1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BỌ rùa THIÊN ĐỊCH của rệp sáp TRÊN một số LOẠI cây TRỒNG THÀNH PHẦN LOÀI, một số đặc điểm SINH học và KHẢ NĂNG ăn mồi

84 493 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 711,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT Y Z TRẦN NGUYỄN THANH TÂM BỌ RÙA THIÊN ĐỊCH CỦA RỆP SÁP TRÊN MỘT SỐ LOẠI CÂY TRỒNG: THÀNH PHẦN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Y Z

TRẦN NGUYỄN THANH TÂM

BỌ RÙA THIÊN ĐỊCH CỦA RỆP SÁP TRÊN

MỘT

SỐ LOẠI CÂY TRỒNG: THÀNH PHẦN LOÀI,

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

VÀ KHẢ NĂNG ĂN MỒI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT

Cần Thơ 03/2007 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Y Z

BỌ RÙA THIÊN ĐỊCH CỦA RỆP SÁP TRÊN MỘT

SỐ LOẠI CÂY TRỒNG: THÀNH PHẦN LOÀI,

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

VÀ KHẢ NĂNG ĂN MỒI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT

PGs.Ts NGUYỄN THỊ THU CÚC TRẦN NGUYỄN THANH TÂM

Cần Thơ 03/2007

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 3

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

-

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài: “Bọ rùa thiên địch của rệp sáp trên một số loại cây trồng: Thành phần loài, một số đặc điểm sinh học và khả năng ăn mồi” Do sinh viên Trần Nguyễn Thanh Tâm thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Ngày tháng năm 2007 Luận văn được hội đồng đánh giá ở mức

Ý kiến hội đồng:

Cần Thơ, ngày tháng năm 2007

DUYỆT KHOA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

-

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài:

“Bọ rùa thiên địch của rệp sáp trên một số loại cây trồng: Thành phần loài, một số đặc điểm sinh học và khả năng ăn mồi”

Do sinh viên Trần Nguyễn Thanh Tâm thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

Ngày tháng năm 2007

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

PGs Ts NGUYỄN THỊ THU CÚC Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng cha mẹ lòng biết ơn chân thành và thiêng liêng, người đã hết lòng thương yêu, hy sinh vì con và cám ơn anh chị - những người thân đã giúp đỡ động viên con trong suốt thời gian qua

Toàn thể quý Thầy, Cô trường Đại Học Cần Thơ đã dạy cho em những kiến thức đại cương, dìu dắt em trong những ngày ở giảng đường Đại Học

TRẦN NGUYỄN THANH TÂM

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

LƯỢC SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên sinh viên: TRẦN NGUYỄN THANH TÂM

Con Ông TRẦN THIỆN TÂM và Bà NGUYỄN THỊ MƯỢC

Sinh ngày 27/11/1984 tại ấp An Thuận, xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Đã tốt nghiệp phổ thông trung học năm 2002 tại trường PTTH Long Xuyên Tp Long Xuyên

Đã vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2002 và học ngành Trồng Trọt khóa 28 (2002-2007) thuộc khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, tốt nghiệp kỹ sư Trồng Trọt tháng 3/2007

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BĐ: Biến động dl: dương lịch T1: Tuổi 1 T2: Tuổi 2 T3: Tuổi 3

tp: Thành phố

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

Trần Nguyễn Thanh Tâm, 2007 Bọ rùa thiên địch của rệp sáp trên một số loại cây trồng: Thành phần loài, một số đặc điểm sinh học và khả năng ăn mồi Luận văn tốt nghiệp Đại học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Đại Học Cần Thơ

TÓM LƯỢC

Nhằm khảo sát thành phần loài, khả năng ăn mồi, một số đặc điểm hình thái

và sinh học của bọ rùa (Coccinellidae) để từ đó có cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình IPM phòng trừ rệp sáp trên cây trồng, đề tài “Bọ rùa thiên địch của rệp sáp trên một số loại cây trồng: Thành phần loài, một số đặc điểm sinh học và khả năng ăn mồi” đã được thực hiện từ 3/2006 đến 1/2007 tại tp Cần Thơ Với phương pháp điều tra ngoài đồng và thu mẫu về khảo sát trong điều kiện phòng thí nghiệm

Kết quả khảo sát đã phát hiện được 8 loài bọ rùa thiên địch của các loài rệp sáp gây hại trên 6 loại cây ăn trái (Đu đủ, Mãng cầu xiêm, Sầu riêng, Giâu, Cam quýt và Vú sữa) và 3 loại cây kiểng (Thiên tuế, Hồng mai, Sứ trắng) tại tp Cần Thơ

và một số vùng phụ cận, bao gồm bọ rùa Nephus bipunctatus, Chilocorus nigritus,

Chilocorus sp.1, Chilocorus sp.2, Rodolia sp.1, Rodolia sp.2, Sticholotis sp., Telsimia sp Trong 8 loài phát hiện thì Chilocorus sp.1, Chilocorus sp.2, Rodolia

sp.1, là 3 loài phổ biến nhất Kết quả khảo sát về chu kỳ sinh trưởng của 4 loài

Chilocorus sp.1, Chilocorus sp.2, Rodolia sp.1, Rodolia sp.2 ghi nhận cả 4 loài có

chu kỳ phát triển ngắn khoảng một tháng

Trong 4 loài bọ rùa đã được khảo sát về đặc điểm sinh học thì hai loài

Chilocorus sp.1 và Rodolia sp.1 có khả năng sinh sản, tuổi thọ và khả năng sống

sót và ăn mồi cao nhất Hai loài này có tiềm năng sử dụng cao trong các qui trình

IPM để phòng trừ 4 loài rệp sáp Drepanococcus chiton, Icerya sp., Pulvinaria sp.1, Pulvinaria sp.2 gây hại rất quan trọng trên nhiều loại cây ăn trái và cây kiểng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

MỞ ĐẦU

Trong tự nhiên bên cạnh những loài côn trùng gây hại có rất nhiều loài côn trùng có ích còn gọi là côn trùng thiên địch Nhóm này thường hạn chế được các côn trùng gây hại cho cây trồng, nhất là ở những nơi ít sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật Nếu không có các loài có ích này thì nhiều loài côn trùng gây hại có thể

sẽ bộc phát thành dịch Theo xu hướng phát triển một nền nông nghiệp bền vững như hiện nay thì việc sử dụng thiên địch để khống chế dịch hại đã được xem là một biện pháp không thể thiếu trong qui trình IPM trên cây trồng Nhiều loại thiên địch

đã được nuôi nhân với số lượng lớn để sử dụng trong công tác quản lý dịch hại tổng hợp

Hiện nay rệp sáp là một đối tượng gây hại nặng trên một số loại cây ăn trái và cây kiểng, nhiều nước trên thế giới đã sử dụng thiên địch có ích trong phòng trừ rệp sáp Trong số các loại thiên địch ăn mồi thì bọ rùa (Coccinellidae) thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) là một họ có rất nhiều loài đã được nghiên cứu và ứng dụng rất thành công trong công tác bảo vệ thực vật tại nhiều nước trên thế giới

Tiêu biểu là việc sử dụng bọ rùa Rodolia cardinalis phòng trừ rệp sáp xơ Icerya

purchasi gây hại cam và sử dụng bọ rùa Cryptolaemus montrouzieri để khống chế

các loại rệp sáp giả Khảo sát của Nguyễn Trọng Nhâm và Nguyễn Thị Thu Cúc (2006) đã phát hiện được nhiều loài bọ rùa ăn rầy mềm và một số loại bọ rùa ăn rệp sáp bước đầu cũng được ghi nhận trên một số loại cây trồng tại tp Cần Thơ Tại Việt Nam nhiều công trình nghiên cứu về bọ rùa cũng đã được ghi nhận, tuy nhiên đối với nhóm “bọ rùa thiên địch của rệp sáp” thì gần như không có một công trình

nào nghiên cứu Vì vậy chúng tôi tiến hành khảo sát “Bọ rùa thiên địch của rệp sáp trên một số loại cây trồng: Thành phần loài, một số đặc điểm sinh học và khả năng ăn mồi” nhằm làm cơ sở cho việc sử dụng, bảo tồn các loài thiên địch

này, làm tiền đề cho việc xây dựng quy trình IPM để đối phó với nhóm rệp sáp gây hại trên cây trồng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

CHƯƠNG 1

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Bọ rùa (Coccinellidae)

1.1.1 Sự phân bố và ký chủ

Bọ rùa Coccinellidae (Coleoptera, Insecta) là một họ phổ biến khắp thế giới

Ba mươi sáu loài thuộc họ bọ rùa đã được mô tả đầu tiên vào năm 1758 và được

xếp vào giống Coccinella Số lượng loài được phát hiện ngày càng nhiều Sau gần

hai thế kỷ số loài đã lên tới vài nghìn: 2500, rồi 3500 và hiện nay đã biết khoảng

