“Ảnh hưởng của thời điểm phun Calcium silicate đến sinh trưởng và năng suất của ba giống lúa MTL392, Jasmine85 và OM4900 trồng trong chậu ở vụ Thu Đông năm 2010”.. Nguyễn Thành Hối TÓM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VÀ OM4900 TRỒNG TRONG CHẬU
Ở VỤ THU ĐÔNG NĂM 2010
LUẬN VĂN KỸ SƢ TRỒNG TRỌT
Cần Thơ, 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VÀ OM4900 TRỒNG TRONG CHẬU
Ở VỤ THU ĐÔNG NĂM 2010
Sinh viên thực hiện:
Lê Thị Khánh Bình MSSV: 3083307
Lớp: Trồng Trọt K34
Cán bộ hướng dẫn:
TS Nguyễn Thành Hối
Cần Thơ, 2011
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“Ảnh hưởng của thời điểm phun Calcium Silicate đếm sinh tưởng và năng suất của ba giống lúa MTL392, Jasmine85 và OM4900 trồng trong chậu
ở vụ Thu Đông năm 2010”
Do sinh viên Lê Thị Khánh Bình thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần thơ, ngày 22 tháng 11 năm 2011
Cán bộ hướng dẫn
TS Nguyễn Thành Hối
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài: “Ảnh hưởng của thời điểm phun Calcium Silicate đếm sinh tưởng và năng suất của ba giống lúa MTL392, Jasmine85 và OM4900 trồng trong chậu ở vụ Thu Đông năm 2010” Do sinh viên: Lê Thị Khánh Bình thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Luận văn đã được hội đồng chấp nhận và đánh giá ở mức:………
Ý kiến hội đồng: ………
………
………
Cần thơ, ngày …… tháng ……năm 2011 Thành viên Hội đồng - - -
DUYỆT KHOA
Trưởng khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Lê Thị Khánh Bình
Trang 6LÝ LỊCH CÁ NHÂN
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: Lê Thị Khánh Bình Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 02-04-1988 Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: xã Thông Bình, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
Quê quán: xã Thông Bình, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
Con ông: Lê Minh Hùng, sinh năm 1962
Con bà: Lê Thị Hường, sinh năm 1964
Địa chỉ: Chợ Biên giới Thông Bình, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp E-mail: ltkbinh07@student.ctu.edu.vn
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1994 – 1999: học tại trường Tiểu Học Thông Bình I
1999 – 2003: học tại trường Trung Học Cơ Sở Thông Bình
2003 – 2006: học tại trường Trung Học Phổ Thông Tân Hồng
2008 đến nay: học tại trường Đại học Cần Thơ, quá trình đào tạo (2008-
2012), ngành Trồng Trọt K34
Cần Thơ, ngày 22 tháng 11 năm 2011
Người khai ký tên
Trang 8Lê Thị Khánh Bình, 2011 “Ảnh hưởng của thời điểm phun Calcium silicate đến
sinh trưởng và năng suất của ba giống lúa MTL392, Jasmine85 và OM4900 trồng trong chậu ở vụ Thu Đông năm 2010” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Trồng Trọt, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ 33 trang
Cán bộ hướng dẫn: TS Nguyễn Thành Hối
TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng thời điểm phun Calcium Silicate đến sinh trưởng và năng suất của ba giống lúa MTL392, Jasmine85 và OM4900 trồng trong chậu ở vụ Thu Đông năm 2010” được thực hiện nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của thời điểm phun Calcium Silicate ở nồng độ 1,7 ml/l với liều lượng 600 l/ha đến sinh trưởng và năng suất của ba giống lúa trên Thí nghiệm được thực hiện tại nhà lưới khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, khu II Đại học Cần Thơ từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2010, thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số 2 nhân tố với nhân tố thứ nhất là ba giống lúa (MTL392, Jasmine85 và OM4900) và nhân tố thứ hai là thời điểm phun (0, 20, 40, 60, 40+60 ngày sau gieo) hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại
Kết quả thí nghiệm cho thấy thời điểm phun Calcium Silicate không làm ảnh hưởng đến chiều cao, số chồi, năng suất và thành phần năng suất của cây lúa nhưng
có tác dụng làm tăng độ cứng lóng của ba giống lúa MTL392, Jasmine85 và OM4900 Ở nghiệm thức phun Calcium Silicate vào thời điểm 20 ngày sau gieo đã làm gia tăng độ cứng của lóng hơn so với các nghiệm thức khác trong cùng điều kiện thí nghiệm ở nồng độ 1,7 ml/l với liều lượng 600 l/ha Qua thí nghiệm cho thấy năng suất của giống lúa Jasmine85 cao hơn so với giống lúa MTL392 và OM4900
Trang 9MỤC LỤC
Lời cam đoan iv
Lí lịch cá nhân v
Lời cảm tạ vi
Tóm lược vii
Mục lục viii
Danh sách bảng xi
Danh sách hình xii
MỞ ĐẦU 1
1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 ẢNH HƯỞNG CỦA CALCIUM VÀ SILICATE ĐỐI VỚI SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY LÚA 2
1.1.1 Ảnh hưởng của calcium đến cây lúa 2
1.1.2 Ảnh hưởng của silicate đến cây lúa 3
1.2 HÌNH THỂ HỌC CÂY LÚA 4
1.2.1 Rễ lúa 4
1.2.2 Thân lúa 5
1.2.3 Lá lúa 5
