TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG LỰA CHỌN VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG ĐỂ PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN 5 - 6 TUỔI TRƯỜNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
LỰA CHỌN VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG ĐỂ PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN (5 - 6 TUỔI) TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN -
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Thu Hương
Sinh viên lớp K36B - GDMN Trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề tài không trùng với bất cứ đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này tại trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc Toàn bộ những vấn đề được đưa ra bàn luận, nghiên cứu là những vần đề mang tính thời sự, cấp bách và đúng thực tế tại trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra sức mạnh lực bóp tay thuận và bật
xa của trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Ngô Quyền
- Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
27
Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số
TCVĐ nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (n = 20)
31
Bảng 3.3 Bảng phỏng vấn lựa chọn test kiểm tra đánh giá sức
mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Ngô Quyền (n = 20)
37
Bảng 3.4 Tiến trình giảng dạy TCVĐ nhằm phát triển sức
mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Ngô Quyền
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Vị trí, vai trò và mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân 4
1.1.1 Vị trí, vai trò của giáo dục Mầm non (GDMN) 4
1.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục Mầm non 4
1.2 Vị trí, vai trò của môn giáo dục thể chất (GDTC) 5
1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 5
1.3.1 Đặc điểm tâm lí 5
1.3.2 Đặc điểm sinh lí 7
1.4 Một số nét đặc trưng của trò chơi vận động 9
1.4.1 Khái niệm trò chơi vận động 9
1.4.2 Ý nghĩa trò chơi vận động 10
1.4.3 Đặc điểm và phân loại trò chơi vận động 11
1.5 Cơ sở giáo dục sức mạnh 14
1.5.1 Khái niệm và phân loại sức mạnh 14
1.5.2 Phương pháp giáo dục sức mạnh 15
Chương 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 20
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 20
2.2 Các phương pháp nghiên cứu chính 20
2.3 Tổ chức nghiên cứu 23
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Thực trạng công tác giáo dục thể chất và sử dụng trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 25
Trang 63.1.1 Thực trạng công tác GDTC trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên
- Vĩnh Phúc 25
3.1.2 Thực trạng việc sử dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 26
3.2 Lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 30
3.2.1 Cơ sở lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Ngô Quyền 30
3.2.2 Lựa chọn test đánh giá sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 36
3.2.3 Tiến trình giảng dạy trò chơi vận động 38
3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của trò chơi đã chọn nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 39
3.3.1 Tổ chức thực nghiệm trò chơi vận động 39
3.3.2 Kết quả thực nghiệm 39
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 PHỤ LỤC
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục Việt Nam đang đứng trước nhiều yêu cầu mới của xã hội, phải xây dựng con người có phẩm chất đạo đức, có năng lực vừa “hồng” vừa
“chuyên” như lời Bác Hồ căn dặn
Sức khỏe là vốn quý, điều đó không chỉ có Đảng, nhà nước và nhân dân
ta thừa nhận mà nó được cả nhân loại thừa nhận Cho nên thế hệ trẻ được đào tạo phải có sức khỏe cả về thể chất và tinh thần, có kĩ năng lao động trí óc lẫn chân tay, mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu bảo vệ sự nghiệp cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn
Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng dặn “Giáo dục phải đảm bảo tính toàn diện trong đó giáo dục thể chất là một mặt không thể thiếu được Nếu các đồng chí được Đảng và nhà nước giao trọng trách giáo dục mà coi nhẹ giáo dục thể chất là một điều không đúng mà còn là một sai lầm”[3] Như vậy, giáo dục thể chất có một vai trò rất quan trọng trong nền giáo dục quốc dân Giúp con người phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần
Chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/3/1994 của Ban bí thư TW đảng giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục thể dục thể thao thường xuyên phối hợp chỉ đạo công tác giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học,
để việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên
Giáo dục Mầm non là nấc thang khởi đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân với mục tiêu giúp trẻ em phát triển thể chất, tình cảm trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp 1 Qua đó cho thấy giáo dục thể chất cho trẻ trước tuổi đi học đặt cở sở cho sự phát triển toàn diện, tôi luyện cơ thể, rèn tinh thần sảng khoái, rèn kĩ năng vận động
cơ bản, hình thành thói quen vận động cần thiết trong cuộc sống
Trang 82Một trong những phương tiện của giáo dục thể chất để phát triển sức mạnh cho con người thì trò chơi vận động là phương tiện tốt để tạo ra sự hứng thú cho các em Trong khi chơi, các em được giao lưu với nhau, có sự hợp tác, đoàn kết với nhau để đạt được kết quả tốt nhất
Tuổi mẫu giáo, các em đến trường không chỉ được học tập mà các em còn được hoạt động vui chơi hàng ngày vì lứa tuổi mẫu giáo hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi nên việc lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận động cho các em là một việc làm ý nghĩa giúp các em phát triển toàn diện, giúp các
em nhanh nhạy hơn với môi trường xung quanh
Lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận động vào giảng dạy các giờ phát triển thể chất có vai trò quan trọng, giúp cho học sinh tiếp thu nhanh hơn kĩ thuật động tác, phát triển các tố chất thể lực,gây hứng thú cho học sinh trong các giờ tập luyện Nhưng qua tìm hiểu thấy việc tổ chức hướng dẫn trò chơi vận động trong dạy học ở trường Mầm non còn thiếu quan tâm, chưa chú trọng và còn mang tính tùy tiện, chưa sát với mục đích của giờ học, còn hoài nghi chưa dám chắc trò chơi có ảnh hưởng tốt tới chất lượng giờ học phát triển thể chất hay không
Để góp phần giải quyết các vấn đề trên việc nghiên cứu đưa ra một số trò chơi vận động sao cho phù hợp với điều kiện thực tế, nâng cao chất lượng học tập môn thể chất cho trẻ trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc là vấn đề cần thiết của công tác giáo dục thể chất trường học
Với lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn đề cập đến đề tài: “Lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động để phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) ở trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc”
Trang 9* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non và đặc điểm về phương pháp sử dụng trò chơi vận động của giáo dục thể chất trong trường học, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục đích để lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động để phát triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Ngô Quyền nói riêng và các trường Mầm non nói chung
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Vị trí, vai trò và mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.1.1 Vị trí, vai trò của giáo dục Mầm non (GDMN)
GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Trong báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho mọi người năm 2005, UNESCO đã đánh giá: “Những năm đầu của cuộc sống là giai đoạn chủ yếu của sự phát triển trí tuệ, nhân cách và hành vi”, “Bằng chứng cho thấy rằng việc chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi trước tuổi đi học có liên quan đến việc phát triển nhận thức và xã hội tốt hơn”[1]
Nhà giáo dục Xô viết A.S.Makarenko khẳng định: Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5 Những điều dạy cho trẻ trong thời kì đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau việc giáo dục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, cùng những nụ hoa thời đó được vun trồng trong 5 năm đầu tiên
Lịch sử GDMN ghi nhận: GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo con người mới Việt Nam GDMN góp phần giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ Nhờ có phát triển GDMN, phụ nữ yên tâm công tác, lao động sản xuất, có điều kiện học hành nâng cao hiểu biết và hưởng thụ những phúc lợi nho nhỏ trong gia đình cũng như có cơ hội đóng góp cho xã hội Như vậy GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống GD quốc dân Tầm quan trọng của GDMN là chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc GD hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