4500 – 5000 loài (Liu, 1965; Sasaj, 1971; Hodek, 1973)

Họ bọ rùa (Coccinellidae) là một nhóm côn trùng thuộc bộ cánh cứng

(Insecta, Coleoptera) So với các họ khác trong bộ cánh cứng thì bọ rùa là một họ

có số lượng loài không lớn lắm Kích thước cơ thể bọ rùa thường nhỏ hoặc rất nhỏ, trừ một số loài đạt tới 10 – 18 mm (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

Theo Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh (2002), bọ rùa phân bố ở nhiều nước trên thế giới nhưng tập trung nhiều nhất ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới Tại Việt Nam bọ rùa phân bố ở khắp mọi nơi, trên nhiều loại cây trồng khác nhau (Hoàng Đức Nhuận, 1982) Cho đến nay số loài bọ rùa có ích trong khu hệ bọ rùa Việt Nam đã lên tới 165 loài, thuộc 5 phân họ và 60 giống Trong đó có 56 giống bao gồm 159 loài ăn rệp, bét và những sinh vật nhỏ khác hại thực vật Triển vọng

sử dụng bọ rùa trong đấu tranh sinh học bảo vệ cây trồng ở Việt Nam rất lớn Trên phạm vi đất đai không lớn như Việt Nam có rất nhiều loài bọ rùa có ích đang phát triển (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

1.1.2 Tình hình bọ rùa trong điều kiện tự nhiên

Khu hệ bọ rùa Balance (với diện tích 312,667 km2) có 80 loài Coccinellidae,

khu hệ Mông Cổ (1,565,677 km2) có 83 loài (Bielawski, 1957), khu hệ Nhật Bản (372,077 km2) có 153 loài, khu hệ Trung Quốc (9,600,000 km2) có khoảng 150 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

loài (Liu, 1965; Sasaji, 1967), còn khu hệ Việt Nam với diện tích lãnh thổ chỉ rộng

hơn Balan một ít đã phát hiện được 222 loài thuộc 65 giống (Hoàng Đức Nhuận,

1982)

Tính chất phong phú về giống và loài bọ rùa của khu hệ Việt Nam có liên quan chặt chẽ với những điều kiện thiên nhiên của lãnh thổ, với sự phong phú của thảm thực vật và tính chất phân cắt ngang dọc và sâu của địa hình miền núi Việt Nam Sự tổ hợp của tất cả các yếu tố đó đã tạo nên rất nhiều sinh cảnh cho sâu bọ

phát sinh và phát triển (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

1.1.3 Đặc điểm hình thái và sinh học

Kiểu đẻ trứng cũng khác nhau tùy loài như đẻ từng chiếc, từng nhóm, lộ ra ngoài hoặc ẩn kín trong vật thể Tuy nhiên các loài đều có xu hướng chung là đẻ trứng kín đáo hoặc gần nơi có nguồn thức ăn hơn (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

nhộng ở trên cây và cành cây (Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh, 2002)

Có miệng nhô về phía trước, có 3 đôi chân ngực, trên lưng có một lớp sáp

hoặc nhiều mấu lồi có lông nhỏ (Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh, 2002)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

Hình dạng ấu trùng của nhóm bọ rùa tuy có khác nhau, nhưng sự sai khác ấy không thật nổi bật, vì vậy việc phân định ra các kiểu ấu trùng điển hình cũng có nhiều khó khăn Sasaji (1971), tạm xếp ấu trùng bọ rùa vào bảy kiểu:

Kiểu 1: Cơ thể hình con thoi Ngực trước có một đôi tấm cứng Ngực giữa và ngực sau đều có một hoặc hai đôi tấm lưng và các gồ lồi bên Kiểu này đặc trưng

cho tộc Coccinellini

Kiểu 2: Cơ thể hình trụ hoặc hình trứng, lưng gồ cao Mỗi đốt ngực và đốt bụng đều có các mấu lồi dài hình gai Ngực trước có nhiều hơn hai gồ lồi Kiểu

này đặc trưng cho tộc Epilachnini và Chilocorini

Kiểu 3: Cơ thể hình thoi và có sáp bao phủ Mỗi đốt bụng thường có 3 đôi

mấu lồi kitin hóa Kiểu này đặc trưng cho tộc Scymnini

Kiều 4: Cơ thể hình elip và gồ cao vừa phải Ngực trước có một đôi tấm cứng Ngực giữa và ngực sau đều có một đôi tấm cứng và một đôi gồ lồi bên Kiểu

này đặc trưng cho tộc Noviini

Kiểu 5: Cơ thể hình trứng ngắn rất đẹp Trên mặt lưng của phần bụng không

có gồ lồi cũng như mấu lồi kitin hóa Kiểu này đặc trưng cho tộc Piatynaspini và

Aspidimerini

Kiểu 6: Cơ thể hình thoi hoặc hình trứng dài Ngực trước có một đôi tấm

cứng Là kiểu đặc trưng cho phân họ Sticholotidinaei

Kiểu 7: cũng tương tự như ấu trùng Scymnini có sáp trắng bao phủ cơ thể,

nhưng cấu tạo lưng lại hoàn toàn khác hẳn, có những gồ lồi to mềm, hình núm vú

Kiểu này đặc trưng cho ấu trùng Amida (Ortaliini)

Ấu trùng khi mới nở chưa có ngay màu sắc bình thường của nó mà thường có màu trắng trong hay hơi trắng đục và mềm Sau khi nở ấu trùng còn dính với vỏ vài giờ, có khi tới một ngày, trước khi hóa nhộng ấu trùng ngừng ăn và bất động (Hodek, 1973) Một số loài sống ở Việt Nam, dưới tác dụng của nhiệt độ khác nhau vào giai đoạn trước nhộng và nửa đầu giai đoạn nhộng đã xuất hiện những con trưởng thành có kiểu hình với số lượng chấm đen khác nhau (Hoàng Đức Nhuận, 1970)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

Thời gian phát triển và trạng thái ấu trùng còn tùy thuộc vào loài rệp mồi Chúng hút dịch con mồi và để lại những phần cứng (Hodek, 1973)

1.1.3.3 Nhộng

Là nhộng trần, cuối bụng đính vào giá thể tương tự như nhộng treo của bộ cánh vẩy, phía đuôi nhộng có dính xác sâu non (Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh, 2002)

Nhộng không hoàn toàn bất động, nếu chạm đến đầu nó sẽ hơi động đậy Màu

sắc của nhộng phụ thuộc vào điều kiện môi trường Ví dụ, Coccinella

septempunctata có nhộng màu da cam trong điều kiện nhiệt độ cao và ẩm độ thấp

(35oC, 55%), trong khi đó trong điều kiện ngược lại (15oC, 95%) nhộng có màu nâu tối (Hodek, 1973)

Những nhóm bọ rùa khác nhau có kiểu nhộng khác nhau Vỏ ấu trùng lột ra làm thành một đám nhăn nhúm dính ở phía đuôi nhộng Phần lớn ấu trùng hoá nhộng ngay tại nơi nó thường sống Hiện tượng đó cũng dễ quan sát thấy ở các loài

bọ rùa Việt Nam (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

1.1.3.4 Thành trùng

Thân dài từ 0,8 – 10 mm, có hình bán cầu hoặc trái xoan Màu sắc cơ thể rất

đa dạng, thường có màu vàng, da cam hoặc màu hơi đỏ có nhiều chấm đen hoặc màu đen có các chấm vàng đến đỏ (Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh, 2002) Theo Hoàng Đức Nhuận (1982), hình dạng của bọ rùa thường hình trứng ngắn, hoặc bán cầu, đôi khi hình trứng dài và bẹt Màu sắc rất khác nhau Phần lớn

có màu đỏ tươi, hoặc vàng với các chấm hoặc vệt sẫm làm thành những hình vẽ đặc trưng cho từng loài Ở bọ rùa có một hiện tượng rất phổ biến là nhiều loài có hình dạng rất biến đổi Bàn chân có 4 đốt, đốt thứ 3 nhỏ, mảnh lưng ngực trước phủ hết đầu hoặc gần hết đầu, râu đầu hình chùy hay dùi đục, ngắn có từ 7 – 11 đốt (Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, 2002)

Râu đầu thường đính ngay trước mắt ở góc bên lưng của trán Hai râu đầu nằm cách xa nhau Mắt lớn, hình tròn hoặc gần tròn ở dạng ăn thịt Râu đầu thường Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

có 11 đốt, khá mảnh và có chùy nhỏ Ngực gồm 3 đốt Đôi cánh trước thấm nhiều kitin nên rất cứng, phủ kín đầu mặt lưng của ngực giữa, ngực sau và bụng Cánh cứng gồ cong, khi không bay thì hai cánh sát khít nhau dọc theo đường giữa của cơ thể Hệ gân cánh của các loài có kích thước lớn nhất thì phát triển hơn so với hệ gân cánh ở các loài có kích thước nhỏ bé Chân thuộc kiểu chân chạy, khá phát triển, ba đôi chân giống nhau về hình dạng cũng như về cấu tạo Bụng gồm nhiều đốt, mặt lưng mềm hơn mặt bụng (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