1.2.4 Bông lúa và hoa lúa 5
1.3 CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA 6
1.3.1 Giai đoạn tăng trưởng 6
1.3.2 Giai đoạn sinh sản 6
1.3.3 Giai đoạn chín 7
1.4 SỰ ĐỔ NGÃ TRÊN CÂY LÚA 7
1.4.1 Các dạng đổ ngã trên cây lúa 7
1.4.2 Những bất lợi khi cây lúa bị đổ ngã 7
1.4.3 Nguyên nhân dẫn đến đổ ngã ở cây lúa 8
Trang 101.4.3.1 Ảnh hưởng của đặc tính hình thái 8
1.4.3.2 Ảnh hưởng của thời tiết 9
1.5 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT 9
1.5.1 Số bông trên đơn vị diện tích 9
1.5.2 Số hạt trên bông 10
1.5.3 Tỷ lệ hạt chắc 10
1.5.4 Trọng lượng 1000 hạt 11
1.6 ĐẶC TÍNH GIỐNG 11
1.6.1 Giống lúa MTL392 11
1.6.2 Giống lúa Jasmine85 11
1.6.3 Giống lúa Om4900 12
2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 13
2.1 PHƯƠNG TIỆN 13
2.1.1 Thời gian và địa điểm 13
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 13
2.1.2.1 Giống lúa 13
2.1.2.2 Đất thí nghiệm 14
2.1.2.3 Chậu thí nghiệm 14
2.1.2.4 Hóa chất 15
2.1.2.5 Thiết bị và các vật dụng khác 15
2.2 PHƯƠNG PHÁP 16
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 16
2.2.2 Các kỹ thuật chăm sóc được áp dụng 16
2.2.3 Các chỉ tiêu thu thập 17
2.2.4 Phân tích kết quả 19
3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 20
3.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH THÍ NGHIỆM 20
3.1.1 Đặc điểm khí hậu và đất đai 20
3.1.2 Tình hình sâu bệnh 20
Trang 113.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CALCIUM SILICATE (CaSi) LÊN MỘT SỐ ĐẶC TÍNH
NÔNG HỌC CÂY LÚA 20
3.2.1 Chiều cao cây 20
3.2.2 Số chồi trên chậu 22
3.2.3 Độ cứng lóng 24
3.3 ẢNH HƯỞNG CỦA CALCIUM SILICATE (CaSi) LÊN THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 26
3.3.1 Số bông trên chậu 26
3.3.2 Số hạt trên bông 26
3.3.3 Tỷ lệ hạt chắc 27
3.3.4 Trọng lượng 1000 hạt 28
3.4 ẢNH HƯỞNG CỦA CALCIUM SILICATE (CaSi) LÊN NĂNG SUẤT 29
3.4.1 Năng suất thực tế 29
3.4.2 Năng suất lý thuyết 29
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 31
4.1 KẾT LUẬN 31
4.2 ĐỀ NGHỊ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32 PHỤ CHƯƠNG
Trang 12MỞ ĐẦU
Việt Nam là một đất nước có nền văn minh lúa nước tồn tại hàng ngàn năm, sản xuất lúa gạo đứng thứ 5, xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới Để giữ vững vị thế đó chúng ta cần phải nâng cao phẩm chất và sản lượng lúa gạo của nước ta hơn nữa Tuy nhiên, do ảnh hưởng của việc biến đổi khí hậu và dịch bệnh thường xuyên xảy ra đã phần nào làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa từ
đó làm ảnh hưởng năng suất và chất lượng hạt gạo Quá trình sinh trưởng là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất cây trồng
Calcium được biết đến như một chất xi măng kết nối các tế bào lại với nhau làm cho vách tế bào thêm cứng chắc, từ đó làm cứng cây tăng khả năng chống chịu
đỗ ngã của cây lúa góp phần làm tăng năng suất do giảm được những thất thoát trong khâu thu hoạch Cây lúa bị đổ ngã, quá trình tạo hạt bị đình trệ do quá trình vận chuyển các chất bị trở ngại (Yoshida, 1981) Vì thế việc sử dụng Calcium giúp làm cứng chắc vách tế bào được xem là biện pháp có thể làm giảm đổ ngã trên lúa
Thiếu silicate lá bị rũ xuống làm giảm khả năng hấp thụ ánh sáng dùng cho quang hợp vì vậy năng suất lúa bị giảm Si làm tăng khả năng chống đỡ sâu bệnh Các thí nghiệm của Datnoff (1991) cho thấy bón silicate làm cho lúa tăng đáng kể tính kháng bệnh và làm tăng năng suất lúa lên 56-88% Ở cây một lá mầm, trong đó cây lúa và mía là những cây có hàm lượng Si trong tế bào đạt 5% trở lên (Epstein, 1994) Đồng thời Si còn giúp cây cứng chắc giảm khả năng đổ ngã, chống chịu sâu bệnh làm tăng năng suất ở cây lúa
Do vậy, cần bổ sung hợp chất CaSi cho cây lúa để khắc phục tình trạng trên, nhưng cần phun ở giai đoạn nào đối với từng giống lúa để phát huy được ưu điểm
của hợp chất này.Vì vậy đề tài :”Ảnh hưởng của thời điểm phun Calcium silicate
đến sinh trưởng và năng suất của ba giống lúa MTL392, Jasmine85 và OM4900 trồng trong chậu ở vụ Thu Đông 2010” được thực hiện nhằm tìm hiểu ảnh hưởng
của từng thời điểm phun Calcium Silicate đến sinh trưởng và năng suất của ba giống lúa trên
Trang 13CHƯƠNG I
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 ẢNH HƯỞNG CỦA CALCIUM VÀ SILICATE ĐỐI VỚI SỰ TĂNG
TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY LÚA
1.1.1 Ảnh hưởng của calaium đến cây lúa
Theo Võ Thị Gương (2004) thì một nguyên tố được xem là thiết yếu đối với cây trồng phải thỏa mãn ba điều kiện sau: (1) Thực vật không thể hoàn tất chu kỳ sống nếu không có sự hiện diện của nó; (2) Chức năng của nó không thể thay thế bởi một nguyên tố khoáng khác; (3) Nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự dinh dưỡng của thực vật, hoặc là thành phần của chất sống, hoặc là chất không thể thay thế hàng loạt các phản ứng của các enzyme