1.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục Mầm non
Điều 21, 22 luật giáo dục (2005) đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ
GDMN: “GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3
Trang 115tháng đến 6 tuổi”[6] Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển
về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1
1.2 Vị trí, vai trò của môn giáo dục thể chất (GDTC)
GDTC có vị trí vô cùng quan trọng, là một bộ phận không thể thiếu của giáo dục quốc dân, là sự phát triển con người toàn diện Vai trò của GDTC là:
GDTC là cơ sở nền tảng của nền TDTT quốc dân
GDTC là yếu tố tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần
GDTC làm phong phú đời sống xã hội hiện đại
GDTC là yếu tố căn bản để chuẩn bị cho lao động và sẵn sàng bảo vệ tổ quốc
1.3 Đặc điểm tâm, sinh lí của trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
1.3.1 Đặc điểm tâm lí
Trẻ 5 - 6 tuổi thì bé đã có khả năng tiếp thu một lượng kiến thức không nhỏ Theo A.X Macarenco, một nhà giáo dục nổi tiếng của Nga thì: “Nền tảng của giáo dục chủ yếu được xây dựng từ khi trước 5 tuổi, nó chiếm 90% chất lượng của cả quá trình giáo dục”
Trẻ 5 - 6 tuổi có một đặc điểm tâm lí rất quan trọng là ý thức về bản ngã (cái tôi):
- Trẻ bắt đầu biết phân biệt 1 cách rõ ràng giữa bản thân và những người xung quanh Trẻ có ý thức về tính sở hữu, biết cái gì của mình và cái gì là của người khác
- Tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) tư duy của trẻ có một bước ngoặt lớn Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của tư duy logic Tư duy của trẻ đã đạt tới những ranh giới của
Trang 12tư duytrực quan hình tượng, những hình tượng và biểu tượng trong đầu trẻ vẫn còn gắn liền với những hành động điều đó thể hiện trong những trường hợp, khi trẻ giải quyết những bài toán thực tế
Sự phát triển xúc cảm và ngôn ngữ:
- Ở lứa tuổi này, tình cảm đã bắt đầu phức tạp và phân hóa, từ quan hệ gắn
bó mẹ - con, trẻ bắt đầu có nhu cầu giao lưu tình cảm nhiều hơn giữa mẹ - con ở trẻ trai và bố - con ở trẻ gái Trẻ đòi hỏi sự quan tâm cuộc sống một cách cụ thể
và đa dạng hơn, vì vậy đã xuất hiện ở trẻ những biểu hiện về tình cảm rõ ràng cũng như những phản ứng chống đối dưới nhiều hình thức khác nhau
- Đây là lứa tuổi phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ có khả năng nói những câu đầy đủ, đôi khi phức tạp cũng như hiểu được những câu nói dài của người khác Điều này là cơ sở cho trẻ tiếp nhận những kiến thức của lớp 1 và những bậc học tiếp theo
- Trẻ giai đoạn này cũng rất dễ xúc động, dễ cười, dễ khóc Tâm tư của trẻ tuổi này cũng được bộc lộ ra ngoài Tính tình tương đối ổn định Đời sống tình cảm của trẻ tuổi này phong phú và sâu sắc hơn rất nhiều so với tuổi trước
Trang 131.3.2 Đặc điểm sinh lí
Hệ thần kinh: sự phát triển của hệ thần kinh ở lứa tuổi này đã ở mức
cao hơn so với lứa tuổi nhà trẻ Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh của đại não kết thúc… Tuy nhiên, ở trẻ em quá trình hưng phấn và ức chế chưa cân bằng, sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế Do đó, phải đối sử thận trọng với trẻ, tránh để trẻ phải thực hiện một khối lượng vận động quá sức hoặc kéo dài thời gian vận động vì sẽ làm trẻ mệt mỏi Hệ thần kinh có tác dụng chi phối và điều tiết đối với vận động cơ thể vì vậy hoạt động vận động của trẻ có hai tác dụng: thúc đẩy sự phát triển công năng của tổ chức cơ bắp và thúc đẩy
sự phát triển công năng của hệ thần kinh Vận động cơ thể của trẻ có thể cải thiện tính không công năng của quá trình thần kinh ở chúng Song cần chú ý tới sự luân phiên giữa vận động và nghỉ ngơi, tình trạng quá trình vận động của trẻ
Hệ vận động: bao gồm hệ xương, hệ cơ và khớp
Hệ xương: thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước và
chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xương mềm, dễ bị cong gãy Ở trẻ 5 - 6 tuổi xương cột sống có 2 đoạn uốn cong vĩnh viễn ở cổ và ở ngực, lồng ngực đã hẹp hơn, đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, xương sườn chếch theo hướng dốc nghiêng
Hệ cơ: hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ
nhỏ mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi Do đó, trẻ lứa tuổi này không thích nghi với sự căng thẳng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp trong thời gian luyện tập Khi trẻ được thường xuyên tham gia vận động thể lực hợp lí sẽ tăng cường hiệu quả công năng các tổ chức cơ bắp, làm cho sức mạnh và sức bền của cơ bắp phát triển
Trang 14Khớp: trẻ lứa tuổi này ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn
yếu, dây chằng lỏng lẻo Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được rèn luyện, từ đó tăng dần tính vững chắc của khớp
Hệ tuần hoàn: hệ tuần hoàn của trẻ đang phát triển và hoàn thiện
Buồng tim phát triển tương đối hoàn thiện, tần số co bóp của tim là 80 - 110 lần/phút Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập, nên đa dạng hóa các dạng bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động, phối hợp động và tĩnh một cách nhẹ nhàng
Hệ hô hấp: đường hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc đường hô
hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm Lên 6 tuổi thể tích hô hấp của phổi là khoảng 215 - 220 ml Trẻ 5 - 6 tuổi mỗi phút hít thở khoảng 20 - 22 lần
Hệ trao đổi chất: cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục
năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và
mô Ở trẻ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động cơ bắp Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao đổi chất Sẽ làm ảnh hưởng đến cơ bắp và hệ thần kinh, làm giảm sự nhạy cảm Do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức vận động phù hợp với trẻ
Từ việc nghiên cứu, tìm tòi dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn, nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục thể chất với trẻ mầm non, trong quá trình giảng dạy chúng tôi đã lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất cho trường Mầm non Ngô Quyền Trẻ hào hứng vui chơi
Trang 159tham gia nhiệt tình, xua tan những căng thẳng, mệt mỏi Kích thích trẻ luôn sáng tạo trong học tập và vui chơi Trong qúa trình tham gia vào trò chơi, các
em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng như niềm vui khi thắng lợi và buồn khi thất bại, vui mừng khi thấy đồng đội hoàn thành nhiệm vụ… Vì tập thể mà các em phải khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại thắng lợi cho đội trong đó có bản thân mình, đây chính là đặc tính thi đua rất cao của trò chơi vận động
Vì vậy, trong phạm vi khóa luận này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu những trò chơi mang tính vận động thể lực và đặc biệt chú ý tới sức mạnh của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi), từ đó đưa ra một số ứng dụng hiệu quả trong công tác giáo dục thể chất trường Mầm non Ngô Quyền nói riêng và các trường Mầm non khác nói chung
1.4 Một số nét đặc trƣng của trò chơi vận động
1.4.1 Khái niệm trò chơi vận động
Trò chơi vận động (TCVĐ) là loại vận động tích cực, đây là một trong những phương tiện GDTC tốt nhất cho trẻ mầm non, rất phong phú về số lượng, đa dạng về nội dung và tạo cho các em có điều kiện sáng tạo và phát triển tư duy của mình một cách độc lập trong những trường hợp cụ thể Đa số các trò chơi vận động dành cho trẻ Mầm non đều mang tính chủ đề, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và khả năng tưởng tượng của trẻ
Khi tham gia vào trò chơi thì trẻ phải tập trung chú ý, ghi nhớ những lời giải thích của giáo viên để thực hiện đúng vận động Do đó, đặc điểm nổi bật của TCVĐ là sự đòi hỏi phối hợp vận động của quá trình nhận thức và vận động
Như vậy, TCVĐ là trò chơi nhằm rèn luyện và hoàn thiện các vận động cho trẻ Nó là phương tiện chủ yếu giáo dục thể lực (GDTL) cho trẻ, giải quyết các nhiệm vụ vận động dưới dạng trò chơi nên trẻ vận động tích cực và thoải mái
Trang 161.4.2 Ý nghĩa trò chơi vận động
Ở trẻ Mầm non, trò chơi chiếm một vị trí quan trọng Trẻ đến trường không chỉ được học tập mà trẻ còn được vui chơi hàng ngày vì lứa tuổi mẫu giáo hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi Các loại trò chơi: đóng vai theo chủ đề, trò chơi học tập, trò chơi xây dựng hay trò chơi vận động… được sử dụng rộng rãi Trong đó, trò chơi vận động được chú ý cao vì tất cả các trẻ đều được tham gia và phát triển các tố chất thể lực
TCVĐ là phương tiện chủ yếu GDTL có hiệu quả cho trẻ mẫu giáo, qua TCVĐ hình thành các phẩm chất thể lực như sự nhanh nhẹn, linh hoạt, dẻo dai, góp phần củng cố nâng cao sức khỏe cho trẻ Giáo dục trẻ về các mặt đức, trí, thể, mỹ… Đào tạo cho trẻ phát triển toàn diện từ những năm đầu đời TCVĐ còn là một phương tiện vui chơi giải trí, một hình thức nghỉ ngơi tích cực, một hoạt động có tính văn hóa góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho trẻ