Sau khi vũ hoá một ngày bọ rùa có thể giao phối Chúng chỉ giao phối một lần và sau khi giao phối một tuần thì bắt đầu đẻ trứng Bọ rùa đẻ trứng thành từng đám 4 – 20 quả Thời gian đẻ trứng kéo dài từ 1-3 tháng Một con cái có thể đẻ được từ 200 – 300 trứng, có loài đẻ đến 1000 trứng (Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh, 2002)

Tuy nhiên, theo Hoàng Đức Nhuận (1982), ngay ở ngày đầu tiên sau khi vũ hóa, bọ rùa trưởng thành đã có thể giao phối và khoảng một tuần lễ sau thì con cái

đã bắt đầu đẻ trứng, hoặc đi vào trạng thái đình dục Ở các vùng ôn đới con trưởng thành bao giờ cũng qua đông ở các nơi trú ẩn Nhưng ở nhiệt đới, ngay cả trứng

hoặc nhộng cũng ở trạng thái qua đông

Bọ rùa trưởng thành rất hoạt động Thường quan sát thấy những cuộc bay di

cư Cơ chế định hướng trong di cư không đồng nhất ở các loài khác nhau và còn chưa xác định được thật đầy đủ Trong cơ chế này yếu tố hướng sáng và yếu tố vi khí hậu có thể đóng vai trò quan trọng (Sasaji, 1971)

1.1.3.5 Chu kỳ sinh trưởng

Nhịp điệu của chu kỳ sống phụ thuộc vào điều kiện môi trường Ở nam Trung

Quốc, Leis axyridis phát triển nhanh nhất trong điều kiện nóng ẩm là 9 ngày và

phát triển chậm nhất trong điều kiện mát lạnh là 21 ngày (Liu, 1946)

Ở Việt Nam, bọ rùa phát triển liên tục hoặc có một giai đoạn đình dục vào mùa đông và có kiểu chu kỳ phát triển có nhiều thế hệ trong năm, liên tục từ mùa xuân tới mùa thu, các thế hệ tương đối ngắn (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

Trứng phát triển trong 5 ngày ở nhiệt độ 27oC, ấu trùng phát triển trong thời gian 12 – 17 ngày, nhộng phát triển trong vòng 4 ngày và thành trùng có thể sống lâu hơn 2 tháng (Raupp, Van Driesche và Davidson, 1993)

1.1.4 Hiện tượng ăn thịt lẫn nhau

Hiện tượng này phổ biến ở bọ rùa khi thức ăn trở nên khan hiếm Không chỉ con trưởng thành mà ngay cả ấu trùng cũng ăn trứng và ấu trùng cùng loài (Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh, 2002) Thông thường thì ấu trùng và bọ rùa trưởng thành mới vũ hóa cơ thể còn mềm yếu là đối tượng bị ăn thịt Hiện tượng ăn thịt lẫn nhau có ý nghĩa đối với sự tồn tại của loài và con trưởng thành và

ấu trùng có thể sống sót trong điều kiện thiếu thức ăn (Hodek,1973)

1.1.5 Khả năng thiên địch và triển vọng sử dụng bọ rùa trong biện pháp đấu tranh sinh học

Năm 1888, California đã nhập bọ rùa Châu Úc (Rodolia cardinalis Mulsant),

một loài bọ rùa đỏ có vân đen để phòng trừ rệp sáp hại cam, chanh Đến nay ở Mỹ

đã nhập 20 loài bọ rùa để diệt rệp sáp, rệp ống hoặc nhiều loài sâu hại cây Có lẽ

bọ rùa là nhóm côn trùng đầu tiên đã đi vào lịch sử của phương pháp sinh học

phòng trừ sâu hại Trên 32 nước đã sử dụng có hiệu quả Rodolia cardinalis trong

phòng trừ rệp sáp hại cam (Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh, 2002)

Từ năm 1988, sau sự kiện bọ rùa Châu Đại Dương Novivus cardinalis Muls phát huy tác dụng trong việc phòng trừ rệp sáp bông Icerya purchasi Mask., việc

nghiên cứu bọ rùa chuyển sang một giai đoạn mới: giai đoạn nghiên cứu bọ rùa phục vụ kinh tế nông nghiệp Bọ rùa lôi cuốn sự chú ý của các nhà sinh học không những chỉ trong việc nghiên cứu phân loại và khu hệ (Korschefsky, 1931 – 32; Timberlake, 1943; v.v) mà còn cả về mặt di truyền (Timberlake, 1943; Komai, 1956; v.v) và sinh thái học

Đã từ lâu, bọ rùa ăn nấm và nhất là bọ rùa ăn thịt cùng với một số nhóm côn

trùng khác như bọ xít đầu dài (Reduviidae: Hemiptera), các bọ ong nhỏ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

(Trichogrammatidae, Mymaridae, Encyrtidae, Eurytomidae, Braconilae, Aphiidae: Hymenoptera), bọ xít (Carabidae: Coleoptera), hổ trùng (Cicindelidae: Coleoptera)

được xếp vào nhóm các côn trùng có ích trong công tác bảo vệ thực vật hàng chục năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã có kinh nghiệm sử dụng chúng như những đội quân phòng trừ các loài sâu hại cây rừng và cây trồng (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

Các ruộng đậu, vườn rau, đồng mía cũng thường bị nhiều loài rệp muội

Aphidae và bét Acarina gây hại, khi chủng quần rệp và bét đã tương đối phát triển

chúng ta thấy có nhiều loài bọ rùa lui tới ăn thịt chúng, thường xuyên nhất là

Micraspis discolor, Menochilus sexmaculatus, Coccinella transversalis, M vinctus, Lemnia biplagiata (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

Rhyzobius lophanthae đã được du nhập từ Úc vào California năm 1892 để

phòng trừ rệp sáp Chilocorus circumdatus cũng được phóng thích vào Florida năm 1996 để phòng trừ rệp sáp Unaspis citri (Frank and Russell , 2004)

Trong một ngày đêm, một con bọ rùa có thể tiêu diệt gần 150 trứng và ấu trùng rệp cánh trắng hại cam Cho tới nay số loài bọ rùa có ích trong khu hệ bọ rùa Việt Nam đã lên tới 165 loài, thuộc 5 phân họ, 60 giống Trong đó có 56 giống bao gồm 159 loài ăn rệp, bét và những sinh vật nhỏ khác hại thực vật Triển vọng sử dụng bọ rùa trong đấu tranh sinh học bảo vệ cây trồng ở Việt Nam rất lớn Trên phạm vi đất đai không lớn như Viện Nam có rất nhiều loài bọ rùa có ích đồng thời phát triển (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

1.1.6 Khả năng tự vệ

Kẻ thù của bọ rùa có thể là chim, ếch, nhái, bò sát Để tự vệ, đặc biệt là để chống kiến, Bọ rùa có khả năng xịt ra chất dịch vàng (máu) từ các lỗ nhỏ ở khớp chân (Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh, 2002)

Bọ rùa trưởng thành và cả ấu trùng của nhiều loài tự vệ bằng những giọt dịch vàng tiết ra từ khớp đầu gối Chất tiết đó xua đuổi kẻ thù bằng mùi hắc, sự bốc hơi

nhanh và vị đắng của nó Những đặc tính ấy có thể là do chất canthariđin gây ra

(Mc Indoo, 1916)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

1.1.7 Tính ăn của bọ rùa

Phần lớn bọ rùa thuộc nhóm có ích vì có khả năng ăn mồi cao, đặc biệt là trên những loại gây hại quan trọng cho cây trồng như rệp sáp (rệp sáp giả) và rầy mềm Trong tự nhiên nhiều loại bọ rùa giữ vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa mật

số côn trùng gây hại (Frank và Russell, 2002)

Bọ rùa ăn thịt là những côn trùng khá phàm ăn Coccinnella septempunctata

trong suốt thời gian phát triển của ấu trùng ăn tới 665 rệp muội (tối đa 868); ấu trùng trưởng thành trong một ngày đêm ăn 60-159 rệp muội Thành trùng và ấu

trùng C septempunctata ăn tới 38 loại rệp khác nhau (Diadetsko, 1954 – Hoàng

Đức Nhuận trích dẫn, 1982)

Phức hệ thức ăn của bọ rùa ăn thịt rất khác nhau Stethorus ăn bét hại thực vật, Chilocorus ăn rệp vảy Phần lớn bọ rùa ăn thịt, ăn rệp muội Tuy nhiên nhiều

loài cũng ăn cả rệp cánh trong, ăn ấu trùng một số loài cánh cứng, trứng và sâu một

số loài cánh vảy (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

1.1.8 Tầm quan trọng của bọ rùa ăn rệp sáp

Nhiều công trình thực nghiệm ở Liên Xô đã xác nhận hệ bọ rùa ở địa phương

có khả năng trong việc tiêu diệt rệp và bét hại cây trồng Công trình nghiên cứu

đầu tiên ở Trung Á, sử dụng bọ rùa 11 chấm Semiadalia 11-notata và bọ rùa 8 chấm Brumus octosignatus trừ rệp muội hại bông (Iakhontov, 1937 – Hoàng Đức