Calcium được hấp thu dạng Ca2+
và sau đó sẽ cố định thành các muối như calcium oxalate, calcium pectate,… Ở thực vật, một phần Ca liên kết chặc chẽ với cấu trúc vách tế bào, một phần khác có khả năng trao đổi tại vách và mặt ngài của màng tế bào Hàm lượng Ca trong cây ở khoảng 0,1 đến lớn hơn 0,5% trọng lượng khô tùy thuộc vào điều kiện sinh trưởng của từng loại cây trồng và cơ quan của cây Nhu cầu sinh trưởng của cây một lá mầm thấp hơn cây hai lá mầm rất nhiều
(Loneganran và ctv., 1968; Loneganran và Snowball, 1969) Calcium có ảnh hưởng
đến sự hình thành màng tế bào, giúp cho vách tế bào cứng chắc và điều chỉnh tính thấm của màng tế bào (Taiz và Zeiger, 1998) Trong tế bào một tỷ lệ lớn Ca bị cô lập trong thủy thể, trong khi nồng độ của chúng trong tế bào chất thì rất thấp, có thể đạt tới 10% trọng lượng khô (ở lá trưởng thành) mà không thấy triệu chứng ngộ độc hay ức chế sinh trưởng Ca cũng rất cần thiết cho việc hình thành hệ thống rễ giúp cây hấp thu dinh dưỡng khoáng và sinh trưởng tốt hơn Vùng phân sinh của rễ, thân
và lá (nơi mà sự phân cắt tế bào đang xảy ra) thì mẫm cảm nhất Ca hầu như không
di chuyển trong mô libe và kết quả là triệu chứng thiếu thường được phát hiện ở lá non Khi thiếu Ca mô bị biến dạng, hình thù vặn vẹo và các vùng sẽ chết rất sớm (Epstein và Bloom, 2003) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2004), trong vách tế bào tỷ lệ của calcium pectate cũng quan trọng cho sự mẫm cảm của mô thực vật đối với sự xâm nhiễm của nấm và vi khuẩn cũng như cho sự chín của trái
Ở cây lúa, Calcium có vai trò quan trọng trong thành phần calcium pectate, một thành phần rất quan trọng của vách tế bào và duy trì hoạt động của màng sinh học Sự hiện diện của Calcium trong cây giúp ổn định vách tế bào, hoạt hóa các
Trang 14enzyme và cân bằng nồng độ cation và anion trong tế bào (IRRI, 1988) Ở lá của những cây được cung cấp nhiều calcium trong thời kỳ sinh trưởng, hoặc sinh trưởng trong điều kiện có cường độ ánh sáng cao thì thấy một tỷ lệ lớn Pectate-Ca, chất này làm tăng tính kháng của mô chống lại sự phân hủy của enzyme polygalacturonase (Cassell và Barlass, 1976) Vai trò cấu trúc Ca chủ yếu tìm thấy ở những phiến lá mỏng giữa những vách tế bào kế cận nhau, nơi mà Ca liên kết với các nhóm Carboxyl tự do của pectines, nó hoạt động như chất xi măng kết nối giữa những vách tế bào lại với nhau (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004).
Ngoài ra, Ca có ý nghĩa quan trọng trong việc trung hòa độ chua của đất cũng như khử độc do sự có mặt của các cation (Na+
, Al3+,…) trong nguyên sinh chất của tế bào Calcium ổn định tế bào bằng cách nối phosphate với các nhóm cacboxylate của phospholipid và protein, xảy ra phần lớn ở bề mặt màng Bên cạnh
đó, Ca2+
bị kiềm giữ ở dạng: calcium oxalate, calcium phosphate bị kết tủa, một phần hòa tan trong nước ở trong không bào cùng với sự hiện diện của các amino acid hữu cơ như malate, đóng vai trò quan trọng để điều hòa sự thẩm thấu của các tế bào và quy định sự tích lũy muối trong không bào giúp cho cây chịu úng tốt hơn do làm giảm độ thấm của tế bào và việc hút nước của cây Vì vậy, tính ổn định của màng nguyên sinh chất đòi hỏi sự hiện diện của Ca2+ trong dung dịch bên ngoài, để điều hòa sự hấp thu các ion và ngăn cản sự rò rỉ chất tan từ tế bào chất, từ đó làm vách tế bào cứng chắc Vai trò của Ca trên một số loại cây trồng khác như thí nghiệm trên táo và cà chua các nhà nghiên cứu cho rằng, khi gia tăng hàm lượng
Ca2+ ở trái bằng cách phun nhiều lần muối calcium trong suốt quá trình đậu trái hoặc nhúng trái trong dung dịch CaCl2 sau khi thu hoạch đã làm tăng độ cứng vỏ trái (Cooper và Bagerth, 1976)
1.1.2 Ảnh hưởng của silicate đến cây lúa
Silicate được nghiên cứu chính thức vào năm 1843 do Lawes, ở Nhật khi nghề trồng lúa được xem là một ngành thực sự thì có nhiều nghiên cứu về Si ảnh hưởng lên lúa (Takahashi, 1984)
Sự hấp thụ Si được thực hiện ở vùng chóp rễ, bao gồm cả hai vùng: vùng mô phân sinh và vùng dãn dài của rễ Nhưng qua nhiều nghiên cứu cho thấy sự hấp thu
Si ở vùng trưởng thành của rễ cao hơn ở vùng chóp rễ Ở cây lúa có xu hướng tích lũy silicate trong mô với liều lượng khá cao (5% hoặc cao hơn) Epstein (1994) Trong cây silicate tập trung trong thân lá khoảng 60%, một phần trên bông (khoảng 20%) (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Sự hấp thu Si lớn hơn nhiều so với bất kỳ dưỡng chất nào khác (từ 890-1018 kg/ha/vụ) Vì cây lúa hấp thu lượng lớn Si như vậy đôi khi nó được xem là cây silic (Yoshida, 1981) Sự tích lũy Si trong mô tế bào rất