Về phương diện sinh lí vận động: TCVĐ giải tỏa tâm lí tạo nên sự lạc quan yêu đời, vui tươi thoải mái, giúp phần giảm các căng thẳng thần kinh, giảm và chống đỡ được một số bệnh tật
Ở trường Mầm non, trò chơi vận động được sử dụng một cách thường xuyên TCVĐ vừa là nội dung học tập vừa là hình thức vui chơi được trẻ yêu thích và tích cực tham gia Trong khi chơi trẻ hào hứng, hình thành những phẩm chất đạo đức, trẻ biết giúp đỡ lẫn nhau, biết quan tâm với bạn cùng chơi Để tham gia được vào trò chơi thì buộc trẻ phải hiểu được luật chơi, cách chơi và vai trò của mình trong khi chơi, xác định được mối quan hệ giữa bản thân và bạn cùng chơi, làm thao tác tư duy, phân tích, so sánh, chú ý, ghi nhớ, khái quát được phát triển
Khi trẻ chơi các TCVĐ thì sẽ tác động lên nhiều cơ, tăng quá trình trao đổi chất TCVĐ là phương tiện chống lại sự mệt mỏi, căng thẳng của trẻ trong
Trang 1711học tập Hơn thế, TCVĐ tác động vào hệ thần kinh, các quá trình hưng phấn
và ức chế được cân bằng Đó là điều kiện tốt để hình thành thói quen vận động cho trẻ
Những trò chơi vận động dân gian có từ lâu đời thường gắn liền với các bài hát hay các câu thơ Khi trẻ chơi thì sẽ phải nhớ những bài hát hay những câu thơ, cách chơi, luật chơi đó làm cho ngôn ngữ của trẻ phát triển, vốn từ thêm phong phú và mở rộng
1.4.3 Đặc điểm và phân loại trò chơi vận động
vụ, vì vậy tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập thể… được hình thành Cũng trong quá trình chơi đã xây dựng cho trẻ tác phong khẩn trương, nhanh nhẹn, tính kỉ luật, sự sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ với tành tích cao… góp phần giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho trẻ
Trò chơi vận động có ý nghĩa quan trọng trong công tác GDTC cho trẻ Trò chơi vận động mang đặc tính thi đua rất cao Trong quá trình tham gia chơi, trẻ biểu lộ tình cảm rất rõ ràng như niềm vui khi thắng lợi và buồn khi thất bại, vui mừng khi thấy đồng đội hoàn thành nhiệm vụ, bản thân trẻ thấy có lỗi khi không làm tốt phần việc của mình… Vì tập thể mà trẻ phải khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại hết thắng lợi cho đồng đội
Trò chơi vận động là trò chơi có luật lệ, quy tắc nhất định mà bản thân trò chơi vận động lại mang tính thi đua và sự tự giác rất cao Vì vậy khi đã tham gia trò chơi, trẻ phải vận dụng hết khả năng, sức lực, sự tập trung chú ý, trí thông minh và sáng tạo của mình
Trang 1812 Một khía cạnh mà các nhà sư phạm phải quan tâm đó là tránh để các trẻ ham chơi quá mức quên ăn,quên ngủ, quên học, chơi đến mức quá sức dẫn đến mệt mỏi, trong trường hợp như vậy không những không có lợi về mặt sức khỏe mà còn ngược lại Đây là một đặc điểm quan trọng, mà giáo viên phải chú ý khi tổ chức cho trẻ chơi
Nội dung TCVĐ đối với trẻ em các độ tuổi
Với trẻ em 12 - 18 tháng tuổi: Đuổi bắt, cô đuổi kịp, ú tìm, thăm bạn búp bê, mang đồ chơi đến cho cô, bò tới đồ chơi, bò chui qua cổng
Đối với trẻ 18 - 24 tháng tuổi: kéo cưa lừa xẻ, đi qua cầu, con rùa, gấu dạo chơi trong rừng (23 - 24 tháng), mèo và chim sẻ (23 - 24 tháng)
Đối với trẻ 24 - 36 tháng: mèo và chim sẻ, nu na nu nống, chim sẻ và ô
tô, con bọ dừa, bong bóng xà phòng, con rùa, bóng tròn to, bịt mắt bắt dê, dung dăng dung dẻ, trời nắng trời mưa, phi ngựa, vượt đoàn tàu
Với trẻ 3 - 4 tuổi: quả bóng nảy, ô tô và chim sẻ, gấu và ong, nhảy qua suối nhỏ, đuổi bóng, tín hiệu máy bay
Với trẻ 4 - 5 tuổi: thi xem tổ nào nhanh, ném còn, bắt chước, tạo dáng, cáo và thỏ, ai ném xa nhất, đi như gấu, bò như chuột, tung cao hơn nữa
Với trẻ 5 - 6 tuổi: nhảy tiếp sức, ai nhanh hơn, kéo co, đua ngựa, nhảy
lò cò, ai ném xa nhất, cáo và thỏ
1.4.3.2 Phân loại trò chơi vận động
Trò chơi vận động rất phong phú và đa dạng, vì vậy có rất nhiều cách phân loại căn cứ trên những quan điểm khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại:
Căn cứ vào những động tác cơ bản của quá trình chơi
Theo cách này, ta có: trò chơi về chạy, nhảy, ném, leo trèo… và những trò chơi phối hợp hai hay nhiều hoạt động xen với nhau Mục đích của loại trò chơi này là để người dạy dễ chọn lọc và sử dụng trong việc rèn luyện những
kĩ năng vận động cơ bản cho trẻ