Nhuận trích dẫn, 1982)

Gần đây các nhà sinh học ở Châu Âu đã tiến thêm một bước trong việc sử

dụng bọ rùa 7 chấm Coccinnella septempunctata, bọ rùa 2 chấm Adalia

bipunctata, bọ rùa Adonia variegata, bọ rùa 14 chấm Harmonia 14-punctata và bọ

rùa mập Harmonia conglobata trong công tác phòng trừ rệp củ cải đường (Iperti,

1971)

Có nhiều loài bọ rùa tích cực bảo vệ cây xoan như: Chilocous circumdatus,

Pharoscymnus daotieni sp., Cryptogonus langchanhensis sp Các loài này rất tích

cực trong việc tiêu diệt rệp hại thân xoan Các vườn cây ăn quả như Cam, Quýt, Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

Bưởi, Ổi thường hay bị một số loài rệp sáp như Pseudococcus comstocki, rệp P

yachani, rệp sáp chanh Plannococcus citri, rệp sáp bông Ierya purchasi làm hại

Giống Rodolia, nhất là Rodolia pumila, cả ấu trùng và thành trùng đều tiêu diệt rệp sáp chanh và rệp sáp bông Nhiều loài bọ rùa khác thuộc các giống Jauravia,

Serangiella, Stethorus, Scymnus, Pseudoscymnus, Pseudaspidimerus, Ortalia cũng

là những kẻ thù tự nhiên tích cực tiêu diệt các loài rệp, bét (Hoàng Đức Nhuận, 1982)

1.2 Cây Đu đủ (Carica papaya L)

Theo Trần Thế Tục (2002), Đu đủ có nguồn gốc từ miền nhiệt đới Châu Mỹ, một số tác giả cho rằng Mehicô và Côxtarica là quê hương của Đu đủ từ đây được đưa trồng ở nhiều nước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Ở Việt Nam chưa xác định được nguồn gốc, xuất xứ cây Đu đủ nhưng hiện nay các tỉnh từ Nam chí Bắc đều

có trồng Đu đủ, nhiều nhất ở các tỉnh đồng bằng, dọc theo các con sông, trên các loại đất phù sa, dốc tụ, phù sa cổ và nhiều loại đất khác…Đu đủ là cây ăn quả ngắn ngày cho thu hoạch nhanh, đạt sản lượng cao, chiếm ít diện tích có thể trồng xen trong các vườn cây ăn quả lâu năm

Thân Đu đủ là cây thân thảo nhiệt đới đạt chiều cao 2-10 mét với đường kính gốc đạt 30 cm Cây ít hoặc không phân nhánh, phần trong của thân là các mô mềm, xốp, giòn có nhiệm vụ dự trữ chất dinh dưỡng Lá Đu đủ có bản rộng và chia nhiều thùy, một cây trung bình đạt từ 13-17 lá xanh hoạt động thì tỉ lệ hoa đậu quả và quả phát triển bình thường Rễ Đu đủ nhỏ, giòn phân bố rộng tương đương với độ rộng của tán lá Thời gian sinh trưởng và phát triển của quả kéo dài 3-4 tháng phụ thuộc vào mùa vụ và giống (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)

Theo Trần Thế Tục (2002), trong những năm gần đây các vườn Đu đủ thường

bị bệnh do virus gây ra như: bệnh thối gốc, bệnh phấn trắng, bệnh cháy lá, bệnh thối quả, bệnh thán thư Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), bên cạnh các bệnh do virus gây ra thì Đu đủ còn bị tấn công bởi một số loại sâu hại quan trọng: nhện đỏ, rầy mềm, ruồi đục trái, rệp sáp phấn…làm ảnh hưởng đến sản xuất

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

Vấn đề phòng trừ sâu và bệnh hại càng quan trọng khi trồng Đu đủ với quy

mô lớn, tập trung (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)

1.3 Cây Hồng mai (Jatropha panduriforlia Andr)

Theo Trần Hợp (1998), cây Hồng mai thuộc họ thầu dầu, Euphorbiaceae, là loại cây cảnh, có nguồn gốc từ Bắc Mỹ, Cuba Cây thân gỗ, mọc bụi cao 1-3m, ít phân cành Phiến lá màu xanh lục đậm, lá thưa hình bầu dục, phần trên nguyên, gốc có khía răng, cuống lá dài, mảnh Hoa mọc thành chùm trên cuống dài Hoa có cánh đài màu đỏ thấm, xòe rộng Hoa đẹp nở dần và bền quanh năm nên được trồng làm kiểng

1.4 Cây Thiên tuế ( Cycas revolatu, họ tuế-Cycadaceae )

Theo Trần Hợp (1998), cây có nguồn gốc từ vùng ẩm ướt Châu Á nhiệt đới Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ Cây hình trụ, cao 3m, ít khi chia nhánh Lá dài đến 2m hình lông chim Cuống có gai lá thuôn nhỏ về gốc và đỉnh Lá mọc thành vòng, dày đặc ở đỉnh thân, phiến lá phụ nhẵn bóng có màu xanh đậm, cứng, đầu có gai nhọn, mép hơi gấp, gân lồi trên phiến Nón đực hẹp dài 25-28 cm, rộng 4m Nón cái dạng phiến dài 20 cm, có lông màu hung vàng, phần không sinh sản rộng, mép chia nhiều giải dẹp, cong, có mũi nhọn Hạt hình trái xoan, dẹt, non có lông sau nhẵn màu da cam

Theo Đào Mạnh Khuyến (1996), cây cũng cho chùm hoa ở ngọn song quả không sinh sản được, nên cây thường được trồng bằng chồi, mầm mọc từ thân ở các nách lá già đã bị cắt đi Mỗi năm cây chỉ cho được 1-2 lá, khi đã lớn mỗi năm 1-2 vòng lá

Theo Vandaveer (2003), dịch hại quan trọng trên Thiên tuế là rệp sáp và sâu bướm gây hại trên lá Rệp sáp rất khó kiểm soát và chúng sinh sản nhanh, có thể di chuyển theo gió và sống được trên rễ Chu kỳ sinh sản khoảng một tháng, rệp có thể bao phủ toàn bộ lá cây, có thể gây chết cây trong một năm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003), Trên cây họ Thiên tuế có hai loại rệp sáp chính gây hại: rệp sáp nâu mềm và rệp sáp vảy nâu Trên các cây Thiên tuế và Vạn tuế hai loài rệp này đều bám mặt dưới lá, chích hút nhựa và làm lá vàng khô

Theo Aubrey và ctv (2005), bọ cánh cứng thuộc họ Cocinellidae có nguồn gốc từ Australia đã được đưa vào California năm 1892 để kiểm soát rệp sáp gây hại trên Thiên tuế rất hiệu quả

1.5 Rệp sáp

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), rệp sáp thuộc tổng họ Coccoidae - Bộ Homoptera Nhóm này bao gồm nhiều loài có kích thước nhỏ Gây hại bằng cách chích hút dịch cây trồng (trên lá, trái, cành, thân) Tất cả các loài rệp sáp đều có đặc điểm chung là cơ thể tiết ra một lớp sáp che chở cho cơ thể Lớp này hình thành nên một lớp vỏ cứng, có hình dạng, màu sắc và kích thước khác nhau

Theo Vũ Thị Nga (2006), lớp sáp do chúng tiết ra có thể ở dạng bột, dạng sáp hay dạng vảy tùy theo từng họ Chúng ở mọi bộ phận của cây như lá, đọt non, cành, quả chích hút dinh dưỡng làm cho cây bị giảm kích thước, hoa có thể rụng, quả bị nhỏ, cành bị khô héo… chất thải của chúng có chứa hàm lượng đường cao Đây là môi trường thuận lợi để nấm hoại sinh phát triển Do đó các bộ phận của cây bị rệp sáp tấn công thường bị phủ một lớp muội đen giống như “bồ hóng” Lớp muội đen này làm giảm khả năng quang hợp và gây ảnh hưởng tới năng suất cây trồng

Các loài rệp sáp có chu kỳ sinh trưởng ngắn, khả năng sinh sản cao, điều kiện môi trường thích hợp sẽ có khả năng bộc phát nhanh Chủ yếu gây hại vào mùa

nắng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), tại Đồng Bằng Sông Cửu Long đã ghi

nhận có trên 16 loài rệp sáp hiện diện trên cây có múi (citrus) và mặc dù rệp sáp

hiện diện khá phổ biến trên nhiều loại cây trồng nhưng mật số rệp sáp thường thấp nên chưa thấy gây hại đáng kể Có thể là do trong điều kiện tự nhiên rệp sáp có rất nhiều thiên địch (các loài ong ký sinh và các loài bọ rùa), các loài thiên địch này có Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

khả năng cao trong việc hạn chế sự bộc phát của rệp sáp, bên cạnh đó khí hậu thay đổi cũng làm ảnh hưởng đến mật số của rệp sáp ngoài tự nhiên.