quan trọng cho sự tăng trưởng mạnh mẽ và kháng nấm bệnh của lúa (Datnoff và
Trang 15ctv., 1997) Ngoài ra Si còn là nguyên tố thiết yếu cho sự sinh trưởng và phát triển
của lúa, vì thế ngoài tính kháng và tính chống chịu, Si còn giúp tăng năng suất ở lúa Si là nguyên tố cây trồng có thể hấp thu được từ đất và khả năng này là rất lớn trong quá trình phát triển Sự phát triển và năng suất vẫn gia tăng khi Silicate chứa trong lá và thân là 8% Thí nghiệm ngoài đồng cũng cho kết quả tương tự là khả năng hấp thu Silicate của cây lúa rất cao, ở lá cờ cây lúa chiếm khoảng nhỏ hơn 10% Silicate cần một lượng lớn cho cây lúa sau khi bước vào giai đoạn làm đòng
Do đó, Silicate ảnh hưởng đến cây lúa vào giai đoạn lớn hơn giai đoạn trước tượng đòng, khi cây lúa không thể hấp thu lượng Silicate có thể ảnh hưởng cho giai đoạn sau phân hóa đòng và làm cho năng suất lúa bị giảm
Cây lúa phát triển không có Silicate trong nước sẽ trở nên cằn cõi và năng suất giảm thật sự (Okawa, 1943) Cây lúa cần nhiều Silicate cho sự phát triển và ổn
định năng suất (Savant và ctv., 1997) Sự thiếu hụt Si trên lúa làm giảm sự chịu
đựng nguồn bệnh và có khuynh hướng sống tạm thời, phát triển kém dần và đỗ ngã (Ishibashi, 1936)
Theo Yoshida (1965), lớp gel-Silicate được phủ bên ngoài vách tế bào ở các
tế bào trong lá, thân và vỏ trái tạo nên lớp cutin-silic dày gấp đôi bình thường nhờ vào lớp cutin-silic giúp tăng tính chống chịu và tính cứng của tế bào Theo Epstein
và Bloom (2003) Si có vai trò rất quan trọng đối với cây trồng Si làm tăng tính kháng của cây lúa đối với côn trùng và các loại nấm gây hại, từ đó làm tăng khả năng quang hợp và làm giảm sự thoát hơi nước của cây trồng Ngoài ra, Si còn làm tăng tính chống chịu hạn hán và độ độc của một số kim loại: nhôm, sắt, mangan…
Si còn là nguyên tố thiết yếu lên sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Vì thế, ngoài tính kháng và chống chịu, Si còn giúp cây lúa tăng thêm năng suất hạt Theo Yoshida (1981), sự hấp thu Si tăng giữ cho lá đứng, trong giai đoạn sinh sản có tới 67% Si được hấp thu để tăng số chồi và tăng năng suất lúa
1.2 HÌNH THỂ HỌC CÂY LÚA
Cây lúa (Oryza sativa L.) thuộc họ hòa bản (Gramineae), nhóm họ phụ
Indica Cây lúa gồm các bộ phận sau:
1.2.1 Rễ lúa
Cây lúa có hai loại rễ: rễ mầm và rễ phụ Rễ mầm là rẽ mọc đâu tiên khi hạt lúa nảy mầm, nhiệm vụ của rễ mầm chủ yếu là hút nước cung cấp cho phôi phát triển và sẽ chết sau 10-15 ngày, lúc cây mạ 3-4 lá Rễ phụ mọc ra từ các đốt trên thân lúa, mỗi mắt có 5-25 rễ phụ, có nhiệm vụ hút nước và dinh dưỡng nuôi cây,
Trang 16giúp cây bám chặc vào đất vì vậy bộ khỏe mạnh thì cây lúa phát triển tốt và đứng vững
Theo Nguyễn Thành Hối (2010) thì môi trường đất trồng thích hợp và chế độ dinh dưỡng tốt sẽ giúp bộ rễ lúa phát triển mạnh đủ sức hút dinh dưỡng tạo năng suất lúa cao
1.2.2 Thân lúa
Thân lúa gồm mắt và lóng nối tiếp nhau Lóng là phần rỗng giữa hai mắt được bẹ lá ôm chặt Thiết diện của lóng có hình tròn hay bầu dục với thành lóng dày hay mỏng và lóng dài hay ngắn tùy từng loại giống và điều kiện môi trường, đặc biệt là chế độ nước Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cây lúa có lóng ngắn thành lóng dày, bẹ lá ôm sát thân thì cây lúa sẽ cứng chắc khó đỗ ngã và ngược lại Trong trượng hợp đất ruộng có nhiều nước, sạ dày, bón nhiều đạm, thiếu ánh sáng thì lóng
có khuynh hướng vươn dài và mềm yếu dễ đỗ ngã Lúa bị đỗ ngã càng nhiều thì sự hút dinh dưỡng và quang hợp bị trở ngại, sự vận chuyển các dưỡng chất bị đình trệ,
hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ dẫn đến hạt lép, hạt lững nhiều làm năng suất
bị giảm
1.2.3 Lá lúa
Theo Nguyễn Thành Hối (2010) thì một lá lúa hoàn chỉnh bao gồm phiến lá,
bẹ lá và cổ lá Phiến lá là nơi phơi ra ngoài ánh sáng, có một gân chính ở giữa và nhiều gân phụ chạy song song từ cổ đến chót lá, phiến lá càng đứng và chứa nhiều diệp lục sẽ quang hợp càng mạnh để tạo chất khô chuyển vị nuôi cây và bông lúa về sau Bẹ lá là phần tiếp theo phiến và ôm sát thân cây lúa, giúp cây càng đứng vững
và ít bị đỗ ngã, là nơi trung gian tích trữ và chuyển vận không khí và dinh dưỡng cho các bộ phận khác của cây lúa Cổ lá là nơi tiếp giáp giữa phiến và cổ lá Trong chu kỳ sống cây lúa ngắn ngày không quang cảm có khoảng 10-18 lá, các giống dài
và bị ảnh hưởng quang cảm có khi cho số lá nhiều hơn 20 lá (13-23 lá) (Yoshida, 1981)
1.2.4 Bông lúa và hoa lúa
Sau khi ra đủ số lá nhất định thì cây lúa sẽ trỗ bông Thời gian trổ bông, phân hóa càng ngắn thì càng tránh được thiệt hại do tác động xấu của môi trường như: gió, mưa, nhiệt độ thấp,… Nếu quá trình phân hóa đòng gặp trở ngại thì bông lúa sẽ