Trang 1913 Căn cứ vào sự phát triển các tố chất thể lực trong quá trình chơi
Ta có: trò chơi rèn luyện sức nhanh, trò chơi rèn luyện sức mạnh, trò chơi rèn luyện sức bền… Tuy nhiên, theo cách phân loại này đôi khi không được chính xác mà chỉ tương đối, bởi một trò chơi không chỉ rèn luyện một tố chất thể lực cơ bản mà có khi là hai, ba tố chất
Căn cứ vào khối lượng vận động
Trò chơi “tĩnh”: các trò chơi có khối lượng vận động không đáng kể Ví dụ: trò chơi: “Bịt mắt bắt dê”, “Bỏ khăn”…
Trò chơi “động”: các trò chơi có khối lượng vận động ở mức độ trung bình và cao, Ví dụ: các trò chơi chạy tiếp sức “tiếp sức chuyển khăn”, “chạy đổi chỗ”, “chạy thoi”
Tuy nhiên, cách phân loại này cũng chỉ là tương đối, bởi vì khối lượng vận động và cường độ vận động của một trò chơi có thể tăng, giảm do cách tổ chức và tài nghệ điều khiển của người quản trò
Căn cứ vào yêu cầu tổ chức trò chơi
Ta có: trò chơi chia thành đội, không chia đội và trò chơi có một nhóm chuyển tiếp ở giữa
Trò chơi chia thành đội được tiến hành chơi với điều kiện số người chơi các đội phải ngang nhau, thậm chí số lượng các trẻ nam và trẻ nữ phải ngang nhau Ví dụ: “kéo co”, “chạy tiếp sức”… Những trò chơi này thường có luật rất nghiêm và chặt chẽ Có tác dụng giáo dục tinh thần tập thể, tính tổ chức kỉ luật cao
Trò chơi không chia thành đội được chia thành: trò chơi có người điều khiển và trò chơi không có người điều khiển
1.4.4 Một số hạn chế khi áp dụng trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)
Một số trẻ tham gia chơi vượt quá khả năng chịu đựng để xảy ra những tai nạn đáng tiếc
Trang 20- Trong các động tác nhanh, trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ
- Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả năng sinh lực các động tác tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh) không có tương quan với nhau
Trang 21Trên cơ sở đó có thể phân chia sức mạnh ra thành các loại sau:
- Sức mạnh tĩnh (sức mạnh đơn thuần): Là khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh
- Sức mạnh tốc độ: Là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh
- Ngoài ra, còn có sức mạnh bột phát, sức mạnh tuyệt đối và sức mạnh tương đối
1.5.2 Phương pháp giáo dục sức mạnh
1.5.2.1 Cơ chế sinh lí điều hòa sức mạnh
Lực tối đa mà con người có thể sản sinh ra một mặt phụ thuộc vào đặc tính sinh cơ động tác, mặt khác phụ thuộc vào mức độ hoạt động của từng nhóm cơ riêng biệt và sự phối hợp giữa chúng Mức độ hoạt động của cơ được quy định bởi 2 yếu tố:
Xung động từ các nơron thần kinh vận động trong sừng trước của tủy sống đầu cơ
Phản ứng của cơ - tức là do nó sinh ra để đáp lại xung động thần kinh Phản ứng của cơ phụ thuộc vào thiết diện sinh lí và đặc điểm cấu trúc của nó, ảnh hưởng của dinh dưỡng của hệ thần kinh trung ương thông qua hệ thống ađrênalin giao cảm; độ dài của cơ tại thời điểm có kích thích và một số nhân tố khác Cơ chế chủ đạo cho phép thay đổi tức thời mức độ hoạt động của cơ là đặc điểm của xung động li tâm Thay đổi mức độ hoạt động của cơ được thực hiện bằng 2 cách Thứ nhất: Huy động số lượng khác nhau các đơn
vị vận động Thứ 2: Thay đổi tần số xung động ly tâm (trong căng cơ tối đa,
từ 5 - 6 đến 35 - 40 xung động)
Nếu lực do cơ phát huy chỉ vào khoảng 20 - 80% khả năng tối đa của
nó thì cơ chế điều hòa số lượng sợi cơ có ý nghĩa cơ bản Điều đó có nghĩa: Nếu lực kích thích nhỏ thì chỉ có số ít sợi cơ hoạt động tích cực
1.5.2.2 Lựa chọn lực đối kháng là một trong những vấn đề quan trọng nhất của phương pháp giáo dục sức mạnh
Để hiểu rõ cơ sở khoa học của phương pháp giáo dục sức mạnh cần nghiên cứu cơ sở sinh lí của các động tác được thực hiện với lực đối kháng
Trang 2216khác nhau Sau đây sẽ xem xét một số điểm khác nhau khi sử dụng trọng lượng khác nhau để giáo dục sức mạnh
Điều khác biệt thứ nhất:
- Đồng thời huy động số lượng lớn nhất các đơn vị vận động
- Các xung động li tâm có tần số tối đa
- Đồng bộ hóa nhịp điệu hoạt động của các đơn vị vận động
Trong các động tác với lực đối kháng chưa đạt tối đa thì tần số xung động của các đơn vị vận động chủ yếu không đồng bộ Những đơn vị bị mệt mỏi được loại trừ khỏi hoạt động và thay vào đó là những đơn vị vận động mới Trong trường hợp này tập luyện sẽ hoàn thiện cơ chế luân phiên và tất nhiên sẽ phát triển sức bền và sức mạnh