1.5.1 Coccidae

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2004), thành trùng cái có hình bầu dục dài, thường cong vồng lên nhưng đôi khi dẹp với một lớp xương ngoài cứng, láng hoặc được bao phủ bằng những chất sáp, chân thường hiện diện, râu đầu thoái hóa hoặc không có Con đực có cánh hoặc không cánh Vòi có một đốt Bụng không có lổ

thở, mảnh hậu môn chia thành hai phiến hình tam giác hoặc hình trăng khuyết

1.5.2 Margarodidae

Họ này gồm nhiều loài có kích thước khá lớn Cơ thể có hình bầu dục, một số

ít có hình tròn hoặc dài Râu đầu thường có 6-11 đốt Có loài râu đầu thoái hóa Vòi phát triển có 2-3 đốt hoặc không có Chân phát triển, bàn chân thường có một đốt Đa số con cái có che phủ một lớp sáp như bông sơ trắng, con đực có một đôi cánh (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2004)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

1.5.4 Pseudococcidae

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2004), Rệp sáp phấn thuộc họ Pseudococcidae,

bộ cánh đều – Homoptera Nhóm này bao gồm nhiều loài có dạng hình bầu dục dài, phân đốt rõ, chân rất phát triển Râu đầu từ 5-9 đốt, hoặc không có râu đầu, vòi phát triển Cơ thể được phủ bằng nhưng lớp sáp trắng, xung quanh cơ thể thường

có những sợi sáp nhỏ, cuối bụng là những sợi sáp dài Một số loài đẻ trứng, một số loài đẻ con Trứng thường được đẻ lẫn trong những sợi sáp, gây hại bằng cách chích hút dịch cây trồng, có thể gây hại trên nhiều bộ phận của cây (trên lá, trái, cành, thân), phổ biến trên các loại cây ăn trái như Cam quýt, Sa bô, Mãng cầu, Chôm chôm, Khóm, Ổi, Xoài, Mía, Cà phê…

Nhiều loài trong nhóm rệp sáp phấn vào giai đoạn ấu trùng T1, T2, T3 và cả thành trùng vẫn có thể di chuyển đựợc, con cái không di chuyển được, thành trùng đực có kiểu phát triển như con cái ngoại trừ con đực có một cặp cánh, có giai đoạn nhộng, miệng thoái hóa không ăn chỉ giữ nhiệm vụ giao phối (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

- Nội dung điều tra:

+ Thành phần rệp sáp trên các cây khảo sát

+ Thành phần bọ rùa thiên địch của rệp sáp

- Địa bàn khảo sát: tp Cần Thơ và vùng phụ cận

- Thời gian thực hiện: từ tháng 05 năm 2006 đến tháng 01 năm 2007

+ Dụng cụ hỗ trợ cho việc giải phẩu: kim mũi nhọn, cọ, kính lúp…

+ Thức ăn: rệp sáp và các ổ trứng của rệp sáp trên một số loại cây trồng

+ Hoá chất ngâm mẫu: Cồn 70o, KOH 20%

2.2 Phương pháp

2.2.1 Điều tra ngoài đồng

- Thành phần loài bọ rùa và rệp sáp được quan sát trên các cây ăn trái và cây kiểng tại tp Cần Thơ và vùng phụ cận Sau đó chọn một số cây nhất định để quan sát định kỳ mỗi tháng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

- Phương pháp thu mẫu: bọ rùa và rệp sáp được thu trực tiếp bằng tay hay vợt trên những cây bị rệp sáp tấn công đem về phòng thí nghiệm để khảo sát

2.2.2 Khảo sát trong phòng thí nghiệm

Nhằm xác định loài bọ rùa thiên địch của rệp sáp và đặc điểm hình thái, sinh học có liên quan đến sự phát triển và khả năng ăn mồi của bọ rùa

2.2.2.1 Xác định thành phần loài của rệp sáp và bọ rùa thiên địch

xử lý mẫu chuẩn của Borror và ctv (1976) và có cải tiến trong quá trình thực hiện

+ Rệp sáp được định danh theo khoá phân loại của Williams và Watson (1988)

* Bọ rùa

- Bọ rùa được định danh chủ yếu theo khóa phân loại của Hoàng Đức Nhuận (1982-1983) và Leeper (1975) Một số mẫu cũng được gởi sang Nhật (Đại học Tokyo) để khẳng định lại kết quả định danh trong nước

- Bên cạnh việc dựa vào các đặc điểm hình thái bên ngoài của ấu trùng và thành trùng như màu sắc, hình dạng chân, râu đầu, tấm bụng chúng tôi còn tiến hành giải phẩu cơ quan sinh dục để mô tả các đặc điểm hình thái của bộ phận sinh dục (genitalia) và ống giao phối của con đực (xifôn) để hỗ trợ cho công tác định danh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

2.2.2.2 Đặc điểm sinh học

Bọ rùa được thu ngoài tự nhiên đem về nuôi trong phòng thí nghiệm để theo

dõi các chỉ tiêu sau:

- Phương pháp: cho bọ rùa bắt cặp trong hộp nhựa đã được lót giấy thấm

với thức ăn sử dụng là rệp sáp Sau khi bọ rùa bắt cặp và đẻ trứng thì tách lấy trứng chuyển sang hộp nhựa khác cũng đã được lót giấy thấm để quan sát theo dõi từ giai đoạn trứng đến giai đoạn thành trùng của từng loài bọ rùa phổ biến

** Chỉ tiêu ghi nhận: hàng ngày ghi nhận sự phát triển của bọ rùa qua

chiều dài thân, sự lột xác

* Khả năng sinh sản

- Phương pháp: bọ rùa sau khi bắt cặp được nuôi và quan sát trong phòng

thí nghiệm Hàng ngày đếm số trứng đẻ trong mỗi ổ trứng và tổng số trứng trong thời gian khảo sát

** Chỉ tiêu ghi nhận: khả năng đẻ trứng (số lượng trứng được đẻ trong

mỗi lần đẻ ⇒ tổng số trứng được đẻ) trong suốt chu kỳ sống

* Tỷ lệ trứng nở, tỷ lệ cái/đực

- Số trứng đẻ trong phòng thí nghiệm được tiếp tục theo dõi đến khi nở và đếm số trứng nở sau 3, 4, 5, 6, … ngày Æ tính tỷ lệ nở

- Ấu trùng nuôi đến giai đoạn thành trùng Æ ghi nhận tỷ lệ cái/đực

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

* Khả năng sống sót của thành trùng

• Tuổi thọ của thành trùng

Sau khi bắt cặp và đẻ Thành trùng được nuôi cho đến khi chết để ghi nhận tuổi thọ

• Khả năng nhịn đói của thành trùng bọ rùa: trong hai điều kiện

- Có cung cấp nước: được tiến hành bằng cách quan sát trên 10 thành trùng

bọ rùa đực và 10 thành trùng bọ rùa cái nuôi riêng từng cá thể Hàng ngày chỉ cung cấp nước (bông gòn thấm nước)

- Không cung cấp nước: tương tự như thí nghiệm 1 nhưng không cung cấp

nước

** Chỉ tiêu ghi nhận: ghi nhận số thành trùng chết ở từng thời điểm quan sát.

2.2.2.3 Khả năng ăn mồi của bọ rùa

* Xác định mồi ký chủ

Tiến hành thu thập nhiều loài rệp sáp khác nhau trên trên các loại cây ăn trái

và cây hoa kiểng để xác định mồi ký chủ Bọ rùa đã được cho nhịn đói 24 giờ trước khi tiến hành thí nghiệm

** Chỉ tiêu ghi nhận: xác định mồi ký chủ của từng loài bọ rùa và lượng

thức ăn được tiêu thụ trong một thời gian nhất định (sau 24, 48 và 72 giờ sau khi thả bọ rùa

* Khả năng ăn mồi ký chủ của bọ rùa

- Sau khi xác định được mồi ký chủ thì khả năng ăn mồi của bọ rùa được khảo sát trên ba loại mồi:

+ Rệp sáp Icerya sp (gây hại trên Hồng mai, Cam quýt, Mãng cầu xiêm,

Giâu và Sầu riêng)

+ Rệp sáp Drepanococcus chiton (gây hại trên Đu đủ) + Rệp sáp Pulvinaria sp.1 (gây hại trên cây Hồng mai)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

- Bọ rùa mới thu về được để đói 24 giờ trước khi tiến hành thí nghiệm

- Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên Khả năng ăn mồi được quan sát trên hai giai đoạn phát triển của bọ rùa (thành trùng ♂, ♀ và ấu trùng tuổi 4) Thí nghiệm được thực hiện với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có

