11
1.4.3 Khả năng sinh độc tố diệt côn trùng 11
1.4.4 Cơ chế tác động của nấm tím Paecilomyces sp lên côn trùng 11
1.4.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của nấm 12 1.4.6 Những thành tựu và ứng dụng 12
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 13
2.1 Phương tiện 13
2.1.1 Thời gian và địa điểm 13
2.1.2 Vật liệu và dụng cụ 13
2.2 Phương pháp 14
2.2.1 Khảo sát một số đặc điểm hình thái sinh học và vòng đời của Rệp Sáp Giả Planococcus citri Risso 14
2.2.2 Thử nghiệm hiệu lực của các loài nấm ký sinh trên rệp sáp giả (RSG) Planococcus citri Risso gây hại bưởi Năm Roi 15
CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ THẢO LUẬN 19
3.1 Một số đặc điểm hình thái, sinh học và vòng đời của RSG Planococcus citri Risso 19
3.1.1 Một số đặc điểm hình thái của rệp sáp giả Planococcus citri Risso trong điều kiện phòng thí nghiệm 19
3.1.2 Một số đặc điểm sinh học và vòng đời của rệp sáp giả Planococcus citri Risso trong điều kiện phòng thí nghiêm 20
3.2 Thử nghiệm hiệu lực của các chế phẩm sinh học trên RSG Planococcus citri Risso gây hại bưởi Năm Roi 22
3.2.1 Thí nghiệm 1: Khả năng diệt trừ RSG Planococcus citri Risso của các chế phẩm Ma 1 -RS, Ma 2 -RS, Ma 3 -RS và Ma-BD trong điều kiện phòng thí nghiệm 22
3.2.2 Thí nghiệm 2: Khả năng diệt trừ rệp sáp giả Planococcus citri Risso của các chế phẩm Pae-N, Pae-BXN, Pae-BN, Pae-RN trong điều kiện phòng thí nghiệm 24
Trang 113.2.3 Thí nghiệm 3: Khả năng diệt trừ rệp sáp giả Planococcus citri
Risso của các loại chế phẩm từ nấm Ma 2 -RS, Ma-BD, Pae-RN, Pae-N
trong điều kiện nhà lưới thực hiện từ 01/04/2010 đến 14/04/2010 26
3.2.4 Thí nghiệm 4: Khả năng diệt trừ RSG Planococcus citri Risso của các loại chế phẩm từ nấm Ma 2 -RS, Ma-BD, Pae-RN, Pae-N ở điều kiện ngoài đồng thực hiện từ 7/04/2010 đến 26/04/2010 28
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33
4.1 Kết luận 33
4.2 Đề nghị 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 12DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
Ma1-RS Metarhizium 1 anisopliae
Ma2-RS Metarhizium 2 anisopliae
Trang 13DANH SÁCH BẢNG
3.1 Kích thước của rệp sáp giả Planococcus citri Risso qua các giai
đoạn phát dục trong diều kiện phòng thí nghiệm qua 2 đợt nuôi từ
tháng 11/2009 đến tháng 4/2010
19
3.2 Tỷ lệ đực cái và khả năng sinh sản của rệp sáp Planococcus citri
Risso trong điều kiện phòng thí nghiệm qua 2 đợt nuôi từ tháng
11/2009 đến tháng 4/2010
20
3.3 Thời gian các pha sinh trưởng của rệp sáp giả Planococcus citri
Risso trong điều kiện phòng thí nhiệm qua 2 đợt nuôi từ tháng
11/2009 đến tháng 4/2010
21
3.4 Độ hữu hiệu của các loài nấm xanh Ma (Metarhizium anisopliae
Sorokin) ký sinh lên RS Planococcus citri Risso gây hại BNR trong
điều kiện phòng thí nghiệm
22
3.5 Tỷ lệ RSG Planococucs citri bị nhiễm nấm lại của thí nghiệm 1 23
3.6 Độ hữu hiệu của các loài nấm tím Pae (Paecilomyces sp.) ký sinh
lên RSG Planococcus citri Risso gây hại BNR trong điều kiện
3.8 Độ hữu hiệu của các loài nấm ký sinh lên RS Planococcus citri gây
hại BNR trong điều kiện nhà lưới
26 3.9 Tỷ lệ RSG Planococucs citri Risso bị nhiễm nấm lại của thí
nghiệm 3
27
3.10 Độ hữu hiệu của các loài nấm ký sinh lên RS Planococcus citri gây
hại BNR trong điều kiện ngoài đồng
28
3.11 Tỷ lệ RSG Planococucs citri bị nhiễm nấm lại của thí nghiệm 4 29
Trang 143.7 (a) Bố trí thí nghiệm ở nhà lưới; (b) bố trí thí nghiệm ngoài 32
Trang 15Nguyễn Thị Diểm và Hồ Lê Tuấn Thanh, 2010 “Hiệu lực của một số chế phẩm
sinh học và vòng đời của Rệp Sáp Giả (Planococcus citri Risso) gây hại
bưởi năm roi tại tỉnh Tiền Giang” Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Trồng Trọt,
khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại học Cần Thơ
TÓM LƯỢC
Nhằm mục đích tìm ra các loại chế phẩm có khả năng ký sinh mạnh trên
Rệp Sáp (Planococcus citri Risso) là đối tượng khó phòng trị trên Bưởi Năm Roi Bên cạnh đó để phân biệt và nhận dạng RSG Planococcus citri với loài
RSG khác đồng thời dự đoán khả năng gây hại, xác định thời gian gây hại mạnh nhất của rệp sáp và tìm biện pháp phòng trị Nên chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài “Hiệu lực của một số chế phẩm sinh học và vòng đời của Rệp Sáp Giả