ít hạt, hạt nhỏ, nhiều hoa bị thoái hóa Trong thời gian ngậm sữa nếu gặp thời tiết xấu, lúa bị đỗ ngã nhiều hoặc thiếu dinh dưỡng sẽ có nhiều hạt lép, lững từ đó làm giảm năng suất
Trang 17Hoa lúa lưỡng tính tự thụ phấn cấu tạo gồm trấu lớn (dưới) và trấu nhỏ (trên) Bên trong hai vỏ trấu chỗ gần sát với bầu noãn có 2 mày hoa (vảy cá) giữ nhiệm vụ đóng mở hai vỏ trấu khi nở (Nguyễn ngọc Đệ, 2008) Vòi nhụy chẻ làm đôi thành 2 nướm và 6 nhị đực mang bao phấn; khi trổ khỏi thân, các hoa sẽ phơi màu trong nắng (đa số trong buổi sáng tử 8-13 giờ) để qua giai đoạn thụ phấn và thụ tinh tạo nên hạt gạo; hạt phấn chỉ sống khoảng 5 phút sau khi tung phấn, nhưng nướm nhụy cái có thể sống đến một tuần lễ và ít bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ cao (Nguyễn Thành Hối, 2010)
1.3 CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA
Theo Yosida (1981), sự sinh trưởng của cây lúa chia làm ba giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín
1.3.1 Giai đoạn tăng trưởng
Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi nảy mầm đến khi bắt đầu phân hóa đòng Ở giai đoạn này lúa bắt đầu phát triển về thân lá, sự gia tăng chiều cao và ra nhiều chồi mới Cây lúa bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6 nếu trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi Trong điều kiện ruộng lúa cấy với mật
độ cao, dinh dưỡng hạn chế các nhánh được sinh ra ở mắt thứ tư và sau khi cấy
20-25 ngày là nhánh vô hiệu (Võ Tòng Xuân, 1984)
Thời gian sinh trưởng của cây lúa dài hay ngắn còn tùy thuộc vào thời gian của giai đoạn tăng trưởng Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) thì thường các giống lúa rất ngắn và ngắn ngày có giai đoạn tăng trưởng ngắn và thời điểm phân hóa đòng có thể xảy ra trước hoặc ngay khi cây lúa đạt số chồi tối đa Số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu) thường thấp hơn so với số chồi tối đa Những chồi ra sau đó sẽ tàn rụi đi do không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với chồi hữu hiệu
1.3.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ khi phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông và kéo dài khoảng 27-35 ngày trung bình khoảng 30 ngày Ở giai đoạn này bao gồm sự vươn lóng, gia tăng chiều cao rõ do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng và sự tàn lụi của số chồi vô hiệu Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), đòng hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn và cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ, lúc này lúa trổ Ở giai đoạn này để bông lúa hình thành nhiều hoa, vỏ trấu đạt kích thước tối đa thì cần phải tạo điều kiện cho cây lúa có đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng nhiều, mực nước trong ruộng thích hợp, thời tiết thuận lợi và không có sâu bệnh tấn công
Trang 181.3.3 Giai đoạn chín
Giai đoạn khoảng 30 ngày cuối là giai đoạn chín với sự tăng dần về kích thước và trọng lượng hạt Ở giai đoạn này cây ổn định về chiều cao, quá trình tích lũy chất khô xảy ra ngày càng mạnh Hạt lúa chuyển màu từ xanh sang màu vàng đặc trưng của giống Trọng lượng hạt tăng dần và ổn định đến khi chín hoàn toàn Trong giai đoạn này có mưa nhiều hoặc thời tiết lạnh có thể làm kéo dài giai đoạn chín, ngược lại nếu trời nắng ấm có thể rút ngắn giai đoạn chín của lúa (Võ Tòng Xuân, 1984)
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) giai đoạn chín của lúa trải qua các thời kỳ sau:
- Thời kỳ chín sữa (ngậm sữa): các chất dự trữ trong thân, lá và các sản phẩm quang hợp được chuyển vào trong hạt Kích thước và trọng lượng hạt tăng dần làm đầy vỏ trấu Bông lúa nặng cong xuống (cong trái me), lúc này hạt chứa dịch lỏng màu trắng đục nên gọi là thời kỳ ngậm sữa
- Thời kỳ chín sáp: hạt gạo mất nước từ từ và đặc lại, hàm lượng nước của
hạt khoảng 58% và giảm xuống dần nhưng vỏ trấu còn xanh
- Thời kỳ chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, vỏ trấu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông lan
dần xuống cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, ở thời kỳ này lá già lụi dần
- Thời kỳ chín hoàn toàn: hạt gạo khô cứng lại ẩm độ khoảng 20% hoặc hơn tùy ẩm độ môi trường Lá xanh chuyển sang vàng và rụi dần Thời điểm thu hoạch
tốt nhất là khi có 80% hạt trên bông ngã màu trấu đặc trưng của giống
1.4 SỰ ĐỔ NGẪ TRÊN LÚA
1.4.1 Các dạng đổ ngã trên lúa
Theo Nguyễn Minh Chơn (2003), đổ ngã đuovự phân thành hai nhóm chính:
đổ ngã ở rễ hoặc trên mặt đất do nứt rạ TRong dạng nứt gãy rạ có dạng:
- Dạng thân gãy gấp khúc: ngay vị trí ngã gãy của cây lúa, thân bị gập lại
- Dạng gãy tét thân: cây lúa bị gãy và tét theo chiều dọc của lóng thân lúa
- Dạng gãy tách rời: lóng thân tại vị trí gãy có một bên bị đứt rời ra
Trang 191.4.2 Những bất lợi khi cây lúa bị đỗ ngã
Theo Yoshida (1981) thì cây lúa bị đổ ngã sự hút dinh dưỡng và quang hợp không bình thường, sự vận chuyển carbohydrate về hạt bị trở ngại, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ đưa đến hạt lép nhiều, năng suất giảm Thiệt hại do đổ ngã phụ thuộc vào mức độ đổ ngã và thời điểm xảy ra đổ ngã (Setter, 1994) Sự đổ ngã làm giảm mạnh năng suất hạt, đăc biệt khi xảy ra ngay vị trí gié và khi bông chạm mặt nước Trước khi trổ, lượng lớn tinh bột tích lũy trong thân và bẹ lá Sự đổ ngã càng sớm, năng suất càng giảm nhiều (Yoshida, 1981)
1.4.3 Nguyên nhân dẫn đến đổ ngã ở cây lúa
1.4.3.1 Ảnh hưởng của đặc tính hình thái
Giống
Theo Yoshida (1981), những giống có thời gian sinh trưởng quá dài có thể không cho năng suất cao vì sự sinh trưởng dinh dưỡng có thể gây đổ ngã Giống chống chịu đổ ngã có những đặc điểm như thân thấp, cứng cây và đứng lá Chiều cao cây là yếu tố quan trọng lien quan đến tính chống chịu đổ ngã của cây lúa Các giống lúa lai cải tiến thường có thân thấp nên chống chịu đổ ngã tốt hơn, có thể cho năng suất cao hơn
Tuy nhiên, những giống lúa thấp cây không phải luôn luôn chống chịu đổ ngã mà còn phụ thuộc vào nhũng đặc tính khác như độ dài thân, độ cứng mô, vận tốc hóa già của các lá dưới làm thay đổi độ cứng của cây (Yoshida, 1981)
Dạng hình lóng thân
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), thân lúa gồm những mắt nối tiếp nhau, lóng
là phần rỗng giữa hai mắt và được bẹ ôm chặt Thiết diện của lóng có hình tròn hay hình bầu dục với thành lóng dài hay ngắn tùy giống và điều kiện môi trường, đặc biệt là nước
Ảnh hưởng của chiều dài lóng thân
Chiều dài của những lóng bên dưới và chiều dài cả thân lúa là những đặc tính quan trọng liên quan đến tính đổ ngã Cây lúa có lóng ngắn thành lóng dày, bẹ lá
ôm sát thân thì thân lúa sẽ cứng chắc, khó đổ ngã và ngược lại Như vậy, lóng phía
Trang 20dưới càng dài có thể là nguyên nhân quan trọng dẫn đến đổ ngã (Nguyễn Minh Chơn, 2003)
Ảnh hưởng của bẹ lá
Theo Yoshida (1981), bẹ lá góp phần rất ít cho sự quang hợp nhưng nó cho thấy chức năng quan trọng khác Cây bắt đầu vươn lóng khi tượng khối sơ khởi, thân vẫn còn nhỏ, dài khoảng 1 cm và bẹ lá làm nhiệm vụ chống đỡ giúp cây phất triển bình thường Ngay sau khi sự phát triển của lóng hoàn thành thì bẹ lá vẫn góp phần vào độ cứng của thân khoảng 30-60% Như vậy bẹ lá có chức năng chống đỡ
cơ học cho toàn cây lúa Giống lúa nào có bẹ ôm sát thân thì cây lúa đứng vững khó
đổ ngã (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.4.3.2 Ảnh hưởng của thời tiết
Cây lúa thiếu ánh sáng do mưa nhiều nhất là vào thời kỳ lúa trổ, ngoài viêc trở ngại cho sự thụ tinh, thụ phấn còn làm cho cây lúa có khuynh hướng vươn lóng làm cây lúa cao và yếu hơn Hơn nửa mưa bão thường xuyên có tác động lên cây lúa vốn đã yếu nên dễ đưa đến hiện tượng đổ ngã (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.5 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT
Năng suất lúa được hình thành và chịu ảnh hưởng trực tiếp của bốn yếu tố gọi là bốn thành phần năng suất: số bông trên đơn vị diện tích, số hạt trên bông, tỷ
1.5.1 Số bông trên đơn vị diện tích
Trong bốn yếu tố tạo thành năng suất lúa thì số bông lá yếu tố có tính chất quyết định nhất và ảnh hưởng sớm nhất Số bông hình thành do ba yếu tố: mật độ sạ cấy, số nhánh hữu hiệu, các điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật như lượng phân bón, ánh sáng, nhiệt độ,…
Trong điều kiện thâm canh cần có mật độ sạ cấy thích hợp tùy giống lúa, đất đai, phân bón, thời vụ,… Thời gian quyết định số bông là thời kỳ đẻ nhánh (Nguyễn
Đình Giao và ctv., 1997)
Trang 21Số bông trên đơn vị diện tích được quyết định vào giai đoạn sinh trưởng ban đầu cảu cây lúa, nhưng chủ yếu là từ giai đoạn cấy đến khoảng 10 ngày trước khi có chồi tối đa và tùy thuộc vào vào mật độ sạ cấy, khả năng nở bụi của lúa Theo kết quả của Nguyễn Ngọc Đệ (2008), cho rằng số bông trên đơn vị diện tích có ảnh hưởng tỷ lệ thuận với năng suất
1.5.2 Số hạt trên bông
Số hạt trên bông được quyết định từ lúa tượng cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ, nhưng nhất là thời kỳ phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Ở giai đoạn này, số hạt trên bông có ảnh hưởng thuận với năng suất lúa do ảnh hưởng đến số hoa được phân hóa Sau giai đoạn này, số hạt trên bông đã hình thành và có thể bị suy thoái do ảnh hưởng âm