10 lần lập lại, tất cả nghiệm thức đều có đối chứng không thả bọ rùa

• Thực hiện hai thí nghiệm

Trang 28

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Rệp sáp

3.1.1 Thành phần và sự gây hại của rệp sáp trên một số loại cây

kiểng và cây ăn trái tại tp Cần Thơ và các vùng phụ cận

Kết quả khảo sát từ tháng 05 năm 2006 đến tháng 01 năm 2007 ghi nhận: Thành phần rệp sáp gây hại trên nhóm cây kiểng và cây ăn trái rất phong phú, gồm

8 loài đã được phát hiện với 3 loài thuộc họ Coccidae, một loài thuộc họ Margarodidae, một loài thuộc họ Diaspididae và 3 loài thuộc họ Pseudococcidae Bảng 3.1 Thành phần loài rệp sáp hiện diện trên cây trồng tại một số địa bàn thuộc

tp Cần Thơ và vùng phụ cận

Họ Giống Loài

Drepanococcus Drepanococcus

chiton Pulvinaria sp.1

Coccidae

Pulvinaria

Pulvinaria sp.2

Margarodidae Icerya Icerya sp

Diaspididae Aulacaspis Aulacaspis

yasumatsui Nipacoccus Nipacoccus sp

Trang 29

Trong 8 loài rệp sáp đã được phát hiện, chỉ có 6 loài hiện diện phổ biến, bao gồm:

- Icerya sp gây hại trên Hồng mai, Cam quýt, Mãng cầu xiêm, Giâu và Sầu

riêng

- D chiton gây hại trên Đu đủ

- A yasumatsui gây hại trên Thiên tuế

- Pulvinaria sp.1 và Pulvinaria sp.2 gây hại trên cây Hồng mai

- Nipacoccus sp gây hại trên Sứ trắng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

Bảng 3.2 Thành phần loài rệp sáp hiện diện trên một số loại cây kiểng và cây ăn

trái tại tp Cần Thơ

và các vùng phụ cận (05/2006-01/2007)

Rệp sáp Nhóm

Ghi chú +: có hiện diện

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 31

Trong 8 loài rệp sáp gây hại trên các loại cây khảo sát thì có 3 loài thuộc

nhóm đa ký chủ, bao gồm Icerya sp., Planococcus sp., Pseudococcus sp Đặc biệt

là loài Icerya sp loài này hiện diện trên 6 trong tổng số 9 loại cây khảo sát Năm loài còn lại (Pulvinaria sp.1, Pulvinaria sp.2, D chiton, A yasumatsui,

Nipacoccus sp.) lại thuộc nhóm đơn ký chủ chỉ tấn công trên một loại cây trồng

duy nhất như D chiton gây hại trên Đu đủ, Pulvinaria sp.1 và Pulvinaria sp.2 gây hại trên cây Hồng mai, A yasumatsui gây hại trên Thiên tuế Nipacoccus sp gây

hại trên Sứ trắng

3.1.2 Đặc điểm hình thái và gây hại của một số loài rệp sáp gây hại

quan trọng trên nhóm cây ăn trái và cây kiểng

3.1.2.1 Icerya sp (Homoptera: Margarodidae)

Đây là loài đa ký chủ, phát hiện trên 6 loài cây trồng (Bảng 3.2) hiện diện rất phổ biến trên cây Vú sữa, Sầu riêng và cây Hồng mai

* Hình thái

Cơ thể có phủ lớp sáp dày màu trắng hồng, rìa tơ xung quanh cơ thể rất dài và

to Các đốt trên cơ thể hiện lên rất rõ, trên mỗi đốt lưng có hai lỗ nhỏ đối xứng hai bên, để lộ màu vàng của cơ thể bên trong Loài này chủ yếu gây hại trên lá, tập trung dọc theo gân chính Bình thường rất ít di chuyển, chỉ khi nào ấu trùng lột xác chui ra khỏi lớp phấn thì mới di chuyển Thành trùng cái thường đẻ trứng ngay dưới bụng, trứng có màu vàng nhạt, khi trứng nở thì ấu trùng mới bắt đầu di chuyển khỏi bụng của con cái và phân bố dọc theo gân lá

* Sự gây hại và diễn biến mật số: được khảo sát trên cây Hồng mai

Trên cây Hồng mai, loài này hiện diện với mật số rất cao từ tháng 3 đến tháng

5 dl, vào giai đoạn này trên cây hiện diện đủ các lứa tuổi của Icerya sp Đầu tháng

6 dl mật số rệp sáp bắt đầu giảm dần đến tháng 8 dl hầu như không còn thấy rệp sáp Lá cây sạch và xanh bóng Đầu tháng 10 đến tháng 12 dl rệp sáp bắt đầu xuất Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 32

hiện trở lại Từ tháng 1-3 dl Icerya sp có hiện diện trên cây nhưng mật số không

cao

Như vậy trong một năm trên đối tượng quan sát là cây Hồng mai thì chúng tôi

ghi nhận được Icerya sp có mật số cao nhất từ tháng 3 đến tháng 5 dl và ít nhất là tháng 8 đến tháng 10 dl Trong các tháng còn lại thì Icerya sp cũng có hiện diện

nhưng mật số không nhiều

3.1.2.2 Drepanococcus chiton (Homoptera: Coccidae)

Gây hại rất phổ biến trên cây Đu đủ

* Hình thái

Ấu trùng có màu vàng xanh, hình ô van, rất ít di chuyển Ấu trùng tuổi 3 có màu xanh đậm hơn và lưng gồ cao hơn Thành trùng cái có hình dạng giống như ấu trùng tuổi 3 nhưng kích thước lớn hơn, lớp vỏ của cơ thể cứng hơn rất dễ vỡ, 1/3

cơ thể có màu đen, phần còn lại màu trắng đục bên trong chứa trứng Trứng có màu nâu Một ổ trứng của rệp sáp trung bình khoảng 630 trứng

* Sự gây hại

Gây hại cả những cây trồng trong bóng râm và ngoài trảng, thông thường D

chiton không gây hại cả vườn mà chỉ một vài cây, đôi khi cây kế bên lại không bị

ảnh hưởng Tuy nhiên cây nào đã bị nhiễm thì thường bị nhiễm rất nặng Rệp sáp gây hại chủ yếu trên trái, những cây bị nặng rệp sáp còn tấn công lên đọt non và lá Thông thường những trái bị rệp sáp tấn công nhìn rất xấu và độ ngọt không cao nên hầu như không bán được

3.1.2.3 Pulvinaria spp (Homoptera: Coccidae)

Đã phát hiện được hai loài trên cây Hồng mai Một loài gây hại trên thân cành

và một loài gây hại trên đọt non và lá

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 33

* Hình thái

- Pulvinaria sp.1 gây hại trên đọt non và lá, có dạng hình bầu dục, kích thước

cơ thể: chiều dài 11mm, rộng 5mm Cơ thể có màu nâu đậm Ổ trứng của

Pulvinaria sp.1 có chiều dài trung bình là 1,2-1,5cm Một ổ trứng có từ 3840-4800

trứng/ổ

- Pulvinaria sp.2 gây hại trên thân, cành Cơ thể màu nâu nhạt có dạng hình

tròn kích thước rất to, chiều dài 7-8 mm, rộng 6-7 mm Loài này có ổ trứng rất dài trung bình khoảng 6 cm, đôi khi ổ trứng dài hơn 10 cm, chiều rộng ổ trứng 0,5 cm

Ổ trứng của loài này thường rất mỏng Một ổ trứng của loài gây hại trên thân, cành

ước lượng có khoảng 7500 đến 25.000 trứng/ổ

* Sự gây hại

Cả hai loài đều gây hại mạnh trong mùa nắng, ấu trùng và thành trùng bám dính trên thân và lá để hút nhựa Thành trùng cái đẻ ổ trứng rất dài phía sau cơ thể, trứng được bao phủ bởi một lớp bột sáp dày, màu trắng

Cả hai loài đều có khả năng sinh sản rất cao, bộc phát và gây hại mạnh từ tháng 1 đến tháng 3 dl Từ tháng 4 đến tháng 6 dl mật số của các loài này đều rất thấp Từ tháng 7 đến tháng 10 dl thì hầu như không ghi nhận có sự hiện diện

Pulvinaria spp Đầu tháng 11 dl Pulvinaria spp bắt đầu xuất hiện trở lại, ấu trùng

di chuyển và phân bố đều trên cây Đến giữa tháng 12 dl thì thành trùng cái bắt đầu sinh sản, những ổ trứng được đẻ với khoảng cách rất gần và chồng lên nhau Loài này được ghi nhận gây hại rất quan trọng trên cây Hồng mai