(Planococcus citri Risso) gây hại bưởi Năm Roi tại tỉnh Tiền Giang” Đề tài
được thực hiện từ tháng 11/2009 đến tháng 04/2010 ở Bộ Môn BVTV, Khoa Nông Nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT và vườn nhà ông Hồ Pha Nhựt Thanh,
xã Thiện Chí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
Kết quả đạt được như sau:
Qua kết quả khảo sát vòng đời của RSG Planococcus citri Risso cho thấy
chúng có khả năng sinh sản cao (213,2 ± 22,4 con/con cái), vòng đời ngắn (30 ± 0,9 ngày) Ấu trùng tuổi 1 có thời gian sinh truởng ngắn nhất khoảng 6,5 ± 0,7 ngày Ấu trùng tuổi 2 có thời gian phát triển dài nhất khoảng 8,5 ± 1,0 ngày Thời gian phát triển của ấu trùng tuổi 3 là 8,0 ± 0,8 ngày Tổng thời gian phát triển của pha sâu non là16 ± 0,9 ngày Tuổi thọ thành trùng cái trung bình 23,5
± 1,45 ngày
Trong điều kiện phòng thí nghiệm, qua kết quả của thí nghiệm 1 nghi nhận được hiệu lực của 4 loại chế phẩm Ma1-RS, Ma2-RS, Ma3-RS và Ma-BD cho thấy chúng đều tỏ ra có hiệu quả trong phòng trừ RSG sau 13 ngày Trong
đó, 2 nghiệm thức Ma-Bd (63,0%) và Ma2-RS (46,1%) cho hiệu quả phòng trừ khá nhất ở các thời điểm khảo sát Bên cạnh đó, kết quả khảo sát hiệu lực của 4 loại chế phẩm Pae-N, Pae-BN, Pae-BXN và Pae-RN (thí nghiệm 2) cho thấy Pae-N và Pae-RN cho hiệu quả ký sinh cao nhất (49,5%) và 45,5%) so với các
Trang 16nghiệm thức còn lại và cho hiệu quả phòng trừ khá nhất ở các thời điểm khảo sát
Trong điều kiện nhà lưới, kết quả hiệu lực của 4 loại chế phẩm từ nấm
Ma2-RS, Ma-BD, Pae-N và Pae-RN ký sinh lên RSG hại bưởi Năm Roi cho thấy
Ma2-RS (55,2%), Ma-BD (71,7%), Pae-N (61,7%), Pae-RN (57,3%) đều tỏ ra có hiệu quả trong phòng trừ RSG ở thời ddierm 13 NSKP Trong đó, Ma-BD và Pae-N cho hiệu quả phòng trừ khá nhất từ 7 NSKP
Trong điều kiện ngoài đồng, hiệu lực của 4 loại chế phẩm điều cho kết quả khá tốt ở thời điểm 20 NSKP Trong đó Ma2-RS (74,2%), Ma-Bd (78,4), Pae-N (85,1%), Pae-RN (72,0%) đều tỏ ra có hiệu quả trong phòng trừ RSG Với Ma-BD (78,4%) và Pae-N (85,1%) cho hiệu quả phòng trừ khá nhất kể từ 15 NSKP
Tỷ lệ nhiễm nấm trở lại của nghiệm thức Ma2-RS và Ma-BD cao hơn các nghiệm thức khác ở tất cả các thời điểm trong thí nghiệm 1 (50% và 66,5% ở thời điểm 16 NSKP) Ở thí nghiệm 2 Pae-N và Pae-RN có tỷ lệ nhiễm nấm khá nhất (72,7% và 63,6%) Trong thí nghiệm 3 tỷ lệ nhiễm nấm trở lại cao nhất của Pae-N là 75% và cao nhất của Ma-BD là 80% Đến thí nghiệm 4 sau 27 ngày phun chế phẩm nghiệm thức Pae-N cho kết quả cao nhất (75%) kế đến Ma-BD (60%)
Trang 17MỞ ĐẦU
Bưởi Năm Roi là đặc sản có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, được trồng ở nhiều nơi và thở thành một trong các loại trái cây có giá trị cả nước và là mặt hàng xuất khẩu rất được ưa chuộng trên thế giới Theo Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam (2007) Đồng Bằng Sông Cửu Long có hơn 10.000 ha trồng bưởi Năm Roi và dự kiến năm 2010 sẽ nâng diện tích lên 13.000 ha để vừa đáp ứng nhu cầu thị trường của Việt Nam, vừa tăng thêm nguồn nông phẩm xuất khẩu Cùng với sự gia tăng về diện tích thì việc thâm canh ngày càng tăng cao, dễ dẫn đến nguy cơ
bùng phát dịch hại trên cây có múi Trong đó, rệp sáp giả (RSG) Planococcus citri
Risso là loài dịch hại nghiêm trọng và khó phòng trị do chúng có phổ ký chủ rộng
Cả thành trùng và ấu trùng đều gây hại bằng cách chích hút lá, cành, trái, cuống trái,… khi bị nặng lá bị vàng, rụng, cành bị khô và chết, trái có thể bị biến màu, phát triển kém và rụng Đặc biệt, khi RSG chui xuống đất sẽ bám vào hút dịch ở gốc thân, cổ rễ cây, khi mật số cao tạo thành những ổ rệp bao quanh nơi bị hại làm giảm khả năng hút nước, chất dinh dưỡng của cây, gây ra hiện tượng héo xanh Khi rễ bị hại nặng cây rất cằn cỗi, ra hoa kết trái rất kém, rụng lá và chết Ngoài ra, mật ngọt
do RSG tiết ra còn hấp dẫn nấm bồ hóng phát triển làm ảnh hưởng đến quang hợp
và gây thối rễ cây