Điều khác biệt thứ 2: các động tác với lực đối kháng khác nhau sẽ khác nhau về đặc điểm tập trung nỗ lực trong không gian và thời gian Khi nâng trọng lượng tối đa và gần tối đa thì tốc độ nhanh chóng đạt được trị số nào đó Sau đó tốc độ gần như ổn định
Điều khác thứ 3: lực đối kháng bên ngoài là một kích thích sinh lí có cường độ nhất định Khi nâng trọng lượng giới hạn sẽ có một dòng xung động hướng tâm mạnh Trong giới hạn nhất định, cường độ phản ứng của cơ tỉ lệ thuận với cường độ kích thích Cường độ kích thích càng lớn thì phản ứng càng mạnh
Đặc điểm cơ chế sinh lí của bài tập với lực đối kháng khác nhau cho thấy: muốn phát triển sức mạnh thì nhất thiết phải taọ được sự căng cơ tối đa Nếu không thường xuyên tập luyện với mức căng cơ tương đối cao thì sức mạnh sẽ không được phát triển
1.5.2.3 Nhiệm vụ và phương tiện giáo dục sức mạnh
Nhiệm vụ chung của quá trình giáo dục sức mạnh là phát triển toàn diện và đảm bảo khả năng phát huy cao sức mạnh trong các hình thức hoạt động vận động khác nhau Nhiệm vụ cụ thể là:
Trang 23- Tiếp thu và hoàn thiện khả năng thực hiện các hình thức sức mạnh cơ bản: sức mạnh tĩnh lực và sức mạnh động lực, sức mạnh đơn thuần và sức mạnh tốc độ, sức mạnh khắc phục và sức mạnh nhượng bộ
- Phát triển cân đối sức mạnh của tất cả các nhóm cơ của hệ vận động
- Phát triển năng lực sử dụng hợp lí sức mạnh trong các điều kiện khác nhau
Ngoài ra, tùy điều kiện cụ thể mà mỗi loại hoạt động mà đề ra các nhiệm vụ chuyên môn
Để giáo dục sức mạnh người ta thường sử dụng các bài tập sức mạnh, các động tác có lực đối kháng, các bài tập được chia thành 2 nhóm:
- Các bài tập có lực đối kháng ở bên ngoài:
+ Các bài tập với dụng cụ nặng
+ Các bài tập với lực đối kháng của người tập
+ Các bài tập với lực đàn hồi
+ Các bài tập với lực đối kháng của môi trường bên ngoài (chạy trên cát…)
- Các bài tập khắc phục trọng lượng cơ thể: lò cò, chống đẩy…
1.5.2.4 Các khuynh hướng phương pháp cơ bản trong giáo dục sức mạnh
Nguyên lí chung trong giáo dục sức mạnh là tạo ra kích thích lớn đối với hoạt động của cơ Trong thực tế thường có 3 cách tạo tăng cơ tối đa:
- Sử dụng lượng đối kháng chưa tới mức tối đa với số lần lặp lại cực đại Các động tác thực hiện với lượng đối kháng chưa tới mức tối đa khác về
cơ chế sinh lí so với các động tác với lượng đối kháng tối đa và gần tối đa Song, theo mức độ phát triển của mệt mỏi, cơ chế sẽ thay đổi, lực phát huy của một đơn vị vận động bị giảm sút, ngày càng nhiều sợi cơ tham gia hoạt động và trong những lần lặp lại cuối cùng, số sợi cơ hoạt độngđạt trị số tối đa Khi đó, tần số xung động li tâm tăng lên và quan sát thấy chúng đồng bộ với nhau Như vậy, cơ
Trang 2418chế sinh lí lại giống như khi đang thực hiện bài tập với lượng đối kháng tối đa Giá trị phát triển sức mạnh của phương pháp này là ở những lần lặp lại cuối cùng Vì vậy, khi sử dụng phương pháp nỗ lực lặp lại nhất thiết phải lặp lại tới cực hạn Thực nghiệm khoa học đã chứng minh: không lặp lại tới cực hạn không
có tác dụng phát triển sức mạnh, mặc dù tổng số lần lặp lại của buổi tập có thể rất lớn và buổi tập được lặp lại trong thời gian dài
Ưu điểm của phương pháp nỗ lực lặp lại:
+ Tăng sức mạnh cùng với phì đại cơ bắp Khối lượng vận động lớn tất yếu dẫn tới những biến đổi mạnh mẽ trong quá trình trao đổi chất: quá trình dinh dưỡng mạnh xảy ra trong cơ thể do sử dụng phương pháp này thúc đẩy quá trình trao đổi tạo hình làm cơ phì đại và do đó làm tăng sức mạnh
+ Sử dụng lượng đối kháng chưa tới mức tối đa sẽ hạn chế được hiện tượng ép khí lồng ngực
+ Bài tập với lượng đối kháng chưa tới mức tối đa sẽ tạo khả năng kiểm tra kĩ thuật tốt hơn
+ Đối với người mới tập, sử dụng phương pháp nỗ lực lặp lại hạn chế được chấn thương
+ Tiêu hao năng lượng tương đối lớn cũng có lợi cho buổi tập với xu hướng sức khỏe
Nhược điểm của phương pháp nỗ lực lặp lại:
+ Không có lợi thế về mặt năng lượng
+ Hiệu quả của phương pháp này thấp hơn so với sử dụng phương pháp đối kháng tối đa
- Sử dụng lượng đối kháng tối đa và gần tối đa
Trong trường hợp cần tăng sức mạnh cơ bắp nhưng hạn chế được hiện tượng tăng khối lượng của nó, người ta thường tập luyện theo xu hướng sử dụng lượng đối kháng tối đa (1 lần tập) và gần tối đa (2, 3 lần tập)
Trang 2519Lượng đối kháng tối đa dùng để tập luyện nhỏ hơn trọng lượng tối đa thực
tế mà con người có thể khắc phục khi cảm xúc mạnh Kinh nghiệm thực tế cho thấy, tập luyện với lượng đối kháng tối đa thực sự đem lại hiệu quả thấp