3.1.2.4 Aulacaspis yasumatsui (Homoptera: Diaspididae)

Loài này gây hại rất nặng trên cây Thiên tuế, đặc biệt vào mùa nắng

Trang 34

* Sự gây hại

Trong số những dịch hại làm giảm khả năng sinh trưởng của Thiên tuế thì A

yasumatsui là một đối tượng gây hại quan trọng nhất, loài này hiện diện chủ yếu

trong mùa nắng Vào giai đoạn đầu, chỉ phát hiện thấy vài con Khi gặp điều kiện thuận lợi loài này sinh sôi nảy nở rất nhanh bám trắng cả mặt dưới của phiến lá

chét và xung quanh gốc của cuống lá kép Rệp sáp A yasumatsui sinh sống ở mặt

dưới lá Sự chích hút nhựa của rệp sáp làm lá cây vàng dần Nếu mật số cao có thể làm lá trở nên vàng úa và làm toàn cây chết khô

3.1.2.5 Nipacoccus sp (Homoptera: Pseudococcidae)

Gây hại rất phổ biến trên cây Sứ trắng

* Hình thái

Loài này có cơ thể hình trứng, màu nâu đen, xung quanh cơ thể có những tua sáp ngắn Trên mỗi đốt cơ thể có phủ sáp trắng như tuyết, lớp sáp này không phủ kín cơ thể mà chỉ nằm rời từng cụm để lộ màu nâu đen của cơ thể Thành trùng cái

đẻ ổ trứng có hình khối gần tròn, trứng màu nâu đen nằm xen lẫn với những tơ sáp trắng, bên ngoài ổ trứng cũng được phủ sáp trắng

* Sự gây hại

Kết quả khảo sát ghi nhận loài này chỉ gây hại trên cây Sứ trắng, chủ yếu là

mặt dưới lá Sự chích hút nhựa của Nipacoccus sp làm cho lá vàng và rụng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 35

3.2 Bọ rùa thiên địch của rệp sáp (Coccinellidae - Coleoptera)

3.2.1 Thành phần loài bọ rùa thiên địch của rệp sáp

Theo Raupp và ctv (1993), có rất nhiều loài bọ rùa thiên địch hiện diện trên nhiều loại cây trồng tại nhiều nơi trên thế giới Hoàng Đức Nhuận (1982), và

Nguyễn Thế Nhã (2002), cũng ghi nhận thành phần bọ rùa tại Việt Nam rất phong

phú

Kết quả điều tra đã xác định được 8 loài bọ rùa ăn rệp sáp hiện diện trên nhóm cây ăn trái (Đu đủ, Giâu, Mãng cầu xiêm, Vú sữa, Sầu riêng) và cây kiểng

(Thiên tuế, Hồng mai, Sứ trắng) Tám loài bọ rùa này thuộc 4 phân họ

Chilocorinae, Coccidulinae, Sticholotidinae và Scymninae, với 5 giống

Chilocorus, Rodolia, Telsimia, Sticholotis và Nephus Có 3 loài thuộc giống

Chilocorus, hai loài thuộc giống Rodolia và trong 3 giống còn lại mỗi giống chỉ

phát hiện một loài duy nhất

Bảng 3.3 Thành phần loài bọ rùa ăn rệp sáp hiện diện trên cây trồng tại một số địa

bàn thuộc tp Cần Thơ và vùng phụ cận

hiện diện

Mức độ phổ biến

Chilocorus sp.1 Đu đủ, Hồng mai +++

Chilocorus

Chilocorus nigritus Đu đủ, Thiên tuế + Chilocorinae

Telsimia Telsimia sp Sứ trắng, Đu đủ, +++

Rodolia sp.1 Giâu, Hồng mai +++

Rodolia sp.2

Giâu, Hồng mai, Mãng cầu xiêm,

Vú sữa, Sầu riêng

++

Ghi chú +++: Thường xuyên bắt gặp

++: Tần suất bắt gặp trung bình

+: Xuất hiện rải rác

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 36

3.2.2 Tình hình phân bố và mức độ phổ biến của các loài bọ rùa ăn

rệp sáp

Trong 8 loài bọ rùa đã phát hiện dược thì 3 loài Chilocorus sp.1, Rodolia sp.1

và Telsimia sp xuất hiện phổ biến nhất Các loài còn lại ít phổ biến, chỉ xuất hiện

rải rác

3.2.2.1 Giống Chilocorus

Theo Hoàng Đức Nhuận (1983), có 6 loài thuộc giống Chilocorus hiện diện tại Việt Nam Chilocorus là giống có số lượng loài lớn nhất trong tộc, gồm khoảng

70 loài Riêng khu vực Đông Á và Đông Nam Á có trên 20 loài (Hoàng Đức

Nhuận, 1983) Giống Chilocorus sp1 được phát hiện trên cây Đu đủ và Hồng mai, hiện diện với mật số rất cao Sự hiện diện của Chilocorus sp.1 ngoài tự nhiên phụ

thuộc rất nhiều vào điều kiện thức ăn, khi nguồn thức ăn khan hiếm thì mật số

giảm dần và cũng biến mất Kết quả khảo sát cho thấy Chilocorus sp.1 có khả năng

ăn ấu trùng và trứng rệp sáp Pulvinaria spp và rệp sáp D chiton gây hại trên cây

Hồng mai và Đu đủ

Riêng Chilocorus sp.2 hiện diện ít phổ biến hơn Kết quả khảo sát ghi nhận loài Chilocorus sp.2 chỉ xuất hiện trên cây Thiên tuế tại tp Cần Thơ và hiện diện với mật số khá cao trên những cây bị rệp sáp A yasumatsui tấn công Khảo sát trong phòng thí nghiệm cho thấy loài này không những tấn công rệp sáp A

yasumatsui mà còn tấn công trứng rệp sáp Pulvinaria spp từ cây Hồng mai, tuy

nhiên chưa thấy Chilocorus sp.2 hiện diện trên cây Hồng mai cũng như cây trồng

khác

Trong các loài thuộc giống Chilocorus đã được phát hiện thì Chilocorus

nigritus là loài ít phổ biến nhất, phát hiện trên cây Đu đủ và Thiên tuế Loài này

chỉ xuất hiện rải rác với mật số thấp Theo ghi nhận của Nguyễn Trọng Nhâm (2006), loài này còn hiện diện trên cây Bông tràm Kết quả khảo sát cũng ghi nhận

loài này tấn công rệp sáp D chiton gây hại trên Đu đủ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 37

3.2.2.2 Giống Rodolia

Giống bọ rùa phổ biến thứ hai mà chúng tôi ghi nhận được là Rodolia Theo Hoàng Đức Nhuận (1983), Rodolia chỉ là một giống nhỏ, đặc hữu của liên vùng

phương Đông-Australia Hiện nay ở nhiều nơi trên thế giới, vài loài của giống này

đã được nhập nội với mục đích sử dụng trong đấu tranh sinh học Ở Việt Nam,

giống Rodolia đặc biệt phổ biến, đã có 10 loài được phát hiện trong đó có bốn loài

đặc hữu Kết quả khảo sát của chúng tôi đã phát hiện được 2 loài bọ rùa thuộc

giống này (Rodolia sp.1 và Rodolia sp.2), cả 2 loài này đều có khả năng tấn công rệp sáp Icerya sp gây hại trên nhiều loại cây ăn trái và hoa kiểng như Sầu riêng,

Giâu, Mít, Hồng mai… Hầu như suốt năm đều thấy có sự hiện diện của loài này

trên các loại cây trồng có sự gây hại của Icerya sp., mật số bọ rùa chỉ giảm khi

lượng thức ăn giảm

Trong hai loài Rodolia sp.1 và Rodolia sp.2 thì loài Rodolia sp.2 có kích thước rất nhỏ so với Rodolia sp.1 Sự xuất hiện của hai loài này thay đổi tuỳ theo tình hình thức ăn (rệp sáp Icerya sp.) của chúng hiện trên cây trồng Do có kích thước khá nhỏ nên bọ rùa Rodolia sp.2 chỉ tấn công rệp sáp ở giai đoạn ấu trùng

tuổi 1 và tuổi 2 Vì vậy loài này chỉ hiện diện với mật số cao vào giai đoạn ấu

trùng rệp sáp Icerya sp ở giai đoạn tuổi 1 và tuổi 2

Trái lại loài Rodolia sp.1 hiện diện hầu như thường xuyên với mật số cao vì

Rodolia sp.1 có khả năng tấn công tất cả các giai đoạn ấu trùng và thành trùng

(cái) của rệp sáp

3.2.2.3 Giống Telsimia

Kết quả điều tra chỉ mới phát hiện được một loài Telsimia sp hiện diện rất

phổ biến trên ba loại cây Đu đủ, Sứ trắng và Chuối kiểng Khi cây ký chủ bị rệp sáp tấn công thì thấy có sự hiện diện của loài này với mật số rất cao Thành trùng

lẫn ấu trùng đều có khả năng tấn công rệp sáp D chiton gây hại trên cây Đu đủ Bên cạnh đó bọ rùa loài Telsimia sp còn ăn ổ trứng của rệp sáp Nipaccoccus sp