Nhưng việc sử dụng các loại thuốc hóa học theo phương pháp cổ truyền không thể đảm bảo được an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng và không đáp ứng được yêu cầu của nước ngoài theo hướng Global GAP Nếu quản lý không tốt có thể bùng phát thành dịch tạo ra những dòng sâu bênh kháng thuốc cao sẽ gây rất nhiều khó khăn trong công tác phòng dịch Bên cạnh đó có thể tiêu diệt một số thiên địch có lợi gây mất cân bằng hệ sinh thái vườn cây ăn trái Chính vì vậy việc sản xuất những loại thuốc sinh học ít độc với con người và môi trường đã và đang là xu hướng mới được nhiều nhà khoa học trong nước và thế giới rất quan tâm Một trong
số những nghiên cứu về việc phòng trừ côn trùng gây hại trên cây ăn trái hiện nay là việc ứng dụng các loại nấm ký sinh trên côn trùng được phát hiện rất nhiều trong tự nhiên mà ta có thể phân lập được từ xác côn trùng chết do nấm
Do đó, phòng trị rệp sáp giả một cách có hiệu quả theo phương pháp sinh học,
đề tài “Hiệu lực của một số chế phẩm nấm ký sinh và vòng đời của rệp sáp giả
Planococcus citri Risso gây hại bưởi năm roi tại Tiền Giang" nhằm dự đoán khả
năng gây hại, xác định các giai đoạn sinh trưởng và thời gian gây hại mạnh nhất của RSG và tìm biện pháp phòng trị Bên cạnh đó tìm ra chế phẩm sinh học có hiệu quả cao đối với RSG mà không gây hại đến sức khỏe của con người, vật nuôi và thân thiện với môi trường
Trang 18Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CỦA BƯỞI NĂM ROI
1.1.1 Nguồn gốc
Bưởi Năm Roi có tên khoa học là Citrus Maxima (Burm.) Merr, thuộc nhóm Citrus và họ Rutacea., tên tiếng Anh “Nam Roi” pummelo (Nguyễn Minh Châu,
2009)
Theo Đường Hồng Dật (2002), Trần Thế Tục và ctv., (1998) cây bưởi có
nguồn gốc ở Ấn Độ, Trung Quốc và Đông Nam Á và có thể là giống được thuần dưỡng sớm nhất
Cây bưởi Năm Roi ngẩu nhiên được tìm thấy ở làng Mỹ Thuận, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long và từng có trước năm 1930, cho đến nay giống này đã được nhân ra và trồng rộng rãi không chỉ ở riêng Bình Minh – Vĩnh Long mà còn ở nhiều nơi khác như Cần Thơ, Sóc Trăng, Tiền Giang…
1.1.2 Một số đặc tính thực vật
1.1.2.1 Rễ
Theo Trần Thế Tục và ctv (1994)
Sự phát triển của bộ rễ thường xen kẻ với phát triển thân cành trên mặt đất
Rễ hoạt động mạnh thì thân cành sẽ hoạt động chậm và ngược lại Rễ cam quýt thường mọc cạn, đa số rễ hút dinh dưỡng phân bố gần lớp mặt
Khi rễ hoạt động mạnh, rễ lông phát triển, thân cành sẽ hoạt động chậm và ngược lại Sự hoạt động của bộ rễ thường kéo dài cả sau các đợt cành mọc rộ Sự phân bố của các bộ rễ tùy thuộc vào các yếu tố: tầng đất canh tác, hình thức nhân giống, loại giống, loại gốc ghép, mực thủy cấp và kỹ thuật trồng
- Cành mẹ: là cành tạo ra cành mang trái, thường phát triển mạnh trong mùa
hè và mùa thu Cành to khỏe, lâu tròn mình
Trang 19- Cành dinh dưỡng: là tên gọi chung cho các cành trong giai đoạn chưa ra hoa trái
- Cành vượt: là những cành mọc thẳng bên trong tán cây từ những cành chính hay thân Cành phát triển mạnh, dẹp, màu xanh, lá to bóng láng Loại cành này tiêu hao nhiều chất dinh dưỡng của cây mà không có lợi ích nhiều
1.1.2.3 Lá
Thuộc loại lá đơn gồm có cuống lá, cánh lá và phiến lá Lá non có màu xanh nhạt, mặt trên lá có lớp lông mịn, lá thành thục có hình oval đến hình elip; đế lá tròn hoặc hình trái tim; thuộc lá kép biến dạng (đơn có thùy) bìa lá khía tròn; trên hai mặt lá có nhiều tuyến tinh dầu nằm rải rác, màu lá mặt trên xanh đậm, phiến lá hình trứng, cánh lá hình trái tim ngược (Nguyễn Minh Châu, 2009)
1.1.2.4 Hoa và trái
Phát hoa mọc thành chùm ở nách lá thuộc loại hoa đơn hay hoa chùm, chùm
hoa ngắn, cánh hoa màu trắng dài khoảng 2-3.5cm (Trần Thượng Tuấn và ctv.,
1994) Hoa khá to và có lông mịn, thuộc hoa ngũ phân, bầu noãn lớn và nhiều tiểu nhị dính vào nhau (Nguyễn Minh Châu, 2009)
Trái có hình quả lê, hình cầu Ngoại quả bì là phần vỏ ngoài của trái gồm có biểu bì với lớp cutin dày và các khí khổng, chứa tinh dầu (lớp Flavedo) Trung quả
bì là phần phía trong kế ngoại quả bì Đây là một lớp gồm nhiều tầng tế bào hợp thành, có màu trắng xốp Nội quả bì gồm các múi được bao quanh bởi vách mỏng trong suốt, trong mỗi múi các lông của nội quả bì mọng nước biến thành con tép (Trần Thế Tục và ctv.,1994) Tép có màu vàng nhạt, bó chặt, dễ tách khỏi vách múi
và nhiều nước Thịt quả mềm, vị chua nhẹ (độ Brix 9 – 11%), tỷ lệ thịt quả ≥ 60% ít hạt đến không hạt ở các vườn trồng chuyên canh ( Nguyễn Minh Châu, 2009)