Tuy có hiệu quả cao trong phát triển sức mạnh trên cơ sở hoàn thiện cơ chế điều hòa thần kinh trong nhóm cơ và giữa các nhóm cơ, nhưng phương pháp nỗ lực cực đại không phải là vạn năng Bởi vì, bất kì một phương pháp nào được sử dụng quá nhiều cũng trở nên quen thuộc và cùng với thời gian hiệu quả sử dụng bị giảm sút Cho nên chỉ có thể coi phương pháp nỗ lực cực đại là cơ bản chứ không phải là duy nhất
- Sử dụng các bài tập tĩnh trong giáo dục sức mạnh
Ngày nay, phương pháp tập tĩnh chỉ được coi là một phương pháp nỗ lực cực đại Hơn nữa, đó chỉ là phương pháp thứ yếu trong giáo dục sức mạnh
Ưu điểm của phương pháp tập tĩnh: duy trì ổn định sự căng cơ trong thời gian tương đối dài, các bài tập tĩnh đòi hỏi ít thời gian và trang thiết bị đơn giản, có thể tác động tới bất kì nhóm cơ nào, có thể tập luyện trong điều kiện biên độ động tác bị hạn chế
Hạn chế của phương pháp tập tĩnh: hiệu quả thấp so với tập động thực nghiệm cho thấy, những người chỉ tập bài tập tĩnh thì sức mạnh tăng chậm hơn
so với những người sử dụng các phương tiện giáo dục sức mạnh phổ biến
Khi sử dụng bài tập tĩnh thì sự phát triển của sức mạnh chỉ được thể hiện chủ yếu ở những tư thế đã tập luyện Ví dụ: nếu dùng bài tập tĩnh để phát triển sức mạnh các cơ gấp khớp khuỷu ở góc 90O, thì các góc vượt ra ngoài giới hạn 90O
Trang 26Chương 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi đã đưa ra hai nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng việc sử dụng TCVĐ phát triển sức
mạnh của trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động để phát
triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
2.2 Các phương pháp nghiên cứu chính
Để giải quyết được những nhiệm vụ đặt ra, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Là phương pháp thu thập những nguồn thông tin bằng cách đọc và phân tích tài liệu tham khảo Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đi tìm hiểu tập hợp được những tài liệu như các chỉ thị, nghị quyết… của Đảng và Nhà nước, các sách viết chuyên khảo, tuyển tập và các tư liệu giảng dạy về TDTT và GDTC, các tài liệu lưu trữ, phim ảnh, nghiên cứu tìm hiểu các sách viết về trò chơi vận động, về sức mạnh, các sách về tâm lí, sinh lí trẻ em… Từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau: sách, báo, đài, internet… Tôi thu thập tài liệu có liên quan nhằm mở rộng thêm kiến thức lí luận, tâm sinh lí, các phương pháp giáo dục và đặc biệt tìm hiểu sâu về trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn Phương pháp này được sử dụng trong suốt thời gian nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi - trả lời giữa nhà nghiên cứu với các cá nhân, tổ chức khác nhau về các vấn đề cần quan tâm
Trang 27Trong thời gian dài thực hiện đề tài này việc quan sát sư phạm được sử dụng trong quá trình dự giờ, quan sát quá trình học thể dục và các hoạt động học khác mà trẻ tham gia
Qua phương pháp này có thể đánh giá và phân tích được quá trình giảng dạy, học tập của cô và trẻ, giúp tôi có cái nhìn khách quan và có thể đưa
ra những trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh phúc
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành tổ chức kiểm tra sư phạm nhằm đánh giá sức mạnh của các đối tượng nghiên cứu trước thực nghiệm và sau thực nghiệm Đặc biệt, phương pháp này còn kiểm nghiệm tính hiệu quả của các trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Với phương pháp này đã tiến hành kiểm nghiệm tính khoa học, tính thực tiễn và tính hiệu quả của trò chơi vận động về cả mặt lí thuyết lẫn thực hành
Trang 282.2.6 Phương pháp toán học thống kê
Phương pháp này được sử dụng để phân tích, xử lí số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu đề tài, xác định tính hiệu quả của trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh phúc Sau khi thu thập số liệu, đã sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí và áp dụng công thức sau:
Công thức tính giá trị trung bình: 1
n i i
x x n
n(x x)
n 30n
Trang 2923Trong đó:
2.3.1Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014 và được chia làm 3 giai đoạn:
Giai
đoạn Nội dung
Thời gian
Sản phẩm thu đƣợc Bắt đầu Kết thúc
- Tổng quan đề tài
- Thực trạng sức mạnh của trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Ngô Quyền
- Hệ thống trò chơi
- Kết quả của việc thực hiện hệ thống các trò