gây hại trên Sứ trắng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 38

3.2.2.4 Giống Nephus

Trong giống này chúng tôi chỉ mới phát hiện được loài Nephus bipunctatus

hiện diện trên nhiều loài cây trồng khác nhau như Đu đủ, Mít, Sứ trắng Loài này hiện diện phổ biến trên cây Sứ trắng hơn trên cây Đu đủ và Mít Kết quả khảo sát

ghi nhận loài này ăn các ổ trứng của rệp sáp Nipaccoccus sp gây hại trên cây Sứ

Theo ghi nhận của Nguyễn Trọng Nhâm (2006), loài này cũng hiện diện khá phổ biến trên cây Hồng mai (tp Cần Thơ và Cái Răng) ăn trên các loài rệp sáp giả gây hại trên cây Hồng mai và Bưởi Theo Vũ Thị Nga (2006), loài này rất phổ biến

trên cây Mãng cầu xiêm tại Bình Chánh-tp Hồ Chí Minh, ăn rệp sáp giả dứa D

brevipes và các loài rệp sáp giả khác

3.2.2.5 Giống Sticholotis

Đã phát hiện được một loài Sticholotis sp trên cây Đu đủ, loài này ăn rệp sáp

D chiton gây hại trên Đu đủ Mật số loài này thường không cao nhưng khả năng

sống sót rất lâu, thành trùng được cung cấp thức ăn đầy đủ có thể sống hơn 2

tháng Theo Hoàng Đức Nhuận (1983), giống Sticholotis khá phong phú ở trên thế

giới và Việt Nam, có hơn 50 loài đã được phát hiện

3.2.3 Hình thái thành trùng của các loài bọ rùa khảo sát

3.2.3.1 Chilocorus sp.1

Chilocorus sp.1 là loài có kích thước cơ thể lớn Chiều dài cơ thể 5,30 ± 0,05

mm, chiều rộng 4,66 ± 0,04 mm Cơ thể hình bán cầu, lưng gồ cao (hình 3.7) Mặt lưng nhẵn bóng có nhiều chấm cạn, dày và đều Tấm lưng ngực trước và đôi cánh cứng có màu đỏ Có một hàng chấm lõm dọc theo bờ mỗi cánh cứng, rìa cánh hơi chìa ra và có viền màu nâu sáng Tấm lưng ngực trước phủ kín đầu và khớp chặt với hai cánh cứng, mảnh mai hình tam giác đều Đầu và mặt dưới cơ thể có màu vàng cam trừ đôi mắt và môi màu đen Râu đầu ngắn nằm cách xa nhau gồm tám đốt, trên mỗi đốt râu phủ nhiều lông rậm, đốt gốc hình trụ thuôn dài, đốt thứ hai dài bằng ½ đốt gốc có bờ sau lượn tròn, từ đốt thứ hai trở đi hình chuông, đốt đỉnh Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 39

rất dài có đỉnh hình nón hơi nhọn Râu hàm dưới ba đốt hình rìu, đốt cuối to cắt vát

ở đỉnh (hình 3.8) Mặt bụng phủ nhiều lông rậm màu vàng, ở tấm bụng thứ nhất và thứ năm rộng, tấm thứ sáu hẹp, bờ sau tấm bụng thứ sáu cong lõm ở con đực và lượn tròn ở con cái, đặc điểm này có thể nhận diện được khi quan sát dưới kính lúp (hình 3.10) Chân phủ nhiều lông rậm, đốt chuyển hình gần thang, đùi hình trụ phình to đều, ống chân hình trụ có lồi răng Bàn chân bốn đốt kín (hình 3.9) Bộ phận sinh dục (genitalia) có máng giữa rộng, hai máng bên to phủ nhiều lông nhỏ, dài ngang bằng máng giữa Ống giao phối của con đực (xifôn) cong, cán xifôn có nhánh ngoài ngắn bằng nữa nhánh trong (hình 3.11)

3.2.3.2 Chilocorus sp.2

Chilocorus sp.2 có hình dạng bên ngoài giống như Chilocorus sp.1 nhưng

kích thước cơ thể nhỏ hơn rất nhiều, chiều dài 4,13 ± 0,04 mm, chiều rộng 3,65 ±

0,06 mm (hình 3.12) Cơ thể thành trùng màu đỏ cam, rìa cánh cứng có viền màu nâu hơi vểnh ra, mảnh mai hình tam giác đều Đôi cánh phía trong màu vàng nâu Mắt lớn màu đen có nhiều ô nhỏ, khoảng cách giữa hai mắt hẹp Râu đầu ngắn mảnh gồm tám đốt, đốt thứ nhất và thứ hai thuôn dài, từ đốt thứ ba đến đốt thứ bảy hình chuông và to dần, đốt cuối dài hơn hình nón có lông tua dài Râu hàm dưới ba đốt rất phát triển và dài, đốt cuối dài gấp đôi hai đốt còn lại và cắt vát ở đỉnh (hình 3.13) Bụng gồm sáu đốt, đốt thứ năm rộng, đốt thứ sáu hẹp, lượn tròn ở con cái và cong lõm ở con đực (hình 3.15) Chân có đốt chuyển hình thang, đùi mập phình to, bàn chân bốn đốt kín có móng dài và sắc, chân không có cựa (hình 3.14) Bộ phận sinh dục (genitalia) có máng giữa rộng Hai nhánh bên rất to hơi dài hơn máng giữa có phủ lông ngắn và dày ở phần nữa đỉnh (hình 3.16) Ống giao phối của con đực (xifôn) dạng hình cung ở 1/3 phía cán, cán xifôn có hai nhánh trong và ngoài phát triển (hình 3.16)

3.2.3.3 Rodolia sp.1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 40

Cơ thể loài Rodolia sp.1 có màu cam, phủ nhiều lông rậm, loài này có kích

thước lớn, chiều dài 5,83 ± 0,07 mm, chiều rộng 4,91 ± 0,06 mm Cơ thể hình trứng ngắn, lưng gồ vừa phải, vai cánh khá rộng (hình 3.17) Cánh trong màu đen, cánh cứng màu đỏ hoặc màu da cam có nhiều chấm lõm mịn và lông rậm, mảnh mai nhỏ hình trái tim có đỉnh hơi dài Mắt lớn có dạng gần tròn, mắt màu đen có nhiều ô nhỏ có phủ lông tơ ngắn mịn Râu dầu đính ngay trước mắt ở góc bên lưng của trán, hai râu đầu cách xa nhau, trên râu đầu có phủ lông dài và rậm Râu đầu tám đốt, đốt gốc phình to về một bên, đốt thứ hai có bờ sau lượn tròn, đốt thứ hai hình chuông rất nhỏ và to dần đến đốt thứ sáu, bờ sau đốt cuối cắt vát ở đỉnh (hình 3.18), đốt cùng của râu hàm có hình rìu bè to, hai đốt đầu thuôn nhỏ (hình 3.18) Mặt bụng màu vàng cam, phủ nhiều lông, tấm bụng thứ nhất rộng hơn các tấm bụng còn lại, rìa bụng có nhiều lông rậm Ở con cái có bờ sau tấm bụng thứ năm hơi lõm và lượn tròn ở bờ sau tấm bụng thứ sáu Con đực có bờ sau tấm bụng thứ năm lõm sâu hơn và lõm nhỏ ở giữa của bờ sau ở tấm thứ sáu (hình 3.20) Chân có đốt chuyển ở chân hình tam giác, khớp với đùi, đùi mập hình trụ phình to ở đầu nối với phần ống chân Ống chân mập hình trụ không có cựa có nhiều lông rậm Đốt bàn chân có ba đốt, đốt cuối mảnh có hai móng (hình 3.19) Theo Hoàng Đức

Nhuận (1983), ở giống Rodolia con đực và con cái có cấu tạo móng chân khác

nhau, móng chân chẻ đôi ở con đực và có răng gốc ở con cái Bộ phận sinh dục (genitalia) có máng giữa hẹp và dài, hai máng bên mảnh dài bằng máng giữa (hình 3.21) Ống giao phối của con đực (xifôn) cong hình vành tai, nhánh trong và nhánh ngoài không phát triển, phía ngoài mảnh và vuốt nhỏ dần tới đỉnh (hình 3.21)

3.2.3.4 Rodolia sp.2

Cơ thể cũng có hình dáng bên ngoài giống như loài Rodolia sp.1 nhưng kích

thước nhỏ hơn Cơ thể hình bán cầu, lưng gồ không cao (hình 3.22), chiều dài cơ thể: 3,34 ± 0,06 mm, chiều rộng 2,84 ± 0,06 mm Cánh cứng màu đỏ cam có nhiều chấm lõm mịn và lông rậm màu vàng sáng, mảnh mai rất nhỏ hình trái tim Râu đầu có tám đốt với nhiều lông dài và rậm, đốt gốc phình to về một bên, đốt thứ hai nhỏ có bờ sau lượn tròn, các đốt tiếp theo hình chuông và to dần, đốt đỉnh hình nón Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w