1.1.3 Yêu cầu điều kiện sinh thái
Theo Nguyễn Danh Vàn (2008)
- Nhiệt độ thích hợp nhất từ 23oC – 29oC Nhiệt độ thấp hơn 12oC và cao hơn
40oC cây sẽ bị khô héo và rụng lá Bưởi có thể sống trong khoảng nhiệt độ 12oC –
34oC
- Nước: Bưởi là loại cây ưa ẩm nhưng không chịu được úng vì rễ của bưởi thuộc loại rễ nấm (hút dinh dưỡng qua một hệ nấm cộng sinh), do đó nếu ngập nước đất bị thiếu oxy rễ sẽ họat động kém, ngập lâu sẽ bị thối chết làm rụng lá, quả non Nhìn chung, lượng mưa ở các vùng sản xuất nông nghiệp ở nước ta (1400 –
2500 mm/năm) là đủ cho nhu cầu nước của cây bưởi
Trang 20- Đất đai: Đất trồng bưởi tốt nhất là đất có tầng canh tác dày từ 1m trở lên giàu mùn (hàm lượng mùn trong đất từ 2-2,5% trở lên), tơi xốp, giữ ẩm tốt, thoáng khí, hàm lượng các chất dinh dưỡng N, P, K, Ca, Mg, … đạt từ trung bình khá trở lên (N: 0,1-0,15%; P2O: 5-8mg/100 g đất; K2O: 7-10 mg/100 g đất; Ca, Mg: 3-4 mg/100g đất) Độ chua thích hộp từ 5,5-7,5
- Ánh sáng: Bưởi là cây ưa ánh sáng hơn các cây khác trong cây có múi Chúng phù hợp với ánh sáng tán xạ, cường độ khoảng 10.000 –15.000 lux
1.2 GIỚI THIỆU CHUNG VÈ RỆP SÁP
Loài: Planococcus citri Risso
Rệp Sáp có nguồn gốc ở Châu Mỹ và sau đó lan rộng sang các vùng khác Chúng xuất hiện chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Tại Châu Á, hiện diện chủ yếu ở Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật, Indonesia, Srilanka, Philippines, Việt Nam,… (Nguyễn Hữu Tho, 2007)
1.2.2 Ký chủ
Rệp Sáp thuộc loài đa ký chủ, tấn công trên 100 giống cây trồng thuộc 53 họ Kết quả điều tra cho thấy nhóm Rệp Sáp này gây hại ở Việt Nam với số lượng và loài tương đối phong phú như trên cây có múi, Cóc, Khóm, Ổi, Sapô, Xoài, Sầu
Riêng, Mãng Cầu, Cà Phê, Tiêu,… (Liễu Triều Tiến, 2008)
Rệp sáp giả Planococcus citri Risso thuộc nhóm rệp sáp bông Đây là loài
rệp sáp xuất hiện phổ biến trên cây có múi như Cam, Chanh, Quýt, Bưởi… chúng
có kích thước nhỏ, gây hại bằng cách chích hút dịch cây trồng (lá, trái, cành, thân…), cơ thể tiết ra một lớp sáp che chở (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
1.2.3 Thành phần rệp sáp giả trên cây có múi
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), tại Đồng bằng sông Cửu Long bứơc đầu
đã ghi nhận có trên 16 loài rệp sáp hiện diện trên cây Cam, Chanh, Quýt…bao gồm
Planococcus citri, Planococcus lilacinus, Pseudococcus citriculus, Pseudococcus
sp., Saissetia coffeae, Chrysomlanus sp., Pulvinaria sp., Iserya purchasi, Aonidiella
Trang 21sp., Aonidiella durAantii, Asdipiotus sp., Lepidosaphes beskii, Rastrococcus sp.,
Coccus hesperidium, Coccus spp., Lecanium sp
Kết quả điều tra của Lê Quốc Điền và ctv (2002 – 2003), trên cây Cam,
Bưởi, Chanh tại Tiền Giang và Bến Tre ghi nhận có 10 loài rệp sáp gây hại Trong
đó có 2 loài Planococcus citri Riso gây hại trên trái, lá, cành, rể và Dysmicoccus sp
gây hại trên gốc thân, rể… (trích dẫn bởi Nguyễn Hữu Tho, 2007)
1.2.4 Một số đặc điểm của loài rệp sáp giả (Planococcus citri Riso)
1.2.4.1 Đặc điểm hình thái
Thành trùng cái RSG Planococcus citri Risso có chiều dài trung bình là 2.6 ±
0.03 mm Cơ thể hình ô van hơi tròn, lưng hơi vòng lên, trên lưng có lớp sáp trắng dày bao phủ, tạo thành những vân sáp ngang lưng theo các đốt của cơ thể Xung quanh cơ thể có 18 cặp tua sáp, các cặp tua sáp từ nữa cơ thể trở về sau lớn và dài hơn các cặp tua sáp từ nữa cơ thể trở về phía đầu Riêng cặp tua sáp thứ 18 có kích thước dài hơn tất cả các cặp tua sáp còn lại và uốn cong về hai bên rìa của cơ thể (Nguyễn Hữu Tho, 2007)
Theo Nguyễn Thị Chắt (2003), RSG Planococcus citri Risso có 17 cặp tua
sáp, những cặp tua sáp cuối bụng dài hơn các cặp tua sáp phía hai bên sườn và phía đầu, đặt biệt cặp tua sáp thứ 17 hơi cong sang hai bên Bên dưới lớp bột sáp cơ thể
có màu nâu hồng hoặc màu vàng
1.2.4.2 Đặc điểm sinh học
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), các loài rệp sáp có khả năng sinh sản cao,
có loài đẻ trứng, có loài đẻ con, nếu điều kiện môi trường thích hợp có khả năng bộc phát nhanh Quá trình phát triển của rệp sáp rất phức tạp, thành trùng cái đều không