Thời kỳ quyết định số hạt trên bông chủ yếu là thời kỳ phân hóa đòng đến cuối thời kỳ giảm nhiễm, vào thời gian trước khi trổ 5 ngày không ảnh hưởng (Đinh Văn Lữ, 1978)
Nhiệt độ thấp ở giai đoạn gié thì tổng số hạt sẽ bớt đi và thoái hóa, sự gia giảm sẽ rõ rệt hơn nếu nhiệt độ thấp đúng thời gian phân bào giảm nhiễm và ở giai đoạn cây bị thiếu nước tổng số hạt giảm một cách rõ rệt (Tôn Thất Trình, 1968)
Số hạt trên bông nhiều hay ít phụ thuộc vào số gié, số hoa phân hóa cũng như số hoa thoái hóa Số gié và số hoa phân hóa được quyết định trong thời kỳ đầu
của quá trình phân hóa đòng, trong vòng 7-10 ngày Theo Nguyễn Đình Giao và ctv
(1997), số hoa phân hóa nhiều hay ít tùy thuộc vào sinh trưởng của cây lúa và điều kiện ngoại cảnh
- Cường độ ánh sáng: thời kỳ cuối nếu cường độ ánh sáng giảm, quang hợp gặp trở ngại, lượng carbohydrate hình thành không đủ đáp ứng cũng làm tỷ lệ hạt chắc giảm
Trang 22- Nhiệt độ: nhiệt độ cao hoặc thấp quá vào thời điểm trổ nếu gặp nhiệt độ xuống thấp dưới 20oC hoặc cao hơn 35oC đều không có lợi Theo Nguyễn Đình
Giao và ctv (1997), nhiệt độ cao thì rút ngắn thời gian chín cũng như ảnh hưởng
đến tỷ lệ hạt chắc Tỷ lệ hạt chắc phụ thuộc vào số hoa trên bông, đặc tính sinh lý của cây lúa và chịu ảnh hưởng lớn đến điều kiện ngoại cảnh (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Số hoa trên bông quá nhiều dễ dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp Các giống lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và chuyển vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không bị đỗ ngã sớm, trỗ và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh dưỡng đầy đủ thì tỷ lệ hạt chắc cao và ngược lại
1.5.4 Trọng lượng 1000 hạt
Theo Bùi Huy Giáp (1980), trọng lượng 1000 hạt ít thay đổi bởi điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác mà nó được quy định bởi đặc tính giống Trọng lượng 1000 hạt do hai yếu tố cấu thành đó là trọng lượng hạt và trọng lượng vỏ trấu Thời gian quyết định kích thước vỏ trấu chủ yếu vào thời kỳ giảm nhiễm đến trổ bông Sau trổ bông trọng lượng vỏ trấu ít thay đổi Trọng lượng hạt tăng nhanh từ
sau khi trổ đến đến thời kỳ chín sữa (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Theo
Nguyễn Ngọc Đệ (2008), trọng lượng hạt quyết định bởi thời kỳ phân hóa hoa đến khi chín, nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ giảm nhiễm tích cực và chín rộ Trọng lượng tùy thuộc vào cỡ hạt và độ mẩy hạt lúa Tính trạng 1000 hạt có hệ số di truyền cao và ít chịu tác động của môi trường nên việc chọn giống có trọng lượng
1000 hạt cao là điều cần thiết
1.6 ĐẶC TÍNH GIỐNG
1.6.1 Giống lúa MTL392
Giống lúa MTL392 có tên gốc là L274-4-5-2-7-1-1 được chọn lọc từ các dòng phân ly F7 của tổ hợp lai L274 (LTCN x OM1723) năm 1999
Giống có thời gian sinh trưởng 90-100 ngày, chiều cao cây trung bình
95-100 cm, bông dài to, số bông/m2 trung bình từ 300-340 bông/m2, số hạt chắc/bông thay đổi từ 70-100 hạt, trọng lượng 1000 hạt trung bình 27-27,5 g Năng suất trung bình 6,5-7,5 tấn/ha, chiều dài hạt gạo trắng 7,0 mm Gạo trắng trong, có mùi thơm nhẹ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Giống kháng rầy nâu (cấp 1,7-3,7), hơi nhiễm bệnh đạo ôn (cấp 5 -6), thử nghiệm trong nhà lưới tại Trung Tâm Bảo Vệ Thực Vật phía Nam và Đại học Cần Thơ
Trang 231.6.2 Giống lúa Jasmine85
Giống lúa Jasmine85 được lai tạo và chọn lọc từ viện lúa quốc tế IRRI nhập vào Việt Nam từ năm 1992, từ tồ hợp lai IR841-85=PETA/TN1//KHAO DAWK MALI, được trồng thử ở Đồng bằng sông Cửu Long trên đất phù sa và đất nhiễm phèn, đất phèn, đất nhiễm mặn
Giống có thời gian sinh trưởng 90-105 ngày, chiều cao trung bình 80-90 cm, bông dài 20-25 cm, hạt chắc trên bông 80-100 hạt, trọng lượng 1000 hạt 25-26g Năng suất bình quân 4-6 tấn/ha, kích thước hạt dài 7,2-7,8 mm, rộng 2,1-2,2 mm, phẩm chất hạt tốt, gạo trong, thơm cơm mềm, tiêu biểu cho nhóm lúa thơm xuất khẩu
Giống không kháng được rầy nâu, nhiễm nhẹ bệnh khô vằn, nhiễm bệnh lùn xoắn lá, cứng cây, ít đổ ngã, thích hợp cho cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu trên chân đất phù sa ngọt hay phèn mặn nhẹ (Trương Đích, 2000)
1.6.3 Giống lúa OM4900
Giống OM4900 có nguồn gốc từ tổ hợp lai C53/Jasmine 85 (marker RG28) Được công nhận giống chính thức năm 2009 theo Quyết định số 198 QĐ/BNN-KHCN ngày 18/06/2009 của Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn
Giống có thời gian sinh trưởng 100-105 ngày, chiều cao cây trung bình
105-110 cm, trọng lượng 1000 hạt 28,3g Năng suất trung bình: vụ Đông xuân: 6-8 tấn/ha, vụ Hè Thu: 5-6 tấn/ha, chiều dài hạt trung bình 7,8 mm, gạo đẹp, cơm dẻo thơm Giống kháng được vàng lùn, lùn xoắn lá, cứng cây, đẻ nhánh khỏe Phản ứng