có cánh Nhiều loài ấu trùng tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 và thành trùng vẩn có thể di chuyển Thông thường quá trình phát triển của RSG cái trải qua 3 giai đoạn: trứng –
ấu trùng (thường có 3 tuổi) – thành trùng
Ấu trùng RSG có màu vàng cam di chuyển rất nhanh Ấu trùng RSG cái tuổi
1 – 2 thường di chuyển phát tán rất mạnh nhưng từ tuổi 3 đến trưởng thành chúng thường nằm yên tại chổ và chỉ di chuyển khi có tác động từ bên ngoài Tuổi thọ của RSG trưởng thành thay đổi theo mùa trong năm, tuổi thọ thành trùng cái khá dài từ
20 – 33 ngày, tuổi thọ thành trùng đực rất ngắn từ 3 – 5 ngày (Nguyễn Văn Liêm, 2005)
Trang 221.2.4.3 Tập tính gây hại
Theo Nguyễn Hữu Tho (2007)
Rệp sáp giả Planococcus citri Riso sinh sản và phát triển thành quần thể, gây
hại từ giai đoạn rễ còn non cho đến khi rễ chết hoàn toàn Khi quần thể rệp sáp cao, thì phần rễ bị hại tạo thành khối u bao quanh RSG ký sinh trên rễ làm cho rễ không phát triển, còi cọc, khô và chết Giai đoạn mới ký sinh, RSG thường tập trung ở phần tiếp giáp giữa gốc thân và mặt đất, hoặc những khe, rãnh trên rễ cây phần nằm dưới mặt đất
Ấu trùng tuổi 1 (con đực và cái) có thể di chuyển và hình dạng giống như thành trùng nhỏ, chúng chỉ sống 1 ngày không mà ăn, khi ăn chúng bám vào một vị trí cố định và chích hút Ấu trùng là giai đoạn họat động nhất của chúng, có thể di chuyển từ cây này sang cây khác và phát triển suốt thời kỳ tăng trưởng để trở thành thành trùng và đây cũng là giai đoạn dể phòng trị nhất
Lá có ổ rệp thường bị uốn cong, dị hình, cành sinh trưởng kém, nếu gây hại nhẹ (giai đoạn đầu mới ký sinh) lá vẫn giữ màu xanh, đấy là giai đoạh rất khó phát hiện được sự gay hại của RSG Nếu bị nhiễm rệp nặng lá sẽ chuyển từ vàng nhạt sang vàng đậm trên toàn cây và nhỏ hơn bình thường như triệu chứng thiếu chất dinh dưỡng nhưng kèm theo hiện tượng lá bị héo cụp lại khi trời nắng
Sau thời gian RS phát sinh thường có nấm bồ hóng đen phát triển trên chất thải do RSG tiết ra làm đen vỏ quả, mặt lá gây trở ngại khả năng quang hợp của cây (Trần Ngọc Mai, 2009)
1.2.4.4 Vòng đời
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) chu kỳ sinh trưởng của rệp sáp ngắn (đa
số dứơi 1 tháng trong điều kiện Đồng Bằng Sông Cửu Long)
Theo Waterhouse (1998) vòng đời của RSG Planococcus citri Risso thay đổi
trong khoảng 20 – 40 ngày tùy theo nhiệt độ và cây ký chủ
Khả năng đẻ ra con của RSG trên cacao nhiều hơn trên cây mãng cầu xiêm Điều này có thể do ca cao là một trong những ký chủ ưa thích nhất của RSG (Nguyễn Thị Chắt, 2003)
Tuổi của ấu trùng được xác định theo Kosztarab (1988):
- Ấu trùng tuổi 1: bò rất nhanh, lưng chưa có sáp bao phủ và chưa xuất hiện ostioles
- Ấu trùng tuổi 2: bò nhanh, lưng có xuất hiện bột sáp trắng và xuất hiên 1 cặp ostioles trên lưng của bụng
Trang 23- Ấu trùng tuổi 3: di chuyển chậm, lung xuất hiện nhiều bột sáp và có 2 cặp ostioles trên lưng đầu ngực và lưng bụng
- Trưởng thành: di chuyển rất chậm, lưng xuất hiện rất nhiều bột sáp, có 2 cặp ostioles trên lưng đầu ngực và lưng bụng và 17 cặp tua sáp xung quanh cơ thể Theo Nguyễn Hữu Tho (2007)
Vòng đời của RSG thay đổi khác nhau tùy theo loài Có ba giai đoạn trong vòng đời của chúng: trứng, ấu trùng và thành trùng
Thành trùng cái có thể đẻ hơn 600 trứng, trứng được đẻ bên trong túi sáp trông giống như bông do con cái tạo ra lúc sinh sản trứng ủ sau 10 ngày (6 – 14 ngày) sẽ nở thành ấu trùng tuổi 1
Giai đoạn thành trùng của đa số loài RSG cũng có tính họat động không giống như các loài rệp sáp khác trên cây, RSG luôn di chuyển để tìm vị trí chích hút Tuy nhiên một số loài rệp sáp phấn không đẻ trứng mà đẻ con và mang các con
1.2.5.2 Biện pháp sinh học
- Sử dụng dầu và xà bông: Dầu khoáng có hiệu quả ngăn chặn sự xâm nhiễm của RS Cơ chế tác động là làm ngạt thở côn trùng Khi phun các loại thuốc này nên phun đều khắp cây và không nên phun vào những ngày nắng nóng (trên 29,5 oC) hoặc dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp, để ngừa cháy mô cây
- Sử dụng thiên địch: Trong tự nhiên RSG rất dễ bị tấn công bởi côn trùng
ký sinh, ăn thịt và vi sinh vật gây bệnh
- Nhóm côn trùng ký sinh: chủ yếu là các ong ký sinh và ruồi ký sinh, chúng
đẻ trứng trong RS, ấu trùng sau khi nở sẽ ăn bên trong cơ thể RS, làm RS chết Sau
đó chúng chui ra và lặp lại chu kỳ sinh sản
Theo Viggiani (1974), RSG thường bị ong ký sinh trong họ Encyrtidae như:
Anagyrus pseudococci, A boemani, Achrysopophagus sp., Leptomastidae abnormis,… (trích dẫn bởi Nguyễn Công Thuật, 1995)
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2002), ruồi ký sinh phổ biến chủ yếu trong họ Tachinidae
Trang 24- Nhóm côn trùng ăn mồi: chúng sử dụng miệng để nhai gặm RS (như Bọ rùa, Kiến vàng, Bọ ngựa, …) hoặc sử dụng miệng chích hút để hút dịch cơ thể RS (như Bọ xít bắt mồi, Ruồi ăn mồi và Nhện)
- Nhóm vi sinh vật gây bệnh: bao gồm các loài nấm, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, nguyên sinh động vật và tuyến trùng Một số vi sinh vật có ý nghĩa lớn trong công
tác phòng trừ côn trùng thường thấy trên cây có múi là nấm Beauveria bassiana,
Metarhizium anisopliae, vi khuẩn Bacilus thurigiensis, virus NPV, … Biện pháp hóa
học
1.2.5.3 Biện pháp hóa học
Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2002), để trừ RSG nên sử dụng các loại thuốc nội hấp và xông hơi Vì thuốc nội hấp và xông hơi khi rệp hút nhựa cây hay hô hấp thuốc sẽ xâm nhập vào cơ thể làm chết rệp
Theo Lưu Bá Hòa (2006), trong điều kiện ngoài đồng có thể sử dụng nhiều loại thuốc để phòng trị RSG và kiến như: Diaphos, Fenitrothion, Methidathion, Disulfoton, Bassa, Sagomycin và Padan…
1.3 NẤM XANH Metarhizium anisopliae (Metch.) Sorok
1.3.1 Phân loại và phân bố
Xếp theo hệ thống phân loại nấm của Anisworth, 1966, 1970, 1971 (trích dẫn
bởi Phạm Thị Thùy, 2004), cho rằng nấm Metarhizium anisopliae (Ma) thuộc ngành
phụ lớp nấm bất toàn (Deuteromycetes), giống Metarhizium Một giả thiết khác cho rằng nấm Ma thuộc ngành phụ lớp nấm túi Ascomycotina, lớp Plectomyces và giống Metarhizium
Nấm Ma là nấm gây hại côn trùng, xuất hiện phổ biến trong tự nhiên, có thể phân lập từ xác côn trùng chết hay được phân lập từ trong đất
1.3.2 Một số đặc điểm hình thái
Nấm Ma vì có màu lục hoặc xanh lục nên người ta thường gọi là nấm lục cương Nấm có dạng sợi phân nhánh, có vách ngăn ngang, đường kính 3n – 4m (Trần Thị Thanh, 2000)
Bào tử trần hình que có kích thước 3,5 x 6,4 x 7,2m, màu từ lục xám đến ôliu - lục, bào tử xếp thành chuỗi khá chặt chẽ và nhìn bằng mắt thường có thể thấy bào tử được tạo ra trên bề mặt cơ thể côn trùng một lớp phấn khá rõ màu xanh lục, sợi nấm phát triển bên trong côn trùng chia thành nhiều tế bòa ngắn, trong tế bào có thể thấy rõ nhiều giọt mỡ (Phạm Thị Thùy, 2004)
Trang 25Metarhizium anisopliae có 2 dạng bào tử nhỏ và lớn, dạng bào tử nhỏ Metarhizium anisopliae var anisopliae có kích thước bào tử 3,5 - 5,0 x 2,5 -
4,5 m, dạng bào tử lớn là Metarhizium anisopliae var major có kích thước bào tử
10,0 - 14,0m (Lâm Tố Oanh, 2005)
1.3.3 Khả năng sinh độc tố diệt côn trùng
Nấm Ma có một số ngoại độc tố như Destruxin A, B, C hay D Các ngoại độc tố đó là những sản phẩm thứ cấp vòng peptid, L - prolyne, L - leucine, anhydride, L - prolyne - L - valine anhydride và Desmethyl Destruxin B
Năm 1961, 1962, Kodaira đã tách được độc tố Destruxin A, và Destruxin B
từ dịch nuôi cấy nấm lục cương Metarhizium anisopliae
Tamura và cs (1965 – 1970) đã tiến hành nuôi cấy nấm lục cương Các tác
giả cũng tách được những độc tố trên từ môi trường Czapek – Dox có chứa 0,5% pepton Từ 1 lít dung dịch nuôi cấy người ta có thể thu nhận được 13 - 15mg độc tố Destruxin A và B, dịch lọc được xử lý bằng than hoạt tính rồi được phản hấp thụ bằng N - butanol, sau đó được tách bằng benzen và được làm sạch trên cột nhôm oxit trung tính (trích dẫn bởi Phạm Thị Thùy, 2004)
1.3.4 Cơ chế tác động của nấm xanh Metarhizium anisopliae lên côn trùng
Những bào tử của nấm Ma khi dính vào côn trùng, gặp điều kiện thuận lợi sẽ
nẩy mầm và mọc thành sợi nấm xuyên qua vỏ kitin của côn trùng Chúng phát triển trong cơ thể côn trùng tạo thành ống mầm xuyên qua vỏ côn trùng, tiếp tục phân nhánh tạo thành mạng sợi chằng chịt bên trong cơ thể côn trùng Côn trùng huy
động tất cả tế bào bạch huyết (lympho - cyte) để chống đỡ, nhưng nấm Ma đã sử
dụng độc tố Destruxin A và B làm cho tế bào bạch huyết lần lượt bị tiêu diệt, đây cũng là lúc côn trùng chết, cơ thể cứng lại là do các sợi nấm đan xen lại với nhau Cũng có trường hợp khi bị nấm tấn công cơ thể côn trùng bị ngắn lại hoặc bị khô do