với rầy nâu cấp 3, đạo ôn cấp 3, giống phát huy tốt ở các vùng đất phù sa ngọt
Trang 24CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm
- Thời gian thí nghiệm từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2010
- Địa điểm: thí nghiệm được thực hiện tại nhà lưới, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ
Đặc điểm khí hậu trong thời gian thí nghiệm được thể hiện ở Bảng 2.1
Bảng 2.1 Tình hình thời tiết khí hậu trong thời gian thực hiện thí nghiệm ( theo Trung tâm khí
tượng thủy văn thành phố Cần Thơ năm 2010)
Thời gian Nhiệt độ trung
- Giống lúa Jasmine85
- Giống lúa OM4900
Trang 25Lân tổng số % 0,083 So màu, máy sắc ký
Kali trao đổi Meq/100g 0,32 Máy hấp thu quang phổ
2.1.2.3 Chậu thí nghiệm
Lúa thí nghiệm được trồng trong chậu có kích cỡ như nhau: đường kính mặt chậu 30 cm và chiều cao 35 cm Kiểm soát được lượng nước tưới trong chậu thí nghiệm
Hình 2.1 Chậu dùng để trồng lúa trong thí nghiệm
30 cm
Trang 26- Giá đỡ đo độ cứng: đo độ cứng các lóng
- Cân điện tử Sartorius CP 3202 g (sai số 0,01g), máy đo ẩm độ hạt Riceter M411, tủ sấy Sibata SPN 600, thước đo, bao giấy và các vật dụng khác
Trang 272.2 PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số 2 nhân tố hoàn toàn ngẫu nhiên, nhân tố 1 là 3 giống lúa (MTL392, Jasmine85 và OM4900) và nhân tố 2 là 4 thời điểm phun CaSi (đối chứng, 20, 40, 60 và 40+60 NSG) với 4 lần lặp lại Thí nghiệm được bố trí như sau:
G1N4 G1N3 G1N1 G1N0 G1N2 G1N2 G1N1 G1N4 G1N3 G1N0 G1N3 G1N1 G1N0 G1N2 G1N4 G1N0 G1N3 G1N4 G1N1 G1N2 G2N0 G2N1 G2N2 G2N3 G2N4 G2N1 G2N2 G2N3 G2N4 G2N0 G2N0 G2N1 G2N3 G2N4 G2N2 G2N3 G2N4 G2N2 G2N0 G2N1 G3N4 G3N3 G3N1 G3N0 G3N2 G3N2 G3N1 G3N4 G3N3 G3N0 G3N3 G3N1 G3N0 G3N2 G3N4 G3N0 G3N2 G3N4 G3N1 G3N3
N1 : phun CaSi thời iểm 20 ngày sau gieo
N2 : phun CaSi thời iểm 40 ngày sau gieo
N3 : phun CaSi thời iểm 60 ngày sau gieo
N4 : phun CaSi thời iểm 40 60 ngày sau gieo
2.2.2 Các kỹ thuật chăm sóc được áp dụng
- Chuẩn bị đất: cân và cho vào mỗi chậu thí nghiệm 5 kg đất
- Chuẩn bị giống: hạt lúa giống được ngâm 24 giờ và ủ trong 36 giờ để mầm mọc từ 2-3 mm rồi tiến hành sạ
- Đến 10 NSG tiến hành tỉa bớt và chừa mỗi chậu 10 cây có chiều cao đồng đều nhau
Trang 28- Bón phân theo công thức: 100N - 60P2O5 - 30K2O kg/ha (NPK kg/ha) Chia làm 3 lần bón:
+ Lần 1: 10 ngày sau khi gieo: 25% đạm + 100% lân + 50% kali
+ Lần 2: 20 ngày sau khi gieo: 50% đạm
+ Lần 3: 45 ngày sau khi gieo: 25% đạm + 50% kali
- Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh: giữ mực nước trong các chậu ở độ sâu
3-5 cm trong suốt thời gian sinh trưởng và phát triển của cây lúa Thường xuyên theo dõi mực nước và tình hình sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời
- Thu hoạch: tiến hành lấy mẫu và thu hoạch khi lúa chín khoảng 80-90% số hạt chắc trên bông
2.2.3 Các chỉ tiêu thu thập
- Chiều cao cây: Tính từ mặt đất tại gốc đến chóp lá (hay bông) cao nhất Đo vào các thời điểm 10, 20, 40, 60 ngày sau khi gieo và thu hoạch
- Số chồi: đếm toàn bộ số chồi (chồi có 3 lá) của 10 cây trong từng chậu
- Độ cứng của thân: độ cứng của lóng 1, 2, 3 của cây lúa đo ở thời điểm thu hoạch (Nguyễn Minh Chơn, 2006)
Độ cứng của cây lúa được xác định như sau:
Bước 1: Chọn ngẫu nhiên 3 cây/nghiệm thức: điều kiện cây phát triển bình thường không bị sâu hại
Bước 2: Gác cây lúa còn nguyên bẹ lá lên giá đỡ Khoảng cách từ điểm gác cây đến mặt đất là 60 cm, chiều cao dây treo vuông gốc với mặt đất là 45 cm, chiều cao vật treo là 10 cm
Bước 3: Treo vật lên cây lúa sau đó từ từ tăng trọng lượng bằng cách thêm cát vào đến khi cây lúa vừa bị gãy thì ngưng lại
Độ cứng của cây lúa cây lúa được tính bằng cách cân toàn bộ trọng lượng của vật treo ở thời điểm cây lúa vừa gãy 1kg vật treo có lực tương đương 10 Newton (1kg = 10 N)
Trang 29(a) (b)
(c)
Hình 2.3 (a) Bước 2; (b) Bước 3 của phương pháp đo độ cứng; (c) Cây lúa vừa gãy
- Các thành phần năng suất và năng suất:
Số bông/chậu (P): ghi nhận bằng cách đếm tổng số bông trong 1 chậu vào thời điểm thu hoạch
Số hạt/bông: ghi nhận bằng cách đếm tổng số hạt (chắc và lép) của từng chậu chia cho tổng số bông của chậu đó
Tổng số hạt/chậu
Số hạt/bông = - Tổng số bông/chậu
Trọng lượng 1000 hạt: sau khi tách chọn hạt chắc và hạt lép ra riêng lẻ với nhau, tiến hành đếm 1000 hạt chắc rồi đem cân chính xác (cân điện tử) trọng lượng
1000 hạt chắc này (w), sau đó xác định ẩm độ hạt lúc cân bằng máy đọc ẩm độ (Riceter M411) rồi quy đổi ra trọng lượng 1000 hạt chắc ở ẩm độ 14% (w 14%)
Trang 30- Năng suất lý thuyết (g/chậu, 14%):
NSLT (g/chậu) = số bông/chậu * số hạt/bông * % hạt chắc * trọng lƣợng