hệ thống tiêu hoá bị tổn thương hoặc do thiếu nguồn thức ăn Khi nấm Ma ký sinh
thì tuyến mỡ và mô khác của côn trùng bị hòa tan do lipaza và proteaza của nấm tiết
ra (Phạm Thị Thùy, 2004)
1.3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của nấm
Metarhizium anisopliae
Theo Phạm Thị Thùy (2004)
- Nhiệt độ và ẩm độ: là hai yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự sinh
trưởng và phát triển của nấm Metarhizium anisopliae Theo kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ Thực vật xác định phạm vi nhiệt độ thích hợp cho nấm Metarhizium
Trang 26anisopliae phát triển tốt, phát triển đều trong khoảng 25 - 300C Ẩm độ thích hợp trong phạm vi từ 80 - 90%, trên hoặc dưới ngưỡng nhiệt - ẩm độ đó thì nấm sẽ phát triển yếu, khi nhiệt độ quá cao thì bào tử dễ bị chết hoặc không hình thành bào tử
- Ánh sáng: qua nhiều năm sản xuất nấm côn trùng, Viện Bảo vệ Thực vật xác định nấm Ma phát triển tốt trong điều kiện ánh sáng yếu, chỉ cần một lượng ánh sáng nhỏ trong ngày với thời gian 6 - 8 giờ cũng đủ cho nấm phát triển tốt Nếu dưới ánh sáng trực xạ nấm này rất khó nẩy mầm Vì vậy, phòng nuôi cấy nấm cần phải che ánh sáng mặt trời để hạn chế tia tử ngoại
- Độ thoáng khí: nấm Ma thuộc loại hiếu khí, khi nấm phát triển chúng đòi hỏi điều kiện có hàm lượng oxy thích hợp trong cả biên độ rộng cũng như trong
dụng cụ nuôi cấy Quá trình nghiên cứu, Phạm Thị Thùy và cs đã rút ra kết luận
phạm vi thích hợp cho nấm Ma phát triển là 0,3 - 0,7m3 môi trường/m3 không khí Nếu sản xuất lớn cần để độ dầy bề mặt (xốp) của nấm trên khay hay nia khoảng 10 - 15cm, trong phòng sản xuất có không gian thích hợp và điều kiện ẩm độ phù hợp
- Hàm lượng nước: nấm này đòi hỏi lượng nước thích hợp, nếu quá khô
hoặc quá ẩm thì nấm đều phát triển không tốt, tỷ lệ nước thích hợp trong môi trường
2004)
Tại Úc 1995, Richard Miller đã phân lập được vài trăm chủng nấm Ma từ
một nhóm côn trùng sống trong đất dưới gốc mía (Phạm Thị Thùy, 2004)
Ở Đắc Lắc, sử dụng chế phẩm Ma để trừ RS hại rễ cà phê trong điều kiện tự nhiên đạt 75% sau 7 ngày phun và 100% sau 14 ngày phun (Nguyễn Xuân Thanh và Phạm Thị Thùy, 2005)
Trang 271.4 NẤM TÍM Paecilomyces sp
1.4.1 Phân loại và phân bố
Xếp theo hệ thống phân loại nấm của Anisworth, 1966, 1970, 1971, Mccoy
và cs (1988), Samson và cs (1988) cho rằng nấm Paecilomyces sp thuộc ngành phụ lớp nấm bất toàn Deuteromycetes, giống Paecilomyces Có rất nhiều loài trên thế
giới, khoảng 31 loài và phân bố trên diện rộng trong đó có thể kể đến là
Paecilomyces farinosus, Paecilomyces fumosoroseus, Paecilomyces amoeneroseus, Paecilomyces javanicus, Paecilomyces tenuipes, Paecilomyces cicadae, Paecilomyces lilacinus, (trích dẫn bởi Nguyễn Phước Vĩnh, 2008)
Nấm Paecilomyces sp (Pae) Phân lập trên thân côn trùng ngủ nghỉ trong đất
trên thế giới có rất nhiều loài, phân bố rất rộng Nấm Pae tựa như nấm móc xanh (penicillin) và nấm chổi (Gliocladium) (Nguyễn Phước Vĩnh, 2008)
1.4.2 Một số đặc điểm hình thái
Khuẩn lạc của nấm Pae có thể có dạng thảm nhung, dạng bó sợi, màu trắng, hồng nhạt hoặc tím đinh hương, nâu vàng và nâu xám, thỉnh thoảng có màu lục nhạt Cuống bào tử phân sinh phân nhánh, mức độ phân nhánh của nấm phình to, phía trên nhỏ và uốn cong Cuống bình thường sắp xếp dạng vòng hoặc không đồng đều Bào tử phân sinh đơn bào, không màu, mọc thành chuỗi, hình bầu dục, bề mặt nhẵn hoặc có gai (Đỗ Thị Hồng, 2007)
1.4.3 Khả năng sinh độc tố diệt côn trùng
Theo Osborne et al (1990) cho rằng Paecilomyces fumosoroseus có khả năng gây chết loài Bemisia tabaci và Bemisia argentifolii trong vòng 24 - 48 giờ
nhờ tiết ra các độc tố gây hại
Dipicolinic acid (DPA), là chất dẫn xuất của pyridine, được tiết ra bởi hầu hết
các loại nấm ký sinh côn trùng như B bassiana, P farinosus, P fumosoroseus và
Verticillium lecanii DPA có vai trò quan trọng như là một nhân tố độc cho côn
trùng nhất là đối với nhộng của rầy phấn trắng Theo Fornelli et al (2004) thì liều gây chết của DPA đối với Spodoptera frugiperda là LC50 >16.7 mg/l ở phạm
vi tế bào (Nguyễn Phước Vĩnh, 2008).
1.4.4 Cơ chế tác động của nấm tím Paecilomyces sp lên côn trùng
Tác động gây bệnh của nấm trên côn trùng bằng cách bào tử nẩy mầm, xâm nhập vào cơ thể và sinh sản trong xoang làm yếu và phá hoại chức năng
trao đổi chất của côn trùng
Trang 28Bào tử nấm sau khi tiếp xúc vào da côn trùng nếu gặp điều kiện độ ẩm và nhiệt độ thích hợp sẽ phình lên, nảy mầm thành ống mầm và hình thành vòi bám Vòi bám hình thành sợi nhỏ chọc thủng vào da Sau khi xuyên qua da, sợi nấm phình to thành dạng bàn, mép bàn mọc sợi nấm rồi hình thành các sợi ngắn và nhờ
áp lực đẩy vào lớp trong cuối cùng đến da thật Nếu côn trùng lột xác, nấm lại hình thành vòi bám mới để tái xâm nhiễm (Nguyễn Phước Vĩnh, 2008)
1.4.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của nấm
Theo Trần Văn Mão (2002)
- Chất dinh dưỡng: Trong quá trình phát triển, nấm Paecilomyces sp cần nhiều
dưỡng chất, nếu thiếu chất dinh dưỡng sẽ làm hạn chế khả năng gây bệnh của nấm
đối với côn trùng Liang (1981), đã cho biết nấm Paecilomyces tenuipes khi thiếu
nguồn nitơ động vật tính gây bệnh giảm xuống rõ rệt
- Nhiệt độ và ẩm độ cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của bào tử
nấm Pae., khi nuôi cấy nấm Paecilomyces farinosus ở các điều kiện nhiệt độ khác
nhau cho thấy nhiệt độ 150C có lợi cho sự hình thành bào tử hơn là nhiệt độ 240C
Khi nuôi nấm Paecilomyces papillata, nhiệt độ thích hợp nhất là 24-260C, nhưng ở nhiệt độ 180C tỷ lệ ký sinh cao hơn 18% so với nhiệt độ 25oC Nguyên nhân này có thể là do nhiệt độ thấp sẽ làm giảm quá trình dị hoá và làm tăng quá trình đồng hóa,
từ đó làm tăng hoạt chất cho cá thể
- Ẩm độ cao sẽ rất có lợi cho bào tử nảy mầm và sinh trưởng của sợi nấm, tuy nhiên ẩm độ thấp sẽ có lợi cho duy trì sự sống của nấm Bào tử phân sinh của nấm Pae có khả năng sống lâu trong điều kiện ẩm độ từ 0-34% hơn là khi ẩm độ 75%
- Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu trong sự hình thành bào tử của nấm
Paecilomyces sp
1.4.6 Những thành tựu và ứng dụng
Năm 1981, Liang đã phân lập được nấm Pae Nấm này có thể ký sinh nhiều loài thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera), bộ nửa cánh (hemiptera), bộ cánh màng (Hymenoptera), bộ cánh vảy (Lepidoptera) và bộ hai cánh (Diptera) Người
ta sử dụng nấm Pae để phòng trừ ngài đục quả táo và sâu róm thông (Trần Văn Mão,2000)
Trang 29Chương 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm
- Thời gian thực hiện: Đề tài được thực hiện từ tháng 11/2009 đến tháng 04/2010
- Địa điểm: Thí ngiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm NEDO – Việt Nam, nhà lưới bộ môn Bảo vệ thực vật – khoa Nông nghiệp và SHƯD – trường ĐHCT
Bố trí ngoài đồng: vườn nhà ông Hồ Pha Nhựt Thanh, xã Thiện Chí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
2.1.2 Vật liệu và dụng cụ
2.1.2.1 Vật liệu
* Nguồn nấm
- Nấm xanh Metarhizium anisopliae: gồm bốn dòng nấm
Metarhizium 1 anisopliae (Ma1-RS) cho bào tử màu xanh lục đậm
Metarhizium 2 anisopliae (Ma2 -RS) cho bào tử màu vàng xanh
Metarhizium 3 anisopliae (Ma3-RS) cho bào tử màu xanh lục
Cả ba dòng nấm này đều được phân lập và tách ròng trên Rệp Sáp
Metarhizium bd anisopliae (Ma-BD) được phân lập và tách ròng trên Bọ Dừa
- Nấm tím Paecilomyces sp (Pae) được phân lập, tách ròng trên Nhện (N),
Bọ Nhảy (BN),Bọ Xích Nhãn (BXN) và trên Rầy Nâu (RN)
* Các loại chế phẩm do Bộ môn BVTV sản xuất
* Rệp Sáp Planococcus citri Risso
Thu ngoài đồng về nuôi trong phòng thí nghiệm bằng trái bí đỏ (nhân nuôi RSG vừa làm thí nghiệm, vừa quan sát vòng đời)
* Cây bưởi Năm Roi (BNR)
Cây BNR được mua từ trại giống về đem trồng trong chậu sành đã được trộn sẵn đất chung với phân hữu cơ để trong nhà lưới, các chậu được cách ly bởi nước